Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (486.73 KB, 17 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Trong thực tế việc dạy học vật lý ở trường THCS chủ yếu là truyền tải
kiến thức về lý thuyết, chưa kiểm tra được sâu sác đến việc vận dụng lý
thuyết để giải bài tập. Nhưng chúng ta thấy được rằng việc giải các bài tập vật
lý là một cách kiểm tra kiến thức, đồng thời cũng là việc để học sinh đào sâu
mở rộng kiến thức, hình thành tính tư duy lơgic, hình thành phương pháp giải
bài tập, vận dụng kiến thức vào thực tế và cũng là biện pháp quí báu để phát
triển năng lực tư duy của học sinh, có tác dụng sâu sắc về mặt giáo dục tư
tưởng, đạo đức, nhân cách cho học sinh. Vì thế trong việc giải bài tập vật lý
mục đích cơ bản cuối cùng khơng phải chỉ tìm ra đáp số mà còn làm cho học
sinh khi giải bài tập sẽ hiểu sâu sắc hơn các khái niệm, công thức, định luật
vật lý… vận dụng chúng vào những vấn đề thực tế trong cuộc sống, trong lao
động.
Qua thực tế giảng dạy vật lý ở trường THCS Ba Xa tôi nhận thấy học
sinh còn gặp nhiều vấn đề lúng túng và khó khăn khi giải các bài tập vật lý.
Điều này ảnh hưởng khá nhiều đến chất lượng dạy và học, đồng thời chúng ta
đã biết dạy học theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học
sinh biết phân loại, nắm vững các phương pháp và làm được các bài tập trong
sách bài tập cũng như phần vận dụng trong sách giáo khoa là đã góp phần
không nhỏ thực hiện thành công trong công tác dạy học theo phương pháp đổi
mới.
Xuất phát từ những lí do trên nên tơi đã chọn đề tài: <i><b>“ Hướng dẫn học</b></i>
<i><b>sinh phương pháp giải bài tập vật lý ở bậc THCS”. Nhằm giúp học sinh</b></i>
nắm chắc được kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sấu kiến thức. Từ đó nâng
cao được chất lượng bộ mơn vật lý.
<b>II. Mục đích nghiên cứu: </b>
Hình thành cho học sinh cách tổng quan về phương pháp giải một bài
tập vật lý, tạo được sự thuần thục và linh hoạt trong việc giải bài tập, nâng cao
hiệu quả việc giải bài tập, giúp các em nắm vững kiến thức, vận dụng lý
thuyết vào cuộc sống.
<b>III. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu:</b>
* Đối tượng nghiên cứu: Phân loại và hướng dẫn học sinh phương
pháp giải bài tập vật lý cấp THCS.
* Phạm Vi nghiên cứu: Học sinh trường THCS Ba Xa ( đặc biệt là học
sinh khối lớp 8 và lớp 9)
* Thời gian nghiên cứu: Trong năm học 2009-2010
<b>IV. Nhiệm vụ nghiên cứu: </b>
- Cơ sở lí luận và đề tài.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức các bài tập vật lý cấp THCS.
- Cơ sở thực tế về việc giảng dạy và hướng dẫn học sinh giải bài tập vật
lý ở trường THCS Ba Xa.
- Phân loại được học sinh qua cách giải bài tập vật lý.
- Kết quả đạt được.
- Rút ra một số kinh nghiệm về cách thức giảng dạy truyền đạt kiến
thức cho học sinh.
<b>V. Phương pháp nghiên cứu:</b>
- Phương pháp đúc rút kinh nghiệm trong quá trình dạy.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh.
Theo quan điểm dạy học đổi mới thì phương pháp dạy học của giáo viên
thực chất là cách tổ chức hoạt động tự học của học sinh, cách tổ chức hướng
dẫn học sinh thực hiện các hoạt động và giúp đỡ khi cần để đảm bảo cho học
sinh có thể thực hiện thành cơng các hoạt động đó. Vậy thì phương pháp giải
bài tập vật lý nó khơng kém phần quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức.
Nó địi hỏi học sinh phải tư duy, phải logic, phải thực hiện các phép toán hay
bằng một thí nghiệm để giải quyết vấn đề cần đặt ra, nó cịn là một bộ phận
của q trình sư phạm nhằm đào tạo thế hệ trẻ có tri thức về khoa học, về thế
giới quan và nhân sinh quan, cách hình thành kĩ năng thực hành, vận dụng
vào thực tế.
Các tác dụng của bài tập vật lý:
* Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức: Vật lý học
khơng phải chỉ tồn tại trong óc chúng ta dưới dạng những mơ hình trừu tượng
do ta suy nghĩ ra mà là sự phản ánh trong óc chúng ta thực tế phong phú sinh
động. Tuy nhiên các khái niệm, định luật vật lý thì rất đơn giản, cịn biểu hiện
của chúng trong tự nhiên thì rất phức tạp, bởi vì các sự vật hiện tượng có thể
bị chi phối bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân. Do đó bài tập sẽ giúp cho
học sinh phân tích để nhận biết được những trường hợp đó. Bài tập vật lí nó
cịn là một phương tiện củng cố ơn tập kiến thức sinh động, khi giải bài tập
học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng kiến thức tổng
* Giải bài tập vật lý nó cịn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu
nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, trong đó yêu cầu học sinh
phải thực hiện các kiến thức để giải thích các hiện tượng thực tiễn hoặc dự
đốn các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho
trước.
* Giải bài tập vật lý là một trong những hình thức tự lực cao của học
sinh: Trong khi làm bài tập , do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu
bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra phên phán các kết luận mà học sinh
rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực tự làm việc của học
sinh được nâng cao. Nhưng chúng ta cũng cần thấy rằng mục đích cơ bản của
việc giải bài tập là làm cho học sinh hiểu sâu sắc các qui luật, biết phân tích
ứng dụng vào thực tiễn vào tính tốn kỹ thuật và cuối cùng là phát triển được
tư duy, năng lực giải quyết vấn đề.
* Giải bài tập vật lý nó cịn góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của
học sinh vì nó khơng những nằm trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã
học mà còn giúp học sinh bồi dưỡng tư duy sáng tạo. Đặc biệt là những bài
tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ.
* Giải bài tập vật lý nó cịn là cách để kiểm tra mức độ nắm vững kiến
thức của học sinh vì dựa vào cách đặt câu hỏi để kiểm tra ta có thể phân loại
được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá
chất lượng của học sinh được chính xác.
<b>II. Phân loại bài tập vật lý:</b>
Căn cứ vào phương pháp dạy học thực tế thì ta có các loại sau:
<i><b>* Bài tập định tính: </b></i>
luận. Tuy nhiên đòi hỏi học sinh phải có những suy luận lơ gíc, phải hiểu
được bản chất nội hàm của các khái niệm, định luật. . .
Ví dụ: + Ở đỉnh núi cao luộc trứng gà có chín được khơng? Vì sao?
( Ở đỉnh núi cao chúng ta luộc trứng gà thì trứng sẽ khơng chín. Đó là do
nhiệt độ phụ thuộc vào áp suất, mà áp suất thì lại phụ thuộc vào độ cao, do
càng lên cao thì áp suất càng giảm, mà áp suất giảm thì nhiệt độ sơi của nước
lúc này nhỏ hơn 1000<sub>C trong khi trứng chỉ luộc chín trong nước sơi ở áp suất</sub>
thường là 1000<sub>C.)</sub>
Hay ví dụ như: Giải thích tại sao thành ngoài của cốc nước đá lại ướt , mặc
dầu trước khi đỗ nước đá vào cốc, ta đã lau khô cốc và cốc không bị nứt?
<i><b>* Bài tập định lượng:</b></i>
Khi giải phải tính tốn đưa ra một con số cụ thể: có 2 loại
<i>+ Bài tập tập dượt: Là những bài tập cơ bản, trong đó chỉ đề cập đến một</i>
hiện tượng và sử dụng một phép tính đơn giản, những bài tập này có tác dụng
củng cố kiến thức vừa học, làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật
và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lý và thói quen cần
thiết để giải những bài tập phức tạp hơn.
<b>Ví dụ: Đoạn đường AB dài 20 km. Bạn An đi xe đạp hết 4 giờ để đi hết</b>
quảng đường. Tính vận tốc trung bình của bạn An?
S= 20 km Vận tốc trung bình của bạn An là:
T= 4 giờ Từ công thức: v = <i>S<sub>t</sub></i> = 20<sub>4</sub> = 5 km/h
VTB= ? Vậy vận tốc trung bình của An trên đoạn đướng AB là
5km/h
<i>+ Bài tập tính tốn tổng hợp: </i>
giải. Loại bài tập này có tác dụng giúp học sinh đào sâu mở rộng kiến thức,
phân tích tổng hợp để giải.
<i><b>* Bài tập đồ thị: Là loại bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện</b></i>
để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, địi hỏi học sinh
phải biểu diễn q trình biểu diễn của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ
thị.
Ví dụ: Khi khảo sát sự thay đổi của cường độ dòng điện
theo hiệu điện thế giữa hai đầu một vật dẫn, người ta
thu được đồ thị như hình bên. Dự vào đồ thị hãy cho
biết:
Khi hiệu điện thế U = 8V thì cường độ dịng qua
vật dẫn là bao nhiêu
( Theo đồ thị thì hiệu điện thế U= 2V, cường độ dòng điện I = 0,5 A.
Vậy khi hiệu điện thế U = 8V thì cường độ dịng điện là I = 0,5. 8<sub>2</sub> = 2 A )
<i><b>* Bài tập thí ngiệm: Là loại bài tập có liên quan đến thí nghiệm. Đây là loại</b></i>
Ví dụ: Lấy củ khoai tây ra khỏi bình.
( Dùng muối bỏ vào nước khuấy cho tan muối, đỗ vào bình. Muối chím chỗ
củ khoai, khoai nổi lên mặt nước ta lấy được).
<b>II. Giải pháp thực hiện: </b>
<i><b>1. Khảo sát thực tế: Qua quá trình thực tế giảng dạy ở trường THCS Ba Xa</b></i>
tôi đã nhận thấy học sinh ở trường khi giải các bài tập vật lý thường hay lúng
túng trong việc định hướng giải, có thể hầu như các em chưa các em chưa
định hướng, chưa biết cách thức giải, trình bày một bài tập vật lý. Nó có thể
phát xuất từ việc như:
+ Học sinh chưa nắm được kiến thức cũ, chưa vận dụng được kiến thức
vào thực tế.
+ Chưa hình thành được cách giải một bài tập vật lý.
+ Chưa có được phương pháp tổng quan để giải một bài tập vật lý.
I (A)
U ( V)
0,5
+ Thời lượng trong phân phối chương trình của SGK quá ít thời lượng
dùng cho tiết giải bài tập ( như khối 6, 7 hầu như khơng có tiết riêng biệt để
giải bài tập).
Từ đó học sinh sẽ khơng có được phương pháp cũng như kỹ năng để
giải một bài tập vật lý.
<i><b>2. Tỉ lệ học sinh trước khi chọn đề tài:</b></i>
Trước khi chọn đề tài tôi đã khảo sát khối 8 và khối 9 một số em cụ thể như sau:
<b>K.</b>
<b>Lớp</b>
<b> TS</b>
<b>HS được khảo sát</b>
<b>Giỏi</b> <b>Khá</b> <b>T Bình</b> <b>Yếu- Kém</b>
<b>TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL %</b>
<b>9</b> 18 0 0 2 11.1 10 55.5 6 22.4
<b>8</b> 24 1 4.2 1 4.2 12 50 10 41.6
<i><b>3. Tổ chức chuyên đề: </b></i>
Khi hình thành được cho học sinh nắm vững được kiến thức, thì việc
giải một bài tập vật lý học sinh cần phải biết trình tự, phương pháp và cách
thức trình bày một bài tập khi giải. Theo tôi khi giải một bài tập vật lý thì cần
phải đi qua các bước như sau:
<i><b>+ Tìm hiểu đề bài ( đọc kỹ đề)</b></i>
Bước này bao gồm việc xác định ý nghĩa vật lý của các thuật ngữ, phân
biệt đâu là ẩn số, đau là dữ kiện.
<i><b>+ Phân tích hiện tượng vật lý.</b></i>
Trước hết là nhận biết những dữ kiện cho trong đầu bài có liên quan
đến những khái niệm nào, qui tắc nào, định luật nào trong vật lý. Xác định các
giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đầu bài, mỗi giai đoạn bị chi
phối bởi những đạc tính nào, định luật nào. Cần phải hình dung rõ tồn bộ
diễn biến của hiện tượng và các định luật chi phối nó trước khi xây dựng bài
giải cụ thể.
<i><b>+ Xây dựng lập luận: Nếu ta phân tích theo hướng nào thì ta giải theo hướng</b></i>
đó. Nhưng lưu ý khi giải cần chú ý đến đơn vị.
<i>Biện luận: Biện luận hay không biện luận là tùy thuộc vào bài toán. Biện luận</i>
đối với các bài toán sau:
Bài toán có nhiều nghiệm.
Bài tốn có điều kiện ban đầu.
Bài tốn có gắng với thực tế.
<i>Kiểm tra đối với bài tốn nào cũng kiểm tra xem đúng hay sai.</i>
- Xem lại tiến trình giải có hợp lý hay khơng.
- Giải lại bằng cách khác, nếu có nhiều cách giải, xem kết quả có trùng
hay khơng?
- Kiểm tra đơn vị, kiểm tra thứ nguyên.
<i><b>4. Áp dụng phương pháp và trình tự giải một số bài tốn: </b></i>
<i><b>Bài tốn 1.</b></i>
Có hai dây dẫn một bằng đồng, một bằng nhôm, cùng chiều dài và cùng
tiết diện ở cùng một điều kiện. Hỏi nếu mắc hai dây đó nối tiếp vào mạch điện
thì khi có dòng điện đi qua, nhiệt lượng tỏa ra ở dây nào lớn hơn?
<i>( Đây là một bài toán định lượng khó, địi hỏi học sinh phải tư duy vận dụng</i>
<i>các kiến thức đã học trong chương để giải quyết. Vì vậy GV có thể đưa ra</i>
<i>một số câu hỏi gợi ý sau đây để học sinh dể dàng trả lời câu hỏi)</i>
GV: Nhiệt lượng tỏa ra trên một dây dẫn khi có dịng điện chạy qua phụ thuộc
vào yếu tố nào?
HS: Phải nắm được và vận dụng được công thức của định luật Jun- Len Xơ
Q = I2<sub>Rt</sub>
GV: Hãy so sánh cường độ dòng điện chạy qua hai dây dẫn ?
HS: Cường độ dòng điện chạy qua hai dây dẫn là như nhau vì chúng được
mắc nối tiếp.
GV: Vây chúng ta thấy được rằng I và t như nhau. Vạy nhiệt lượng tỏa ra trên
mỗi dây chỉ còn phụ thuộc vào điện trở của chúng.
<i>-Bây giờ ta so sánh điện trở của hai dây dẫn?</i>
Vậy điện trở của dây dẫn phụ thuộc vào yếu tố nào?
HS: Phải nắm được cơng thức tính điện trở theo điện trở suất, chiều dài và tiết
diện.
R= ρ <i><sub>S</sub>l</i>
GV: So sánh chiều dài và tiết diện của hai dây?
HS: Theo đề bài đã cho thì chiều dài và tiết diện của hai dây là như nhau.
GV: Điện trở suất của hai dây?
HS: ρnhơm > ρđồng
GV: Vậy thì ta thấy được điện trở của dây nào lớn hơn?
Nhiệt lượng tỏa ra trên dây nào lớn hơn?
Từ những dữ liệu trên học sinh trả lời câu hỏi này hết sức dễ dàng và
cũng đã ôn được cho học sinh một lượng kiến thức tương đối lớn.
<i><b>Bài toán 2.</b></i>
Người ta đổ 1 kg nước sôi vào 2 kg nước ở nhiệt độ 250<sub>C. Sau khi cân bằng</sub>
nhiệt thì nhiệt độ của nước là 450<sub>C. Tính nhiệt lượng mà nước đã tỏa ra môi</sub>
trường. Cho Cnước = 4200J/kg.K.
<i><b>Hướng dẫn giải: </b></i>
GV cho học sinh đọc kỹ đề và cho biết dữ kiện nào đã được biết, dữ kiện nào
cần phải đi tìm.
Nếu muốn tìm dữ kiện đó thì ta phải dùng cơng thức nào để tìm. Cho học sinh
thể hiện cơng thức.
GV cho học sinh viết cơng thức tìm nhiệt lượng do 1 kg nước sôi tỏa ra để hạ
nhiệt độ xuống cịn 450<sub>C</sub>
Sau đó chúng ta tìm nhiệt lượng tỏa ra môi trường rất đơn giản.
* Gọi Q1 là nhiệt lượng của 1 kg nước tỏa ra từ 1000C xuống cịn 450C
Ta có Q1= m1c ( t1- t )
= 1.4200.55 = 231000 (J)
Gọi Q2 là nhiệt lượng của 2 kg nước thu vào để nóng lên từ 250C lên 450C
Ta có: Q2 = m2c ( t- t2)
= 2.4200.20 = 168000 (J)
Gọi Q3 là nhiệt lượng tỏa ra mơi trương.
Theo phương trình cân bằng ta có:
Q1 = Q2 + Q3
Suy ra: Q3 = Q1 - Q2 = 231000 – 168000 = 63000 ( J)
Vậy nhiệt lượng tỏa ra môi trường là 63000 (J )
<i><b>Cách 2.</b></i>
Gọi t0<sub>C là nhiệt độ của nước khi cân bằng nhiệt khơng có tỏa nhiệt ra mơi</sub>
trường, thì phương trình cân bằng nhiệt là:
1.cnước ( 100 –t) = 2.cnước ( t- 25)
Từ đó suy ra t = 500<sub>c. Vậy độ tăng nhiệt độ so với thực tế:</sub>
<i>Δ</i> t = 50 – 45 = 50<sub>c.</sub>
Vậy nhiệt lượng tỏa ra môi trường:
Q = ( m1+ m2 )cnước. <i>Δ</i> t = ( 1+ 2).4200.5 = 63000 ( J)
Vậy nhiệt lượng tỏa ra môi trường xung quanh là 63000 (J):
<i><b>Bài tập 3.</b></i>
Cho mạch điện như hình vẽ
R1 = 20 <i>Ω</i> , R3 = 10 <i>Ω</i> , ampekế A1 chỉ 1,5A. ampekế A2 chỉ 1A. Các dây
Hướng dẫn giải:
Đối với loại bài này có thể gợi ý cho học sinh như sau:
GV: Trong mạch điện các điện trở được mắc với nhau như thế nào?
( R1// R2)nt R3
Những yếu tố nào đã biết, những yếu tố nào cần tìm.
Muốn tính R2 thì ta phải cần biết yếu tố nào ( U2 và I2 )
Mà U2 chúng ta chưa biết. Vậy phải tính U2 theo U1 vì R1// R2 do đó ta tìm U2
rất dẽ dàng. Từ đó chúng ta vận dụng cơng thức nào để tính R2.
Áp dụng cơng thức tính điện trở tương đương với đoạn mạch gồm 2 điện trở
mắc song song ta tính được R1,2 . Tiếp theo ta áp dụng cơng thức tính điện trở
tương đương gồm hai điện trở mắc nối tiếp ta sẽ tính được RAB .
Muốn tính được hiệu điện thế AB thì ta cần phải có được I mạch chính.
Tính được I mạch chính thì ta cần thơng qua I1 và I2.
R1= 20 <i>Ω</i> Hiệu điện thế đặt vào hai đầu điện trở R1 là:
R2 = 10 <i>Ω</i> U1= I1R1 = 1,5. 20 = 30 <i>Ω</i>
I1= 1,5 A Ta có U1 = U2 = 30 <i>Ω</i> ( Vì R1//R2 )
I2= 1A Vậy điện trở R2 là:
a/ R2= ?, RAB= ? R2 = <i>U<sub>I</sub></i> = 30 <i>Ω</i>
b/ UAB = ? Suy ra điện trở R1,2 là: R1,2=
<i>R</i><sub>1</sub><i>R</i><sub>2</sub>
<i>R</i>1+<i>R</i>2
=20 . 30
20+30=
600
50 =12
<i>Ω</i>
b/ Vì R1//R2 nên ta có cường độ dịng điện
I1,2 = I3 = I = 1 + 1,5 = 2,5 ( A)
Vậy UAB= I. RAB = 2,5. 22= 55 ( V)
<i><b>Bài tập 4:</b></i>
Một ấm điện có hai điện trở: R1 = 4 <i>Ω</i> và R2 = 6 <i>Ω</i> . Nếu bếp chỉ dùng
một điện trở R1 thì đun sơi ấm nước trong 10 phút. Tính thời gian cần thiết
đun sơi ấm nước trên khi:
a/ Chỉ dùng R2.
b/ Dùng R1 nối tiếp với R2.
c/ Dùng R1 song song với R2
( Biết rằng hiệu điện thế của nguồn điện không đổi, bỏ qua sự tỏa nhiệt từ ấm
ra môi trường)
GV hướng dẫn HS
GV cho HS tìm hiểu dữ kiện nào đề bài đã cho biết và đề tài nào chưa biết
Phân tích bài tốn cho HS
Bài tốn này xuất phát từ định luật Jun – Len xơ với biểu thức Q= I2<sub>Rt(1)</sub>
Trong đó nhiệt lượng mà nước thu vào bằng nhiệt lượng do các điện trở tỏa
ra.
Theo điều kiện đầu bài thì nếu sử dụng biểu thức ( 1) của định luật Jun- Lan
xơ thì việc giải bài tốn rất phức tạp. Vậy ở bài toán này mối liên hệ giữa các
đại lượng để tìm cấu trúc cơng thức rất quan trọng, đóng vai trị quyết định
đến sự thành cơng.
Như ta đã biết cơng thức ( 1) ta có thể viết được một số biểu thức tương
đương trên cơ sở mối liên hệ của một số đại lượng trong công thức với các đại
lượng khác, để việc tính tốn khơng làm bài tốn phức tạp.
Thật vậy: vì U= IR nên ( 1) <i>⇔</i> UIt ( 2)
Mặt khác theo định luật Ôm: I=
<i>U</i>
<i>R</i> nên ( 2) <i>⇔</i> Q=
2
.
<i>U</i>
<i>t</i>
Ta chọn cơng thức phù hợp để giải bài tốn.
* Giải: Gọi thời gian đun sôi nước trong 4 trường hợp lần lượt là t1, t2, t3, t4.
Do khơng có sự mất nhiệt ra môi trường nên nhiệt lượng cần để đun sôi nước
bằng nhiệt lượng mà dây điện trở của ấm tỏa ra.
Áp dụng công thức: Q=
2
.
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i> <i><sub>( Theo cơng thức 3)</sub></i>
Cho các trường hợp ta có:
a. Chỉ dùng dây R1: Q1 =
2
1
1
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i> <sub>(1)</sub>
Chỉ dùng R2 =
2
2
2
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i>
( 2)
Từ ( 1) và ( 2) <i>⇒</i>
2
1
1
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i> <sub> = </sub>
2
2
2
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i>
<i>⇒</i> 2 2 1
1
6
.10 15( )
4
<i>R</i>
<i>t</i> <i>t</i> <i>ph</i>
<i>R</i>
b. Khi dùng R1 nối tiếp với R2 Q3 =
2
3
1 2
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i> <i>R</i> <sub>(3)</sub>
Từ (1) và (3)
2
1
1
<i>t</i>
<i>R</i> <sub> = </sub>
2
3
1 2
<i>U</i>
<i>t</i>
<i>R</i> <i>R</i>
1 2
3 1
1
4 6
.10 25( )
4
<i>R</i> <i>R</i>
<i>t</i> <i>t</i> <i>ph</i>
<i>R</i>
c . Khi dùng R1 song song với R2
Q4 =
2
4
1 2
1 1
<i>U</i> <i>t</i>
<i>R</i> <i>R</i>
<sub>(4)</sub>
tõ (1), (2) vµ (4) <sub> </sub> 4 1 2
1 1 1
<i>t</i> <i>t</i> <i>t</i> <sub> </sub>
1 2
4
1 2
<b>III. Kết quả thực hiện:</b>
Từ việc hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý như trên, tơi thấy học sinh
đa số có phương pháp giải bài tập, học sinh có khả năng tư duy, có kỹ năng
vận dụng kiến thức linh hoạt và tốt hơn.
Kết quả sau khi thực hiện đề tài:
<b>K. Lớp</b> <b> TS</b>
<b>HS được khảo sát</b>
<b>Giỏi</b> <b>Khá</b> <b>T Bình</b> <b>Yếu- Kém</b>
<b>TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL % TS</b> <b>TL %</b>
<b>9</b> 18 1 5.6 4 22.2 11 61.1 2 11.1
<b>8</b> 24 2 8.3 3 12.5 14 58.3 5 20.1
Qua đối chiếu ta thấy kết quả giỏi, khá, trung bình tăng lên. Giảm được tỉ
lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn vật lý, người giáo viên cần căn cứ vào
phương pháp đặc thù của khoa học lấy hoạt động nhận thức của học sinh làm
cơ sở xuất phát.
Trong q trình nghiên cứu bản thân tơi có một số kinh nghiệm về giải
bài tập vật lý như sau:
+ Phải làm cho học sinh khắc sâu được kiến thức, nắm vững được các
công thức, định luật...
+ Giúp học sinh có thói quen phân tích, tư duy, logic.. .
+ Tạo được sự hứng thú trong việc dạy học bộ mơn cho học sinh.
+ Địi hỏi người giáo viên phải tự bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên
môn.
+ Phân loại được học sinh.
+ Giáo viên phải nắm vững kiến thức toàn cấp một cách hệ thống.
* Qua quá trình nghiên cứu đề tài, vì điều kiện thời gian, cũng như trình
độ nhận thức và năng lực có hạn, đồng thời một phần cũng do việc học tập
nhận thức của học sinh taaij địa bàn xã Ba Xa còn hạn chế nên việc thực hiện
đề tài này không khỏi tránh nhũng thiếu sót. Kính mong q thầy cơ, đồng
nghiệp trao đổi và góp ý để đề tài của tơi được hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn.
<i>Ba Xa, ngày 21 tháng 10 năm 2010</i>
<b>Người viết</b>
<b>Phạm Đông Duy</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>
<b>5. Phương pháp giải bài tập vật lý 9</b> <b>NXB: Giáo dục</b>
<b>6. Bài tập chọn lọc vật lý 8</b> <b>NXB: Giáo dục</b>
<b>7. Bài tập vật lý 8& 9</b> <b>NXB: Đại học Quốc gia </b>
<b>TP.HCM</b>
<b>MỤC LỤC</b>
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU Từ trang 1 đến trang 3
PHẦN HAI: NỘI DUNG Từ trang 4 đến trang 15