Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (303.36 KB, 9 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Họ và tên: Nguyễn Xuân Tuyên</b>
<b>Sinh ngày: 04/06/1961</b>
<b>Điện thoại: 0912.547.636</b>
<b>Nghề nghiệp: Công chức Nhà nước</b>
<b>Đơn vị công tác: Kho bạc Nhà nước Vĩnh Phúc.</b>
<i>Vĩnh Yên, ngày 10 tháng 8 năm 2012</i>
<b>BÀI DỰ THI </b>
<b>“TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT </b>
<b>VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM”</b>
<b>CHỦ ĐỀ 1: Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ </b>
<b> hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.</b>
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt
Nam-Lào, Lào-Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự
gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ:
<i><b>"</b></i>
<i><b>Thương nhau mấy núi cũng trèo,</b></i>
<i><b>Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.</b></i>
<i><b>Việt-Lào, hai nước chúng ta,</b></i>
<i><b>Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.</b></i>
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định<i><b>: "</b><b>Trong lịch sử cách</b></i>
<i><b>mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vơ sản,</b></i>
<i><b>nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu</b></i>
<i><b>đặc biệt, lâu dài và tồn diện như quan hệ Lào-Việt Nam”; "</b><b>Núi có thể mịn,</b></i>
<i><b>sơng có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi,</b></i>
<i><b>hơn sông”. </b></i>
lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước. Trong tiến
trình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-người sáng lập ra Đảng Cộng sản Đông
Dương đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của mối quan hệ này, với các hoạt
động cách mạng của mình đã đặt nền móng vững chắc phát triển thành quan hệ
đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quốc gia. Các thế hệ lãnh đạo hai nước đã khơng
ngừng vun đắp để tình đồn kết Việt-Lào mãi mãi xanh tươi.
khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa
vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa
dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia
của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở
khu vực Đơng Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm này đã
chi phối mạnh mẽ đến mối quan hệ cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên,
đặc biệt là nguồn lợi sinh thủy. Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan
hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu
tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa
cư dân hai nước.Minh chứng cho nhận định trên là hai câu chuyện huyền thoại
câu: “Nói hợp lịng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng
chẳng bán”.
Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng
tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị-xã hội
khác nhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt
đời sống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào. Các nền văn hóa nghệ thuật
truyền thống của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia
sẻ các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tơn kính người già…Sự tương đồng
giữa văn hóa làng-nước của người Việt và văn hóa bản-mường của người Lào
xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam
Á. Đồng thời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có
những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của
mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm
Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như:
“Việt điện u linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn
Xuân của nhà tiền Lý, khi bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế
buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào
lập căn cứ chống giặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam-Lào,
Lào-Việt Nam. Cịn hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký tồn thư”, “Khâm
định Việt sử thơng giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thơng hiếu
đầu tiên giữa các nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067 (1). Tiếp đến vào giữa
thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hồ bình đầu tiên về biên giới quốc gia
đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh
phục các mường Lào, lập nên vương quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của
người Lào. Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
(1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và
nhân dân Lào ở vùng biên giới. Điều đáng nói, là trong khoảng thời gian từ thế
kỷ XIV đến XV, hai nước Đại Việt-Lạn Xạng, Lạn Xạng-Đại Việt mặc dù
khơng phải khơng có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà
hiếu làm trọng nên đã sáng suốt và cơng bằng, có ý thức đề cao không thù hận,
đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân
tộc.
Khoảng) đã trở thành một căn cứ đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn
chống lại thế lực Nguyễn Ánh. Thế kỷ XIX, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt
Nam đã có bước trưởng thành sâu hơn, nhất là về phương diện nhận thức chủ
quyền quốc gia, quan điểm bạn thù cũng như phương cách xây dựng đồng minh
giữa nhân dân hai nước.
Về truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai dân tộc và tinh thần tự
nguyện phối hợp chiến đấu chủa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt
Thời kỳ trước năm 1930, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước
Lào-Việt Nam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp, kẻ thù chung của
hai dân tộc, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ
nhận thức và điều kiện lịch sử.
Từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc
biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam
tình đồn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục. Chính truyền thống yêu
nước vẻ vang là cơ sở vững chắc cho sự đồn kết giữa hai dân tộc. Tình cảm gắn
bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong những năm tháng chiến tranh
mà biểu hiện của nó là nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ
thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939), tiếp
đến giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
thắng lợi (1939-1945) và liên minh Việt-Lào, Lào-Việt Nam chiến đấu chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975). Sau năm 1975, quan hệ
Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minh chiến đấu
chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người đặt nền móng vững chắc cho quan hệ đặc
biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào
theo con đường cách mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt
Nam và Lào ngày càng hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một
trang mới trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung
là độc lập dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định
mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Và chính Người đã cùng
đồng chí Xuphanuvơng, đồng chí Kayxỏn Phômvihản và các thế hệ lãnh đạo hai
Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt
Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước,
mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào. Trên thực tế, từ nửa sau những
năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đơng Dương. Năm 1928,
đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (3) càng cho thấy mối
quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Cũng
trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng
Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được
tổ chức. Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đơng
Nhìn vào chặng đường cách mạng đã qua, chúng ta vui mừng và tự hào về
mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, rất mực thuỷ chung giữa hai Đảng,
hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Sự kiện lịch
sử trọng đại cách đây 50 năm, ngày 5-9-1962 khi Việt Nam và Lào chính thức
thiết lập quan hệ ngoại giao và việc hai nước ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp
tác ngày 18-7-1977, đó là mối quan hệ khơng giống bất cứ mối quan hệ nào
trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức và
xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài
lịch sử. Đảng, Nhà nước và nhân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi
thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất trước đây
cũng như mỗi thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay đều gắn liền
với sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ q báu, chí nghĩa, chí tình, hiệu quả của Đảng,
Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào anh em.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt
giữa Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn cịn khơng ít
thách thức nhất là các thế lực thù địch tìm mọi cách xun tạc, bóp méo lịch sử,
chia rẽ tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào. Vì vậy, việc duy trì, củng cố và
tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà
nước và nhân dân hai nước nhiệm vụ hết sức quan trọng, đặt ra những yêu cầu
khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam-Lào; Lào-Việt Nam
với những phương thức mới và những nội dung mới.
Sáng 18-7-2012, phát biểu tại lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm ngày
lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề
lay chuyển. Chúng ta nguyện giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào
như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của mắt mình, quyết tâm cùng với Đảng và
Nhà nước Lào anh em, phát triển, làm phong phú và sâu sắc thêm và thúc đẩy
mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng liêng vô giá
được trao truyền lại mãi cho các thế hệ mai sau”.
Cũng tại lễ mít tinh Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào
Bounnhang Vorachith thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em, trân
trọng gửi tới Đảng, Nhà nước và nhân Nam lịng biết ơn sâu sắc và tình cảm hữu
nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết nhất. Phó Chủ tịch nước Bounnhang
Vorachith khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ làm hết sức mình để
gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam. Cho dù
tình hình có diễn biến thế nào đi chăng nữa, tình hữu nghị giữa hai dân tộc
Lào-Việt Nam sẽ mãi mãi thủy chung, trong sáng và thắm thiết. Tình cảm gắn bó u
thương và mối quan hệ đặc biệt vốn đã trở thành truyền thống sẽ tiếp tục được
phát huy và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác; quan hệ hợp tác toàn diện
giữa hai Đảng, hai Nhà nước sẽ tiếp tục được củng cố, vun đắp, góp phần vào sự
nghiệp củng cố hịa bình, hữu nghị, hợp tác, hội nhập khu vực và thế giới.
Đồng chí đồng chí Buonnhang Vorachith: Đảng và Nhà nước Lào sẽ làm hết sức
mình, chủ động và nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các Hiệp ước, Hiệp
định, thoả thuận cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước.
những anh hùng, chiến sỹ và nhân dân hai nước nhiều thế hệ, trở thành mối quan
hệ thuỷ chung, trong sáng để lại cho con cháu mai sau.
Trải qua hơn nửa thế kỷ của quá trình liên minh chiến đấu và chiến thắng,
sự gắn bó thắm thiết, sự yêu thương, tin tưởng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí
anh em thực sự đã làm nên mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước, trở
thành nguồn sức mạnh vĩ đại và nhân tố quyết định thắng lợi giữa hai nước.
Hiện nay hai nước đang đẩy mạnh cơng cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế, nhân dân hai nước đang triển khai Nghị quyết Đại hội của mỗi
Đảng và cùng nhau phấn đấu xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân hai nước
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, góp phần tích cực vào sự nghiệp hồ
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
__________
<i> (1)Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào Việt Nam. NXB CTQG</i>
<i>Hà Nội 2011. Trang 13.</i>
<i> (2). Hồ Chí Minh: Lời phát biểu tại Hội nghị cán bộ Liên minh nhân dân</i>
<i>Việt–Miên-Lào.</i>