Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (273.66 KB, 12 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Nhà Tiền Lê (chữ Hán:</b>前黎朝) tiếp sau nhà Đinh và trước nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Nhà
Tiền Lê truyền được ba đời và có cơng đánh thắng qn Tống.
<b>1. Lịch sử</b>
Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại, Vệ Vương Toàn lên làm vua, Lê Hoàn
làm phụ chính, xưng là Phó Vương. Triều thần sợ Lê Hoàn cướp ngôi vua nhỏ, Định Quốc
Công Nguyễn Bặc và ngoại giáp Đinh Điền dẫn quân về kinh đô định giết Lê Hoàn, thua trận bị Lê
Hoàn giết.
Năm 980, quân Tống nhân cơ hội đem quân sang muốn cướp nước, triều thần và thái hậu Dương
Vân Nga đưa Lê Hoàn lên làm vua lập ra nhà Tiền Lê.
<b>* Vua Đại Hành</b>
Lê Đại Hành tên húy là Lê Hoàn, người Ái châu (Thanh Hóa ngày nay), thời nhà Đinh giữ chức
Thập đạo tướng quân. Khi vua Đinh bị giết, ông trở thành người nắm quyền trong triều đình và đến
năm 980 thì lấy ngôi vua của nhà Đinh, lập ra nhà Tiền Lê.
Lê Đại Hành là người có cơng đanh tan cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Tuy nhiên, theo
quan điểmNho giáo của các nhà chép sử sau này, như trong Đại Việt sử ký tồn thư đã viết thì ông
bị chê trách về đạo vợ chồng do ông đã lập Dương Vân Nga, hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng làm
một trong năm hồng hậu của mình cũng như về việc không sớm lập người kế vị để sau này dẫn đến
việc tranh giành quyền bính giữa các con. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhà Tiền Lê
nhanh chóng sụp đổ.
Ơng ở ngơi vua 24 năm, thọ 65 tuổi (941 - 1005), băng hà ở điện Trường Xuân.
* <b>Vua Trung Tông</b>
Sau khi Đại Hành chết, các con tranh nhau giành ngơi, trong nước 8 tháng khơng có ai làm chủ.
Tới đầu năm 1006, hoàng tử thứ hai là Lê Ngân Tích bị Long Việt đánh bại, chạy đến châu Thạch
Hà (Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết.
Hồng tử thứ 3 là Long Việt lên ngơi vua, tức là vua Lê Trung Tông. Trước sự thắng thế của
Long Việt, các hoàng tử khác tạm thời án binh bất động. Tuy nhiên Trung Tông lên ngôi được ba
ngày thì bị em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh giết chết lên thay.
* <b>Vua Ngọa Triều</b>
Tên húy là Long Đĩnh, giết anh để cướp ngơi, vì chơi bời sa đọa bị bệnh trĩ không ngồi được,
phải nằm mà coi chầu nên được gọi là Lê Ngọa Triều.
Ngoài những người bản địa ở những vùng xa xơi, Ngọa triều cịn phải đối phó với cuộc nổi dậy
của các hồng tử khác con vua Đại Hành cát cứ tại vùng đất được phong trước đây như Ngự Bắc
vương Long Cân, Trung Quốc vương Long Kính.
Ngọa Triều tính hiếu sát thường thiêu sống, dìm nước hay dùng dao cùn mà tùng xẻo tù nhân; sư
sãi vốn có thế lực rất lớn đối với chính sự nhưng Ngọa triều từng sai người róc mía trên đầu nhà sư
Qch Ngang để làm trị cười; lại ni nhiều bọn hề làm trị khơi hài trong triều để làm loạn lời tâu
việc của các quan.
Do những việc làm đó, Ngọa triều bị quan lại và dân chúng căm ghét.
Năm 1009, Ngọa Triều chết lúc mới 24 tuổi, điện tiền Lý Công Uẩn lên thay, lập ra nhà Lý.
Nhà Tiền Lê truyền được tất cả 29 năm, gồm 3 đời vua.
<b>2. Nội trị</b>
* <b>Bộ máy chính quyền</b>
Nhà Tiền Lê nối tiếp và hầu như giữ nguyên mọi quy củ của nhà Đinh. Năm 980, sau khi lên
ngôi, Lê Hoàn đặt chức quan trong triều, phong Hồng Hiến làm Thái sư, Phạm Cự Lạng làm Thái
úy, Từ Mục làm Đại tổng quản, Đinh Thừa Chinh làm Nha nội đô chỉ huy sứ.
So với nhà Đinh tập trung hết quyền hành về tay hoàng đế, vua Lê đã chia trách nhiệm cho các
đại thần. Chỉ riêng việc đánh dẹp thì nhà vua thường thân chinh cầm quân.
<b>* Đánh dẹp trong nước</b>
Trong thời gian cai trị, các vua Tiền Lê vẫn gặp phải sự chống đối của các tù trưởng địa phương,
nhất là những nơi xa xôi hẻo lánh.
Tiến Lộc lấy hai châu Hoan, Ái làm phản. Lê Đại Hành thân hành đi đánh, giết chết Tiến Lộc và rất
nhiều người 2 châu đó.
Năm 999, Lê Đại Hành lại thân đi đánh Hà Động, dẹp được tất cả 49 động. Sau đó vua Lê lại phá
được động Nhật Tắc, châu Định Biên (Cao Bằng).
Người Cử Long làm loạn khơng phục triều đình. Năm 1001, Lê Đại Hành lại thân chinh đi đẹp
được loạn.
Sang thời Ngọa Triều vẫn phải đối phó với sự chống đối của các địa phương. Năm 1008, Ngọa
Triều thân hành đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long, bắt được vài trăm người bản địa. Cùng năm,
vua Lê lại đi đánh châu Hoan và châu Thiên Liễu, bắt được tù binh về giết chết.
Tháng 7 năm 1009, Lê Long Đĩnh lại thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà.
<b>* Giao thông</b>
Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, năm 983, Lê Đại Hành sai quan Phụ quốc Ngô Tử An đem 3
vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến Châu Địa Lý.
Năm 1003, vua Lê lại thân hành đi Hoan Châu, ra lệnh vét kênh Đa Cái cho Thông thẳng đến Tư
Củng trường ở Ám Châu.
Năm 1009, triều thần đề nghị xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Lê Ngọa
Triều xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu Ái đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến
sơng Vũ Lung. Sau đó Lê Long Đĩnh lại ra lệnh đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ,
Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.
Tháng 7 năm đó, nhân đi đánh châu Hoan Đường, hành quân đến Hoàn Giang, Lê Long Đĩnh sai
Hồ Thủ Ích đem hơn 5.000 quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến
cửa biển Nam Giới để tiện cho việc hành quân về phía nam.
<b>* Kinh tế</b>
+ <b>Các loại thuế</b>
Nhà Tiền Lê đặt ra lệ đánh thuế căn cứ vào số lượng tài sản về ruộng đất. Thuế thân chia ra 2
loại:
<i>Tiền công dung</i> là tiền cơng dịch (như lao động cơng ích) mà người dân phải chịu mỗi năm 10
ngày và có thể nộp tiền thay vào việc tạp dịch
<i>Tiền thuế hộ</i>: là tiền mỗi gia đình phải nộp hàng năm
<i>Tiền thuế điệu</i>: Tiền mỗi hộ phải nộp để đóng vào việc quân
Nhà Tiền Lê đặt ra thuế thổ sản theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) của Trung Quốc, chỉ
+ <b>Thương mại</b>
Sử sách không chép rõ về hoạt động thương mại trong nước. Đối tác quan hệ buôn bán ngoại
thương chủ yếu của Đại Cồ Việt là Trung Quốc. Hai bên lập ra những nơi giao dịch song phương
gọi là <i>Bạc dịch trường</i> đặt trên đường thông lộ biên giới.
Những Bạc dịch trường quan trọng trong thời kỳ này là trại Vĩnh Bình (được Lê Văn Siêu phỏng
đốn là chợ Kỳ Lâm hiện nay), tại Sách Nam Giang thuộc trại Cổ Vạn và châu Tô Hậu (Lê Văn
Siêu phỏng đốn là châu Thất Khê), trại Hồnh Sơn (Na Chàm ở ải Nam Quan). Trại Hoành Sơn tụ
tập nhiều nhà buôn từ châu Quảng Nguyên của Đại Cồ Việt và châu Đặc Ma của nước Đại Lý (Vân
Nam) và các lái buôn từ Quảng Châu của Tống.
Bạc dịch trường lớn nhất gần biên giới là điểm giao dịch hai nước nằm ở trại Như Hồng, Khâm
châu.
Tác giả Chu Khứ Phi mô tả việc buôn bán giữa hai bên lúc đó trong sách <i>Lĩnh ngoại đại</i>
<i>pháp</i> như sau:
<i>Hai bên gặp nhau thường uống rượu làm vui rồi mới bàn chuyện buôn bán. Người Tống làm nhà</i>
<i>ở tại chỗ lâu ngày và thường dìm giá làm người bán phải bán rẻ; nhưng phú thương người Việt</i>
<i>cũng không chịu, cầm giữ giá lâu</i>
Văn Siêu cho rằng đây không chỉ là thị trường hàng hóa mà cịn là thị trường tiền tệ mà hai bên trao
đổi ngoại hối.
<b>* Văn hóa</b>
Sử sách không ghi chép nhiều về những dấu ấn văn hóa thời Tiền Lê. Ảnh hưởng lớn nhất trong
các tơn giáo là đạo Phật đã có từ thời thuộc Đường. Các nhà sư đã được sự tin cậy của hoàng đế,
cho làm quan trong triều để bàn kế sách quốc gia.
Sử sách ghi lại hai tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là bài thơ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận đối đáp
với sứ Tống và bài từ khúc của sư Khuông Việt tiễn sứ Tống ra về năm 987. Lê Q Đơn có lời ca
ngợi hai ơng: "Sư Thuận thơ ca làm sứ Tống kinh sợ, Chân Lưu có từ khúc vang danh một thời".
<b>3. Đối ngoại</b>
<b>* Với Trung Quốc</b>
Về cơ bản, quan hệ ngoại giao giữa nhà Tiền Lê với nhà Tống có nhiều thuận lợi. Nhà Tống tỏ ra
dè dặt, mềm dẻo với các vua Lê vì ln phải đối phó với nguy cơ từ người Khiết Đan ở phía bắc.
Sau thất bại năm 981, vua Tống bằng lịng cơng nhận Lê Hồn, phong ơng làm Tiết độ sứ và
khơng hỏi tới dịng dõi nhà Đinh nữa.
Năm 986 và 987, Tống Thái Tông sai Lý Giác đi sứ sang Đại Cồ Việt. Trong lần đi sứ năm 987,
Lý Giác làm thơ tiễn có câu: "Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu", nghĩa là: <i>Ngồi trời lại có</i>
<i>trời soi nữa</i>. Sư Khng Việt nói rằng thơ này có ý tơn Lê Hồn khơng khác gì vua Tống.
Năm 990, nhà Tống lại cử Tống Cảo đi sứ Đại Cồ Việt lần nữa. Lê Văn Siêu bình luận điều này
cho rằng: thượng quốc ít khi chịu mất cơng vì nước nhỏ như vậy, vì nhà Tống trong thời kỳ giao
tranh với nước Liêu năm 986 và bộ lạc Thảng Cốt năm 990.
Khi sứ Tống là Tống Cảo sang phong chức, Lê Hồn nhận tờ chiếu của vua Tống mà khơng chịu
quỳ, nói thác rằng bị ngã ngựa đau chân. Lúc đó sứ Tống im lặng khơng thắc mắc gì. Lê Văn Siêu
cho rằng điều này hoàn toàn là do sự ngang ngạnh của vua Lê và không phải Tống Cảo không biết,
nhưng đã không phản ứng. Trong sớ tâu Tống Thái Tơng sau này, Tống Cảo nói rằng dù thác cớ
Trong lần tiếp sứ Tống, Lê Hồn cịn làm những việc trêu trọc sứ phương bắc khác như sai người
mang con hổ đến công quán cho sứ Tống xem; lại sai mang con trăn lớn đến cơng qn, hỏi sứ
Tống có ăn được thì làm cơm thết đãi. Sứ Tống khước từ khơng nhận và khơng dám nổi nóng theo
tư thế của sứ giả thiên triều[14]<sub>.</sub>
Sau đó Lê Hồn nói với Tống Cảo về việc ngoại giao:
<i>Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa.</i>
Tống Cảo về tâu lại, Tống Thái Tơng bằng lịng với đề nghị của vua Lê.
Năm 993, nhà Tống lại phong Lê Hoàn làm <i>Giao Chỉ quận vương</i>. Năm 995-996 ở biên giới hai
bên đã có biến cố vì sự bạo loạn của các thổ quan vùng khe động. Tướng nhà Tống bắt bắt hơn 100
người làm loạn trả lại cho Đại Cồ Việt. Phía nhà Lê cũng bắt 27 người trả lại phía Tống và sai sứ
sang tạ ơn. Nhà Tống lại sai Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn.
Năm 997, nhà Tống lại gia phong vua Lê làm <i>Nam Bình vương</i>.
Năm 1004, vua Lê sai hồng tử Lê Minh Đề đi sứ Tống. Sang năm 1005, Lê Hoàn mất, các con
tranh ngơi, trong nước loạn lạc. Mình Đề phải ở lại trú ở Quảng Châu. Triều thần nhà Tống
xui Tống Chân Tông phát binh đánh, nhưng vua Tống cho rằng nhà Lê giữ lệ tiến cống và sai con
sang chầu, khơng nên đánh để giữ cho phía nam yên ổn[15]<sub>.</sub>
Năm 1006, Lê Long Đĩnh giết anh là Trung Tông giành được ngôi vua. Nhà Tống không can
thiêp. Sang năm 1007, Tống Chân Tông sai sứ sang phong cho Long Đĩnh làm Giao Chỉ quận
vương và đúc ấn đưa sang.
Năm 1009, Lê Ngọa Triều sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu thuần. Vua Tống cho rằng tê
ngưu từ xa đến, không hợp thủy thổ muốn trả lại; nhưng sợ phật ý vua Lê, đợi cho sứ Đại Cồ Việt
<b>* Với Chiêm Thành</b>
Năm 981, Lê Đại Hành sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị vua Chiêm bắt
giữ. Lê Đại Hành nổi giận, sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh.
cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu
được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu nước Chiêm.
Một viên tướng là Quảng giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại Chiêm Thành. Sang năm 983, Lê Hồn sai
người con ni (khơng rõ tên) đi đánh bắt được Kế Tông, đem chém.
Năm 992, vua Chiêm mới là Harivarman II sai sứ sang xin lại 360 tù binh bị bắt giữ mang về
châu Ô Lý[16]<sub>. Harivarman II sai sứ là Chế Đông sang dâng sản vật địa phương, vua Lê trách là trái</sub>
lễ, không nhận. Harivarman II sợ hãi, năm 994 lại sai cháu Chế Cai sang chầu. Từ đó quan hệ hai
bên khá n ổn khơng xảy ra xung đột.
<b>Lê Đại Hành (chữ Hán: </b>黎大行; tên húy là Lê Hoàn (黎桓), 941 – 1005) là vị vua đầu tiên
của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một
vị hồng đế có những đóng góp lớn trong chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêmphương Nam,
giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà cịn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây
dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt. Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian
sau đó Lý Cơng Uẩn có đủ khả năng dời đơ từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ra một kỷ
nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long -Hà Nội, thủ đô hiện tại của Việt Nam. Xung
quanh vị Hồng đế này cịn nhiều điều chưa được sáng tỏ như vấn đề thân thế, sự nghiệp, và thụy
<b>1. Thân thế</b>
Về quê hương Lê Hoàn, vấn đề mà Ngơ Thì Sĩ đặt ra từ thế kỷ 18, được thảo luận nhiều lần dưới
thời nhà Nguyễn cho đến nay các nhà sử học vẫn chưa đưa ra được kết luận nơi đâu trong ba
nơi: Ninh Bình, Thanh Hố hay Hà Nam là quê hương của ông. Năm 1981, tại hội thảo khoa học
“Lê Hoàn và 1000 năm chiến thắng giặc Tống xâm lược”, nhiều vấn đề chung về thế kỷ X, về quê
hương, thân thế, sự nghiệp của ông bước đầu được giải quyết. Đến năm 2005, tại hội thảo “1000
năm Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, trải qua một chặng đường đổi mới của sử học, nhiều
vấn đề về quê hương của Lê Hoàn được đào sâu và nhìn nhận lại theo chiều hướng thống rộng
hơn. Tựu chung có các ý kiến sau:
<b>Trường Châu (Ninh Bình)</b>
Việt sử lược[3]<sub> viết từ thời Trần ghi là: “</sub><i><sub>Đại Hành vương húy là Hoàn, họ Lê, người Trường</sub></i>
<i>Châu</i>”. Trường Châu là vùng đất kinh đô Hoa Lư,Ninh Bình.[4]<sub> PGS, TS. Trần Bá Chí trước từng</sub>
viết rất cơng phu về quê hương, dòng dõi Lê Đại Hành cho rằng ơng người Ái Châu (Thanh Hố),
thì tại hội thảo 2005 cũng khẳng định rằng quê gốc vua là Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình. [5]<sub> Các</sub>
nhà nghiên cứu Mai Khánh (Bảo tàng Hà Nam) và TS. Vũ Văn Quân đồng ý rằng Lê Hoàn là người
Trường Châu nhưng cho rằng Trường Châu bao gồm cả Ninh Bình và Hà Nam[6]<sub> .</sub>
<b>Ái Châu (Thanh Hóa)</b>
Đại Việt sử ký tồn thư, Lịch triều hiến chương loại chí ghi: “<i>Vua họ Lê, tên húy là Hoàn, người</i>
<i>Ái Châu</i>”. Cùng quan điểm sách “Các triều đại Việt Nam” còn cho rằng mẹ Lê Hồn là Đặng Thị
Sen chứ khơng gọi là Đặng Thị. An Nam Chí Lược của Lê Tắc thời Trần, mục Lê nhị thế gia chép:
Lê Đại Hành hoàng đế ở xã Trung Lập, huyện Thuỵ Nguyên, chỗ này là nền nhà cũ của tiên tổ nhà
vua” song mục tỉnh Hà Nội lại chép “mộ tổ Lê Đại Hành ở bên miếu xã Ninh Thái, huyện Thanh
Liêm”.
Đại Việt sử ký tiền biên ghi: “Xét thấy Lê Đại Hành Hoàng đế người làng Bảo Thái, huyện
Thanh Liêm chứ không phải Ái Châu, sử cũ chép nhầm”. Cuốn Việt Nam sử lược,[12]<sub> Từ điển nhân</sub>
vật lịch sử Việt Nam, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử tiêu án đều ghi: “<i>Lê Hoàn</i>
<i>quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm” . Nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng Lê Hoàn sinh</i>
ở Thanh Liêm, Hà Nam và theo ơng, Thanh Hóa chỉ có thể là q ngoại hay q bố ni Lê Hoàn.
[13]<sub>. Lịch sử Hà Nam Ninh cũng đã nhận định: “Lê Hoàn quê nội ở Thanh Liêm (Hà Nam), quê</sub>
ngoại ở Kẻ Sập (Thanh Hoá), Tuy sinh ở đất Ái Châu nhưng ông chỉ sống ở đấy hơn 10 năm, sau
trở về Thanh Liêm”. GS. Lê Văn Lan cũng cho rằng Lê Hồn “là đứa trẻ mồ cơi ở làng Kẻ Sập
-quê ngoại, chàng trai nghèo ở miền Bảo Thái -quê nội”. Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, sau khi điểm lại
một số nhận định của các cuốn sử cũ đã nêu quan điểm: Thanh Liêm là nguyên quán của cha mẹ. Ái
Châu là chỗ ở của cha nuôi, mỗi quyển chép theo một nghĩa” Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử
quán triều Nguyễn, phần ghi về lăng mộ ở huyện Thanh Liêm chép: “Mộ tổ Lê Đại Hành ở bên
miếu xã Ninh Thái, huyện Thanh Liêm. Sử cũ cũng nhắc tới Trần Bình Trọng quê ở xã Thanh Liêm
là hậu duệ của Lê Hoàn. Vị danh tướng thời Trần này được ban quốc tính vì có nhiều cơng trạng.
Website chính thức của tỉnh Hà Nam cũng khẳng định Lê Hồn là người q hương mình.[18]
<b>Ý kiến dung hịa</b>
Thần tích Lê Hồn tại lăng vua Lê, làng Ứng Liêm (Hà Nam)[19]<sub> giải thích có vẻ “hợp tình, hợp</sub>
lý” tất cả những vấn đề khúc mắc về q qn, xuất thân của Lê Hồn. Thần tích cho biết ông sinh
ra ở xã Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. ơng nội là Lê Lộc và bà nội là Cao Thị Phương; cha
là Lê Hiền, mẹ là Đặng Thị Khiết. Nhà nghèo nên đã về xã Ninh Thái, Thanh Liêm, Hà Nam làm
nghề chài lưới, đơm đó bắt cá. Ngày mùng 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (941) sinh ra ông. Năm
lên 7 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải làm con nuôi quan án châu Ái (Thanh Hoá). Các nhà sử
học cho rằng vấn đề q hương Lê Hồn cịn phải tiếp tục nghiên cứu. Điều dễ nhận thấy là cả Ninh
Bình, Thanh Hóa và Hà Nam đều gắn bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của vị vua này.
<b>2. Lên ngôi</b>
Cha mẹ qua đời sớm, Lê Hoàn được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi. Lớn lên ông đi theo
Nam Việt Vương Đinh Liễn và đã lập được nhiều chiến công, Đinh Bộ Lĩnh giao cho ông chỉ huy
2.000 binh sĩ. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập
nên nhà Đinh. Lê Hồn có cơng lao trong cuộc đánh dẹp và được giao chức vụ Thập đạo tướng
quân (tướng chỉ huy mười đạo quân), Điện tiền đô chỉ huy sứ - tức chức vụ tổng chỉ huy quân
đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc đó ơng mới
27 tuổi.
Tháng 10 năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Vệ vương Đinh Toàn mới
6 tuổi lên ngơi vua. Lê Hồn trở thành Nhiếp chính, tự do ra vào cung cấm. Các đại thần thân cận
của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cùng tướng Phạm Hạpnổi dậy
chống lại Lê Hồn nhưng bị Lê Hồn nhanh chóng đánh dẹp, ba người đều bị giết. Phị mã Ngơ
Nhật Khánh bỏ trốn vào nam, cùng vuaChiêm Thành với hơn nghìn chiến thuyền định đến
đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết.
Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống bên Trung Quốc có ý định cho quân tiến vào đánh
chiếm Đại Cồ Việt. Vua Tống nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu
hàng: "<i>...Nếu quy phục thì ta tha cho, bằng trái lệnh thì ta quyết đánh...</i>" Trước tình hình đó, Thái
hậu Dương Vân Nga cùng tướng Phạm Cự Lạng và các triều thần tôn Lê Hồn lên làm vua. Lê
Hồn lên ngơi lấy tơn hiệu là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu
Về các biến cố chính trị liên quan đến cái chết của Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, có các nhà
nghiên cứu, như Hồng Đạo Thúy, đặt giả thiết khơng phải Đỗ Thích mà chính Lê Hoàn, cấu kết
với Dương Vân Nga, đã ám sát Đinh Tiên Hồng và con trưởng để chiếm ngơi (xem bài Đinh Tiên
Hoàng). Việc Lê Đại Hành lấy Dương thái hậu nhà Đinh, các sử gia phong kiến rất nặng lời chê
trách. Trong Đại Việt sử ký tồn thư, Ngơ Sĩ Liên viết:
<i>cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa</i>
<i>đó sao?"</i>
Hồng Xn Hãn viết trong <i>Hoàng Xuân Hãn tuyển tập</i>: "<i>...việc này trái với khuôn phép nhà</i>
<i>nho. Các sử gia nho xưa đã trịnh trọng chỉ trích nhưNgơ Sĩ Liên, Ngơ Thì Sĩ...</i>
Khi đưa ra nhận định trên, các sử gia không hiểu rằng vào thế kỷ 10 đời Đinh, Tiền Lê đạo
Nho chưa có ảnh hưởng gì sâu vào dân Việt. Sau này, đến nửa đời Trần vẫn còn như vậy. Dân
chúng đã lập đền thờ các vua Đinh Lê trên nền tảng cung điện Hoa Lư mà không quên bà Dương
hậu, xưa cịn tự hợp hai vua tơ tượng hai vua ngồi chung một toà với Dương hậu ở giữa. Nhưng đến
đầu đời Lê Thái Tổ cho là trái đạo mà bỏ đi! Tuy vậy các nho gia phê bình cũng khơng ai trách bà
mà chỉ trách Lê Hồn.
<b>3. Phá Tống - bình Chiêm</b>
<b>A. Phá Tống</b>
<i>Lê Hồn đại phá qn Tống năm 981</i>
Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân sang đánh Đại Cồ Việt, cử các tướngHầu Nhân Bảo, Trần
Khâm Tộ, Tơn Tồn Hưng, Triệu Phụng Hn, Qch Qn Biện, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương
Soạn cầm quân chia hai đường thủy bộ. Cánh bộ đi theo ngả Lạng Sơn còn thủy thì tiến vào sơng
Mùa xn tháng Ba (4-981), quân của Hầu Nhân Bảo đến Ngân Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây
Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng, vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn
sông.[21]<sub> Tại sông Bạch Đằng, thủy quân Tống bị quân Đại Cồ Việt chặn đánh, những chiến thuyền</sub>
Tống cũng bị thủng bởi những chiếc cọc sông dày dặc cho dù rất mạnh về thế trận. Vì thế qn
Tống khơng thể tiến sâu vào nội địa được. Thủy quân Tống thất bại. Tơn Tồn Hưng dừng qn
hơn 70 ngày, chần chừ khơng dám tiến. Hầu Nhân Bảo thì hiếu chiến hơn, tự đem quân tiến
theo sông Thương. Khi quân Hầu Nhân Bảo kéo đến Chi Lăng, Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh
lừa Nhân Bảo rồi phục binh đổ ra đánh dữ dội. Số quân địch hơn phân nửa bị tiêu diệt. [22]
Sau hai trận thắng lớn Bạch Đằng, Tây Kết, quân Lê giết được Hầu Nhân Bảo, bắt sống Quách
Quân Biện, Triệu Phụng Huân. Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực, Tơn Tồn Hưng, Vương
Soạn cũng vội vàng rút chạy về nước. Lê Hồn đã khơng thực hiện được trận mai phục bằng sự kết
hợp giữa phục binh và trận địa cọc ngầm vì chiến sự lúc này diễn ra không được mau lẹ, thuận lợi
như trận Bạch Đằng của Ngô Quyềnđánh Nam Hán. Thực tế, chiến sự trên sông Bạch Đằng trong
kháng chiến chống Tống lần thứ nhất diễn ra nhiều lần, nhiều đợt với những trận đánh khác nhau.
<b>B. Bình Chiêm</b>
Khi người Việt chìm dưới ách nơ dịch của phong kiến phía Bắc thì ở phía Nam, người Chiêm
Thành đã sớm xây dựng được quốc gia độc lập tự chủ từ năm 192. Sinh sống ở các thung lũng Nam
Trung Bộ hẹp và nhỏ, vương quốc Chiêm Thành có thế mạnh về hàng hải và các ngành nghề thủ
công, nhưng lại thiếu những miền châu thổ rộng lớn. Bởi vậy, từ khi lập nước, Chiêm Thành liên
tục tiến hành các hoạt động quân sự với Đại Cồ Việt. [23]<sub> Năm 803, vua Chiêm sai viên tướng</sub>
Senapati Par đem quân xâm phạm An Nam, vây hãm phía nam quận Cửu Chân. Năm 979, quân
Chiêm được Ngô Nhật Khánh dẫn đường, tổ chức lực lượng thuỷ quân hùng hậu tiến đánh Hoa
Lư theo đường biển, nhưng bị tan vỡ vì gặp bão ở cửa Thần Phù. [24]
Năm 982, Lê Hồn cử Ngơ Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị vua Chiêm bắt giữ. Lê
Hoàn tức giận, “sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế tại
trận. Chiêm Thành thua to. Bắt sống được quân sĩ nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người
và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn;
san phẳng thành trì, phá hủy tơng miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư”.[25]<sub> Các nghiên cứu thống</sub>
của ơng, vua đích thân cầm qn đánh dẹp sự nổi dậy của các thế lực cát cứ và xâm lấn, không chỉ
bảo vệ vững chắc miền biên giới, mà cịn trực tiếp chuẩn bị cho q trình Nam tiến của người Việt,
mở rộng thêm cương giới lãnh thổ của quốc gia Đại Việt.
<b>4. Sự nghiệp trị vì</b>
<b>A. Phát triển kinh tế</b>
Lê Đại Hành khi làm vua cho xây dựng nhiều cơng trình, đẩy mạnh sản xuất nơng nghiệp và thủ
cơng nghiệp để chấn hưng đất nước. Ơng là vị vua mở đầu cho lễ tịch điền nhằm khuyến khích sản
xuất nông nghiệp dưới chế độ phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các
vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.
Lê Đại Hành cũng là vị vua đầu tiên tổ chức đào sơng. Cơng trình đào sơng Nhà Lê (hiện vẫn
cịn ở Thanh Hóa và là một di tích lịch sử) do Lê Hồn khởi dựng là con đường giao thông thuỷ nội
địa đầu tiên của Việt Nam. Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó đã trở thành phương châm hành động của
các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này. Từ con sông đào do Lê Hồn khai phá trên đất Thanh Hố,
đến thời Lý, Trần sông đào đã xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh-Nghệ-Tĩnh. Đến thời Lê đã
rộng khắp dải miền Trung Bộ và đến thời Nguyễn thì sơng đào có mặt ở khắp mọi miền Việt Nam.
[26]
<b>B. Ngoại giao</b>
Lê Hoàn là người mở đầu và xác lập những nguyên tắc cơ bản của nền ngoại giao Đại Việt. Nhà
Tống là triều đại phong kiến hùng mạnh nhấtchâu Á đương thời mang nặng tư tưởng bành trướng
đã phải từng bước thừa nhận sức mạnh, thế lực của quốc gia độc lập Đại Cồ Việt, đã phong cho Lê
Hoàn các tước vị cao như Giao Chỉ quận vương, Nam Bình vương, sứ thần Tống cịn làm thơ tơn
Lê Hồn tài ba khơng khác gì vua Tống. Phan Huy Chú đánh giá: “<i>Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà</i>
<i>Tống, tình ý và văn thư rất là chu đáo. Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài mà quốc thể được</i>
<i>thêm tơn trọng làm cho người Bắc phải khuất phục</i>”.
Vua sử dụng chính sách ngoại giao mềm dẻo, khơn khéo nhưng cương quyết. Có lần sứ Tống
sang đòi vua quỳ nhận sắc phong của vua Tống, Đại Hành lấy cớ bị đau chân nên khơng quỳ. Sứ
Tống khơng làm gì được. Để tránh việc đón tiếp sứ giả phiền hà tốn kém, Lê Đại Hành còn đề nghị
nước Tống từ lần sau hãy cử sứ giả đưa thư đến địa giới và báo tin, triều đình Hoa Lư sẽ sai người
lên biên giới để nhận chiếu thư của vua Tống. Vua Tống cũng chấp thuận.[27]<sub> Đại Việt sử ký tồn</sub>
thư ghi nhà vua cịn bố trí sư Pháp Thuận giả làm người chở đị ra đón sứ giả Lý Giác. Câu chuyện
hai người đã mượn bài thư Vịnh ngỗng của Lạc Tân Vương đời Đường để nối vần đối đáp với nhau
nhân có hai con ngỗng bơi trên mặt sông, đã khiến Lý Giác rất thích thú và bị chinh phục đã trở
thành giai thoại thú vị trong bang giao và văn học. Sau đó, về sứ quán Lý Giác đã làm một bài thư
gửi tặng ngỏ ý “tơn Lê Hồn khơng khác gì vua Tống” như lời Khng Việt đại sư nói. [28]
<b>C. Hai áng văn dưới thời Lê Đại Hành</b>
PGS. Bùi Duy Tân[29]<sub> phát hiện bài thơ Nam quốc sơn hà, một kiệt lác văn chương, cũng đồng</sub>
thời là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam xuất hiện đầu tiên trong cuộc kháng
chiến chống Tống lần thứ nhất của Lê Hoàn và cũng được Lý Thường Kiệt vận dụng ở lần kháng
chiến chống Tống thứ hai. PGS.TS Trần Bá Chí cũng khẳng định: Nam quốc sơn hà là bản tun
ngơn độc lập, chỉ có thể ra đời sau hàng ngàn năm bắc thuộc, nhưng không phải vào thời Ngơ
Quyền cịn loạn lạc, chưa tức vị, trước khi chống Nam Hán, mà là ở thời Vua Lê Đại Hành chống
Tống khi thể chế, ngôi vị đã vững vàng, an định[30]<sub>.</sub>
Kiệt tác thứ hai, ở triều đại hoàng đế Lê Hồn là một bài ngũ ngơn tuyệt cú của nhà sư Pháp
Thuận. Đây là bài thơ có tên tác giả xuất hiện sớm nhất, nên được đặt vào vị trí khai sáng cho văn
học cổ dân tộc. Cũng như Nam quốc sơn hà, Quốc tộ là bài thơ giàu sắc thái chính luận, một bài thơ
viết về những vấn đề chính trị xã hội hiện hành của đất nước. Để trả lời nhà vua “hỏi về vận nước
ngắn dài”, nhà thơ đã lấy ngôn từ giản dị mà thâm thúy, bày tỏ chính kiến của mình: “<i>Vận mệnh</i>
<i>nước nhà dài lâu, bền vững khi nhà vua dựng mở được nền thái bình bằng phương sách</i> “. Nếu
Nam quốc sơn hà có giá trị như một bản tun ngơn độc lập, thì các nhà nghiên cứu khẳng định
Quốc tộ có giá trị như một bản tun ngơn hịa bình. Hai bài thơ là hai kiệt tác văn chương bổ sung
cho nhau, hồn thiện Tun ngơn độc lập, Tun ngơn hồ bình đầu tiên của dân tộc, chính là cột
mốc khai sáng văn học Việt Nam.
Năm 1005, Lê Đại Hành qua đời. Ơng ở ngơi tất cả 26 năm, thọ 65 tuổi. Trong 26 năm làm vua,
ông đặt 3 niên hiệu:
* Thiên Phúc (980 - 988)
* Hưng Thống (989 - 993)
* Ứng Thiên (994 - 1005)
<b>E. Vợ con</b>
Lê Đại Hành có 5 hồng hậu gồm Đại Thắng Minh Hồng Hậu (Dương Vân Nga), Phụng Càn
Chí Lý Hồng hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng hậu, Trịnh Quắc Hoàng hậu và Phạm Hồng
hậu.
Lê Đại Hành có 11 người con trai, 1 người con nuôi, đều được phong vương:
1. Lê Long Thâu làm Kình Thiên đại vương (phong năm 989, mất năm 1000).
2. Lê Ngân Tích (Long Tích) làm Đơng Thành vương (phong năm 989, sau bị giết năm 1005).
3. Lê Long Việt làm Nam Phong vương (phong năm 989, sau là vua Lê Trung Tông). Sau 3 ngày
ở ngôi vua, bị Lê Long Đĩnh giết chết năm 1005.
4. Lê Long Đinh làm Ngự Man vương, đóng ở Phong Châu,tỉnh Thanh Hóa (phong năm 991).
5. Lê Long Đĩnh làm Khai Minh vương, đóng ở Đằng Châu, xã Bắc Kiên, Kim Động, Hải
Dương (phong năm 992, sau là vua Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế.
6. Lê Long Cân làm Ngự Bắc vương, đóng ở Phù Lan (phong năm 991).
7. Lê Long Tung làm Định Phiên vương, đóng ở Tư Doanh, Ngũ Huyện Giang, Thanh Hóa
(phong năm 993).
8. Lê Long Tương làm Phó vương, đóng ở Đỗ Động Giang, Hà Tây (phong năm 993).
9. Lê Long Kính làm Trung Quốc vương, đóng ở Càn Đà, Mạt Liên (phong năm 993, sau bị giết
năm 1005).
10. Lê Long Mang làm Nam Quốc vương, đóng ở Vũ Lung (phong năm 994).
11. Lê Long Đề (Minh Đề) làm Hành Quân vương, đóng ở Bắc Ngạn, Cổ Lãm (phong năm 995).
12. Con nuôi Dương Hy Liễn làm Phù Đái vương, đóng ở Phù Đái (phong năm 995).
Tất cả các con trai Lê Hoàn đều được phong vương, nhưng sau khi con trưởng là Thâu mất
(1000), vua Lê không sớm lập người kế vị. Điều đó đã gây ra việc tranh giành quyền bính giữa các
con của ông sau này, là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của nhà Tiền Lê.
<b>5. Nhận định</b>
Về vua Lê Đại Hành, Sử nhà Tống dẫn lời Tống Cảo, người đi sứ sang Đại Cồ Việt đã từng gặp
Lê Hồn mơ tả ơng là “con người mắt lé” nhưng “hung hãn” và “có chí vác cả núi ngăn cả bể”[31]<sub>.</sub>
Ngô Sĩ Liên với tư tưởng Nho giáo nhận xét: “Vua nhân gian dâm trong cung mà lấy được nước,
<b>A. Tài cầm quân</b>
Trong sử sách, các sử gia nhiều đời cùng có nhận định về Lê Đại Hành. Ca ngợi võ công của
ông, Lê Văn Hưu viết:
<i>"Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con,</i>
<i>như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán,</i>
<i>nhà Đường cũng không hơn được."</i>
Trong thời dẹp loạn 12 sứ quân, Lê Hoàn đã sớm bộc lộ tài năng, tuy nhiên do còn trẻ tuổi nên
chức vụ của ông vẫn ở dưới các bạn thân thiết của Tiên Hồng. Chỉ từ khi làm nhiếp chính, trực tiếp
nắm vận mệnh đất nước, tài năng của ông mới được thi triển hết. Chẳng những các công thần khai
quốc kỳ cựu của nhà Đinh mà ngay cả các tướng phương Bắc đều không phải đối thủ của ông. Dù
đời sau có thể nhận định việc đánh dẹp của ơng là hợp lẽ hay trái lẽ nhưng tài cầm quân của ơng thì
khơng ai có thể phủ nhận.
<b>B. Vua trị nước</b>
Lê Đại Hành là một vị vua mà “Sứ thần Trung Quốc phải tôn sùng, tù trưởng sơn động hết
chuyện làm phản. Thành Hoa Lư phồn vinh hơn cảnhà Đinh. Còn lưu ý đến sức dân, quan tâm đến
chính sự của nước, chú trọng nghề làm ruộng, nghiêm ngặt việc biên phịng, quy định pháp lệnh.
Tuyển lựa qn ngũ... có thể nói là hết sức siêng năng, hết lịng lo lắng”.[33]<sub> Ông là một vị vua có tài,</sub>
Đại Hành làm vua tỏ rõ là một người chí cơng vơ tư, vì việc chung chứ khơng vì thù ốn riêng.
Ơng giết Phạm Hạp vì tội làm loạn nhưng lại trọng dụng em Hạp là Phạm Cự Lạng, dùng làm
tướng, thăng tới chức thái úy chỉ huy quân đội. Con của Nguyễn Bặc, một người cùng bị giết với
Phạm Hạp là Nguyễn Đê cũng được cất nhắc làm quan võ của nhà Tiền Lê. Lê Đại Hành vô tư tới
mức khơng phịng ngừa rằng sau này chính Đê là người tham gia đưa Lý Công Uẩn lên ngôi thay
<b>C. Về tên “Đại Hành”</b>
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, khi vua mới mất mà chưa được đặt thụy hiệu thì được gọi là Đại
<b>Hành Hồng đế. Do vua nối ngôi là Lê Ngọa Triều đã không đặt thụy hiệu nên “Đại Hành Hoàng</b>
đế” đã trở thành thụy hiệu của Lê Hoàn.
Sử gia Lê Văn Hưu viết:
<i>"Thiên tử và hồng hậu khi mới băng, chưa chơn vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hồng Đế,</i>
<i>Đại Hành Hồng Hậu. Đến khi lăng tẩm đã n thì hợp bầy tơi bàn xem đức hạnh hay hay dỡ để</i>
<i>đặt thụy là mỗ hồng đế, mỗ hồng hậu, khơng gọi là Đại Hành nữa. Lê Đại Hành thì lấy Đại</i>
<i>Hành làm thụy hiệu mà truyền đến ngày nay là làm sao? Vì Ngọa Triều là con bất tiếu (không</i>
<i>giống ông cha)</i>[34]<i><sub>, lại khơng có bề tơi Nho học để giúp đỡ bàn về phép đặt thụy cho nên thế."</sub></i>
Tuy nhiên, có sách giải thích “đại hành” là đi xa hẳn khơng trở lại. Có sách khác lại giải thích
“đại hành” là đức hạnh lớn (hành và hạnh viết cùng một chữ 行, âm cổ đọc như nhau).[35]
<b>6. Đền thờ</b>
Các nhà nghiên cứu đã thông kê được 40 nơi thờ Lê Đại Hành (trong đó có 12 nơi thờ riêng, 5
nơi phối thờ với bà vợ cả là Đô Hồ phu nhân; 2 nơi phối thờ với Thái hậu Dương Vân Nga và 21
nơi thờ với các vị thần khác). Ninh Bình là tỉnh có nhiều di tích thờ Lê Hồn nhất 11 nơi; tiếp theo
là Thái Bình với 10 nơi; Hà Nội có 9 nơi (trong đó Hà Đơng 4 nơi, Thanh Trì 3 nơi và Sơn Tây 2
Ninh Bình là vùng đất kinh đơ của đất nước dưới thời Lê Hồn, các đền thờ tập trung nhiều ở
quanh khu di tích cố đơ Hoa Lư. Thái Bình là nơi diễn ra trận đánh Lục Đầu Giang chiến lược trong
cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Điều này có thể giải thích cho việc nhân dân quanh khu
vực diễn ra trận Lục Giang thờ cúng Lê Hoàn, đặc biệt là hai tổng Xích Bích và Ỷ Đơn. Các thần
tích, thẩn sắc tại Hải Dương, Hải Phòng - nơi diễn ra trận Bạch Đằng năm 981 cho thấy các tướng
của ông được thờ ở rất nhiều nơi và trong thần tích, thần sắc của họ có mơ tả lại những chiến cơng
của Lê Hồn tại khu vực này.
<b>Lê Trung Tơng (chữ Hán: </b>
Lê Trung Tông tên húy là Lê Long Việt (黎龍鉞), sinh năm Quý Mùi 983 tại Hoa Lư, con trai
của Lê Đại Hành, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ. Vua Lê Đại Hành có hơn 10 hồng tử, sau khi con trưởng
là thái tử Long Thâu mất, Long Việt được lập làm Thái tử.
Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngơi, đánh nhau 8 tháng, trong nước khơng có
chủ. Tranh chấp chính xảy ra giữa thái tử Long Việt và hoàng tử thứ hai Long Ngân là người lớn
nhất trong số các anh em còn lại. Tháng 10 năm 1005, Long Ngân thua chạy đến châu Thạch Hà
(Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết. Long Việt lên ngôi làm vua, tức là Lê Trung Tông. Trong
nước vẫn chưa yên ổn hẳn.
Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: <i>"Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối</i>
<i>ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tơng vì anh em cùng mẹ khơng nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh</i>
<i>sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tơng."</i>
<i>Đại Việt sử ký tồn thư</i>:
“<i>Sau khi Đại Hành Hoàng Đế băng hà, vua (Trung Tông) cùng hai vương Đông Thành, Trung</i>
<i>Quốc và em cùng mẹ là Khai Minh Vương tranh nhau lên ngôi, giằng co 8 tháng, trong nước khơng</i>
<i>có chủ. Mùa đơng, tháng 10, Đông Thành Vương (Long Ngân) thua chạy vào đất Cử Long. Vua</i>
<i>đuổi bắt, lại chạy sang Chiêm Thành, chưa đến nơi thì bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ</i>
<i>La. Khi ấy, người nước cũng quy phụ Ngự Bắc Vương ở trại Phù Lan. Vua lên ngôi được 3 ngày thì</i>
<i>bị Long Đĩnh giết. Bầy tơi đều chạy trốn, duy có Điện tiền qn là Lý Cơng Uẩn ơm xác mà khóc.</i>
<i>Long Đĩnh lên ngơi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tơng Hồng Đế, cho Cơng Uẩn làm Tứ sương</i>
<i>quân phó chỉ huy sứ.</i>”
<b>Lê Long Đĩnh (chữ Hán: </b>
Trong sử sách, Lê Long Đĩnh hầu như luôn được nhắc đến như là một kẻ dâm đãng, tàn bạo và
độc ác. Gần đây xuất hiện các ý kiến cho rằng ơng là vị vua bị bơi nhọ và "đóng đinh" trong lịch sử
<b>1. Lên ngôi</b>
Lê Long Đĩnh là con trai thứ 5 của Lê Đại Hành, mẹ là Chi Hậu Diệu Nữ. Đại Việt sử ký toàn
thư (bản kỷ) chép rằng năm Ứng Thiên thứ 11 đời vua Lê Hồn (tức năm 1004), Lê Hồn đã có ý
phong Lê Long Đĩnh làm thế tử, nhưng vì triều thần có ý kiến, nên chỉ phong Lê Long Đĩnh làm đại
vương và để trưởng nam là Lê Long Việt làm thái tử. Sau khi Lê Long Việt qua đời năm 1006, Lê
Long Đĩnh lên làm vua, xưng là Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế.
Lê Long Đĩnh truy đặt tên thuỵ vua Long Việt là Trung Tơng hồng đế; truy tơn mẹ là Hưng
Quốc Quảng Thánh Hồng Thái Hậu; lập bốn hoàng hậu; phong con trưởng là Sạ làm Khai Phong
Vương, con nuôi là Thiệu Lý làm Sở Vương, cho ở bên tả; Thiệu Huân làm Hán Vương, cho ở bên
<b>Dã sử</b>
Ngơ Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký tồn thư có chép lại một chuyện dã sử như sau: "Sách Dã sử
chép rằng: Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tông vì
anh em cùng mẹ khơng nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào
cung giết Trung Tông."
<b>2. Đánh dẹp</b>
Lê Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền đã 5 lần cầm quân đánh dẹp:
* Lần thứ nhất (năm 1005): dẹp tan bạo loạn, tranh giành giữa các anh em trong hoàng tộc để thu
phục mọi người. Từ đấy về sau các Vương và giặc cướp đều hàng phục.
* Lần thứ hai (1005): khi quan quân đang đánh nhau với ngưới ở trại Phù Lan chợt thấy trạm báo
tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Phù (Ninh Bình). Vua về đến sông Tham, đi
sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.
* Lần thứ năm (1009): tháng 7, đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.
<b>3. Cai trị</b>
Sách Khâm định Việt sử Thơng giám cương mục, Chính biên, quyển 1 trang 274 chép: "<i>Đinh</i>
<i>Mùi (1007) Mùa xuân Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã</i>
<i>đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng.</i>"
Đại Việt sử ký toàn thư, trang 235 chép: "<i>Nhà vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền:</i>
<i>người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thể vua sai ngươì bơi lội qua lại đến ba lần, khơng</i>
<i>hề gì, xuống chiếu đóng thuyền để ở (các bến sông) Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chổ để chở</i>
Đại Việt sử lược, trang 107 chép: "<i>Năm Định Vị ( Mùi) tức năm 1007 Vua sửa định lại quan chế</i>
<i>văn võ theo nhà Tống.</i>"
Đại Việt sử ký tiền biên của Ngơ Thì Sĩ, Bản kỷ, Quyển I, trang 39a chép: "<i>Khai Minh Vương</i>
<i>sai dân Ái Châu đào kênh, đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng.</i>"
Lê Ngọa Triều làm vua được 4 năm, tới 1009 thì mất, thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con trai là Sạ còn
bé, dưới sự đạo diễn của quan Chi HậuĐào Cam Mộc, triều thần đã tơn Lý Cơng Uẩn lên ngơi
Hồng đế. Nhà Tiền Lê kết thúc, trải qua 3 đời vua, tồn tại 29 năm. Lý Công Uẩn đặt thụy hiệu cho
Lê Long Đĩnh là Lê Ngọa Triều (黎臥朝) Hoàng đế.
<b>* Những hành động tàn bạo</b>
Đại Việt sử lược (trang 33, quyển 1, bản điện tử) viết:
<i>Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống</i>
<i>thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên,</i>
<i>tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai</i>
<i>người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sơng Chi Ninh, sơng có nhiều thuồng luồng, bèn trói</i>
<i>người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi.</i>
<i>Cịn phàm những con vật (ni để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người</i>
<i>khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi, nhà vua đặt mía</i>
<i>trên đầu bậc tu hành là đức tăng Thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu</i>
<i>Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng</i>
<i>vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mửa thốc mửa tháo. Mỗi khi đến</i>
<i>buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo ln mồm để làm khỏa lấp lời những ai bảm bạch về</i>
<i>việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn...</i>
Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu nói:
<i>Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua; bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đến nỗi</i>
<i>mất nước mất ngôi, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, lỗi ở Đại Hành không sớm đặt Thái tử</i>
<i>và do Trung Tơng khơng biết phịng giữ từ khi mời chớm nên đến nỗi thế.</i>
<b>4. Tranh cãi</b>
* <b>Bệnh trĩ và "ngọa triều"</b>
Long Đĩnh vì mắc bệnh trĩ, nên khi ra thiết triều phải nằm, vì vậy tục gọi là Lê Ngoạ Triều.
Theo dã sử thì bệnh trĩ của Long Đĩnh là do sống quá trác táng. Cịn sử gia Ngơ Thì Sĩ thì cho rằng
tên gọi này do Lý Công Uẩn đặt để bôi nhọ. Trong Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn:
<i>Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi, cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp, mà cái tên Ngọa Triều</i>
<i>cũng khơng đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho, mà không biết rằng từ</i>
<i>xưa những đế vương nào khơng đáng làm vua thì gọi là phế đế, mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế</i>
<i>mà chép. Còn như cái hiệu "Ngoạ Triều" thì thơ bỉ khơng căn cứ?</i>
Theo ý kiến của một số nhà khoa học ngày nay, bệnh trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo của
thành tĩnh mạch và huyết động học vùng chậu, các tĩnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo
thành bứu trĩ, nếu các bứu trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4. Bệnh trĩ ở giai đoạn mà
bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẫu, các giải
pháp này ở gần năm 1010 chưa có[5]<sub>.</sub>
Nhà báo Hồng Hải Vân trên báo <i>Thanh niên điện tử</i>[1]<sub> cho rằng khó tin được Lê Long Đĩnh là</sub>
Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu 1009). Theo nhà báo này, cầm quân đánh giặc liên miên như
vậy phải là một người cường tráng.
Về tên "Ngọa Triều", Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chính biên quyển thứ 1 ghi
lời cẩn án:
<i>Long Đĩnh giết anh mà tự lập, hoang dâm thành bệnh, nằm mà coi chầu, nhân gọi là Ngọa</i>
<i>Triều. Sử cũ chép là "Ngọa Triều hồng đế", có lẽ là theo tên gọi thời bấy giờ, chứ không phải là tên</i>
<i>thuỵ. Chép vậy thật là trái thường quá lắm! Này, đã không có tên thuỵ, thì cứ chép thẳng tên thực,</i>
<i>đó là biến lệ của sử Cương mục (Trung Quốc). Nay đổi lại, chép là "Đế Long Đĩnh" để cho hợp với ý</i>
<i>nghĩa và thể lệ của Cương mục dẫn trên</i>.
* <b>Nghi án về cái chết</b>
Cái chết của Lê Long Đĩnh đã nêu ra một nghi vấn. Các sử gia viết Lê Long Đĩnh chết trong
cung do sống trác táng. Riêng trong Đại Việt sử ký tiền biên, trang 185, Ngơ Thì Sĩ viết như sau:
"Lý Thái Tổ<i> rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai</i>
<i>Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử khơng được chép.</i>"
<i>Đại Việt sử ký tồn thư</i> chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi được sư Vạn Hạnh nói về sấm
truyền họ Lý sẽ làm vua:
"<i>Cơng Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy</i>
<i>cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lịng ngấp nghé ngơi vua</i>".