Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG của CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRUNG BÌNH của VIỆT NAM QUA các năm 2006, 2011và 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.63 KB, 28 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO
1.1.

Khái niệm năng suất lao động và tăng năng suất lao động.

1.1.1.
1.1.2.
1.2.
a)
b)
c)
1.3.

Khái niệm năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại.
Khái niệm tăng năng suất lao động trong thương mại.
Phân loại năng suất lao động
Theo nội dung : chia làm 2 loại
Theo phương pháp chọn giá gốc so sánh
bao nhiêu chi phí cho lao động trong kỳ
Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loại
những bất ổn ở bên ngoài.
Năng suất lao động và việc áp dụng tính tốn ở Việt Nam

CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2006, 2011VÀ 2016
2.1.

Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm



2.2.

2006
Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam

2.3.

năm 2011
Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam
năm 2016

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU


Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc tự
điều tiết của thị trường bằng các qui luật kinh tế như: qui luật giá trị,qui luật cungcầu và qui luật cạnh tranh,do vậy các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thương
trường thì họ phải khơng ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
.
Một trong những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Doanh
Nghiệp đó là nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp. Để hiểu và làm
được điều này thì cần nắm rõ những lí luận về năng suất lao động, các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất lao động là hết sức cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp.
Năng suất lao động là : Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích” Nó nói lên
kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian

nhất định. Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian;hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Vì vậy em chọn đề tài “ Sử dụng cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê để phân
tích về biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình Việt Nam qua các
năm 2006, 2011, 2016 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao động các
thành phần kinh tế và cấu trúc nguồn lao động các thành phần kinh tế.” làm
đề tài tiểu luận.


CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO
1.4.

Khái niệm năng suất lao động và tăng năng suất lao động.

1.4.1. Khái niệm năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại.

Năng suất lao động: Một cách khái quát năng suất lao động được hiểu là
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng lao động sống trong quá trình sản xuất
kinh doanh, được đo bằng mức doanh thu của một nhân viên. Vì vậy nó cũng là
một chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được với chi
phí bỏ ra để dạt được kết quả đó.
Năng suất lao động = kết quả / chi phí lao động
Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa
bình qn của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian
Năng suất lao động của một nhân viên bán hàng = mức tiêu thụ hàng hóa / số
nhân viên bán hàng
Hoặc số nhân viên bán hàng / mức tiêu thụ hàng hóa
1.4.2. Khái niệm tăng năng suất lao động trong thương mại.

- Tăng năng suất lao động là quá trình tăng lực lượng sản xuất của lao động,

tăng hiệu quả sử dụng lao động sống. Thực chất đây là quá trình tiết kiệm
quá trình lao động sống trong việc sản suất sản phẩm dịch vụ, từ đố chi phí
cho lao động sản suất sản phẩm dịch vụ đưuọc giảm xuống, đồng nghĩa với
việc bán sản phẩm dịch vụ đó sẽ tăng lên.
- Tăng năng suất lao động trong thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bình
qn của một nhân viên bán hàng trong cùng một đơn vị thời gian, hoặc
giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa
tiêu thụ. Như vậy năng suất lao động luôn gắn với giảm hao phí lao động,
giảm giá thành sản suất kinh doanh. Đó chính là sự khác biệt giữa tăng năng
suất lao động với tăng cường độ lao động.


-

Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là giảm chi phí lao động sống nhưng chất
lượng cung câp dịch vụ cho khách hàng không bị giảm sút. Việc tăng năng
suất lao động có ý nghĩa vơ cùng to lớn đối với ngành, đối với mọi doanh

nghiệp và đối với người lao động.
- Ý nghĩa đối với người lao động kinh doanh sản phẩm dịch vụ, tăng năng
suất lao động đồng nghĩa với việc tăng lời nhuận và tăng hiệu quả kinh tế.
Mối quan tâm lớn nhất và quan trọng hàng đầu của mỗi doanh nghiệp là lợi
nhuận, do đó họ sẽ thực hiện mọi biện pháp để có thể tăng năng suất lao
động đến mức tối đa.
- Ý nghĩa đối với ngành, việc tăng năng suất lao động làm cho khả năng tái
sản suất được tăng lên từ đó qui mô ngành cũng tăng cao. Khi qui mô của
ngành tăng cao thì vị thế đống góp cho nền kinh tế của ngành cũng tăng cao.
- Ý nghĩa đối với người lao động, tăng năng suất lao động có nghĩa là lượng

giá trị do người lao động tạo ra tăng lên từ đó thu nhập của người lao động
cũng tăng lên, các lợi ích vật chất khác của họ cũng cao hơn. Năng suất lao
động làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng mở rộng về
qui mơ và tăng cao về chất lượng, từ đó điều kiện làm việc của người lao
động sẽ được nâng lên.
- Theo cách tính năng suất lao động bằng chỉ tiêu giá trị:
W= M/ T
giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa
W : năng suất lao động
M : mức hàng hóa tiêu thụ trong kì
T : số lao đọng bình quân trong kì.
-

Để tăng năng suất lao động xảy ra các trường hợp sau:
TH1: mức tiêu thụ hàng hóa tăng và số lao đọng bình qn khơng đổi. do
chi phí khơng đổi lên doanh nghiệp có lợi nhuận tuy nhiên qui mơ của doanh


nghiệp khơng tăng vì thế đó khơng phải là lựa chọn tối ưu đẻ doanh nghiệp
phát triển.
- TH2: doanh thu khơng đổi và số lao động bình qn giảm. do chi phí giảm
vì lượng lao động giảm nhưng qui mơ của doanh nghiệp lai giảm vì thế đây
khơng phải là sự lựa chọn tốt để doanh nghiệp phát triển.
- TH3: doanh thu tăng số lao động bình quân giảm trường hợp này doanh
nghiệp có lợi nhuận cao nhất, do doanh thu tăng lên và chi phí lao động
giảm, tuy nhiên số lao động bình qn giảm tức qui mơ của doanh nghiệp
giảm, điều này không tốt với doanh nghiệp.
- TH4: doanh thu và số lao động bình quân đều giảm, nhưng doanh thu giảm
ít hơn so với mức của chi phí tiết kiệm được từ việc giảm lao động. ở đây
doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận nhưng cả doanh thu lẫn qui mô hoạt động

đều giảm so với trước. điều này hồn tồn khơng có lợi.
- TH5: doanh thu và số lượng lao động đều tăng, nhưng doanh thu tăng nhiều
hơn mức chi phí tăng lên do có thêm lao động. lúc này doanh nghiêp có lợi
nhuận do doanh thu cao hơn chi phí, mặt khác qui mơ của doanh nghiệp
cũng tăng lên do thuê thêm lao động. đây chính là lựa chọn tối ưu của doanh
nghiệp phát triển kinh doanh theo cả chiều rộng và chiều sâu.
1.5. Phân loại năng suất lao động
d) Theo nội dung : chia làm 2 loại
- Năng suất lao động sống là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thông qua
kết quả sản xuất với chi phí về số lao động tạo ra kết quả đó (vd: số cơng
nhân )
- Năng suất lao động vật hóa : là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thông
qua kết quả sản xuất với chi phí trung gian (C) ( vd: chi phí về nguyên vật
liệu, về khấu hao máy móc…) để tạo sản phẩm.
- Trong các chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động trên thì cịn có thể phân tích
ra nhiều chỉ tiêu năng suất lao động tùy theo từng chi tiêu kết quả hoặc chi
phí.
- Các chỉ tiêu kết quả có thể dùng để tính năng suất lao động có thể là:


+
+
+
+
+
+
+
+
e)
-


Giá trị sản xuất-GO
Giá trị gia tăng-VA
Giá trị gia tăng thuần-NVA
Doanh thu –DT
Lợi nhuận-M
Các chỉ tiêu chi phí có thể là:
Tổng số lao động trong doanh nghiệp
Tổng số ngày người làm việc
Tổng số công nhân sản xuất
Theo phương pháp chọn giá gốc so sánh
Năng suất lao động thuận: biểu hiện bằng cách lấy chỉ tiêu kết quả chia cho

chi phí
- Năng suất lao động nghịch: biểu hiện bằng chỉ tiêu chi phí chia cho chỉ tiêu
kết quả.
- Hai chỉ tiêu này đều biểu hiện năng suất lao động nhưng có ý nghĩa khác
nhau nên có tác dụng phân tích khác nhau . năng suất lao động thuận nói
lên : cứ một đơn vị lao động hao phí trong kỳ tạo ra một đơn vị kết quả cần
f)
-

bao nhiêu chi phí cho lao động trong kỳ
Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loại
Năng suất lao động trung bình
Năng suất lao động cận biên
Năng suất lao động ca biệt

Ngồi ra cịn có một số cách phân loại năng suất lao động khác nữa dựa trên
nhiều quan điểm và tiêu thức phân loại khác nhau

-

Mối quan hệ của năng suất lao động với các phạm trù khác. Mối quan hệ
giữa năng suất lao động và việc làm: Việt Nam đã đạt được những kết quả
quan trọng trong giải quyết việc làm cũng như cải thiện đáng kể năng suất
lao động. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế mà chúng ta cần khắc phục để
lao động và năng suất lao động không trở thành điểm “nghẽn” của tăng
trưởng. Lao động và năng suất lao động có vai trị to lớn do tạo ra thu nhập
và sức mua có khả năng thanh toán, làm tăng tiêu thụ ở trong nước – động


lực của tăng trưởng kinh tế, là “cứu cánh” của tăng trưởng kinh tế trước
những bất ổn ở bên ngoài.
1.6.
Năng suất lao động và việc áp dụng tính tốn ở Việt Nam
- Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc
trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một
chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc). Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói
lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội.
- Tùy theo mục đích nghiên cứu của mỗi nước, mỗi ngành khác nhau trong
từng giai đoạn khác nhau mà áp dụng chỉ tiêu năng suất lao động (nói cụ thể
là chỉ tiêu năng suất lao động sống) theo phương thức khác nhau, được tính
tốn bằng chỉ tiêu đầu ra khác nhau.
- Ở Việt Nam, năng suất lao động được tính tốn theo chỉ tiêu giá trị tổng sản
lượng (tính tồn bộ giá trị của sản phẩm tương tự như chỉ tiêu giá trị sản xuất
ngày nay) được đưa vào chế độ báo cáo thống kê của các xí nghiệp (nay gọi
là doanh nghiệp) trong các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng,... ngay từ những năm đầu mới thành lập ngành thống kê. Trong thời
kỳ kế hoạch hóa tập trung có những năm năng suất lao động được coi là một
trong những chỉ tiêu pháp lệnh để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nhà

nước của doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông
vận tải,...
- Bước sang thời kỳ đổi mới, nhất là phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chỉ tiêu năng suất lao động trong nền kinh tế quốc dân nói
chung và các ngành kinh tế nói riêng, bấy lâu ít được chú ý tính tốn. Trong
chế độ báo cáo của các doanh nghiệp khơng cịn có chỉ tiêu năng suất lao
động và như vậy, tất nhiên, trong các ngành cũng không còn phải tổng hợp
và báo cáo về chỉ tiêu năng suất lao động nữa. Tuy nhiên, trong nội bộ các
doanh nghiệp, năng suất lao động vẫn được tính tốn để phục vụ cho yêu cầu
phân tích hoạt động kinh tế và chỉ đạo sản xuất của doanh nghiệp. Ở các loại


phương tiện thông tin đại chúng và trên nhiều văn bản nhiều khi vẫn nhắc
đến chỉ tiêu năng suất lao động, động viên phấn đấu nâng cao năng suất lao
động,...
- Từ khi nước ta gia nhập tổ chức năng suất châu Á (Asia Productivity
Organization - APO) và quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng, đặc biệt là
gia nhập khối ASEAN (tháng 7 năm 1995) thì việc nghiên cứu chỉ tiêu năng
suất lại được đặt ra.
- Cũng thời gian này, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (Bộ Khoa
học Công nghệ và Môi trường) đã thiết lập Trung tâm năng suất Việt Nam.
Tuy mới được thành lập nhưng Trung tâm năng suất đã tham gia thực hiện
nhiều chương trình của APO liên quan đến Việt Nam, tổ chức hội thảo, cử
cán bộ đi nghiên cứu khảo sát ở một số nước trong khu vực, tiến hành một
số đề tài khoa học để nghiên cứu cách tiếp cận mới về năng suất, tính tốn
các chỉ tiêu năng suất, trong đó có chỉ tiêu năng suất lao động và năng suất
các nhân tố tổng hợp.
- Hiện nay, các chỉ tiêu năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất các nhân
tố tổng hợp được đưa vào danh mục các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu
Thống kê quốc gia của Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ áp dụng ở cấp nào, tính

tốn cụ thể ra sao thì cịn đang ở giai đoạn nghiên cứu để giải thích và hướng
dẫn áp dụng rộng rãi.
- Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, tổng sản phẩm trong nước (Gross
Domestic Production - GDP) là chỉ tiêu được dùng để tính toán tốc độ tăng
trưởng kinh tế, làm căn cứ để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước và
tính tốn nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác, nên tất nhiên sẽ làm căn cứ
để tính tốn các chỉ tiêu năng suất, trong đó có năng suất lao động trong
phạm vi toàn nền kinh tế quốc dân.
- Khác với phạm vi chung của nền kinh tế, trong các ngành như công nghiệp,
nông - lâm nghiệp vẫn tiếp tục áp dụng chỉ tiêu giá trị sản xuất để tính toán


tốc độ tăng trưởng, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất của từng ngành cũng
như để tính tốn các chỉ tiêu năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tuy vậy, khi
tính tốn và phân tích năng suất lao động của các ngành trong quan hệ với
năng suất lao động tồn nền kinh tế quốc dân dưới đây, chúng tơi khơng tính
theo chỉ tiêu giá trị sản xuất, mà theo chỉ tiêu giá trị tăng thêm - bộ phận cấu
thành nên chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước.
- Năng suất lao động tính theo giá trị tăng thêm có ưu điểm hơn hẳn so với
năng suất lao động tính theo giá trị sản xuất vì ở tử số của chỉ tiêu năng suất
lao động khơng tính phần chi phí trung gian (phần giá trị này ln bị tính
trùng giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành) nên sự biến động của chỉ tiêu
năng suất lao động không phụ thuộc vào thay đổi tổ chức sản suất như năng
suất lao động tính theo giá trị sản xuất. Hơn nữa, nếu trong toàn nền kinh tế,
năng suất lao động tính theo tổng sản phẩm trong nước, thì đối với từng
ngành, từng doanh nghiệp, năng suất lao động cũng cần được tính theo giá
trị tăng thêm. Có như vậy mới cho phép nghiên cứu, phân tích mối liên hệ
giữa năng suất lao động của các doanh nghiệp, các ngành với năng suất lao
động chung của toàn nền kinh tế quốc dân.



CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2006, 2011VÀ 2016
2.4.

Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm
2006
Từ số liệu về tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế và lao động

làm việc có trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, ta tính được mức
năng suất lao động của năm 2006 đạt 19,62 triệu đồng. Nếu tính theo giá cố định
(giá năm 1994) và nghiên cứu biến động của năng suất lao động ta thấy 5 năm qua
năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân của Việt Nam liên tục tăng lên
và tăng với xu thế cao dần, cụ thể như sau:
Bảng 1: Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội giai đoạn 2002 – 2006
Năm

2002

2003

2004

2005

2006

Bình qn 5
năm

4,81

Tơc độ tăng
4,25
4,48
4,54
5,19
5,51
NSLĐ (%)
Nếu quy đổi mức năng suất lao động toàn nền kinh tế từ giá thực tế (VNĐ)
theo tỷ giá hối đối thành đơ la Mỹ (1 USD = 15.858 VNĐ) thì năng suất lao động
toàn nền kinh tế của Việt Nam năm 2006 đạt 1.237 USD.
So sánh mức năng suất lao động tính theo USD và tốc độ tăng năng suất lao
động tính bằng % năm 2006 của Việt Nam với một số nước trên thế giới, ta có kết
quả như sau:
Bảng 2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số nước và
lãnh thổ trên thế giới năm 2006
Tên nước và
lãnh thổ
Mỹ
Nhật
Ai-len

Mức năng
suất lao động
773461
770612
629363

Tốc độ tăng NSLĐ

1,8
1,9
1,0

Mức NSLĐ
(USD)Thứ tự
12
10
15


Hồng Kông
602994
5,0
Pháp
576775
1,4
Phần Lan
556986
0,1
Singapore
524267
1,9
Anh
518828
0,9
Đức
507899
0,9
Canada

4930810
1,6
Úc
4554511
-1,0
Đài Loan
3585612
2,7
Hàn Quốc
2790713
2,6
Malaysia
11300 14
3,0
Thái Lan
430515
3,0
Philipin
280716
-0,8
Trung Quốc
227217
7,1
Indonesia
195218
4,4
Ấn Độ
124219
6,6
Việt Nam

123720
5,51
Qua bảng số liệu trên ta thấy năng suất lao động của Việt

4
14
18
10
16
16
13
20
8
9
6
6
19
1
5
2
3
Nam đạt ở mức

thấp xấp xỉ năng suất lao động của Ấn Độ và đứng cuối cùng trong số 20 nước
được chọn để so sánh. Nếu so với năng suất lao động của Mỹ (nước có năng suất
lao động cao nhất trong bảng), thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ mới bằng
1,6%.
Như vậy, có thể nói, năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp so với
năng suất lao động của các nước khác. Điều đó có thể giải thích về trình độ kỹ
thuật, cơng nghệ của ta còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, cơng tác quản lý cịn

một số hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu xét theo xu thế biến động từ năm 2002 - 2006 thì
năng suất lao động chung của Việt Nam liên tục tăng lên và có mức tăng khá (từ
4,25% đến 5,51%). Bình qn 5 năm là 4,81%. Những năm gần đây, Việt Nam đã
chú ý đầu tư vốn và kỹ thuật để phát triển sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế... là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất lao động.
-

Phân tích năng suất lao động theo khu vực kinh tế


Nền kinh tế Việt Nam chia thành 3 khu vực: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngồi
nhà nước (gồm cơng ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, kinh tế tư nhân,...)
và kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi (gồm các loại hình 100% vốn đầu tư nước
ngồi và loại hình liên doanh liên kết với nước ngồi).
Trong 3 khu vực kinh tế nói trên, kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ln có mức
năng suất lao động cao nhất. Năm 2006, năng suất lao động theo giá thực tế của
khu vực kinh tế này đạt 196,97 triệu đồng. Khu vực kinh tế nhà nước có mức năng
suất đứng vị trí thứ hai, đạt 78,01 triệu đồng. Thấp nhất là năng suất lao động của
khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đạt 10,1 triệu đồng.
Nếu so sánh năng suất lao động năm 2006 của các khu vực kinh tế có mức đạt
được cao hơn là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi và khu vực kinh tế nhà
nước với năng suất lao động của khu vực kinh tế có mức thấp nhất (khu vực kinh
tế ngồi nhà nước), thì năng suất lao động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngồi gấp 19,50 lần và mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước gấp
7,72 lần. Nói cách khác, nếu lấy mức năng suất của khu vực kinh tế ngoài nhà
nước là 1 đơn vị, thì năng suất lao động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngồi là 19,50 đơn vị và kinh tế nhà nước là 7,72 đơn vị.
Quan sát theo thời gian, năng suất lao động giữa 3 khu vực kinh tế trên ở những
năm trước cịn có sự chênh lệch nhiều hơn, và đã ngày càng được thu hẹp, tức là

theo xu hướng càng những năm về sau mức độ chênh lệch này càng nhỏ dần.
Nếu so sánh năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là năng
suất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi đạt được năm 2006 với mức
năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân đạt được của các nước trên thế
giới và trước hết là so với 10 nước thuộc "tốp dưới" trong số 20 nước kể trên, thì
năng suất lao động của Việt Nam khơng phải là quá thấp. Năng suất lao động của
khu vực kinh tế nhà nước, năm 2006 đạt 78,01 triệu đồng tương đương 4.919 USD.
Cịn mức năng suất lao động bình qn chung của 2 khu vực kinh tế nhà nước và


khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi năm 2006 đạt 94,75 triệu đồng, tương
đương 5.975 USD.
Theo hai phương án mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước cũng
như năng suất lao động chung của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có
vốn đầu tư nước ngồi đều cao hơn mức năng suất lao động chung cả nền kinh tế
quốc dân đạt được của 5 nước: Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc, Phi-lip-pin và
Thái Lan.
Qua đây có thể thấy, năng suất lao động chung của cả ba khu vực ở Việt Nam
đạt thấp chủ yếu là do, năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt
quá thấp, trong khi đó lao động của khu vực kinh tế này lại rất lớn, chiếm tới 88%
tổng số lao động làm việc ở cả ba khu vực.
Xét về tốc độ tăng, quan sát năng suất lao động tính theo giá cố định (giá năm
1994), thì năng suất lao động khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh và đều
nhất, sau đến năng suất lao động khu vực kinh tế nhà nước. Năng suất lao động
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài liên tục giảm qua các năm. Đến năm
2006, bắt đầu tăng lên và có mức tăng khá (tăng trên 5%), nhưng bình quân cả thời
kỳ 2002 – 2006 năng suất lao động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi vẫn
giảm trên 10%. Cụ thể xem bảng 3.
Bảng 3: Tốc độ tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế và các khu vực
kinh tế thời kỳ 2002 – 2006

Đơn vị tính: %
Năm
KV kinh tế nhà
nước
KV kinh tế
ngồi nhà
nước
KV kinh tế có
vốn đầu tư

2002
4,39

2003
2,91

2004
0,05

2005
5,84

2006
6,87

Bình quân 5 năm
3,98

4,16


4,85

4,29

4,55

5,17

4,60

-32,85

-11,73

-6,55

-8,11

5,63

-11,67


nước ngồi
- Phân tích năng suất lao động theo ngành kinh tế
Theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, nền kinh tế của Việt Nam chia theo
nhiều ngành kinh tế khác nhau như công nghiệp; nông, lâm nghiệp, thủy sản; xây
dựng, giao thơng,... Trên góc độ phân tích năng suất lao động, hơn nữa do điều
kiện về số liệu hiện có nên khơng phân tích sâu đến từng ngành kinh tế mà ở đây
chỉ nghiên cứu các ngành và nhóm ngành như sau: Nơng - lâm nghiệp, cơng

nghiệp và các ngành kinh tế khác (các ngành kinh tế khác gồm tất cả các ngành
còn lại ngoại trừ các ngành nơng lâm nghiệp và cơng nghiệp).
Trong các ngành và nhóm ngành kinh tế trên đây, công nghiệp luôn là ngành
tiên tiến hơn, có trình độ kỹ thuật cao nên cũng ln có năng suất lao động cao
hơn. Năm 2006, năng suất lao động của cơng nghiệp Việt Nam tính bằng chỉ tiêu
giá trị tăng thêm - một bộ phận của tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế đạt
52,87 triệu đồng. Nông - lâm nghiệp luôn là những ngành có trình độ kỹ thuật thấp,
sản xuất lại phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, do vậy ln có năng suất lao động
thấp nhất, năm 2006 chỉ đạt 6,26 triệu đồng.
Các ngành kinh tế khác có năng suất lao động đứng vị trí thứ hai (sau cơng
nghiệp, nhưng cao hơn nơng - lâm nghiệp). Năm 2006, năng suất lao động trong
các ngành kinh tế khác đạt 28,04 triệu đồng.
Xét về biến động của năng suất lao động (so sánh năng suất lao động tính theo
giá cố định qua các năm), ta thấy: năng suất lao động trong ngành nông - lâm
nghiệp tăng đều hơn (từ 3,15% đến 4,21%) và bình quân 5 năm (2002-2006) đạt
3,81%. Năng suất lao động của công nghiệp trong 3 năm đầu (2002 - 2004) tăng
không đáng kể, đến năm 2005 có tốc độ tăng tương đương tốc độ tăng năng suất
lao động của ngành nông - lâm nghiệp (4,05%) và đến năm 2006 đạt khá cao
(6,54%). Mức tăng bình quân 5 năm đạt 2,75%, thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao
động bình quân 5 năm của ngành nông, lâm nghiệp là -1,06% (=2,75% - 3,81%).


Năng suất lao động của các ngành kinh tế khác trong 2 năm 2001 và 2002 giảm
chút ít, 3 năm tiếp theo có tăng, nhưng chậm và bình qn 5 năm (2002 –
2006)năng suất lao động của các ngành này gần như khơng tăng.
Có thể quan sát tốc độ tăng năng suất lao động của từng năm và bình quân 5
năm của các ngành kinh tế như bảng 4.
Bảng 4: Tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành kinh tế thời kỳ 2002 2006
Đơn vị tính: %
Năm

2002
2003
2004
2005
2006 Bình quân 5 năm
Ngành KT chung
4,25
4,48
4,54
5,19
5,58
4,81
nền kinh tế
Ngành Nông – Lâm
4,21
3,15
3,34
4,21
4,14
3,81
nghiệp
Ngành Công nghiệp
0,19
2,03
1,05
4,05
6,54
2,75
Các ngành kinh tế
-0,1

-0,03
1,07
1,19
0,20
0,48
khác
Quan sát quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động chung của nền kinh tế
quốc dân và tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành và nhóm ngành kinh tế
cho thấy, tốc độ tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế có mức tăng cao hơn
mức tăng năng suất lao động của riêng các ngành. Điều đó được giải thích là năng
suất lao động của toàn nền kinh tế như là năng suất lao động bình quân giữa năng
suất lao động các ngành, vì vậy biến động của năng suất lao động bình quân phụ
thuộc vào hai yếu tố: sự biến động trực tiếp về năng suất lao động của các ngành
và sự thay đổi cơ cấu lao động theo ngành (nếu tỷ trọng lao động của những ngành
có năng suất cao hơn tăng lên còn tỷ trọng lao động của những ngành có năng suất
lao động thấp giảm đi thì sự thay đổi cơ cấu đó sẽ làm tăng năng suất lao động bình
quân chung. Và ngược lại, nếu tỷ trọng lao động của các ngành có năng suất lao
động cao hơn giảm đi, còn tỷ trọng lao động của những ngành có năng suất lao


động thấp tăng lên thì sự thay đổi cơ cấu đó sẽ làm giảm năng suất lao động bình
qn chung).
Thực tế ở Việt Nam trong 5 năm qua (2002 - 2006), tỷ trọng lao động của ngành
công nghiệp và các ngành kinh tế khác có năng suất lao động cao hơn (so với năng
suất lao động của ngành nông, lâm nghiệp) luôn tăng lên và tất nhiên tỷ trọng lao
động các ngành nơng, lâm nghiệp (ngành có năng suất lao động thấp hơn) sẽ giảm
đi, xem số liệu bảng 5.
Bảng 5: Tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế qua các năm
Đơn vị tính: %
Năm

2002
2003
2004
2005
2006
Tổng số lao động
100,00
100,00
100,00
100,00 100,00
Tỷ trọng LĐ nông – lâm
60,34
58,66
56,98
55,37
53,34
nghiệp
Tỷ trọng LĐ công
39,66
41,34
43,02
40,63
46,66
nghiệp và các ngành
khác
Sự biến động cơ cấu lao động giữa các ngành theo xu hướng như trên đã liên
tục đóng góp từ 48,22% - 78,75% vào phần trăm tăng lên của tốc độ tăng năng suất
lao động bình qn chung tồn nền kinh tế quốc dân thời kỳ 2002 – 2006. (xem
bảng 6).
Bảng 6: Mức độ đóng góp của thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành đối với

mức tăng của NSLĐ chung tồn nền kinh tế quốc dân
Đơn vị tính:%
Năm

2002
2003
2004
2005
2006 Bình quân 5 năm
I.Tốc độ NSLĐ của ngành và do thay đổi cơ cấu lao động
Tăng NSLĐ các ngành 0,90
1,22
1,60
2,69
2,84
1,85
Thay đổi cơ cấu lao
3,35
3,26
2,94
2,50
2,67
2,96
động giữa các ngành
II.Tỷ phần đóng góp trong tốc độ NSLĐ chung của nền KTQD
Tăng NSLĐ các ngành 21,25 27,18 35,27 51,78 51,52
37,20
Thay đổi cơ cấu lao
78,75 72,82 64,73
48,22 48,48

62,80


động giữa các ngành
Tóm lại, phân tích trên đây cho thấy, năng suất lao động bình qn chung
tồn nền kinh tế quốc dân của nước ta đạt được còn ở mức thấp so với các nước
trên thế giới. Trong đó, đặc biệt khu vực kinh tế ngoài nhà nước (xét theo hình thức
sở hữu) và ngành nơng - lâm nghiệp (xét theo ngành kinh tế) có mức năng suất lao
động rất thấp, nhưng lại có lao động chiếm tỷ lệ rất cao. Điều đó đã làm ảnh hưởng
rất nhiều đến mức năng suất lao động bình qn chung tồn nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, xét theo xu thế biến động, thì năng suất lao động tồn nền kinh tế
liên tục tăng lên và có mức tăng khá. Mức tăng lên của năng suất lao động bình
quân chung này do sự tăng lên thuần túy về năng suất lao động các ngành, các khu
vực đóng góp bình qn dưới 40%, còn do chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỷ trọng lao động của các khu vực kinh tế, các ngành có năng suất lao động
cao hơn tức là giảm tỷ trọng lao động theo tỷ lệ tương ứng của các khu vực kinh tế,
các ngành có năng suất lao động thấp đóng góp bình qn trên 60%.
Để khơng ngừng nâng cao năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế
quốc dân, trong thời gian tới chúng ta phải hết sức chú ý đầu tư cho phát triển sản
xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý sản xuất, đẩy mạnh
đào tạo nâng cao trình độ của người lao động... để phấn đấu tăng năng suất lao
động đều hơn ở cả 3 khu vực kinh tế, cũng như tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
Phải đặc biệt chú ý nâng cao năng suất lao động ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước
cũng như nâng cao năng suất lao động ngành nông - lâm nghiệp, vì ở các khu vực
và ngành kinh tế này hiện nay trình độ kỹ thuật cịn rất thấp, nhưng lại có phạm vi
hoạt động rộng và chiếm tỷ lệ lao động rất lớn.
Mặt khác, phải tạo môi trường thật thơng thống để lao động dễ dàng dịch
chuyển từ những lĩnh vực, những ngành kinh tế có năng suất lao động thấp sang
các lĩnh vực, các ngành kinh tế có năng suất lao động cao, thực hiện chuyển dịch



cơ cấu kinh tế một cách tích cực theo hướng vừa cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa,
vừa tăng nhanh năng suất lao động toàn xã hội.
2.5.

Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam
năm 2011
Năm 2010, Năng suất lao động của nền kinh tế đạt 34,74 triệu đồng/ 1 lao

động, năm 2011 đạt 40,39 triệu đồng/ 1 lao động; trong đó Năng suất lao động của
khu vực Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản đạt 17,6 triệu đồng/ 1 lao động, khu vực
Công nghiệp và Xây dựng đạt cao nhất là 76,58 triệu đồng/ 1 lao động, khu vực
Dịch vụ đạt 52,28 triệu đồng/ 1 lao động.
Trong giai đoạn 2007-2011, tốc độ tăng Năng suất lao động của nền kinh tế
đạt 4,12% bình quân năm; tăng chậm hơn so với giai đoạn 2002-2006. Năm 2010,
tốc độ tăng Năng suất lao động là 2,49%, năm 2011 tốc độ tăng Năng suất lao động
đạt mức 3,94%. Trong những năm 2006-2008, Năng suất lao động tăng nhanh đạt
mức 5,5%/ 1 năm, tuy nhiên đến 2009, 2010 đã giảm nhịp độ đáng kể, đến năm
2011 mới có dấu hiệu tăng nhanh trở lại.
Năm 2011, Năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt mức 2.072 USD/ 1
người lao động (quy đổi ra Đơ la Mỹ theo tỷ giá hối đối năm 2011), đứng ở mức
thấp nhất trong số các nước Châu Á được so sánh như Hàn Quốc, Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Philippines. Tốc độ tăng Năng suất của Việt Nam
năm 2011 mới chỉ đạt 3,94%, trong khi các nước láng giềng đều có mức tăng rất
nhanh (trên 5%). Vì vậy, nếu khơng có những tác động tích cực, Việt Nam khó có
thể bắt kịp được tăng trưởng năng suất với các nước trong khu vực.
Năng suất yếu tố tổng hợp - TFP tăng nhanh vào năm 2006-2007, chậm dần
từ 2008 đến 2011. Năm 2010, tốc độ tăng TFP ở mức âm (- 0,34%), năm 2011 tăng
trở lại nhưng vẫn ở mức tăng chậm đạt 1,31%. Bình quân giai đoạn 2002-2011, tốc
độ tăng TFP đạt mức 1,39%.



Tốc độ tăng GDP những năm qua tương đối cao nhưng phần đóng góp vào
tăng GDP chủ yếu là do tăng vốn cố định (chiếm đến 55% trong giai đoạn 20022011). Phần đóng góp của tăng lao động đứng ở vị trí thứ hai (chiếm 25,21% giai
đoạn 2002-2011), cịn phần đóng góp của tăng TFP vào tăng GDP có tỷ trọng thấp,
chỉ chiếm 19,15%. Tốc độ tăng TFP và đóng góp của tăng TFP vào GDP thấp đi rõ
rệt vào năm 2009, 2010, phục hồi vào năm 2011.
Tỷ trọng đóng góp của tăng TFP vào tăng GDP của các nước phát triển
thường trên 50%, còn các nước đang phát triển cũng đạt mức trung bình từ 3035%. Trong giai đoạn 2004- 2011, tốc độ tăng TFP của Việt Nam là 1,42% và đóng
góp của tăng TFP vào tăng GDP là 19,6%. Khi được so sánh với một số nước đã và
đang phát triển ở Châu Á, tốc độ tăng TFP của Việt Nam chậm và đóng góp vào
tăng GDP tương đối thấp. 7. Những năm qua, Việt Nam vẫn tập trung tăng cường
sử dụng lao động vào huy động sử dụng vốn là chủ yếu, chưa có nhiều đóng góp
của các yếu tố như trình độ cơng nghệ, chất lượng lao động, công nghệ quản lý …
vào tăng trưởng kinh tế.
2.6.

Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam

năm 2016
- Về NSLĐ xã hội
Như trên đã trình bày, năm 2016, NSLĐ của Việt Nam ước tính đạt khoảng
79,3 triệu đồng/lao động, tăng 6,45% so với năm 2015. Giai đoạn 2012-2016,
NSLĐ của Việt Nam tăng dần, đạt mức trung bình khoảng 4,33%/năm, cao hơn so
với giai đoạn 2007-2011.
Sau giai đoạn tăng trưởng chậm từ năm 2010 đến năm 2013, NSLĐ có dấu
hiệu phục hồi nhanh chóng. Theo số liệu ước tính, NSLĐ năm 2016 tăng mạnh so
với năm 2015, có tốc độ tăng cao nhất từ năm 2006 đến nay. Điều này cho thấy xu
hướng phục hồi tăng trưởng nhanh của nền kinh tế cũng như sự cải tiến của NSLĐ.
Ghi chú:



+ NSLĐ theo giá thực tế từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê
+ NSLĐ theo giá so sánh tính dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê
+ NSLĐ = GDP/số lao động đang làm việc

Tăng NSLĐ là động lực chính tác động tới tăng trưởng kinh tế và nâng cao
mức sống của người dân thông qua chỉ tiêu tăng trưởng GDP và GDP/người. GDP
năm 2016 ước tính tăng 6,68% so với năm 2015. Mức tăng trưởng cao hơn mục
tiêu đề ra 6,2% và cao hơn mức tăng của các năm từ 2012-2015 cho thấy nền kinh
tế phục hồi rõ nét. Cùng với đó, chỉ tiêu GDP/người cũng có xu hướng tăng nhanh,
tạo điều kiện nâng cao tiêu chuẩn sống của người dân.
-

Đối với NSLĐ các ngành kinh tế
Trong các khu vực kinh tế: công nghiệp - xây dựng; dịch vụ; nơng - lâm

nghiệp - thủy sản thì khu vực cơng nghiệp - xây dựng có NSLĐ cao nhất, khu vực
nông - lâm nghiệp - thủy sản mặc dù có cải thiện nhiều nhưng vẫn ở mức NSLĐ
thấp. Theo đó, NSLĐ của khu vực nơng - lâm nghiệp - thủy sản chỉ bằng 1/4
NSLĐ trong khu vực công nghiệp - xây dựng và bằng hơn 1/3 năng suất của khu
vực dịch vụ. NSLĐ thấp ở khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản là một trong
những nguyên nhân ảnh hưởng tới NSLĐ xã hội.
Mặc dù mức năng suất cao nhất trong ba khu vực kinh tế, nhưng khu vực
cơng nghiệp - xây dựng đang có tốc độ tăng năng suất chậm dần. Trong giai đoạn
2012-2015, tốc độ tăng NSLĐ ở khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực nông
- lâm nghiệp - thủy sản tương đương nhau, với mức tăng bình quân khoảng
3,9%/năm. Năm 2016, NSLĐ khu vực cơng nghiệp - xây dựng khơng có sự cải
thiện so với năm 2015, trong khi đó NSLĐ khu vực nơng - lâm nghiệp - thủy sản
có sự gia tăng đáng kể. Do đó, mặc dù NSLĐ của khu vực này vẫn đang ở mức

thấp nhưng xu hướng cho thấy đang tăng lên một cách nhanh chóng. Kết quả này
phù hợp với những nỗ lực nâng cao NSLĐ nội ngành của ngành nông - lâm nghiệp


- thủy sản. Thông qua cải thiện NSLĐ, lao động trong nơng nghiệp được giải
phóng và có thể chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ.
-

Tốc độ tăng TFP và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Bảng 2 cho thấy tốc độ tăng GDP, vốn, lao động, TFP và đóng góp của các

yếu tố vào tăng GDP của Việt Nam (2012-2016).
Xét ba yếu tố tác động tới tăng trưởng GDP là tốc độ tăng của vốn, lao động
và TFP thì vốn có tốc độ tăng cao nhất với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 20122016 là 7,43%. Tốc độ tăng của lao động giai đoạn 2012-2016 ước tính là 1,52%,
tuy nhiên tốc độ tăng lao động có xu hướng giảm dần trong các năm qua. TFP tăng
trung bình giai đoạn 2012-2016 là 1,79%.
Nền kinh tế khởi sắc với sự phát triển mạnh của khu vực công nghiệp và
dịch vụ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu
vực thành thị và tốc độ tăng lực lượng lao động của nền kinh tế đang chậm dần. Dù
đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với số người ở độ tuổi lao động chiếm đến
gần 70%, nhưng Việt Nam cũng đang có xu hướng “già hóa dân số” nhanh trong
khu vực ASEAN, chỉ sau Xinhgapo và Thái Lan. Tăng trưởng kinh tế không thể
tiếp tục dựa trên tăng lao động. Xu hướng cho thấy, đóng góp của tăng lao động
ngày càng thấp trong tăng GDP. Vì vậy, tác động vào tăng trưởng kinh tế chỉ còn
dựa trên tăng cường vốn và tăng TFP. Điểm tích cực là TFP có xu hướng tăng dần
đều trong các năm từ 2012-2015 và có xu hướng tiếp tục tăng mạnh trong năm
2016 (theo số liệu ước tính cho năm 2016).
Tỷ trọng đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế đang dần cao lên
cho thấy yếu tố đầu vào là vốn và lao động đang được sử dụng hiệu quả hơn trong
việc tạo ra kết quả đầu ra. Đây là sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế theo

hướng tập trung vào chất lượng tăng trưởng: nâng cao chất lượng lao động, chất
lượng về vốn, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và tập trung nguồn lực vào
các lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao hơn.


Bức tranh tổng thể qua Báo cáo Năng suất Việt Nam 2016 cho thấy, mặc dù
NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đã có nhiều khởi sắc, nhưng nhìn tổng thể, NSLĐ
của Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực đang là yếu tố cản trở
đáng ngại đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế, đặc biệt là
khi nước ta đã tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)
và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Nếu khơng có những nỗ lực đặc biệt trong
việc nâng cao năng suất trong thập kỷ này và thập kỷ tới, Việt Nam sẽ gặp rất
nhiều khó khăn cả về kinh tế và xã hội.


CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập, tạo điều
kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, trong đó có khu
vực kinh tế tư nhân.
Cụ thể, tập trung vào các định hướng sau: Tiếp tục sử dụng chuẩn mực toàn
cầu và thực tiễn quốc tế tốt của kinh tế thị trường hiện đại trong thiết kế, giám sát
và đo lường kết quả của cải cách thể chế, cải tiện môi trường kinh doanh; Cạnh
tranh thị trường công bằng là động lực chính thúc đẩy gia tăng hiệu quả sử dụng
nguồn lực, gia tăng năng suất lao động. Vì vậy, tất cả các giải pháp cải cách thế
chế, cải thiện môi trường kinh doanh đều hướng đến phát triển các loại thị trường,
đảm bảo cạnh tranh công bằng và tăng mức độ cạnh tranh thị trường nhằm tăng
hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả động năng, là động lực chủ yếu
của tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, làm cho hoạt động kinh doanh tự do hơn, thuận
lợi hơn, an toàn hơn, rủi ro giảm và chi phí giảm,.v.v.. Tăng lợi nhuận cho nhà đầu

tư và doanh nghiệp….
Tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn nữa các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện
môi trường kinh doanh hiện có cả về quy mơ và cường độ; Đề cao trách nhiệm cá
nhân của các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; thúc đẩy, giám sát và tạo sức ép hành chính, sức ép công luận gia tăng tốc độ
những chuyển động tích cực ở các bộ, địa phương.
Hiện nay, các văn bản chính sách như Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày
6/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017,
định hướng đến năm 2020; Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ
về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020... đã đi theo hướng này nhưng cần
triển khai quyết liệt hơn, thường xuyên giám sát, đánh giá báo cáo Thủ tướng và


Chính phủ; đồng thời cơng khai, minh bạch hóa kết quả của từng bộ, ngành, địa
phương…
Thứ hai, là nhóm giải pháp đổi mới vai trò, chức năng và nâng cao hiệu quả hoạt
động của Chính phủ trên tinh thần Chính phủ kiến tạo, trong đó, nhấn mạnh vai trị
kiến tạo để tăng năng suất, chuyển đổi mơ hình tăng trưởng, giúp nền kinh tế vượt
qua bẫy thu nhập trung bình.
Theo đó, cần cải cách bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính
phủ điện tử, nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ. Vai trị kiến tạo phải
được thể hiện rõ hơn và hiệu quả hơn ở các khía cạnh phát huy tinh thần khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển
nguồn nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác cơ hội của cách mạnh công
nghiệp 4.0. Các chương trình, chính sách hỗ trợ của nhà nước cần được triển khai
hiệu quả như Quyết định số 712/2010/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”; Luật Hỗ trợ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ ba, là nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, đặc
biệt là nguồn lực do nhà nước phân bổ hoặc tham gia phân bổ như đầu tư công, đất
đai, tài nguyên, tài sản nhà nước. Trong đó tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại đầu tư
cơng, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tham nhũng, lãng phí, nợ đọng xây
dựng cơ bản để nâng cao hiệu quả đầu tư cơng; đẩy mạnh cổ phần hóa, thối vốn
đầu tư nhà nước, cải cách quản trị đối với doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh sắp
xếp, cơ cấu lại, giao quyền tự chủ đầy đủ đi đôi với giao trách nhiệm rõ ràng cho
các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập (như y tế, giáo dục, viện nghiên cứu, v.v.).
Thứ tư, là nhóm giải pháp tăng năng suất nội ngành, nâng cấp chuỗi giá trị
trong phát triển ngành đối với cả ba ngành, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ,
từ đó thúc đẩy năng suất nội ngành. Các chính sách công nghiệp cần phải được kết


hợp, điều phối một cách chặt chẽ và đồng bộ để có hiệu quả cao và đạt được mục
tiêu cụ thể trong nâng cấp chuỗi giá trị của các ngành. Trong đó, chú trọng các biện
pháp khuyến khích và hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thúc đẩy liên
kết ngành và liên kết vùng.
Cuối cùng, tiền đề của các nhóm giải pháp trên là Chính phủ cần có những
biện pháp củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và thuận lợi cho tăng năng suất.
Các giải pháp chính sách thuộc nhóm này bao gồm cơ cấu lại ngân sách nhà nước
trong đó tập trung quản lý nợ cơng theo hướng bảo đảm an tồn, bền vững; siết
chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước; củng cố và phát triển hệ
thống tài chính tín dụng lành mạnh, tập trung xử lý có hiệu quả các tổ chức tín
dụng yếu kém, tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu của
nền kinh tế một cách căn bản và triệt để, phát triển thị trường tài chính một cách
cân bằng hơn; điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa và các chính sách khác, nhất là chính sách điều chỉnh các loại
giá, phí do nhà nước quản lý.



×