BÀI ĐIỀU KIỆN
MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
“So sánh đặc điểm kiến trúc và hệ thống bài trí tượng thờ
trong chùa tháp ba miền Bắc- Trung- Nam”
I/ So sánh kiến trúc chùa, tháp 3 miền Bắc-Trung-Nam
Trong lúc văn hóa Hán thâm nhập bằng bạo lực, thì từ đầu Công
nguyên cùng với sự giao lưu kinh tế với Ấn Độ, nhân dân ta tiếp nhận sự
thâm nhập của hòa bình của đạo Phật, lấy Phật giáo làm ngọn cờ và vũ khí
đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng...Chùa Tháp là kiến trúc Phật giáo, song
Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam ta trong hoàn cảnh đất nước bị
ngoại xâm đô hộ, đã gắn liền với làng xóm, nên Chùa cũng mang tính dân
gian của người lao động. Ngay trong giai đoạn thịnh hành nhất ở thời Lý,
bên cạnh đại danh Lam diễu hành cung đã không ngăn cấm người bình dân,
đã có những tiểu danh Lam, những am và Chùa làng. Chùa làng từ cuối thời
Trần ngày càng phát triển, là một cụm trong tổng thể xóm làng, của dân
làng, và cả khi có sự bảo trợ của q tộc vẫn là trung tâm văn hóa của địa
phương.
Nhìn chung kiến trúc Chùa Tháp là sự tổng hịa của kiến trúc vật nơi
mơi trường, có các loại nhà cửa quan hệ hữu cơ với hồ ao, sân, vườn đủ loại
cây cao thấp, tất cả được quây lại bằng hàng rào hoặc tường xây để giữ
nguyên tắc khép kín. Ngun tắc này cịn được đặc biệt coi trọng ở nhiều
Chùa có “điện Thánh” thâm nghiêm kín đáo. Thậm chí cả khi “điện Phật” từ
thời Mạc về sau dù hình đồ chữ “Cơng” hay “nội cơng ngoại quốc”, và cả
“nội tam ngoại cơng” thì cũng biệt lập với bên ngồi, tạo ra một thế giới Tơn
giáo, một “đất Phật” để ai cũng thấy được thăm cảnh riêng. Nhưng ngay
trong sự khép kín lại có ngun lý mở, trước hết là sự hòa quyện của nhà
cửa với vườn cây và ao hồ, thực và hư, huyễn ảo, nhân quy mơ lên. Từng
kiến trúc cụ thể có kết cấu riêng, song không ngăn tách ra bằng tường xây,
khơng tạo ranh giới dứt khốt, mọi dịng chảy của du khách, cả của ánh sáng
đều không bị ngắt quãng, vào trong nhà rồi vẫn thấy ngoài trời, lúc nào cũng
gần gũi thiên nhiên.
Cái tổng thể và cả cái kết cấu bộ khung gỗ của Chùa cũng hoàn toàn
cùng quan niệm với ở nhà dân, nếu không phải là kiến trúc dân gian (rõ nhất
là các đại danh Lam thời Lý ), thì cũng là những kiến trúc mang tính dân
gian.
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, một số
chùa Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần (Chùa Thầy ở Hà Tây và Chùa
Láng ở Hà Nội thờ Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật –
Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ v.v.
Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt cịn có từ "chiền" (chữ Nơm: 廛
hoặc 纏)... Một số người cho rằng từ "chiền" có thể có gốc từ cetiya của tiếng
Pali hay caitya của tiếng Phạn, cả hai dùng để chỉ điện thờ Phật.
Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số
là thuộc về cộng đồng làng xã. Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại
đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi
quan niệm phong thủy. "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt.
Đất tốt là nơi bên trái trống khơng, hoặc có sơng ngịi, ao hồ ơm bọc. Núi hổ
(hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa
sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái. Đó
là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy. Nước thì nên chảy quanh
sang trái. Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước. Trước mặt có
minh đường hay khơng có đều được cả. Phía sau khơng nên có núi áp kề, thế
là đất tốt...
Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen
thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói... Nhưng người ta thường dành
cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng như tiền bạc
dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp
dân cư, gọi là của "công đức". Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem
cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa. Trên những cột gỗ lim
không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp. Ngồi ra các tên
này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát
hương, bình hoa, chân đèn... trong một danh sách dài.
Ngày bắt đầu xây dựng chùa cũng như ngày khánh thành đều là những
thời điểm có ý nghĩa trong đời sống nhân dân làng quê Việt Nam. Thường
có những nghi lễ đặc biệt trong những ngày này.
Chùa Việt Nam thường khơng phải là một cơng trình mà là một quần
thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau.
Tùy theo cách bố trí những ngơi nhà này mà người ta chia thành những kiểu
chùa khác nhau. Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các
chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa. Phật giáo muốn tuyên
truyền phải có giáo đường, ở giai đoạn đầu có thể chỉ là những am miếu thờ
Phật. Đầu thế kỷ III, Khương Tăng Hội gọi những kiến trúc Phật giáo ở ta là
“Miếu đường” hoặc “Tông miếu”, gợi lên những điện thờ tổ tiên theo tín
ngưỡng nguyên thủy mà người Việt rất mực coi trọng; cho đến thế kỷ V, VI,
thư tịch cho biết trên đất Giao Châu đã có tới hai mươi Chùa Tháp. Từ cuối
thế kỷ VI, với sự phát triển của dòng Tì Ni Đà Lưu Chi, Phật giáo do dung
hợp các tín ngưỡng dân gian để đi sâu vào quần chúng, và do đó Chùa Tháp
phải được xây dựng khá nhiều. Nhưng cũng do nó hội nhập đủ thứ thần linh
bản địa, mà cho đến hết thời Bắc thuộc, Chùa Tháp vẫn chưa có được một
mẫu hình chuẩn, cịn tự phát tùy theo tập tục địa phương. Những ngôi Chùa
dựng trong suốt thời Bắc thuộc, cho đến nay không để lại dấu vết gì ngồi
những ghi chép vắn tắt của thư tịch.
Trải qua giai đoạn đầu của thời kỳ tự chủ ở thế kỷ X, trong bước quá
độ xây dựng đất nước, các sư Tăng đã là những trí thức tiêu biểu, phục vụ
đắc lực cho chính quyền trung ương tập quyền, đặc biệt đã chuẩn bị tích cực
cho việc thành lập nhà Lý. Và nhà Lý đã tạo mọi thuận lợi cho Phật giáo trở
thành quốc giáo.
Nhưng Phật giáo đời Lý với ba dịng Thiền là Qn Bích, Tì Ni Đa
Lưu Chi và Thảo Đường có khuynh hướng tu hành và đối tượng phát triển
khác nhau, cũng tất yếu dẫn đến các hình thức điện thờ Phật khác nhau.
Theo sử gia Lê Văn Hưu, trong nước “chỗ nào cũng có Chùa”, hay như Nho
thần Lê Quát ở bia Chùa Thiệu Phúc thì “chỗ nào có người ở tất có Chùa thờ
Phật”. Và cụ thể hơn như bia Chùa Linh Xứng: “Hễ có cảnh đẹp núi non thì
khơng nơi nào khơng xây dựng Chùa chiền”. Xây dựng ở nơi thắng cảnh nên
Chùa Tháp thời Lý phần lớn là những danh Lam. Nhà Lý dựa vào số tự điền
và canh phu, chia các Chùa đẹp ra làm ba loại là đại danh Lam, trung danh
Lam và tiểu danh Lam.
Trong kiến trúc Chùa Tháp thì càng ngược về nguồn, Tháp càng đóng
vai trị chính, là cái đền Phật giáo. Từ khi Phật giáo mới vào ta, nơi hành đạo
của các sư Tăng chính là Tháp. Thời Lý xây rất nhiều Tháp, chỉ kể những
Tháp được ghi lại cũng đã gần được 20, trong một số để lại phế tích đều là
Tháp lớn. Phật tích, Tường Long, Chương Sơn, Long Đội … khảo cổ học đã
đào được nền lõi Tháp Tường Long cạnh 8m và nền Tháp Chương Sơn cạnh
hơn 19m, tất cả đều bình diện vng. Gạch xây Tháp Phật tích có in hình
những cây Tháp giống nhau đều chín tầng, có chiều cao gấp 5 cạnh chân.
Các Tháp thời Trần cịn lại có chiều cao gấp 4 cạnh chân. Nếu Tháp thời Lý
có cùng tỉ lệ trên thì phải cao khoảng 30, 40m (Tháp Phật tích, Tháp Tường
Long) đến 70, 80m (Tháp Bảo Thiên, Tháp Chương Sơn) biểu hiện khí thế
vươn lên của cả dân tộc, phù hợp với hình tượng trong thơ văn và số liệu
trong sử sách. Những cây Tháp thời Lý thường xây trên lưng chừng hoặc
những đỉnh núi không cao mấy đột khởi giữa đồng bằng là thắng cảnh tự
nhiên, lấy núi vững chãi làm nền để tôn vẻ bề thế nguy nga của mình.
Những cây Tháp ấy là kiến trúc chính của tồn cảnh Chùa và chính
thức là điện thờ Phật, trong lịng Tháp có đặt tượng Phật. Các Phật tử tiến
hành nghi lễ quanh tượng Phật, có thể ở ngay trong lịng Tháp hoặc chung
quanh Tháp. Riêng Tháp Chùa Bảo Thiên với tên Đại Thắng Tư Thiên thì cơ
bản là đài chiến thắng, tuy ở Chùa và 4 cửa Tháp có 4 đơi tượng Kim
Cương, nhưng trong tượng đền Tháp lại có tượng người tiên, chim muông,
giường ghế, chén bát bằng đá.
Tháp Lý với bình diện vng được bắt nguồn từ các Tu viện Phật giáo
Ấn Độ vốn là kiến trúc trải rộng được biến thành kiến trúc cao tầng bình
diện vng hình Tháp, trong có tượng Phật, là nơi thờ. Bình diện vuông của
Tháp, theo tư duy Việt cổ quan niệm trái đất vuông, được bốn phương neo
giữ. Những cây Tháp cao ấy không trơ trụi, lại hòa với hành lang, giải vũ ở
hai bên, với những tịa nhà ở phía sau, và cây cối …tạo thành một cảnh quan
tổng thể có cả chiều cao và bề rộng, vừa thiêng liêng vừa ấm cúng.
Phong phú hơn Tháp cả về số lượng và kiến thức phải là Chùa. Dựa
vào thực địa và thư tịch có thể chia Chùa thời Lý thành 4 loại có bố cục khác
nhau. Trước hết là kiểu Chùa đựng trên một cây cột, phát triển theo kiến trúc
Tháp, tiêu biểu là Chùa Một Cột, tuy của hoàng gia nhưng đã đi lên từ kiến
truyền thống mà gần đây còn thấy trong dân gian là cây hương đặt trên đầu
cọc, hay trên trụ gạch, toàn thể là bông sen nghệ thuật khổng lồ.
Loại thứ hai là những loại Chùa vừa cầu Phật để cầu trúc hoàng gia
vừa là hành cung để vua nghỉ ngơi khi du ngoạn quanh vùng. Loại Chùa này
thường được vua đến thăm và để di bút, có quy mơ lớn, ngồi Tháp cịn có
nhiều kiến trúc Phật bề thế.
Loại Chùa thứ ba khơng có Tháp, cũng khơng phải là hành cung, quy
mơ có kém một chút nhưng cịn rất lớn, phát triển theo chiều sâu và nâng
cao dần, hai bên cân đối, khu điện thờ bố cục gần giống mặt bằng của Tháp.
Ngồi ra, cịn những Chùa nhỏ lẫn trong thơn xóm, lúc đầu chỉ có thể là cái
am, là nơi tu dưỡng của nhà Sư, sau đó được mở mang nhưng cơ bản là đẹp
trong khn khổ gọn nhỏ. Nhìn chung các Chùa thời Lý có quy mơ lớn,
nhưng Phật điện nhỏ, tượng thờ cịn ít, thường chỉ có một pho tượng Phật
ứng với một chiếc bệ chỉ đủ chỗ cho một pho tượng, trong cách thờ có sự
tương đồng với cả khu vực Đông Nam Á.
Từ thời Trần, Phật giáo còn để lại một số Phật điện và Tháp khá
nguyên vẹn. Ở giai đoạn đầu, các Thiền gia nổi tiếng tập trung ở các tầng
lớp trên, nên Chùa Tháp thường được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Nhà nước, như Chùa Phổ Minh.
Đến cuối đời Trần, do sự phân hóa xã hội mạnh, Chùa làng phát triển
còn để lại một số điện thờ và nhiều bệ thờ bằng đá. Do quan niệm “vô chấp”
nên Chùa là nơi đàm đạo Phật pháp của chư Tăng và Phật tử, có khi thờ Phật
mà khơng cần đến pho tượng nào. Chùa khơng gắn với hình Phật mà không
cần đến cả tượng Phật nên ngày nay chưa tìm được pho tượng Phật nào.
Chùa khơng gắn với hành cung nữa mà thuần túy là nơi tu hành. Một số
Chùa có Tháp, nhưng Tháp khơng cịn là kiến trúc trung tâm nữa, xây ở
ngay sân trước, vẫn nhiều tầng, cao khoảng trên dưới 15m, lịng hẹp khơng
đủ sức làm một Phật điện, nên phải có một điện thờ Phật ở phía sau.
Các Chùa làng như Chùa Thái Lạc và Chùa Bối Khê còn giữ được
điện Phật xây trên nền cao, mỗi cạnh trên dưới 10m tạo một nền đế gần
vuông, bên trên dựng một kiến trúc một gian hai chái, trên mái với các đao
cong như bông hoa. Bộ chung gỗ chủ yếu gồm hai vì kết cấu theo lối chồng
giường ở hai bên giá chiêng đặc tạo ra nhiều điện để trang trí. Do điện Phật
ở trên nền cao, khơng có tường vách, bên trong thống sáng, nên các hình
chạm trang trí trau chuốt và ở trên cao vẫn rõ ràng.
Ở một số Chùa làng, trong điện Phật còn giữ được điện thờ bằng đá
dài suốt chiều rộng gian giữa Chùa 3m và cao rộng hơn 1m, được người xưa
gọi là “Phật bàn” hay “Phật thạch bàn” tức bàn đá thờ Phật như một nhang
án, khơng có dấu vết tượng đặt trên, và cũng chưa phát hiện được pho tượng
Phật nào. Có thể dân gian đã thờ tranh Phật hay chữ “Phật” chăng?
Sang thời Lê sơ, Phật giáo bị Nhà nước hạn chế, Chùa mới không
được xây, Chùa cũ hỏng bỏ hoặc phải dồn nhiều Chùa làm một. Ở một vài
làng quê đã tìm được bia đá liên quan đến việc trùng tu Chùa. Tuy nhiên số
lượng rất ít và dấu tích vật chất của kiến trúc cũng khơng có gì chắc chắn.
Qua sự khủng hoảng của Nho giáo ở đầu thế kỷ XVI, triều Mạc ra đời
đã nhanh chóng ổn định xã hội, phát triển kinh tế cả nông nghiệp, tiểu thủ
công và thương nghiệp. Sự cởi mở về tư tưởng kết hợp với sự ổn định về
kinh tế đã làm cho Phật giáo được phục hồi. Cùng với sự bảo trợ của lớp quý
tộc mới, nhân dân các làng xã đã sửa chữa và dựng mới nhiều Chùa. Các
Chùa làng thời Mạc về cơ bản vẫn theo hình mẫu Chùa làng cuối thời Trần
nhất là về kiến trúc. Tuy nhiên, nếu như các Chùa từ thế kỷ XV trở về trước,
trên điện Phật rất ít tượng, thì từ thời Mạc do cách thờ Phật theo lối “Thế
gian trụ trì Phật pháp” địi hỏi phải có hình ảnh cụ thể về thế giới nhà Phật,
nên điện Phật đã khá đông đúc cả về số lượng và chủng loại mà tùy từng
Chùa đã tìm thấy bộ ba tượng Tam Thế, một số tượng Quan Âm Nam Hải,
có cả tượng Thích Ca sơ sinh, thậm chí cả các thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp
thành bộ Tứ pháp cũng được Phật hóa… nhưng nói chung vẫn là những
nhân vật Phật thoại và thần thoại. Do đó, điện Phật vẫn là tịa Tam Bảo
nhưng được mở rộng hơn về hai bên để rõ hình chữ nhật. Điện Phật đơng vui
thì đồng thời cũng bình dân hơn, và Chùa làng thực sự là trung tâm văn hóa
của làng xã.
Phân loại theo cấu trúc
Chùa chữ Đinh
Chùa chữ Đinh (丁), có nhà chính điện hay còn gọi là thượng điện, là
nhà đặt các bàn thờ Phật, được nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền
đường ở phía trước.
Chùa chữ Cơng
Chùa chữ Cơng (工) là chùa có nhà chính điện và nhà bái đường song
song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu
hương, nơi sư làm lễ. Có nơi gọi gian nhà nối nhà bái đường với Phật điện
này là ống muống.
Chùa chữ Tam
Chùa chữ Tam (三) là kiểu chùa có ba nếp nhà song song với nhau,
thường được gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Chùa Kim Liên ở
Hà Nội, chùa Tây Phương ở Hà Tây có dạng bố cục như thế này.
Chùa kiểu Nội công ngoại quốc
Vào thế kỷ XVII, do chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài, nhân dân bị
động viên cả người và của không đủ sức dựng Chùa riêng cho làng nữa, tầng
lớp quý tộc không tin ở thực tại nữa tìm đến cầu cứu cửa Phật, và đã xuất
tiền của cho việc mở mang cảnh Chùa. Đồng thời Phật giáo Trung Hoa với
phái Lâm Tế và Tào Động cũng thừa cơ du nhập vào ta. Trong Chùa ngoài
các loại tượng như ở thời Mạc, giờ đây có thêm bộ ba tượng Di Đà, tam tôn
Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Tuyết Sơn …thuộc thế giới Phật thoái,
và cả tượng các cao Tăng đã trụ trì tại Chùa, các vị Phật tử góp nhiều tiền
của cho Chùa … tức những người thực đã có những việc thực tiễn ích cho
Chùa. Ngồi ra, một số cao Tăng có công khai sáng Chùa, được truyền
thuyết với nhiều phép nhiệm mầu, giờ đây được trở thành “Đức Thánh” linh
thiêng được dành nơi thâm nghiêm và trang trọng nhất của Chùa để thờ. Do
Phật điện đông đúc, điện Phật một nếp nhà chữ nhật không đủ sức chứa nữa,
lại càng không có chỗ hành lễ, nên khu vục thờ của Chùa ngồi điện Phật
chuyển sang chữ “Cơng”, cịn có thêm nhà Tổ nữa, và đặc biệt một số Chùa
có cả điện Thánh, ngồi ra cịn có hành lang giải vũ ở hai bên để chuẩn bị
cho các dịp hội Chùa hàng năm. Mặt bằng kiến trúc Chùa kiểu “Nội công
ngoại quốc” ra đời, có nghĩa là vừa phát triển ngang, phát triển dọc lại bao
quanh nữa, lại còn ở rải rác vườn Chùa có các Tháp mộ Sư nữa.
Chùa kiểu Nội cơng ngoại quốc là kiểu chùa có hai hành lang dài nối
liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường (có thể là nhà tổ hay
nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhà
thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác ở giữa. Bố
cục mặt bằng chùa có dạng phía trong hình chữ Cơng (工), cịn phía ngồi
có khung bao quanh như chữ khẩu (囗) hay như ở chữ Quốc (国).
Đây là các dạng bố cục của các cơng trình kiến trúc chính. Ngồi ra,
trong chùa cịn có những ngơi nhà khác như nhà tổ, là nơi thờ các vị sư từng
trụ trì ở chùa nay đã tịch, hoặc nhà tăng, nơi ở của các nhà sư và một số kiến
trúc khác như gác chuông, tháp và tam quan.
Chùa kiểu chữ Công (工)
Kiểu chùa này là phổ biến hơn cả. Tuy nhiên có một số ngoại lệ, tiêu
biểu là chùa Một Cột ở Hà Nội có hình dáng một bông sen nở trên mặt nước,
hay ngôi chùa mới được xây cất như chùa Vĩnh Nghiêm có hai tầng ở Thành
phố Hồ Chí Minh mang trong mình cả những nét truyền thống Phật giáo và
cả những thành tựu của kiến trúc. Nhưng những ngoại lệ như vậy không
nhiều.
1. Kiến trúc tổng thể ngôi chùa Miền Bắc
Kiến trúc chùa được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời
kỳ lịch sử khác nhau và không gian khác nhau, ở các phong cách kiến trúc
địa phương.
Tam quan
Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa Việt
Nam, là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có nhiều
chùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại. Tầng trên
của Tam quan có thể dùng làm gác chng.
Sân chùa
Qua Tam quan là đến sân chùa. Sân của nhiều chùa thường được bày
đặt các chậu cảnh, hòn non bộ với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên
nhiên cho ngơi chùa. Diện tích của sân chùa phụ thuộc vào những điều kiện
và đặc điểm riêng của từng chùa. Trong sân chùa, đơi khi có các ngọn tháp
được xây dựng ở đây như ở chùa Dâu, chùa Thiên Mụ.
Bái đường
Từ dưới sân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà bái
đường (hay còn gọi là tiền đường, nhà thiêu hương). Để đi được đến đây
thường phải đi lên một số bậc thềm. Ở nhà bái đường có thể đặt một số
tượng, bia đá ghi sự tích của ngơi chùa, có thể đặt cả chng, khánh nếu như
ngồi cửa Tam quan không xây gác chuông. Giữa bái đường là hương án,
nơi thắp hương chính. Thơng thường người đến lễ chùa thắp hương ở đây.
Số gian của bái đường tùy thuộc vào qui mô của chùa, nhỏ nhất là 3 gian,
thông thường là 5 gian.
Chính điện
Qua nhà bái đường là chính điện. Giữa bái đường và chính điện có
một khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sáng tự nhiên chiếu sáng. Nhà
chính điện là phần quan trọng nhất của ngơi chùa vì nơi đây bày những pho
tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật ở Việt Nam.
Hành lang
Chạy song song với chính điện, nối chính điện với hậu đường là hai
gian hành lang, tạo thành một nhà ba gian.
Hậu đường
Qua nhà chính điện, theo đường hành lang ta đến nhà tăng đường (còn
gọi là nhà hậu đường), cũng còn gọi là nhà tổ. Nhà hậu đường ở một số chùa
trong miền nam Việt Nam liền sát sau nhà chính điện, ngay sau phía bàn thờ
Phật.
Trong thực tế, chùa có nhiều biến thể khác nhau. Ở một số chùa, phía
sau điện thờ Phật cịn có điện thờ Thần, đó là loại chùa tiền Phật hậu Thần
phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Có chùa có gác chng ở phía trước, có
chùa có gác chng ở phía sau, có chùa gác chng ở ngay trên cửa Tam
quan, có chùa gác chng lại ở trên nhà tổ. Một số chùa có ngơi tháp lớn ở
trước mặt, như chùa Dâu ở tỉnh Bắc Ninh, chùa Phổ Minh ở tỉnh Nam Định,
nhưng một số chùa khác lại đặt các tháp ở hai bên chùa hay có vườn tháp
riêng như chùa Trấn Quốc ở Hà Nội, chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, Chùa Bổ
Đà ở tỉnh Bắc Giang...
Ngồi cơng trình chính, chùa Việt Nam thường có vườn cây, vườn
hoa được trồng và chăm chút cẩn thận. Nhiều chùa có cả giếng, ao, hồ sen...
Phác họa qua một số ngôi chùa về kiến trúc và mỹ thuật trang trí, có
thể thấy các chùa ở miền Bắc gắn bó rất mật thiết với trình độ và phong cách
kiến trúc, điêu khắc của dân tộc ta trong các thời kỳ lịch sử, gắn bó với đời
sống xã hội qua các triều đại. Ở đó thể hiện tinh hoa và bản sắc văn hóa Việt
Nam, thể hiện óc sáng tạo và bàn tay khéo léo của các nghệ nhân và thợ lành
nghề Việt Nam từ đời này qua đời khác. Hầu hết các tượng Phật cổ là những
tác phẩm nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng, hẳn chúng ta phải thán phục khi
chiêm ngưỡng bức tượng Phật nghìn mắt nghìn tay được mô phỏng ở các
chùa hiện đang được đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, 18 pho tượng La
Hán ở chùa Tây Phương, 287 pho tượng ở chùa Mía, Sơn Tây trong đó có
những pho đạt tới đỉnh cao nghệ thuật như tượng Tuyết Sơn, Quan Âm Tống
Tử, tượng Bát Bộ Kim cương... Ðến nay, chúng ta đúc được bức tượng phật
đồng nặng 100 tấn nguyên khối tại Bái Ðính Ninh Bình, có thể xây dựng
những Thiền viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt, Yên Tử (Quảng Ninh), Tây Thiên
(Vĩnh Phúc), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) là nhờ đã tiếp thụ được những
tinh hoa nghệ thuật của cha ông.
Vẻ đẹp kiến trúc và mỹ thuật điêu khắc ở các ngôi chùa Việt Nam đã
tạo nên sức hấp dẫn khách thập phương ở trong nước và quốc tế, đóng góp
cho sự phát triển du lịch nước nhà, giới thiệu với các nước trên thế giới nét
độc đáo của văn hóa Việt Nam. Trách nhiệm của mỗi người chúng ta là phải
giữ gìn những di sản văn hóa đó, càng giữ nguyên trạng càng tốt, nhất là khi
trùng tu tôn tạo. Kiến trúc và điêu khắc ở mỗi ngôi chùa được bảo tồn và giữ
ngun trạng càng tơn thêm vẻ đẹp cổ kính đầy bản sắc của các ngôi chùa
Việt Nam.
Một số chùa nổi tiếng
Chùa Một Cột
Chuà có kiến trúc rất độc đáo với tòa đài dựng trên một cột đá giữa cái
hồ vng. Chùa hình vng mỗi chiều 3 m, mái cong dựng trên cột đá hình
trụ. Cột có đường kính 1,2 m, cao 4 m, chưa kể phần chìm dưới đất. Tầng
trên là hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn vững chãi đỡ cho
ngôi đài dựng bên trên như một đóa hoa sen vươn thẳng lên khu hồ có lan
can bằng gạch bao quanh. Từ bờ ngồi có cầu thang bằng gạch dẫn lên Phật
đài. Trên cửa Phật đài có biển đề "Liên hoa đài" ghi nhớ sự tích nằm mộng
của vua Lý dẫn đến việc xây chùa. Tương truyền năm 1049, vua Lý Thái
Tông chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua cũng được dắt
lên đó. Khi vua tỉnh giấc đem việc ấy kể lại, sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng
chùa. Theo bia chùa Ðọi (Hà Nam) thì quy mơ Liên hoa đài thời Lý to hơn
ngày nay nhiều: Cây cột đá giữa hồ Linh Chiểu có đóa hoa sen nghìn cánh
trên dựng tịa điện mầu xanh, trong điện đặt tượng Quan Âm. Vòng quanh
hồ là dãy hành lang. Bên cạnh là ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng đi
qua. Phía sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly.
Chùa Bút Tháp
Chùa ở Bắc Ninh vì có ngọn tháp hình cây bút nên có tên gọi như vậy.
Chùa xây từ thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278), khi hịa thượng Huyền
Quang đến tu. Ơng là một nhà sư giỏi, đỗ tiến sĩ và là một trong ba vị tổ của
giáo phái Trúc Lâm. Ông cho xây ngọn tháp cao chín tầng, trang trí hình hoa
sen. Nghệ thuật trang trí theo phong cách đời Lý - Trần. Các bức trang trí
chạm nổi trên đá ở cầu đá, ở lan can thượng điện. Chùa là danh thắng từ lâu
đã được xếp hạng.
Chùa Keo ở Thái Bình
Năm 1067, vua Lý Thánh Tông đến lễ chùa, ban tiền tu sửa. Chùa
Keo thờ Phật, tòa Thánh thờ vị sư tổ của chùa là Không Lộ thiền sư. Kiến
trúc của chùa được bố trí từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Ngồi
cùng là tam quan ngoại, đi vịng theo hồ hình chữ nhật vào tam quan nội,
tiếp đó là khu chùa chính, bố trí theo kiểu "nội cơng ngoại quốc". Ðặc biệt
gác chuông ba tầng của chùa Keo là nơi tập trung cao độ của nghệ thuật điêu
khắc gỗ tinh xảo của thời Hậu Lê. Nói đến chùa Keo Thái Bình, người ta
nhớ ngay đến gác chng cũng như nói đến chùa Cổ Lễ Nam Ðịnh, người ta
nhớ ngay đến tháp Cửu phẩm liên hoa cao 12 tầng có kiến trúc độc đáo hiếm
có trong hệ thống các tháp Việt Nam.
2. Kiến trúc tổng thể chùa tháp miền Trung
Năm 1301, Thái thượng hồng Trần Nhân Tơng của Đại Việt nhận lời
mời du ngoạn vào Chiêm Thành, được Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại
trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tơng có
hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có
chính thất là hồng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay). Năm
1306, Jaya Sinhavarman III dâng hai châu Ô và châu Lý (khu vực từ Quảng
Bình đến Quảng Nam) cho nhà Trần của Đại Việt làm của hồi môn để được
kết hôn với Huyền Trân công chúa. Huyền Trân về Chiêm Thành, được
phong làm hồng hậu Paramecvari. Một năm sau đó, khi hồng hậu người
Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc
vương Chế Mân qua đời. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung
vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân đem về.
Chiêm Thành coi sự việc này là quốc nhục và các vị vua Chiêm kế
tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311, 1312,1317-1318, 1326 và 1353,
nhằm yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ơ Lý nhưng
khơng thành cơng.
Do có nguồn gốc từ đất nước Chiêm Thành, nên vùng đất này bị ảnh
hưởng của văn hóa Chăm khá sau sắc. Điều này dẫn đến kiến trúc chùa tháp
cũng mang đậm vẻ Chăm pa. Và tháp Chăm chính là đặc trưng cho đền tháp
ở miền Trung.Tháp Chàm là những đền miếu cổ, thuộc kiến trúc tơn giáo tín
ngưỡng của dân tộc Chàm (cịn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam
Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Tháp Chàm là một khối kiến trúc xây dựng
bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng và
thon vút hình bơng hoa. Mặt bằng tháp đa số là hình vng có khơng gian
bên trong chật hẹp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng mặt
trời mọc). Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần
bằng đá. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt cơng phu hình hoa lá, chim muông,
vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngồi của tháp. Trên các bức
tường khơng thấy mạch vữa liên kết, song các viên gạch lại liên kết với nhau
rất rắn chắc, bền vững tới hàng chục thế kỷ.
Lịch sử xây dựng các đền tháp Champa kéo dài từ cuối thế kỷ thứ 7
đến đầu thế kỷ 17. Trong khoảng thời gian này, những người Champa xưa
đã để lại một số lượng lớn các cơng trình kiến trúc đền tháp, thành luỹ, các
tác phẩm điêu khắc. Hiện tại có trên hai mươi cụm di tích kiến trúc đền tháp
và rất nhiều phế tích kiến trúc. Các di tích này có giá trị đặc sắc, mang tính
tồn cầu, xứng đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Một
trong những sự quan tâm ấy là việc tổ chức UNESCO đã công nhận Mỹ Sơn
là di sản văn hố thế giới cũng chính là việc đánh giá cao thành quả nghiên
cứu về kiến trúc Champa nói chung.
Theo tiếng Chăm, các đến tháp Champa này được gọi là kalan, nghĩa
là "lăng". Các lăng này được các đời vua Chăm xây dựng để thờ cúng các vị
thần. Các vị thần được thờ phượng có thể là các vị thần Ấn Độ giáo tiêu biểu
như Siva (thần hủy diệt), Ganesha (phúc thần đầu người mình voi)... hoặc
đấy cịn có thể là các vị Phật. Điều này tùy thuộc vào lòng tin và kính mộ
của mỗi vì vua ở các triều đại khác nhau. Ở thánh địa Mỹ Sơn hiện nay phần
lớn là cơng trình kiến trúc tơn giáo thờ các vị thần thuộc Ấn Độ giáo và Bà
la môn giáo. Nhưng ở thánh địa Đồng Dương (thuộc địa phận huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam) đây là kinh đơ Phật giáo lớn nhất của Champa.
Trong lĩnh vực văn hố vật thể thì nghệ thuật Champa cổ và nghệ
thuật Việt cổ có nhiều nét tương đồng. Nhìn chung thì nghệ thuật Champa
có trước nghệ thuật Việt và đã đạt đỉnh cao ngay khi nghệ thuật Việt độc lập
chưa ra đời.
Xét về mặt kiến trúc: các tháp Champa hầu hết ở trên những đồi cao
hoặc núi thấp, được xây dựng thành từng cụm, hướng Đơng nhìn ra biển đón
dương khí thì chùa, tháp Việt Nam thời Lý, thời Trần cũng thường xây dựng
trên gò, đồi và sườn núi, tạo nên cả một quần thể, hướng Nam hoặc Nam
chếch Đơng, đón dương khí. Tháp Việt Nam cũng vươn cao với nhiều tầng
như tháp Champa và có bình diện vuông gần với các phương Đông, Tây,
Nam, Bắc. Tháp Champa cũng như tháp Lý - Trần về cơ bản cũng xây bằng
gạch hoặc phụ thêm một số thành phần bằng đá. Có điều, tháp Champa được
đục trực tiếp trên gạch sau khi xây, còn ở tháp Lý - Trần thì hình trang trí
được in, khắc trực tiếp trên gạch, rồi sau đó mới mang nung, xây đến đâu là
có hình trang trí cho chỗ đó rồi.
Phổ biến và cũng hấp dẫn nhất trong nghệ thuật Champa là các apsara,
đa số thuộc đỉnh cao của điêu khắc Champa thuộc thế kỷ thứ 10. Các nhân
vật kết hợp người với chim hoặc với thú đều có cả trong nghệ thuật Champa
và nghệ thuật Việt.
Các phong cách kiến trúc Champa
Phong cách nghệ thuật các tháp Chăm, là hệ thống các phong cách
xây dựng các ngôi tháp Chăm của Chăm Pa trong các thời kỳ liên tiếp nhau
từ thế kỷ 7 đến thể kỷ 17 ở miền Trung Việt Nam hiện nay. Được nhà nghệ
thuật học nổi tiếng người Pháp Philippe Stern sắp xếp trật tự và niên đại và
phong cách các tháp Chăm như sau:
Phong cách cổ
Hay cịn có tên là phong cách Mỹ Sơn E1, có niên đại ở thế kỷ 7 - thế
kỷ 8, phong cách thời kỳ này phản ánh ảnh hưởng từ bên ngồi của văn hóa
tiền Angkor và cả nghệ thuật Dvaravati và miền Nam Ấn độ
Tiêu biểu cho phong cách Mỹ Sơn E 1 là ở bệ thờ bên trong tháp làm
bằng đá cát kết có hình dạng linga tượng trưng cho ngọn núi là nhà của thần
Si-va, xung quanh có chạm các tu sĩ đang tu luyện trong rừng núi hay hang
động, với các hình dạng như đang chơi các loại nhạc cụ khác nhau, đang
giáo hóa cho các lồi vật và cả đang thư giãn. Một cơng trình tiêu biểu nữa
là phù điêu ở trên lối vào chính chạm khắc buổi bình minh thời đại theo thần
thoại Ấn Độ
Các tháp theo phong cách cổ: tháp Mỹ Sơn E1 (đã đổ nát), tháp Mắm
(khơng cịn), tháp Phú Hài, tháp Damrei (di tích Chăm ở Campuchia)
Phong cách Hoà Lai và phong cách Đồng Dương (thế kỷ thứ 9)
Những ngơi đền tháp theo hai phong cách này có những hàng cột ốp
và những cửa vòm khoẻ khoắn. Những băng trang trí cho cơng trình có rất
nhiều họa tiết. Yếu tố tiêu biểu nhất cho phong cách Hoà Lai (nửa đầu thế kỷ
thứ 9) là các vòm cửa nhiều mũi tròn trùm lên các cửa thật, cửa giả và các
khám. Các cột ở khung cửa hình bát giác bằng sa thạch được trang trí bằng
một đường các hình lá uốn cong. Khoảng giữa hai cột trụ ốp có trang trí hình
thực vật. Ở bên dưới các cột trụ ốp là các hình kiến trúc thu nhỏ trong đó có
hình người đắp nổi. Tất cả tạo cho các tháp Hồ Lai một vẻ đẹp trang trọng
và tươi mát. Cịn ở phong cách Đồng Dương (nửa sau thế kỷ thứ 9) thì các
trang trí cây lá được biến thành những hình hoa hướng ra ngồi. Cái nhận
thức cổ điển của nét lượn và tỷ lệ ở phong cách Hoà Lai đã bị biến mất và
các tháp Đồng Dương trở nên mạnh mẽ hơn.
Phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ thứ 10)
Phong cách này thể hiện đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất là ở ngôi tháp Mỹ
Sơn A1. Những cột ốp trên mặt tường đứng thành đôi một. Đứng giữa hai
cột ốp là các bức tượng người. Các vịm cửa có hình dáng phức tạp nhưng
khơng chạm khắc gì. Bộ diềm kép, các hình đá trang trí góc được kht
thủng. Thân chính của tháp được xây dựng có hình dáng cao vút lên và các
tầng thu nhỏ dần lại. Những đặc trưng của phong cách Hồ Lai và Đồng
Dương khơng cịn thấy ở các tháp thuộc phong cách Mỹ Sơn A1.
Phong cách Bình Định (thế kỷ 11-13)
Sau hàng loạt những biến động về chính trị từ đầu thế kỷ 11, trung
tâm chính trị của Champa được chuyển vào Bình Định và từ đó, phong cách
nghệ thuật tháp Champa mới đã xuất hiện: phong cách Bình Định. Nếu như
ngơn ngữ nghệ thuật chính của các tháp Champa thuộc phong cách trước là
thành phần kiến trúc đều đi vào đường nét thì ở phong cách này đó lại là
mảng khối: vịm cửa thu lại và vút lên thành hình mũi giáo, các tháp nhỏ trên
các tầng cuộn lại thành các khối đậm, khỏe, các trụ ốp thu vào thành một
khối phẳng, mặt tường có các gân sống.
Phong cách muộn
Có niên đại từ đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 17, gồm các tháp: tháp
Po Klaung Garai, tháp Po Rome, tháp Yang Prong, tháp Yang Mun (đã đổ
nát)
Đặc trưng của các ngôi tháp Champa
Mọi ngôi tháp đều được xây bằng gạch hoặc chủ yếu bằng gạch. Gạch có
màu đỏ hồng, đỏ sẫm, được nung trước với độ xốp cao, được xây khơng có
mạch vữa và có thể có điêu khắc trực tiếp trên gạch.
Có chiều cao lớn hơn vài ba lần so với chiều ngang thân tháp. Tỷ lệ các
phần của tháp có tính nhân bản, nghĩa là nó được xuất phát từ con người.
Tháp có phần ngọn được thu nhỏ dần hoặc giật cấp.
Các trang trí kiến trúc, điêu khắc có tính nhịp điệu, tính lặp lại và đồng
dạng, đăng đối.
Đa phần các tháp có cửa quay ra hướng Đơng, các phía cịn lại là cửa giả,
được bố trí đăng đối với cửa chính.
Trong tháp theo nguyên mẫu có thờ thần Siva, biểu trưng là bộ ngẫu
tượng Yoni và Linga được làm bằng sa thạch.
Tháp thường được đặt tại các vị trí thống, gị đồi cao, khơng gần chỗ
người dân sinh sống
Các công đoạn xây dựng tháp
1. Chuẩn bị chất kết dính.
2. Đúc gạch theo khn đã định sẵn. Nung gạch lần 1.
3. Xếp gạch theo mô hình tháp bằng chất kết dính.
4. Nung tháp.
5. Gọt dũa, trang trí và điêu khắc và hồn chỉnh tồn bộ khối tháp.
Giá trị của kiến trúc đền tháp Champa
Các đền tháp Champa phản ánh đầy đủ và chân thực hoàn cảnh văn
hoá Champa từ những giai đoạn đầu tiếp thu những ảnh hưởng của
văn hóa Ấn Độ cho đến những giai đoạn thích nghi, tiếp biến và trỗi
dậy mạnh mẽ tính bản địa và sự giao lưu thường xuyên về mặt văn
hóa bên cạnh các mặt kinh tế - chính trị với các dân tộc liền kề.
Giá trị nghệ thuật của các hình trang trí ngồi việc giúp cho các đền
tháp đẹp hơn, cịn có ý nghĩa văn hóa đặc biệt, giúp cho việc nghiên
cứu sâu hơn về niên đại, phong cách và chức năng của các đền tháp.
Danh sách đền tháp Chăm Pa
Sau đây là danh sách một số di tích đền tháp Champa (khơng xét đến
các phế tích)
Thứ
tự
1
2
2
3
Tên di tích
Nhóm
Liễu Cốc
Nhóm
Mỹ Khánh
Nhóm
Mắm
Nhóm
Bằng An
tháp
Địa điểm
xã
Hương
Niên đại
Xn,
huyện
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
thế
kỷ
XIII
tháp xã Phú Diên, Huyện Phú thế
kỷ
Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế XIII - IX
tháp xã Nhơn Hậu, Huyện An thế
Nhơn, tỉnh Bình Định
kỷ
XIII
tháp làng Bằng An, xã Vĩnh Diện, thế kỷ IX
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng - X
Kích
Ghi
thước
chú
Nam
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Nhóm
tháp xã Duy Phú, huyện Duy
Mỹ Sơn
Nhóm
Xuyên, tỉnh Quảng Nam
tháp
Chiên Đàn
Nhóm
tháp
Khương Mỹ
Nhóm
tháp
Bình Lâm
Xn, huyện Núi Thành, tỉnh thế kỷ X
Quảng Nam
Nhơn, tỉnh Bình Định
thơn Đại Lộc, xã Phước Hiệp,
huyện Tuy Phước, tỉnh Bình
tháp xã Bình nghi, huyện Tây Sơn,
tỉnh Bình Định
tháp xã Tây Bình, huyện Tây Sơn,
Dương Long
Nhóm
- XII
làng Khương Mỹ, xã Tam
Định
Thủ Thiện
Nhóm
thế kỷ XI
thế
kỷ
XII
-
XIII
tháp xã Nhơn Thành, huyện An thế
Bánh Ít
Nhóm
Quảng Nam
Nhơn, tỉnh Bình Định
Phước Lộc
Nhóm
thành phố Tam Kỳ, tỉnh
tháp xã Nhơn Hậu, huyện An
Cánh Tiên
Nhóm
làng Chiên Đàn, xã Tam An,
tỉnh Bình Định
XIII
thế kỷ XI
- XII
thế
kỷ
XII
-
XIII
thế
kỷ
XII
-
XIII
tháp xã Phước Hồ, huyện Tuy thế
Phước, tỉnh Bình Định
kỷ
XII
kỷ
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Nhóm
tháp thành phố Quy Nhơn, tỉnh thế
Hưng Thạnh
Nhóm
Bình Định
XII
tháp thành phố Tuy Hịa, tỉnh Phú thế
Nhạn
n
kỷ
kỷ
XII
Nhóm tháp Po thành phố Nha Trang, tỉnh thế kỷ X
Nagar
Nhóm
Khánh Hồ
tháp
Hịa Lai
làng Tam Tháp, xã Tân Hải,
huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh thế kỷ IX
Thuận
Nhóm tháp Po
Klong Garai
Nhóm tháp Po
Rome
phường Đơ Vinh, thành phố thế
Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh XIII
Ninh Thuận
làng Hậu Sanh, xã Phước
Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh
Ninh Thuận
Nhóm tháp Po
Dam
- XIII
Nhóm
-
XIV
thế
kỷ
XVII
làng Tuy Tịnh, xã Phong Phú,
huyện Tuy Phong, tỉnh Bình thế kỷ IX
Thuận
Nhóm tháp Po phường Phú Hài, thành phố thế
Sah Inư
kỷ
kỷ
Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận VIII
tháp Bản Đơn, huyện Ea Sup, tỉnh thế
Yang Praong Đắk Lắk
XIII
kỷ
Sau khi Nguyễn Hồng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa
Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng cịn lại của Champa và cũng phái một
số sứ đồn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số
ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn khơng có
thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và
mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ
thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17
đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi,
Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và
Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ
tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.
Thế kỷ XIX, có sự bảo trợ của triều đình, , khu vực Huế tiếp tục xây
thêm nhiều Chùa cịn ở ngồi Bắc chủ yếu là Chùa làng do dân đóng góp
xây dựng, nhưng ở những Chùa lớn được sự “công đức” của thương nhân hy
vọng buôn may bán đắt, nên tượng ngày càng nhiều và phức tạp, bên cạnh
bộ tượng “Thập Bát La Hán” bày kín hai hành lang, trong khu điện Phật còn
cả tượng Quan Âm Thị Kính, Lão Đam, Ngọc Hồng, Nam Tào Bắc Đẩu,
Kim Đồng, Ngọc Nữ, Thập Điện Diêm Vương… lại còn thêm cả điện mẫu
để con hương đệ tử hầu đồng bóng, tất cả tạo nên một sự pha tạp hỗn độn.
Một số chùa nổi tiếng
Chùa Thập Tháp Di Ðà
Chùa Thập Tháp Di Đà nằm giữa một vùng quê xanh tươi và yên ả,
cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 28km về phía bắc, thuộc thơn
Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.