3
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Hà Nội – “trái tim vàng” của Việt Nam đang đứng trước thềm đại lễ kỷ
liệm 1.000 năm (1010 – 2010). Đã có rất nhiều hoạt động diễn ra ở Hà Nội cũng
như khắp nơi trên cả nước để chào mừng dịp lễ trọng đại này như : lễ hội hoa,
xây dựng, tu bổ chùa, khôi phục một số lễ hội… Hà Nội ngày nay đang khởi sắc,
phát triển theo nhịp của đất nước và thời đại. Hà Nội ngày nay đã mở rộng thêm
nhiều, đã và đang được xây dựng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo ý nghuyện
của Bác. Thế nhưng để có được một Hà Nội như ngày hơm nay, nhân dân ta đã
phải đấu tranh vô cùng gian khổ, đổ nhiều máu xương. Nhìn lại chặng đường
1.000 năm qua, thủ đo của chúng ta đã cùng đất nước trải qua bao thăng trầm, có
những tháng ngày rực rỡ mà cũng khơng ít giai đoạn đau thương. Dân tộc ta
cũng đã lừng danh trên tồn cầu với những chiến cơng đánh bại những kẻ thù
sừng sỏ nhất thế giới: ba lần thắng quân Nguyên Mông, đánh bại thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ. “Vẫn biết rằng sống là phải hướng đến tương lai, nhưng quá
khứ là tấm gương nên ngắm lại”. Trước thềm đại lễ, tôi muốn chúng ta cùng nhìn
lại chặng đường đã qua của dân tộc, của Hà Nội hào hùng với bao chiến công,
tiêu biểu là trận chiến “Điện Biên phủ trên không” đánh bại máy bay B52 – vũ
khí mạnh nhất của kẻ thù. Kẻ thù đã gieo bao đau thương trên mảnh đất nghìn
năm văn hiến của chúng ta, nhưng không hủy hoại được sức sống mãnh liệt của
dân tộc Việt. Chúng đã thất bại nặng nề. Là người Việt Nam, chúng ta cần biết
để tự hào và trân trọng những gì mà ngày hơm nay chúng ta đang có.
Hà Nội đang cùng đất nước phát triển nhanh trên con đường cơng nghiệp
hóa – hiện đại hóa. Du lịch đang là ngành kinh tế mũi nhọn được quan tâm đặc
3
4
biệt. Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị trên cả nước. Nơi đây thu hút
được rất nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế, bởi Hà Nội có nhiều di tích
lịch sử, văn hóa giá trị và đang là điểm đến an toàn, thân thiện với nền chính trị
ổn định.
Vì những lí do trên, tơi xây dựng tour du lịch “Hà Nội hào hùng” qua các
chứng tích của trận “Điện Biên Phủ trên khơng”, mong muốn đóng góp vào sự
phong phú sản phẩm du lịch, góp phần vào sự phát triển du lịch của thủ đơ.
2. Mục đích nghiên cứu
Giới thiệu về các chứng tích của trận “ Điện Biên Phủ trên không” tại Hà
Nội. Từ đó, đưa ra một số tour du lịch với các chứng tích này, làm phong phú
thêm sản phẩm du lịch của thủ đô.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Các chứng tích của trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ giá trị của các chứng tích này đối với sự phát triển du lịch của thủ
đô, và đưa ra một số chương trình du lịch với các chứng tích này.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: tham khảo các tài liệu qua sách, báo,
internet.
6. Bố cục của bài viết
Ngoài các phần mục lục, mở đầu, kết luận,ảnh minh họa bài viết gồm 3
phần chính sau:
Chương 1: Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên khơng tại Hà Nội”
Chương 2: Các chứng tích của trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội.
4
5
Chương 3: Xây dựng tour du lịch “Hà Nội hào hùng”với các chứng tích
trận “Điện Biên Phủ trên khơng” tại Hà Nội.
I. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tại Hà Nội (18/12 –
29/12/1972)
1.1. Giới thiệu sơ lược về cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc
Mỹ
Là bộ phận của cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ tiến hành ở Việt Nam
nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phịng, phá rối việc tiếp nhận viện trợ nước
ngồi vào Việt Nam, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho miền Nam Việt Nam,
làm lung lay quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc này diễn ra với 2 chiến lược chiến tranh:
* Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968)
Mục tiêu
- Trực tiếp đưa quân chiến đấu từ Mỹ sang, thực hiện chiến dịch “tìm và
diệt” rồi chiến lược 2 gọng kìm “tiêu diệt chủ lục đối phương và bình định miền
Nam”.
- Đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn với cái gọi là
chiến dịch “Sấm rền”.
Để có cơ hội tấn cơng miền Bắc, ngày 31/7/1964, Mỹ dựng lên “Sự kiện
Vịnh Bắc Bộ và cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi ở miền Bắc như sông
Gianh, Vinh – Nghệ An…
5
6
Ngày 7/2/1965, Mỹ cho máy bay ném bom đánh phá thị xã Đồng Hới, đảo
Cồn Cỏ, chính thức mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Lực lươngk không
quân và hải quân Mỹ đã ném bom, bắn phá liên tục với cường độ ngày càng tăng.
Miền Bắc lúc này vừa chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ vừa
chiến đấu sản xuất và làm hậu phương lớn cho miền Nam.
*Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1974)
“Việt Nam hóa chiến tranh” của Richar M. Nichxơn là để thay thế cho chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” của Giônxơn đã phá sản là loại hình chiến tranh xâm
lược của Mỹ tiến hành bằng quân đội tay sai là chủ yếu, có sự của một bộ phận
đáng kể lực lượng chiến đấu của Mỹ và vẫn do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn
quân sự, cung cấp đôla, vũ khí kỹ thuật, phương tiện chiến tranh. Mỹ thực hiện
chính sách “ dùng người Việt trị người Việt”, “Dùng người Đông Dương giết
người Đông Dương để giảm xương máu của người Mỹ trên chiến trường”, còn
được gọi là “Thay màu da của xác chết”.
Mục tiêu:
- Mỹ rút quân nhưng để lại cố vấn chỉ huy, cung cấp vũ khí, trang bị,
lương thực, tiền của cho Ngụy quân và ngụy Sài Gịn.
- Làm đảo chính lật đổ chính phủ hồng thân Nơrơđơm Sihanuc, lập chính
quyền thân Mỹ Lonnon-Xirixmatắc.
- Mở chiến dịch Lam Sơn 719 để thử nghiệm công thức chiến lược quân
sự kết hợp với hỏa lực, hậu cần, chỉ huy Mỹ hòng ngăn chặn chi viện của hậu
phương miền Bắc trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn.
- Tiến hanh đánh phá miền Bắc trên quy mô lớn bằng máy bay chiến lược
B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố khác, phong tỏa mìn các cảng, cửa
sơng.
6
7
Cuộc chiến tranh phá hoại đã gây bao đau thương cho nhân dân Việt Nam,
trên mảnh đất luôn luôn khao khát hịa bình lại thêm nhiều cảnh tan hoang, thêm
bao nhiêu tấc đất bị giày xéo, bao người dân vô tội bị giết hại. Đau thương! Căm
hờn! Rồi vùng lên mạnh mẽ, đánh bại quân thù…Ngày hôm nay, thế hệ trẻ biết
về cuộc chiến của cha ông với bao máu, nước mắt và cũng đầy những chiến công
của thời đại “ra ngõ gặp anh hùng”. Tất cả đã được ghi dấu lại trên các di tích
lịch sử, các bảo tàng, các nhà tưởng niệm, các nghĩa trang…có ở khắp nơi trên cả
nước. Du khách khắp năm châu đang cùng thế hệ trẻ Việt Nam hành trình tìm về
quá khứ của những con người trên mảnh đất chữ S nhỏ bé, giản dị đã từng tạo
nên những chiến công “vang dội năm châu, chấn động địa cầu”.
1.2. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tại Hà Nội
1.2.1. Bối cảnh diễn ra cuộc tập kích chiến lược bằng khơng qn B52 của
Mỹ
Năm 1972, cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam đã đi vào giai đoại
quyết định. Trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao ta đều giành thắng
lợi lớn. Cuộc tiến cong chiến lược Xuân – hè bắt đầu từ 3/1972 của quân và dân
ta làm cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ
hồn tồn. Để cứu vãn tình thế, ngày 6/4/1972 Nichxơn vội vã ra lệnh, huy động
lực lượng lớn không quân và hải quân ở khu vực Đông Nam Á, tiến hành cuộc
chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc và quy mơ lớn hơn, tính chất
ác liệt hơn cuộc chiến tranh phá hoại lần 1 (1964 – 1968).
Đầu tháng 10, dưới sức ép của nhân loại tiến bộ và phong trào phản đối
chiến tranh ở Mỹ, buộc nhà trắng phải tìm lối thốt cho vấn đề Việt Nam. Ngày
8/10/1972, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và xinh-giơ tiến hành cuộc họp kín phiên
7
8
họp thứ 19, phái đoàn ta đưa ra dự thảo về hiệp định “Chấm dứt chiến tranh, lập
lại hịa bình ở Việt Nam”. Phái đoàn Mỹ đã chấp nhận.
Nhưng ngày 7/11/1972, Nich-xơn được tái cử tổng thống nhiệm kì lần 2.
Ơng ta khơng kí chính thức vào bản hiệp định đã thỏa thuận, muốn kết thúc
chiến tranh bằng sức mạnh bom đạn. Thực hiện mưu đồ đen tối trên, Lầu Năm
Góc đã bí mật chuẩn bị một kế hoạch tập kích đường khơng bằng chiến lược B52
vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc. Cuộc tập
kích chiến lược này mang tên là “Lai-nơ-bếch-cơ” (tạm dịch là “Tiền vệ” hoặc
“Cứu bóng trước khung thành”) nhằm đánh hủy diệt, khủng bố, làm tê liệt ý chí
chiến đấu của dân tộc ta, buộc ta phải khuất phục và chấp nhận những điều kiện
mà chúng đưa ra ở Hội nghị Pari.
1.2.2. Âm mưu của kẻ thù
Trước bối cảnh trên, Nich-xơn đã tiến hành cuộc tập kích đường khơng
bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phịng và các mục tiêu quan trọng ở miền Bắc nhằm:
-Gây sức ép buộc ta phải nối lại cuộc đàm phán ở Pari – chấp nhận theo
sửa đổi của Mỹ.
Đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự
chi viện cho miền Nam, làm giảm thế và lực của ta so với ngụy quân, ngụy
quyền Sài Gòn.
Đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân ta và chấn an, tạo thế cho ngụy
quân Sài Gòn tiếp tục âm mưu lấn chiếm.
1.2.3. Sơ lược về diễn biến trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội
Ngày 14/12/1972, Nhà trắng họp hội đồng an ninh quốc gia quyết định tập
kích đường khơng ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phịng và một số mục tiêu
quan trọng của miền Bắc. Cuộc tập kích chiến lược quy mơ lớn chủ yếu bằng
8
9
B52 của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm cuối 1972. Nichxơn đã lệnh cho toàn bộ máy bay chiến lược B52 (50% tổng số máy bay B52 của
toàn Mỹ) và các loại máy bay chiến thuật của khu vực Đông Nam Á, tiến công
trút xuống miền Bắc một khối lượng bom khổng lồ.
19h40’ đêm 18/12/1972, những loạt bom đầu tiên nổ rền chuyển rung đất
trời Hà Nội. Một số kẻ hí hửng vui mừng với ý nghĩ đưa miền Bắc trở về thời kì
đồ đá. Nhưng thực tế diễn ra trên bầu trời những đêm cuối tháng 12/1972 đã
hoàn toàn trái với mong đợi của nhà cầm quyền Mỹ. Ra-đa của chúng ta không
bị mù, thông tin liên lạc của chúng ta không bị gián đoạn, hệ thống phịng khơng,
khơng qn của chúng ta khơng bị vơ hiệu hóa như chúng tưởng.Ngược lại,
ngay đêm hơm đó, Hà Nội đã trả lời bằng chiến cơng xuất sắc đầu tiên: bắn rơi
ba “pháo đài bay”. Chúng ta đã giáng cho không quân chiến lược, chiến thuật
Mỹ một địn chống váng, để rồi sau 12 ngày đêm chiến đấu anh hùng, quân và
dân Hà Nội đã cùng Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Bắc giành chiến thắng vẻ vang.
Các lực lượng của ta tham gia trận chiến gồm:
- Bộ đội Ra-đa
- Bộ đội khơng qn tiêm kích
- Bộ đội tên lửa phịng khơng
- Bộ đội pháo phịng khơng
- Lực lượng phịng khơng của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ của thủ
đô Hà Nội
* Máy bay B52:
Khi mới ra đời, B52 được quân đội Mỹ quảng cáo rằng: “B52 là siêu pháo
đài bay thượng đẳng, là thần tượng của không lực Hoa Kỳ, là sản phẩm hội tụ
9
10
những thành tựu kì diệu của nền cơng nghiệp hàng đầu thế giới, là thứ vũ khí
linh hoạt nhất trong bộ ba chiến lược của Mỹ (tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân,
máy bay ném bom chiến lược). B52 trút bom như mưa. Tiếng bom rơi xé khơng
khí, gầm rít ghê tợn như giơng bão. Một phi vụ B52 có thể hủy diệt cả một khu
vực rộng lớn. Một tốp ba chiếc B52 sẽ biến diện tích 2 km2 thành bình
địa…Khơng một vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom
B52. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần. Bởi họ cảm
thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của B52 mà họ khơng có
cách nào chống đỡ nổi”
Máy bay 52 của qn đội Mỹ quả thật có sức mạnh ghê gớm, sức mạnh đã
mang đến cho nhân dân Việt Nam bao cảnh đau thương, chết chóc. Thế nhưng
khơng hủy diệt được mảnh đất hình chữ S như quân giặc đã tưởng. Thực tế đã
cho chúng thấy: không phải lúc nào mạnh cũng thắng yếu, vũ khí hiện đại có thể
hủy diệt được đường xá, cầu cống, bệnh viện, giết hại con người… nhưng khơng
thể hủy diệt được ý trí, niềm tin và quyết tâm của cả một dân tộc yêu nước, quyết
hi sinh tất cả để giành được độc lập, tự do.
* Tổng hợp số liệu 12 ngày đêm đế quốc Mỹ đánh phá thủ đô
1. Số lần/chiếc máy bay đánh phá thủ đơ Hà Nội: 5.891 lần/chiếc
Trong đó: Máy bay B52 là 444 lần/chiếc
Máy bay chiến thuật là hơn 1.000 lần/chiếc
2, Số ngày đánh phá: 12 ngày đêm
3. Giờ đánh phá: - Giờ đầu tiên: 19h40’ ngày 18/12/1972
-Giờ cuối cùng: 23h16’ ngày 29/12/1972
4. Số bom đạn ném xuống: 45. 633 quả bom các loại
10
11
Trong đó: 45.610 quả bom phá, 13 quả bom bi nhẹ, 2 quả bom điều khiển
bằng tia la-de, 8 quả bom xuyên mẹ.
5. Số điểm đánh phá:1.224 điểm
6. Số lần đánh phá: 1035 lần. Trong đó: dân cư 568 lần, kinh tế 250 lần,
giao thông 136 lần, quân sự 79 lần, chính trị 2 lần.
7. Số người chết: 2.380 người
Số người bị thương:1.355 người
8. Tài sản thiệt hại: 500 ngôi nhà nội thành và 8.282 ngôi nhà ngoại thành
bị hủy diệt.
Từ đêm 18/12 đến 29/12/1972, quân dân Hà Nội đã liên tiếp bắn rơi 23
máy bay B52, 2F111 và 5 máy bay phản lực khác, đập tan cuộc tập kích chiến
lược của không quân Mỹ, giành thắng lợi vẻ vang, góp phần đáng kể “Đánh cho
Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
Gơ-rin-ut đã viết trong cuốn B52 trong vai trò chiến thuật” rằng: “ Các
chiến thuật gây nhiễu điện tử bằng nhiều biện pháp và bằng các chế tài hiện đại
nhất của khơng lực Mỹ đều thất bại trước trí tuệ người Việt Nam”.
Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ (một thung lũng lịng chảo rộng
lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào - Việt), nhân dân ta đã
làm nên “thiên sử vàng” bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám,
mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng này đã đánh đuổi thực dân – một kẻ thù lớn của
các nước thuộc địa trên thế giới. Năm 1972, lại một lần nữa nhân dân Việt Nam
làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đánh bại đế quốc Mỹ - một đế
quốc sừng sỏ tồn cầu với vũ khí mạnh nhất và tàn ác nhất là máy bay B52. Ba
11
12
năm sau chiến thắng này, “Mỹ đã cút, ngụy đã nhào” khỏi Việt Nam. Ngày nay,
bạn bè năm châu đến Việt Nam học tập, tham quan, nghỉ dưỡng… có rất nhiều
người Pháp, Mỹ. Quá khứ đã lùi lại phía sau, nhưng những bài học mà chiến
tranh để lại thì vẫn cịn ngun vẹn đó, chiến tranh dường như cũng là điểm làm
cho nhân dân các nước trên thế giới chú ý đến Việt Nam nhiều nhất. Người Việt
đã “bắt tay” với người Pháp và Mỹ trước con đường phát triển. Vết thương trong
quá khứ như lời nhắc nhở với thế hệ trẻ ngày nay, sống sao để “cái bắt tay” là
tình hữu nghị, hàn gắn chiến tranh và cùng nhau phát triển.
II. Các chứng tích của trận “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội
2.1 Bệnh viện Bạch Mai
2.1.1 Lịch sử bệnh viện
Để ngăn ngừa bệnh tả lan truyền vào khu vực của binh lính Pháp trong nội
thành Hà Nội, nhà chức trách Pháp đã chỉ thị ngày 8/2/1910 cho xây dựng một
cơ sở dành riêng cho các bệnh nhân lây ở Cống Vọng thuộc ngoại ơ Hà Nội với
tính chất ban đầu của khu cách ly. Bệnh viện được khởi công xây dựng năm
1911. Các văn bản cũ được gọi là Bệnh viện Lây ở Cống Vọng, có lúc lại ghi là
Bệnh viện Lây Bạch Mai. Cơ sở của bệnh viện ở cách ranh giới của Hà Nội lúc
đó khoảng 2km trong vùng đất đai của tỉnh Hà Đông xưa, trên đường đi Nam
Định, hoàn toàn xa cách mọi tập hợp dân cư. Bệnh viện Lây Bạch Mai ngày xưa
cịn lưu lại di tích sau này là khu vực khoa truyền nhiễm, hiện nay là Học Viện
lâm sàng các bệnh nhiệt đới.
Năm 1945, Bệnh viện có tên chính thức là Bạch Mai
12
13
Dưới thời Pháp thuộc, phụ trách cao nhất ở Bệnh viện Lây Bạch Mai là
người Pháp. Bác sĩ Đinh Văn Thắm là người Việt Nam đầu tiên được cử giữ
chức giám đốc Bệnh viện Bạch Mai.
Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Bệnh viện Bạch Mai là
nơi bám trụ cuả vệ quốc quân, dân quân, du kích, tự vệ thủ đô để tấn công, chống
trả giặc. Đây cũng là vị trí then chốt chặn quân địch tiến xuống Ngã Tư Vọng,
không cho chúng đánh thông đường nối liền Hà Nội với Phủ Lý và Nam Định.
Năm 1965, khi đế quốc Mỹ đưa quân ồ ạt vào xâm lược miền Nam thì
phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì
miền Nam ruột thịt đã sôi nổi trong Bệnh viện Bạch Mai. Bộ y tế dưới sự chỉ đạo
của Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã đề xuất một phương án cụ thể, đưa các cán
bộ y tế miền Bắc vào công tác chi viện cho miền Nam. Hưởng ứng phong trào
đang sôi sục trong cả nước, Bệnh viện đã lần lượt tiễn 16 bác sĩ và nhân viên vào
Nam chiến đấu, 12 bác sĩ, y tá vào phục vụ ở chiến trường miền Nam, 10 bác sĩ
và y tá sang chiến đấu sát cánh cùng các bạn Lào.
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, ném bom đánh
phá Hà Nội thì phong trào thi đua đã dấy lên hết sức mạnh mẽ trong Bệnh viện.
Các tổ chức lao động XHCN được cơng nhận nhiều hơn, các chương trình
nghiên cứu khoa học được hoàn thành sớm hơn với chất lượng cao.
Sau ngày ký kết Hiệp định Pari, tất cả các đơn vị trong Bệnh viện đã ra
sức khắc phục mọi khó khăn, sửa chữa, xây dựng lại cơ sở, đẩy mạnh mọi công
tác phục vụ bệnh nhân, tiếp tục đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học trong
những điều kiện và hoàn cảnh đầy gian nan và vất vả, khó khăn.
13
14
Vì những thành tích dũng cảm cứu chữa nạn nhân và nạn nhân chiến tranh,
Bệnh viện Bạch Mai đã được Nhà nước tặng thưởng một Huân chương kháng
chiến hạng nhất và hai huân chương kháng chiến hạng nhì.
2.1.2 Thiệt hại của bệnh viện trong trận “Điện Biên Phủ trên khơng”
Tình trạng thất bại ở miền Nam Việt Nam đã làm cho để quốc Mỹ rơi vào
tình trạng thảm hại. Nhưng chúng vẫn không từ bỏ âm mưu phá hoại, chiến tranh
vẫn lan rộng trên cả hai miền. Đế quốc Mỹ không từ một hành động dã man nào.
Chúng đã tiến hành đánh phá các khu vực đông dân cư và các bệnh viện. Sau
một số các sở y tế khác ở địa phương bị oanh tạc, đến lượt bệnh viện Bạch Mai –
một trung tâm y tế và y học lớn nhất miền Bắc. Bệnh viện đã trải qua 4 lần bị
oanh tạc
- Lần 1: vào hồi 8h sáng 17/11/1967
- Lần 2: vào hồi 8h45’ ngày 27/6/1972
- Lần 3: 12h5’ ngày 19/12/1972
Đây cũng là ngày các máy bay cường kích oanh tạc một số điểm ở khu
Hai Bà Trưng và khu Đống Đa trong nội thành và một số xã ở ngoại thành như:
Tân Triều, Thượng Đình, Mễ Trì, Yên Hịa, Mỹ Đình, Dịch Vọng, Tiên
Dương…Trong giờ khắc đó, 4 quả bom đã ném xuống Bệnh viện: Phòng khám
đa khoa và khu xét nghiệm viện Tai – Mũi – Họng cùng nhiều nhà cửa xung
quanh bị đổ sập, một ô tô bị cháy, nhiều thiết bị và dụng cụ y tế bị hư hỏng.
Đồng thời đã làm cho 3 bác sĩ và kỹ thuật viên viện Tai – Mũi – Họng bị thương.
- Lần 4: Đêm 22/12/1972, cường độ các trận tập kích vào Hà Nội đã lên
đến đỉnh điểm. Từ 3h30 đến 3h45 sáng 22/12/1972 đã có 21 lần máy bay B52
đánh phá ác liệt vào khu vực Vĩnh Quỳnh, Định Cơng, Hồng Liệt, Tam Hiệp,
Tứ Hiệp, Đại Kim, Thịnh Liệt, thị trấn Văn Điển, Tương Mai và đặc biệt là Bệnh
14
15
viện Bạch Mai. Tại khu vực bệnh viện, giặc đã thả xuống hơn 100 quả bom đủ
các cỡ, có quả tới 2000 bảng Anh, phá hủy phần lớn trung tâm y tế lớn nhất này
của thủ đô, gây ra một tội ác hết sức man rợ. Chỉ với trận oanh tạc khủng khiếp
này, Bệnh viện Bạch Mai đã trở thành bãi bom, gạch vun đổ nát hoang tàn của
chiến tranh hủy diệt. Suốt đêm 21/12 có tới chục lần báo động, khoảng hơn 300
bệnh nhân đã được đưa xuống các tầng hầm không sao yên giấc được. Lúc 3h
sáng 22/12 sau lần báo động, các thầy thuốc đã hướng dẫn và giúp đỡ bệnh nhân
phân tán. Sau những trận bom đầu tiên thả xuống thì khu nhà đồ sộ hai tầng
chính mặt trước của bệnh viện, nơi đặt phịng thường trực của lãnh đạo và phòng
mổ cấp cứu, tuy được xây dựng bằng bê tông cốt thép vững chắc đã từ tầng trên
sập hẳn xuống nửa bên cánh trái. Tiếp đó là khu B cũng bị trúng bom làm sập cả
hai tầng: nơi đó trên là khoa Da Liễu và tầng dưới là bệnh viện Tai-Mũi-Họng.
Bom làm đổ sập tường và các tảng bê tông chẹn chặt xuống dưới cửa hầm, nơi
có các thầy thuốc của khoa Da Liễu đang trú ẩn. Bom rải sâu vào phía trong là
khu C của khoa Nội, nơi mà vết tích trận bom ngày 27/6/1972 còn gây nhức nhối
đau thương. Nhưng giờ đây, sự thảm sát và tàn phá còn kinh khủng hơn gấp bội:
sức công phá của hàng tấn thuốc nổ đã làm đổ sập hai tầng nhà và cầu thang CI,
khoan sâu xuống tận mái nhà, lấp kín nối xuống đường hầm và chèn lấp một
quãng hầm. Ở khoa Huyết học nhiều bom hơn đã làm đổ sập nhà trung tâm, phá
hủy nhiều máy móc. Các nơi khác như khoa Dược, khoa Ngoại, Khoa Phụ sản,
khoa Thận nhân tạo, Phòng hậu phẫu, Phòng điện quang, viện nhi và cả đến khu
nhà giặt cũng đều bị bom phá hủy. Trên bề rộng hàng chục vạn mét vng nhà,
chỗ thì bom đào thành hố sâu, chỗ thì của hỏng, tường lở lẫn lộn với cành cây,
điện nước đổ vỡ tan hoang.
15
16
Sau trận bom man rợ ấy, 28 con người đã bị giết hại thê thảm, ba khu nhà
cao tầng kiên cố bị đổ sập, nhiều dãy nhà khác trong Bệnh viện bị hư hại, hàng
ngàn ơ cửa kính bị nát vụn, hàng ngàn máy móc và thiết bị và dụng cụ y tế bị tan
nát, vùi lấp. Toàn bộ hệ thống đường hầm dài hàng cây số, rộng hàng ngàn mét
vng trước kia khơ ráo có thể sử dụng làm nơi làm việc nay bị chấn động và hư
hại nặng dẫn tới tình trạng khơng tiêu thốt được nước thải làm cho tồn thể khu
vực này bị ngấm nước, có nơi ngập sâu tới 30-40cm.
2.1.3 Bệnh viện Bạch Mai ngày nay
Hiện nay bệnh viện Bạch Mai có quy mơ 1400 giường bệnh với tổng số
cán bộ công chức là 2000. Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là
trong thời kỳ đổi mới bệnh viện Bạch Mai đã phát triển vượt bậc, hồn thành
xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.
Với đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sỹ, bác sỹ, Y tá điều dưỡng,
kỹ thuật viên có trình độ cao, với máy móc, trang thiết bị hiện đại và đồng bộ,
bệnh viện Bạch Mai luôn là nơi khám chữa bệnh có chất lượng hàng đầu và tin
cậy của người bệnh và nhân dân cả nước. Hàng năm số lượng bệnh nhân đến
khám là 350.000 đến 450.000 người. Số bệnh nhân điều trị nội trú trung bình từ
50.000 đến 60.000 người. Tỷ lệ sử dụng giường bệnh lúc nào cũng quá tải (trên
100%).
Nhiều kỹ thuật tiên tiến hiện đại được ứng dụng có hiệu quả trong chẩn
đốn, điều trị và chăm sóc người bệnh như kỹ thuật sử dụng máy X-Quang tăng
sáng truyền hình, chụp mạch 2 bình diện, chụp cắt lớp vi tính CT Scanner, siêu
âm Doppler màu… 83 kỹ thuật cao đã được áp dụng trong những năm qua đã
góp phần chẩn đốn chính xác, điều trị hiệu quả, cứu sống nhiều bệnh nhân hiểm
nghèo, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
16
17
Bệnh viện là cơ sở đào tạo cán bộ Trung học, Đại học và sau Đại học cho
ngành. Hàng năm Trường Trung học y tế Bạch Mai chiêu sinh 120 học sinh hệ
chính quy. Trường cịn có nhiệm vụ đào tạo lại cho nhiều đối tượng y tá, y tá
trưởng, y sĩ chuyển đổi… theo chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Bộ y tế giao cho bổ
túc theo chuyên đề do các tỉnh, các địa phương yêu cầu.
Phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội tiếp nhận 600-800 sinh viên (Đại
Học Y Hà Nội) đến thực tập tại Bệnh viện.
Bệnh viện là cơ sở nghiên cứu khoa học y học của ngành, trung bình mỗi
năm đã hồn thành trên dưới 100 đề tài có giá trị ứng dụng thực tế vào công tác
khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ.
Bệnh viện Bạch Mai có quan hệ hợp tác với nhiều nước trên thế giới.
Hàng năm Bệnh viện đón tiếp trung bình 100 - 150 đồn khách nước ngồi,
khoảng 500- 600 người đến tham quan, trao đổi kinh nghiệm, học tập và hợp tác
khoa học. Bạn bè quốc tế đánh giá cao trình độ chun mơn nghiệp vụ và quản
lý của Bệnh viện.
Đặc biệt, trong nhiều năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, được sự đầu
tư của Bộ Y tế và Nhà nước, Đảng ủy, Ban Giám Đốc, bệnh viện đã rất quan tâm
đến việc nâng cấp, xây dựng mới bệnh viện. Đồng thời bệnh viện đã bổ sung
nhiều máy móc, trang thiết bị cơ bản và hiện đại cho các Viện/Khoa/Phòng, bảo
đảm nâng cao chất luợng khám chữa bệnh.
Đảng bộ Bệnh viện liên tục là Đảng bộ trong sạch vững mạnh liên tục 20
năm liền. Nhiều cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng, thầy thuốc nhân
dân, thầy thuốc ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, huân chương, huy
chương và nhiều bằng khen của Chính phủ, Bộ y tế và các ngành, các cấp.
• Hn chương Kháng chiến hạng Nhì (1973)
17
18
• Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (1973)
• Huân chương Lao động hạng Nhất (1982)
• Huân chương Độc lập hạng Nhì (1997)
• Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (2000)
• Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001)
• Nhiều huân chương, huy chương cho các đơn vị và cá nhân: Khoa Hồi
sức Cấp cứu – A9 hai lần Anh hùng Lao động; GS. Vũ Văn Đính-Trưởng khoa
là Anh hùng Lao động ….
2.2 Phố Khâm Thiên
2.2.1 Lịch sử đường phố
Khâm Thiên là một trong những đường phố Hà Nội đã có từ rất lâu, từ
thuở đất Thăng Long mới trở thành kinh đô. Đường phố Khâm Thiên là cửa ngõ
đưa đón người xứ lục giao dịch với Kẻ Chợ.
Có tên Khâm Thiên là do ở đây, thời Lý, Trần, Lê (thế kỉ XI-XVII) có đài
Khâm Thiên Giám, cịn gọi là Tư Thiên Giám – một cơ quan theo dõi thời tiết,
thiên văn và nghiên cứu lịch pháp của nhà nước phong kiến thời bấy giờ.
Theo bản đồ Hà Nội năm 1831, phố này hình thành trên dải đất của các
thôn thuộc các tổng Tiền Nghiêm, Hữu Nghiêm huyện Thọ Xương. Đến thời
Pháp thuộc, toàn bộ phố thuộc về huyện Hồn Long, Hà Đơng. Nhưng sau đó cắt
trả về Hà Nội. Ở đây từ xưa đã là phố náo nhiệt, đến thời Pháp thuộc. mặt ngoài
phố là những dãy nhà cơ đầu, tiệm hút, tiệm nhảy, sịng bạc.
2.2.2 Thiệt hại của phố Khâm Thiên trong trận “Điện Biên Phủ trên khơng”
Trong cuộc tập kích chiến lược bằng khơng qn có tính chất hủy diệt vào
thủ đơ, 22h45’ ngày 26/12/1972, Nichxơn đã huy động 30 lần chiếc B52 ném
bom rải thảm suốt dọc phố Khâm Thiên. Hàng nghìn bom 2000 bảng Anh trút
18
19
xuống 18 khối dân phố, trong đó có 6 khối bị hủy diệt hoàn toàn, đặc biệt là các
khối 45, 46, 47 đã bị san bằng. Bom giặc Mỹ đã phá hủy 534 ngôi nhà của người
dân, 1200 ngôi nhà khác bị phá hủy nặng nề. Hàng trăm cơng trình công cộng
như: cửa hàng ăn uống, giải khát, lương thực thực phẩm, chợ, trường học, nhà
mẫu giáo, đình chùa cũng bị phá hủy theo. Tội ác của Nichxơn ném bom hủy
diệt Khâm Thiên còn nặng hơn tội ác của Hitle ở Ôrađua, Li-đi-xê và đã bị lên
án mạnh mẽ.
Trên bản đồ quân sự, Nichxơn đã chọn ô Khâm Thiên – một phố đông dân
vào loại hàng đầu của Hà Nội, mật độ dân số đến hàng vạn dân/km2 . Đánh vào
Khâm Thiên, Nichxơn và bè lũ đã gieo rắc bao cảnh thương tâm trên mảnh đất
này. Sau trận tàn sát, miệng hố bom tàn sát bao trùm khắp con phố. Những quả
bom tạ được thả làm sập hẳn những ngôi nhà nhiều tầng, quét gọn từng dãy nhà
phía trước. Hàng trăm quả bom rơi xuống ô vuông rải thảm, bề dài hơn một cây
số, bề ngang có chỗ lên 600 thước. Tiếng kêu la đau đớn, tiếng người than khóc,
những chiếc khăn trắng, những quan tài, bông băng…bao phủ lên khu phố một
màu chết chóc, tố cáo tội ác của tên khát máu Nichxơn, trào dâng ngọn lửa căm
hờn. Người Khâm Thiên đã nén đau thương, kiên cường quật khởi đứng lên cùng
với nhân dân Hà Nội giáng trả Mỹ những địn quyết liệt.
Hình ảnh phố Khâm Thiên bị ném bom tàn sát đã trở nên nhức nhối lòng
người. Lòng người Khâm Thiên ghi khắc nỗi đau này. Nhiều bài thơ, bài báo
cũng đã viết về những đau thương của con phố - một phần máu thịt của thủ đô.
Ghi lấy thù này
(Nguyễn Đỗ Lưu)
“ Khâm Thiên
Một đường phố ta yêu tha thiết
19
20
Đường phố của những người lao động trẻ trung
Đầy ắp ánh đèn đêm dậy lung linh
Bàng xòe tán qua mùa xuân sang mùa hạ
Không lúc nào vơi tiếng cười trong vòm lá
Những dãy bàng cùng lứa tuổi 20
Bừng lớn dậy từ tay người khác nhau màu tóc
Cụ hàng nước nhận chăm cây từ khi mới mọc
Bác thợ cạo chăm cây từ lúc còn non
Các em học sinh chăm cây trước cửa trường mới mở
Nên phố đẹp xanh rờn, mát rượi lối người qua
B52 rải thảm phố nhà ta
Cây gãy tán bên xác cụ già hàng nước
Cây giập nát bên bác thợ hạn thợ thiếc
Cây lìa cành cùng ơng lang thuốc bắc, thuốc nam
Cây tróc rễ sóng sồi bên tóc trẻ em
Cùng người mẹ gục đầu dưới cầu thang ngực trào máu sữa
Bao kỷ niệm về cồn cào trí nhớ
Từ thuở Khâm Thiên còn tăm tối đắng cay
Từ thuở con người mua bán như vật trao tay
Đến hôm nay…
Phố đẹp điểm xây cho người lao động
Hạnh phúc xanh như dãy bàng xòe tán rộng
Thơm thảo hương bàng ngan ngát phố Khâm Thiên…
Mối thù này ghi nhớ mãi không quên
Cành bàng gãy, sắc hồng vần trào trên mặt lá
20
21
Nợ máu bắt quân thù phải trả
Khẩu súng ta cầm nhớ hướng giặc bay
Bắt chúng nghìn lần vùi xác xuống nơi đây”.
2.2.3 Phố Khâm Thiên ngày nay
Phố dài 1170m, đi từ đường Lê Duẩn, chỗ đường tàu hỏa chạy qua, đến
ngã tư phố Tơn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng (Ơ Chợ Dừa, quận Đống Đa).
Ngày nay, Khâm Thiên là một trung tâm may mặc và buôn bán sầm uất
khá nổi tiếng ở Hà Nội. Tại đây, dư âm về một q khứ kinh hồng và đau
thương vẫn chưa thể xóa nhịa. Đài tưởng niệm Khâm Thiên được dựng trên nền
ngơi nhà số 51. Trận ném bom của Mỹ giết chết tồn bộ 7 người trong ngơi nhà
này. Bức tượng đồng có hình phụ nữ nâng trên tay thi thể một em bé được sáng
tác từ nguyên mẫu là chủ nhân của ngôi nhà.
2.3.Cầu Long Biên
2.3.1 Lịch sử cây cầu
Cây cầu sinh ra trong kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất của người
Pháp ở Đông Dương(1897 – 1914). Trong “Báo cáo về chương trình khai thác
thuộc địa lần thứ nhất” gửi cho Bộ trưởng bộ thuộc địa Pháp, toàn quyền Đông
Dương Doumer đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cây cầu bắc ngang sơng
Hồng. Sau nhiều chuyến đi khảo sát, nhiều tranh cãi, cuối cùng, vào 1891 hồ sơ
cây cầu đã được thiết kế theo những chuẩn mực hiện đại của thời đó. Ngày
6/11/1897 chính phủ Pháp đã chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật
và cho tiến hành tổ chức đấu thầu với 6 công ty tham gia.
Với phương án được đánh giá là “…chắc chắn, trang nhã, có dầm chìa, tạo
ra những nhịp cân đối, hài hịa…”mà cơng ty Daydé&Pillé ở Creil đã được chọn.
Người thiết kế là Gustave Eiffel (người đã thiết kế tháp Eiffel nổi tiếng thế giới).
21
22
Ngày 12/9/1987, lễ khởi công xây cầu này được thực hiện trước sự chứng
kiến của đông đảo các quan chức và dân chúng. Điều hành công việc xây dựng là
một đội ngũ gần 40 kỹ sư, chuyên gia, đốc công người Pháp cùng hơn 3000 công
nhân người Việt. Số vật liệu phải sử dụng vào khoảng 3.000m3 đá và 6.000 tấn
kim loại.
Ngày 3/2/1902 cây cầu được hoàn thành. Đúng 8h30 ngày 28/2/1902
chuyến tàu của vua Thành Thái và toàn quyền Đơng Dương cùng đồn tùy tùng
tới cầu làm lễ khánh thành. Hơm ấy, đồn tàu đầu tiên nối liền Hà Nội-Hải
Phòng chuyển bánh trong niềm kiêu hãnh của bao người. Đó cũng là tàu chở
đồn quyền Đơng Dương Paul. Doumer xuống cảng Hải Phịng, ra tàu biển trở
về Pháp, hồn thành vẻ vang sứ mệnh xây dựng hệ thống giao thơng đường sắt ở
Bắc Kì.
Đây là cây cầu dài thứ hai trên thế giới, chỉ sau cầu Brooklyn bắc ngang
qua sông East- river của Mỹ. Tổng chiều dài cầu vào khoảng 1862m, gồm 19
nhịp trên 20 trụ. Từ trên nhìn xuống, cầu có bình diện hình chữ nhật khoảng
100.000m2 . Từ dưới bãi bồi nhìn lên, cầu như mạng lưới ăng-ten giăng mắc trên
vòm trời
2.3.2 Thiệt hại của cây cầu trong trận chiến “Điện Biên Phủ trên không”
Những năm tháng máy bay Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc bằng B52,
hàng tấn bom đạn đã ném xuống đây nhằm phá hủy huyết mạch giao thông gần
như độc đạo lúc ấy vận chuyển hàng hóa, thiết bị quân sự từ cảng Hải Phòng chi
viện cho chiến trường. Cầu Long Biên từng bị máy bay Mỹ oanh tạc 14 lần. Năm
1967 và 1972 máy bay Mỹ đã làm 1500m cầu, 9 nhịp cầu và 4 trụ cầu bị hư hỏng
nặng. Nhưng chỉ sau 40 ngày đêm tập trung sửa chữa, 4/3/1973, cầu Long Biên
lại sừng sững hiên ngang thông xe phục vụ giao thông.
22
23
2.4 Hồ Hữu Tiệp
Hồ là nơi lưu giữ xác máy bay B52 trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên
không”. Đây là câu chuyện về xác may bay ở Hồ Hữu Tiệp.
Tiểu đồn 71, 72, (trung đồn 285) ở Hải Phịng được Đảng ủy và Bộ tư
lệnh quân chủng chủ trương điều lên tăng cường lực lượng bảo vệ thủ đô. Sau
hai đêm trực tiếp chỉ huy hành quân, trung đoàn phó Nguyễn Đình Lâm và phó
chính ủy Lê Phương Châm đã tổ chức cho 2 tiểu đoàn triển khai chiến đấu. Tiểu
đoàn 72 chiếm lĩnh trận địa Đại Chu. Tiểu đoàn 71 chiếm lĩnh trận địa Hạ Liễu.
23h ngày 27/12/1972, địch vào đánh Hà Nội – Hải Phòng, Thái Nguyên.
Theo lệnh của sư đồn phịng khơng 361, trung đồn phó Nguyễn Đình Lâm giao
nhiệm vụ cho tiểu đồn 71 đánh tốp B52 từ phía bắc Tam Đảo xuống. Tiểu đồn
72 đánh từ hướng đông nam và khu vực Văn Điển, Giáp Bát. Tiểu đoàn trưởng
Nguyễn Văn Chắt ra lệnh địch trong hồn cảnh chúng ta rất thiếu vũ khí chiến
đấu. Hai quả bom được phóng lên và nổ trúng mục tiêu (trong hồn cảnh mỗi
tiểu đồn chỉ cịn hai quả bom đạn tên lửa). Chiếc B52 rơi xuống đình Hữu Tiệp,
làng hoa Ngọc Hà, mảnh của nó rơi lả tả xuống đường Hồng Hoa Thám. Chiến
cơng này đã góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của quân và dân Hà Nội
trong 12 ngày đêm anh dũng.
2.5. Nhà tù Hỏa Lị
2.5.1 Lịch sử hình thành của nhà tù Hỏa Lị
Nhà tù Hỏa Lò là nhà tù lớn do thực dân Pháp xây dựng cuối thế kỉ XIX
để giam cầm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam. Đây là chứng tích
tội ác của chủ nghĩa đế quốc xâm lược và tự do phơi bày những mưu đồ và hành
động tàn bạo của nhà cầm quyền thực dân đối với nhân dân Việt Nam, phủ nhận
hoàn toàn cái gọi là “khai hóa văn minh” mà họ rêu rao lừa bịp.
23
24
Từ thế kỉ XIX, CNTB trên thế giới phát triển với tốc độ nhanh, ngày càng
uy hiếp đến các nước có nền kinh tế chậm phát triển. Cuộc chạy đua tìm kiếm thị
trường mới giữa các nước tư bản lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong đó, các
nước trên bán đảo Đông Dương là một trong những mục tiêu xâm lược của
chúng. Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng đánh chiếm Đà
Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngay từ khi đổ bộ lên Đà
Nẵng, quân xâm lược đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của nhân dân Việt
Nam.Nhưng triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng trước âm mưu và hành động
trắng trợn của Pháp. Triều đình Huế đã phải ký hịa ước 5/6/1862 cắt 3 tỉnh miền
Đông Nam Kỳ: Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp.
Năm 1867, chúng xâm chiếm vào sát nhập 3 tỉnh miền Tây lục tỉnh vào
“Nam Kỳ thuộc Pháp” và đặt cả miền này dưới chế độ thuộc địa. Đến 1883, triều
đình nhà Nguyễn đã kí hiệp ước hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Đất nước bị
biến thành thuộc địa, nhân dân ta bị biến thành nô lệ.
Ngày 17/10/1887, tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập liên bang Đơng
Dương với tồn quyền Paul Doumer và chọn Hà Nội làm thủ phủ của chính
quyền Đơng Dương.
Mặc dù bị đàn áp, khủng bố rất ác liệt, nhân dân Việt Nam vẫn liên tiếp
vùng dậy cầm vũ khí chống bọn cướp và bán nước. Triều đình Nguyễn và Pháp
đều bối rối trước phong trào kháng chiến rất sôi nổi ở các địa phương. Hàng vạn
người Việt Nam yêu nước bị bắt và giết hại. Tòa án, nhà tù…cơng cụ phục vụ
chính quyền thực dân được xây dựng nhanh chóng. Tính đến 8/1890, số tù nhân
ở nhà tù nhân sự Hà Nội vẫn nằm trong 2 ngôi nhà cũ kỹ ở phố Mã Mây. Từ
1895, việc đàn áp, bắt bớ liên tục diễn ra làm cho số tù nhân tăng lên chóng mặt
và khơng đủ nơi giam giữ. Có lúc, chính quyền thực dân đã sử dụng chùa Trấn
24
25
Quốc để giam giữ tù nhân bị bệnh phải cách ly. Việt Nam cũng giống như Đông
Dương, nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních người. Để giảm
bớt sự quá tải của nhà tù trung ương Hà Nội, giám đốc nhà tù Gri rô(Guiraud) đã
đề nghị với thống sứ Bắc Kỳ cho đưa những tù nhân bị coi là cực kì nguy hiểm
đến các nhà tù Côn Đảo, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang.
Cuối thế kỉ XIX, số lượng tù nhân khơng ngừng tăng lên. Chính quyền
thực dân đã quyết định xây dựng gấp một nhà tù trung ương Hà Nội, một nhà tù
kiên cố vào bậc nhất Đơng Dương.
Ngày 24/1/1896, bản dự tốn và điều kiện đấu thầu xây dựng gồm 41 điều
khoản do Kiến trúc sư – Giám đốc xây dựng nhà cửa Villdie thảo xong.
Ngày 27/2/1896, kỹ sư trưởng cầu đường – giám đốc nha cơng chính đã
kiểm tra và trình tồn quyền Đơng Dương duyệt dự án.
Ngày 16/4/1896 tồn quyền Đơng Dương cho tổ chức đấu thầu việc xây
dựng cơng trình này. Hai người Pháp là Fourien Tr’luyer và Lerache đã trúng
thầu.
Tổng diện tích để xây dựng nhà tù và những đường làn cận dẫn tới nhà tù
khoảng 12.908m2 . Trong đó, diện tích xây dựng nhà tù là 10.870m2. Khu đất
được chọn xây dựng nhà tù thuộc làng Phụ Khánh, Tổng Vĩnh Xương, huyện
Thọ Xương cũ của Hà Nội. Làng Phụ Khánh là làng nghề chuyên sản xuất chum
vại, sành sứ. Vì dân làng phải đốt lị nung nên có tên là Hỏa Lò.
NHà tù được xây dựng khẩn trương cùng với tịa nhà đại hình(nay là tịa
án nhân dân tối cao) và Sở mật thám(nay là công an thành phố Hà Nội). Sở mật
thám – tịa nhà đại hình – nhà tù Hỏa Lị được bố trí thành tam giác, tạo thành
thế kiềng ba chân vững chắc cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp.
25
26
Nhà tù Hỏa Lò nhốt tù từ 1/1/1899 mặc dù vẫn chưa xây xong.Nhà tù trở
thành 1 công cụ đàn áp đắc lực nhất của thực dân Pháp. Hàng bao nhiêu thế hệ
tù chính trị, cộng sản, những người yêu nươc đã bị chôn vùi cả thể xác lẫn linh
hồn tại nơi đây.
Ngày 10/10/1954, sau khi tiếp quản thủ đô, nhà tù đươc giao cho Ủy ban
quân quản Hà Nội và thuộc quyền quản lí của cơng an thành phố Hà Nội. Thời kì
này, nhà tù dùng làm nơi giam giữ những người phạm tội hình sự và chủ yếu là
đang trong thời gian chờ diễn ra xét xử. NHà tù được đổi tên thành “Trại giam
phạm nhân Hà Nội”.
Trong kháng chiến chơng Mỹ, nhà tù Hỏa Lị vẫn được sử dụng làm nơi
giam giữ những thường phạm. Nhưng từ ngày 5/8/1964 đến 29/3/1973 Hỏa Lò
trở thành nơi giam giữ các phi công Mỹ bị bắt trong chiến dịch Điện Biên Phủ
trên không. Số phi công Mỹ bị bắt ở đây có lúc lên tới cả trăm người. Và trong
đó có cả những người sau này trở thành nhân vật nổi tiếng. Đó là Douglas
Reterson – là đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam và Jonh Mccain, Thượng nghị sỹ
Hoa Kỳ. Phi cơng Mỹ gọi Hỏa Lị là “khách sạn Hilton”. Sau khi miền Nam
được giải phóng, đát nước thống nhất, nhà tù Hỏa Lò được dùng giam thường
phạm
Năm 1979, nhà tù được sửa chữa thêm để giam tù binh Trung Quốc. Nhà
tù Hỏa Lò được coi là “Bắc kinh phạm điếm”.
Đến 1993, Hỏa Lị khơng cịn là nơi giam giữ tù nhân nữa. Phạm nhân
được đưa đến nhà giam huyện Từ Liêm – Hà Nội. Từ đó đến nay, nhà tù Hỏa Lò
trở thành nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp, là di tích chứng kiến tinh thần
đấu tranh bất khuất của các chiến sỹ cách mạng Việt Nam. Và đây đã trở thành
một điểm đến hấp dẫn của du lịch Hà Nội.
26
27
2.5.2 Hiện trạng di tích nhà tù Hỏa Lị ngày hơm nay
Di tích Hỏa Lị ngày nay thuộc số 1 Hỏa Lị, quận Hồn Kiếm, Hà Nội.
Hiện nay, di tích còn lại của nhà tù Hỏa Lò là 2.434m2, trong đó có 800m2 trưng
bày, chiếm 1/5 diện tích của nhà tù cũ. Những kiến trúc gần như nguyên trạng
của thời Pháp thuộc còn lại gồm: Nhà chỉ huy (nhà A), nhà B, trại D-E và sân,
nhà C, trại giam nữ và sân, sân hành quyết phạm nhân. Với 800m2 trưng bày
trong di tích giới thiệu hai bộ phận chính:
- Chứng tích tội ác của thực dân Pháp
- Nhà tù Hỏa Lò – nơi ghi dấu phong trào đấu tranh của các chiến sỹ yêu
nước và chiến sỹ cách mạng.
Khi Hỏa Lị trở thành di tích lịch sử cách mạng thì các khu nhà được thay
đổi toàn bộ chức năng để phù hợp với nội dung và hình thức hoạt động của ban
quản lí di tích. Các khu nhà chỉ huy hiện nay được dùng làm nơi làm việc của
các cán bộ, các phòng giam được dùng làm nơi để trưng bày bổ sung cho di tích.
Phía mặt tiền của nhà tù vẫn được giữ nguyên hiện trạng chạy dài theo chiều dọc
phố Hỏa Lị. Cổng chính nhà tù được giữ ngun vẹn, phía trên cịn dịng chữ
Pháp “Maison Central” – nhà lao trung ương. Hai chòi canh vẫn được giữ
nguyên ở phía đầu phố Hai Bà Trưng và phố thợ Nhuộm. Tòa nhà chỉ huy vẫn
giữ nguyên hai tầng. Nhà giám thị gồm hai tầng, nay chỉ còn giữ lại được 1/3 ở
phía đơng, phần cịn lại bị phá bỏ để dành xây dựng Hanoi tower.
Nhà làm việc giám mục, trai giam nữ tù nhân, trại giam D, trại giam E đều
trở thành nơi trưng bày di tích. Cây bàng phía trước trại E, tuy khơng cao lắm
nhưng nó là bằng chứng lịch sử chứng kiến cuộc sống của những tù nhân yêu
nước nơi đây. Chính cây bàng đã từng là vị thuốc cứu sống rất nhiều tù nhân và
27