Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch các hiện tượng tự nhiên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 19 trang )

bài tập môn
Nghiệp vụ h-ớng dẫn du
lịch
CC HIN TNG T NHIÊN
I.

Lở tuyết

Tuyết lở hay tuyết truồi là hiện tượng khi một lượng tuyết lớn, thường
trộn với nước và khơng khí, đột ngột tuôn xuống triền núi. Tuyết lở là mối
đe dọa lớn nhất gây thiệt hại nhân mạng và của cải ở miền núi lạnh.Tuyết lở
có khi đẩy thêm cả đá tảng.Tuyết lở xảy ra dưới ba dạng:
-

Trường hợp thứ nhất là khi lượng tuyết vượt quá độ bền cắt

khiến tuyết trườn xuống dốc nhìn từ trên giống như hình giọt nước.
-

Trường hợp hai là khi cả một nền tuyết đặc ở trên trượt xuống

vì lớp tuyết phía dưới khơng đủ chắc để giữ nguyên vị trí. Đây là động lực
gây ra 90% vụ thương vong vì nền tuyết dày đến vài mét và bề rộng có thể
đến vài trăm mét.
-

Trường hợp thứ ba là khi lớp tuyết thấm nước

II.

Động đất



1


Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung
lay của mặt đất. Động đất thường là kết quả của sự chuyển động của các
phay (geologic fault) hay những bộ phận đứt gãy trên vỏ của Trái Đất hay
các hành tinh cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất đá. Tuy rất chậm, mặt đất
vẫn luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịu
đựng của thể chất trái đất. Hầu hết mọi sự kiện động đất xảy ra tại các đường
ranh giới của các mảng kiến tạo là các phần của thạch quyển của trái đất (các
nhà khoa học thường dùng dữ kiện về vị trí các trận động đất để tìm ra
những ranh giới này). Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là
động đất xuyên đĩa và những trận động đất xảy ra trong một đĩa (hiếm hơn)
được gọi là động đất trong đĩa.
 Đặc điểm
Động đất xảy ra hằng ngày trên trái đất, nhưng hầu hết không đáng
chú ý và không gây ra thiệt hại. Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng
và gây tử vong bằng nhiều cách. Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng
thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trận
động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất. Trong rất
nhiều trường hợp, có rất nhiều trận động đất nhỏ hơn xảy ra trước hay sau
lần động đất chính; những trận này được gọi là dư chấn. Năng lực của động
đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có
thể trải hết tồn cầu. Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà
các sóng địa chấn được bắt đầu. Điểm này được gọi là chấn tiêu. Hình chiếu
của điểm này lên mặt đất được gọi là chấn tâm.

2



Nhiều trận động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có
thể gây ra sóng thần, hoặc có thể vì đáy biển bị biến dạng hay vì đất lở dưới
đáy biển.
 Thang đo động đất (Độ Richter)
-

1–2 trên thang Richter : Không nhận biết được

-

2–4 trên thang Richter : Có thể nhận biết nhưng khơng gây thiệt hại

-

4–5 trên thang Richter : Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại

không đáng kể
-

5–6 trên thang Richter : Nhà cửa rung chuyển, một số cơng trình có

hiện tượng bị nứt
-

6–7 trên thang Richter
7–8 trên thang Richter
Mạnh, phá hủy hầu hết các cơng trình xây dựng thơng thường, có vết

nứt lớn hoặc hiện tượng sụt lún trên mặt đất.

-

8–9 trên thang Richter

-

>9 trên thang Richter
Rất hiếm khi xảy ra
 Các thang đo khác

-

Thang độ lớn mô men (Mw)

-

Thang Rossi-Forel (viết tắt là RF)

-

Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik (viết tắt là MSK)

-

Thang Mercalli (viết tắt là MM)

-

Thang Shindo của cơ quan khí tượng học Nhật Bản


3


Thang EMS98 tại châu Âu

-

 Nguyên nhân


Nội sinh: liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo
ở các đới hút chìm, các hoạt động đứt gãy.



Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá
với khối lượng lớn.



Nhân sinh: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp
suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lịng đất.

Ngồi ra cịn phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh
địa chấn.
III.

Bão

Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời

tiết cực trị. Ở Việt Nam, thuật ngữ "bão" thường được hiểu là bão nhiệt đới,
là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển
nhiệt đới, thường có gió mạnh và mưa lớn.
Một định nghĩa khí tượng chặt về một cơn bão là có cấp gió Beaufort
lớn hơn hoặc bằng 10, (89 km/h). Ở Việt Nam, gió xốy có cấp Beaufort từ
6 đến 7 trên một diện rộng gọi là áp thấp nhiệt đới. Gió xốy từ cấp 8 trở lên
trên một diện rộng, có thể kèm theo mưa lớn gọi chung là bão.
 Điều kiện hình thành bão
Bão là một xoáy thuận nhiệt đới được cấu trúc bởi khối khí nóng ẩm
với dịng thăng rất mạnh xung quanh mắt bão, tạo hệ thống mây, mưa xoáy
vào vùng trung tâm bão. Năng lượng bão là ẩn nhiệt ngưng kết của lượng
4


hơi nước khổng lồ bốc hơi từ mặt biển, ngoài ra bão hình thành địi hỏi
khơng khí có tầng kết bất ổn định đảm bảo cho sự hình thành đối lưu sâu và
dơng. Bão chỉ có thể hình thành khi có đủ 3 điều kiện: Nhiệt, ẩm và động lực
để tạo xốy.
Nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra ràng bão chỉ có thể hình thành
trên biển trong dải vĩ độ 5 - 20ovĩ hai bên xích đạo có nhiệt độ cao (từ 26 –
27oC trở lên) - đảm bảo cung cấp đủ lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi mạnh
từ mặt biển để cung cấp năng lượng ngưng kết cho bão hình thành và lực
coriolis dủ lớn để tạo xốy, tạo điều kiện thuận lợi cho bão hình thành. Sở dĩ
bão khơng thể hình thành trong giải 0 – 5ovĩ về hai phía của xích đạo vì ở đó
lực coriolis q nhỏ, khơng đủ để tạo xốy.
 các giai đọan bão( xoáy thuận nhiệt đới)


Vùng áp thấp (low pressure area): có vùng áp thấp trên bản đồ khí áp
bề mặt, nhưng vị trí trung tâm khơng thể xác định được




Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ: tropical depression): vị trí trung tâm có thể
xác định được, nhưng Vmax < 34 kt



Bão tố nhiệt đới (Tropical storm - TS): Vmax 34-47 kt ("storm" gốc
từ tiếng Hà Lan là "dông tố", tiếng Trung là "cuồng phong", ở đây tạm
dịch là "bão tố")



Bão tố nhiệt đới mạnh (severe TS): Vmax 48-63 kt



Bão (Typhoon): Vmax => 64 kt. Có cơn bão quá mạnh người ta gọi là
"siêu bão" (supertyphoon).

5


IV.

Lũ – Lũ quét

Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất
định, sau đó giảm dần. Trong mùa mưa lũ, những trận mưa từng đợt liên tiếp

trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra
những trận lũ trong sơng, suối. Vào các tháng mùa mưa có các trận mưa lớn,
cường độ mạnh, nước mưa tích luỹ nhanh, nếu đất tại chỗ đã no nước thì
nước mưa đổ cả vào dòng chảy, dễ gây ra lũ. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ
sông (đê), chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng.
Lũ lớn và đặc biệt lớn nhiều khi gây ra những thiệt hại to lớn về người và
của cải. Cha ông ta đã xếp lũ, lụt là một trong những loại thiên tai nguy hiểm
nhất.
Nước lũ do mưa (hay băng, tuyết ở những nước vùng vĩ độ cao) sinh ra
nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa. Mùa lũ ở Bắc bộ từ tháng 5-6 đến
tháng 9-10, Bắc Trung bộ từ tháng 6-7 đến tháng 10-11, Trung và Nam
Trung bộ: tháng 10-12, Tây nguyên: tháng 6-12, Nam bộ: tháng 7-12. Tuy
vậy đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ "tiểu mãn", thường xảy ra
vào "tiết tiểu mãn" (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta. Song
mùa lũ hàng năm cũng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn 12 tháng so với trung bình nhiều năm.
Một số biện pháp phịng chống lũ lụt lớn: trong phòng chống lũ, lụt
nhằm giảm nhẹ thiệt hại người ta quy thành hai biện pháp, gồm: biện pháp
cơng trình và biện pháp khơng cơng trình. Biện pháp cơng trình là nhằm thay
đổi đặc tính của thiên tai như xây dựng các hồ chứa để điều tiết lũ, xây dựng
các hệ thống đê ngăn lũ tràn vào đồng bằng, tu bổ bảo vệ đê điều, giải pháp
phân, chậm lũ…. Biện pháp khơng cơng trình là nhằm thay đổi tác động của

6


thiên tai như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để giảm thấp cường độ lũ lụt,
xây nhà ở có khả năng chịu được nước lụt (chung sống với lũ)…
Lũ qt là một hiện tượng thiên tai có tính chất và đặc điểm khác biệt
là lũ diễn biến nhanh, mang tính bất thần và khốc liệt, mỗi trận xảy ra trên
một diện hẹp và phạm vi tác động cũng hẹp hơn lũ sơng. Nếu mưa lớn, nước

mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi
lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống
cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể qt
theo dịng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất
nhanh, khoảng 3-6 giờ. Lũ quét xảy ra bất ngờ, nhanh, có sức tàn phá lớn ở
các lưu vực nhỏ. Tiếng Anh lũ là flood, lũ quét là flash flood (flash là vụt
hiện rồi tắt), tiếng Trung Quốc lũ là "hồng thuỷ", nghĩa là "nước lớn".
Lũ lụt là hiện tương thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét. Trong một
số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên,
như trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường
Lay và khu vực thị xã. Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi
cao xen kẽ với thung lũng và sơng suối thấp.
Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại:
+ Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên
(hầu như chưa có tác động của con người);
+ Lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã chịu tác động mạnh của
các hoạt động kinh tế của con người làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng
sinh thái lưu vực (thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lượng trữ hay các đặc
tính lưu vực…);

7


+ Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lượng nước tích do vỡ đập chắn
hay các đập giữ nước, các đập băng...
Lũ quét thường gây hoạ cho các sơng nhỏ và vừa nhưng ít đối với
sơng lớn. ở các lưu vực sơng suối nhỏ miền núi, nới có điều kiện thuận lợi
để hình thành lũ quét như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long
sông/suối lớn, độ ổn định của lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do q trình
phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn phá… ở những nơi này, khi xẩy ra

mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ xảy ra lũ quét.

CÁC HỆ SINH THÁI Ở VIỆT NAM
Nước ta có nhiều hệ sinh thái (HST):
- HST nhiệt đới gồm:
+ HST rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ẩm thường xanh, cịn gọi là HST
rừng ẩm nhiệt đới từ độ cao 700m trở xuống ở Miền Bắc và 1000m trở
xuống ở miền Nam
+ HST rừng rậm gió mùa ẩm trên núi đá vơi (HST karst)
+ HST savan nội chí tuyến gió mùa (HST savan)
+ HST rừng rậm nhiệt đới hơi khô nửa rụng lá (rừng khộp) phân bố ở
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
- HST núi cao gồm:

8


+ HST núi đá vôi
+ HST núi đất
+ HST trên núi đá granit
- HST đất ngập nước gồm:
+ HST rừng ngập mặn ven biển
+ HST đầm lầy nội địa
+ HST mặt nước sông, biển
+ HST đầm phá
- HST san hô, cỏ biển
- HST vùng cát ven biển
- HST biển đảo
- HST nơng nghiệp
Trong các hệ sinh thái nói trên có một số hệ sinh thái điển hình sau:


1. Hệ sinh thái san hơ
HST san hơ ở Việt Nam có thành phần lồi khá phong phú, đa dạng,
ước tính có đến trên 1500 loài chiếm khoảng hơn 50% số loài san hơ của
khu vực Thái Bình Dương và tương đương với khu vực giàu san hơ khác của
Tây Thái Bình Dương. Ước tính ở Việt Nam có khoảng 400.000 ha san hơ,
mộ số biển có san hơ đẹp như : Trà Cổ, Cát Bà, Hạ Long, Nha Trang, Phú
Yên…
Trong các loài san hô ở ven biển Việt Nam, bước đầu đã xác định
được tên 350 loài. Ở vùng ven bờ biển phía Bắc 95 lồi đã xác định được
tên. Ở vùng ven bờ biển phía Nam xác định được tên 255 lồi.
Các loại san hơ vùng ven biển nước ta có khả năng tạo rạn khá cao
như vịnh biển Vĩnh Hy của Phú n có 350 lồi san hơ, trong đó có 306 lồi
9


có khả năng tạo rạn và có nhiều loại rạn như: rạn riềm hở, kín, kín và nửa
kín ở ven biển miền Trung; kiểu đáy cứng, đáy xốp, ở vùng vịnh Thái Lan;
kiểu rạn nền và kiểu đảo san hồ vịng ở vùng ngồi khơi. Nhưng Việt Nam
thiếu vắng kiểu cấu trúc bờ chắn đồ sộ như ở HST san hơ ở các nước, HST
san hơ có tác dụng chắn sóng, bảo vệ bờ biển; là mơi trường sinh sống, bảo
vệ, cung cấp thức ăn cho nhiều loài thủy sinh. HST này tạo phong cảnh đẹp
thần tiên, kỳ thú; là cơ sở tài nguyên cho phát triển loại dình du lịch lặn biển
và tham quan bằng tàu đáy kính.
2. Hệ sinh thái vùng cát ven biển
Dọc theo bờ biển nước ta có khoảng 60.000 ha đất cát ven biển, gồm
nhóm các HST trảng cây bụi trên đất cát, HST phi lao trên đất cát và HST
nông nghiệp trên đất cát.
- Nhóm HST trảng cây bụi trên đất cát là nơi phát triển của những loài
muống biển, các loại cỏ…Đây là nơi đậu, kiếm ăn của nhiều loài chim

nước như: diều hâu trắng, hải âu, nhạn cát pia, mồng biển mỏ ngắn,
choắt lớn mỏ vàng, choắt chân màng bé, rẻ mỏ thìa…và đây cũng là
nơi sinh sống của nhiều lồi cua, ốc, ngao…
- Nhóm HST rừng phi lao có tác dụng chắn gió bão, chắn cát ở các
vùng ven biển, bảo vệ cho HST nông nghiệp và tạo ra môi trường
xanh mát trong HST bãi cát
- Nhóm HST nơng nghiệp ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới
đã được thau chua, rửa mặn, cải tạo thành các vùng trồng cây cơng
nghiệp như trồng mía, cói, lúa, hoa màu. Một số nơi cải tạo để nuôi
trồng thủy sản.
3. Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển

10


Nước ta có khoảng 250.000 ha rừng ngập mặn ven biển, trải suốt từ Bắc
vào Nam. Đây là HST có giá trị đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học và moi
trường đối với các vùng ven biển.
Rừng ngập mặn ở Việt Nam có thành phần thực, động vật khá phong phú
so với các nước trong khu vực. Ở HST này, theo điều tra ban đầu có 70 lồi
thực vật trong đó có 35 lồi thuộc 15 họ là những thức vật ngập mặn, điển
hình phân bố trên các bãi triều ngập hằng ngày. Các loài phổ biến là đước,
mắm, sú, bần…
Về động vật, có 258 lồi cá thuộc 78 họ đã gặp ở vùng ven biển Việt
Nam, 168 loài thân mềm thuộc 51 họ, 69 loài cua ( 8 họ), 386 loài chim với
73 loài chim di cư, đồng thời cịn có nhiều lồi bị sát, thú gặm nhấm và
lưỡng cư
Do có sự đa dạng về thành phần các lồi, họ, chi động thực vật và là HST
có giá trị về bảo vệ môi trường biển và vùng đất ven biển, bảo vệ sự đa dạng
sinh học của tồn cầu. Vì vậy, nhiều khu bảo tồn và vườn quốc gia có rừng

ngập mặn ven biển như khu rừng ngập mặn Cần Giờ; các khu ngập nước,
rừng ngập mặn lien tỉnh châu thổ sông Hồng, khu ngập nước và rừng ngập
mặn Cát Bà và các khu rừng ngập mặn ở ven biển Kiên Giang đã được
UNESSCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển Thế giới.
Ngồi ra, cịn có HST mặt nước ven biển, mặt nước của sông là nơi sinh
sống của nhiều lồi thủy sinh như cá, tơm, phù du, tảo biển và là nơi kiếm ăn
của nhiều loài chim nước
4. Hệ sinh thái đầm lầy nội địa
HST này ở nước ta tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long,
tiêu biểu là ở vùng Đông Tháp Mười, Kiên Giang đây là một HST độc đáo
với kiểu rừng kín, lá rộng thường xanh, ngập nước theo mùa trên đáy phèn.
Ngoài ra ở đây bảo tồn các loại quần xã thực vật mẩu chuẩn sinh thái của
11


các vùng đất ngập nước nội địa như: sen, lúa ma, cỏ ống lăn, mồm mốc. Ở
vương quốc gia Chàm Chim – Đồng Tháp đã có tới 198 lồi chim nước
thuộc 49 họ trong đó có 16 lồi chim đang bị đe dọa trên quy mơ tồn cầu
như: sếu đầu đỏ, ngan cánh trắng,…ở các khu ngập nước nội địa cũng là nơi
sinh sống của nhiều lồi thủy sinh, bị sát lưỡng cư
5. Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Đây là HST khá phổ biến trong các khu bảo tồn, các vườn quốc gia ở
nước ta ở độ cao dưới 700m đối với các khu rừng nguyên sinh ở miền Bắc
và dưới 1000m đối với các khu rừng nguyên sinh ở miền Nam từ Đà Nẵng
trở vào.
Đây là một HST còn khá nhiều và khá phổ biến trong các khu bảo tồn,
đặc biệt là ở các VQG trên các đảo và đất liền. HST này có đa dạng sinh học
cao tùy từng vị trí, điều kiện tự nhiên của các khu bảo tồn thiên nhiên mà
loại rừng này có các lồi, chi, họ thực vật và động vật khác nhau. Nhưng đây
là nơi sinh sống của nhiều loài thực động vật quý hiếm. Ở miền Bắc, thành

phần thực vật thường có các lồi: chị chỉ, chị xanh, đinh, lim…các tầng
rừng thường có từ 4 đến 5 tầng cây: tầng ưu thế sinh thái cao từ 20-30m
hoặc 30-40m. Tầng dưới tán cao khoảng 15m tầng cây bụi cao dưới 5m, tầng
thảm tươi cao dưới 1m. Trong các khu rừng quốc gia và khu bảo tồn thiên
nhiên HST này thường có sự đa dạng, phong phú về thành phần thực, động
vật nên hấp dẫn du khách tham quan nhất.
6. Hệ sinh thái rừng khộp
Diện tích rừng khộp nước ta chiếm khoảng 50.000ha phân bố từ Tây
Nguyên đến Tây Ninh, mà tập trung chủ yếu ở VQG York Đôn và ở Easup
tỉnh Đắc Lắc. Đặc trưng của HST này: cấu trúc của rừng là tầng cây gỗ thưa,
tán lá khơng liên tục, rụng lá về mùa khơ, có tầng thảm xanh phát triển. Các
loại cây thường gặp là dầu tra beng, dầu lông, dầu đồng, cẩm hến, cà trắc,
12


chiêu liêu, gụ, cẩm lai. Đây là những loại gỗ quý có vỏ dầy, chịu lửa tốt nên
có thể sống sau các đợt cháy rừng vào mùa khô. Ở HST này có nhiều loại
thảo cỏ. Vì vậy, ở đây thích hợp với điều kiện sống của các loài thú ăn cỏ
lớn như bị tót, bị banten, voi, mang lớn, mang Trường Sơn…Và ở HST này
có nhiều loại chim quý như cơng, trĩ, diều hâu, hồng hồng, gà lơi…
7. Hệ sinh thái miệt vườn
Là những HST nông nghiệp hấp dẫn du khách nước ta. Miệt vườn được
hinh thành từ những khu vườn chuyên canh trồng các loại cây ăn quả vốn đã
nổi tiếng từ xa xưa như các miệt vườn ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần
Thơ…Và một số miệt vườn mới phát triển trong những thập kỉ gần đây như
vườn vải Thanh Hà- Hải Dương, Lục Ngạn – Bắc Giang.HST miệt vườn
Nam Bộ thường gắn với HST sông nước tạo nên phong cảnh thủy mặc, hữu
tình là cơ sở cho việc phát triển loại hinh du lịch sông nước ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long.
8. Hệ sinh thái núi cao

HST núi cao là nơi có khi hậu trong lành, mát mẻ, nhiệt độ trung bình
năm từ 18 đên 20 độ, có phong cảnh hùng vĩ. Ở HST này có nhiều kiểu rừng
độc đáo như lim, tre, bách xanh, rừng rùng rình (Tam Đảo), rừng lùn và
đồng rêu (Fansipan). Các HST núi cao rất lí tưởng cho hoạt động leo núi,
tham quan, nghỉ dưỡng như Đà Lạt, Tam Đảo, SaPa…
9. Sân chim
Là những vùng đất rộng với hệ thực vật phát triển thường là các lồi tre,
trúc, chàm, đước; có mơi trường trong lành, gần những khu vực ngập nước
hoặc các đồng bằng lớn chưa bị ô nhiễm. Đây là nơi sinh sống chủ yếu của
các thành phần lồi như cị, vạc, giang, rẽ, bồ nơng, cắt, choắt…Vì vậy,
vùng đồng bằng sơng Cửu Long có đến 30 sân chim như sân chim Cà Mau,
sân chim Ngọc Hiển, U Minh, Mĩ Hòa, Vĩnh Lộc, Cù Lao đất, chàm chim.
13


Ở miền Bắc và miền Trung cũng có một số sân chim: sân chim vùng hồ
Kẻ Gỗ ( Hà Tĩnh), Chi Lăng (Hải Dương), vườn cò Ngọc Nhị ( Ba Vì), sân
chim Thọ Xn ( Thanh Hóa).
Các HST đặc thù này thường được tập trung bảo vệ ở các VQG, khu Dự trữ
Sinh quyển thế giới và nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên. Do vậy việc khai thác
thế mạnh của tài nguyên sinh vật nói riêng và TNDL tự nhiên nói chung
thường tại các HST này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài nguyên du lịch – Nguyễn Thị Hải Yến(chủ biên), Nhà xuất
bản giáo dục
2. 10 vạn câu hỏi vì sao – Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật
3.
4.


14


PHỤ LỤC

15


Tuyết lở



Bão

Động đất

16


San hô ở Nha Trang

Hệ sinh thái vùng cát ven biển

Đầm lầy

17


Rừng ngập mặn


Hệ sinh thái núi cao (Đà Lạt)

Hệ sinh thái miệt vườn

18


Sân chim

Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Rừng khộp

19



×