Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Trình bày và phân tích quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa ở việt nam dưới góc nhìn địa văn hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (60.97 KB, 10 trang )

BÀI ĐIỀU KIỆN
Mơn : Địa Văn Hóa Các Dân Tộc
Câu Hỏi: Trình bày và phân tích q trình giao lưu-tiếp biến văn hóa ở việt
nam. <dưới góc nhìn địa văn hóa>
BÀI LÀM
Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống ít nhất của hai nền văn
hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc , hai đất nước). Và giao lưu là hình thức
quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi. giúp đáp ứng một số yêu cầu không thể
thỏa mãn của mỗi bên giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nến văn hóa để từ
đó làm nảy sinh nhiều nhu cầu thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển . Như vậy
giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự vận đồng thường xuyên ,tất yếu, là cơ sở hình
thành nên đặc trưng văn hóa tộc người-vùng quốc gia.
Lịch sử cho thấy không một nền văn hóa nào phát triển nhanh vượt bậc
mà khơng có sự giao lưu với nền văn hóa khác. Giao lưu tiếp xúc với cấc nền
văn hóa bên ngồi giúp nền văn hóa bản địa hấp thu và hội nhập phát triển thu
nhập được nhiều thông mới xử lý những thông tin này giúp họ có được những
hiểu biết hoạc tri thức mới. Từ đó nảy sinh những nhu cầu mới này địi hỏi phải
được đáp ứng và do đó làm nảy sinh tại bản địa những hoạt động văn hóa mới
cùng những sản phẩm văn hóa mới để thỏa mãn nhu cầu nghĩa là làm chon văn
hóa bản địa phát triển nhanh hơn hẳn.
Cùng tồn tại với xu hướng cố kết tộc người quốc gia quốc tế, hịa hợp văn
hóa. Hiện nay nhiều tộc người.dân tộc đang trong quá trình đồng hóa tự nhiên,
mai một và dẫn đến biến mất văn hóa của mình. Họ bị lai cùng nền văn hóa
( mất đi ngơn ngữ, chữ viết, thậm chí nhiều phong tục tập quán cũng bị bị biến
mất). dẫn đến các thế hệ mai sau khơng được hưởng thụ, nhìn thấy tiếp nhận và

1


kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp truyền thống của họ nữa và đó cũng là một
bài tốn khó đối với tất cả quốc gia các dân tộc trên tồn thế giới.


Qúa trình giao lưu và tiếp biến văn hóa được thể hiện ở ba cấp độ. Giao lưu
văn hóa vùng ,giao lưu-tiếp biến văn hóa liên vùng,giao lưu đơng tây (quốc tế).
·

Giao lưu văn hóa vùng: Ở một số dân tộc thiểu số hiện nay đó là sự ảnh

hưởng mai một văn hóa và có khả năng mất hẳn ngơn ngữ. Tình trạng song ngữ
đa ngữ khá phổ biến trong tất cả các dân tộc, nhiều dân tộc ngồi tiếng mẹ đẻ họ
có thể sử dụng thành thạo nhiều thứ tiếng khác. Trong đó có tiếng Tày ở 1 số
khu vực đông bắc , hay tiếng Ê đê đối với các tộc người ở khu vực Tây
Nguyên……… Hiện nay đang đầy đầy giẫy sự bất ổn đối với sự sin h tồn ngôn
ngữ mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số.ngôn ngữ của nhiều tộc người dang đứng
trước nguy cơ bị mai một. Phạm vi giao tiếp của các ngơn ngữ đó ngày càng bị
thu hẹp dần. tình trạng của các ngơn ngữ đang có nguy cơ bị tiêu vong đó được
chia theo cấp độ:
(1) những ngơn ngữ hầu như bị tiêu vong hẳn hiện thời chúng chỉ được
vài ba người còn nhớ dược (tiếng cơ lao đỏ,tống thủy,ơ đu và tiếng tu dí….)
(2) Các thứ tiếng đó có nguy cớ tiêu vong thật sự, hiện chỉ còn vài chục
hay vài trăm người còn nhớ được (tiếng pu péo, cơ lao trắng, la ha, nùng
vẻn……)
(3) Các ngôn ngữ hiện có khoảng 1000 người sử dụng trở xuống, hiện
chỉ sử dụng trong gia đình và có su hướng không được giới trẻ sử dụng nữa
(tiếng xinh mun,kháng, cống, si la,…..)
(4) Các ngôn ngữ được từ một hay vài chục ngàn người đang sử dụng,
nhugnw cũng đang trong xu thế bị hào vào các ngơn ngữ có vị thế xã hội cao
hơn (tiếng khơ mú, hà nhì, giáy…)
·

Giao lưu và tiếp biến văn hóa liên vùng: Bản thân giao lưu văn hóa bản địa


và giao lưu đồng thời với nhiều nền văn hóa bên ngồi. Một nền văn hóa bị đồng
hóa với nền văn hóa khác nếu sức mạnh bên trong của nó khơng đủ để thực hiện

2


tiếp biến văn hóa ,mà chỉ đơn thuần tiếp nhận trong quá trình giao lưu. Dân tộc
việt nhờ nhờ năng lực tiếp biến lạ kỳ mà trong một ngàn năm bắc thuộc khơng
hề bị đồng hóa, mặc dù chính quyền cai trị phương bắc buộc người dân ta theo
luật hán, áp đặt chữ hán, đem người hán ở lẫn với người việt. bắt người việt theo
phong tục tập quán của người hán. Trong q trình người việt tiến vào phía nam
dưới thời chúa nguyễn, họ ở lẫn với dân tộc địa phương đứng đầu là người
Chăm, tiếp nhận và vay mượn có chọn lọc và thích nghi một cách thoải mái với
nhiều yếu tố văn hóa chăm, các tục lệ hoặc phương thức thờ cúng , các thần linh
của người chăm….Những điều này giúp cho người việt thích ứng tốt với điều
kiện tự nhiên địa phương, nhưng không hề thay đổi bản sắc văn hóa của mình.
Một dạng khác là cộng sinh trong sản phẩm văn hóa giữa thể xác(hoặc yếu tố
vật lý) ngoại lai với linh hồn (yếu tố xã hội và tinh thần) bản địa như. Như
những cồng chiêng của các sắc tộc thiểu số Tây Nguyên. Những cồng chiêng
này do người kinh ở Quảng Nam sản xuất hoặc mua từ các nước láng giềng phía
Tây, những người dân bản địa Tây Nguyên đã chuyền cho chúng âm nhạc và vũ
điệu của mình để tạo ra tiếng cồng, tiếng chiêng giống như những âm thanh
vang vọng của núi ngàn. Biết ca lên cảm xúc và ước mơ của con người tây
nguyên biết nhảy múa theo nhịp sống của con người và thiên nhiên nơi đây, hình
thành nên mootjn khơng gian văn hóa cồng chiêng đặc thù được UNESCO cơng
nhận.
Giao lưu – tiếp biến văn hóa Đơng-Tây (Quốc tế). Muốn nghiên cứu sự
giao lưu và tiếp biến trong văn hóa Việt Nam cần hiểu nền tảng tạo ra những yếu
tố nội sinh của văn hóa Việt Nam nền tảng ấy chính là cơ taanghf văn hóa Đơng
Nam Á.

Khái niệm vùng Đông Nam Á trong thuật ngữ này rộng hơn nhiều so với
vùng Đông Nam Á theo quan niệm của các nhà địa lý hiện đại. Bởi lẽ hiện nay
vùng ĐNA có 11 nước , nhưng ở thời kì tiền sử vùng ĐNA là vùng đất có ranh
giới phía bắc tới bờ song dương tử(Trung Quốc) , phía nam dài tận quần đảo

3


Nam Dương(indonexia), phía tây kéo dài đến tận biên giới của ấn độ, phía đơng
là của thế giới bán đảo và đảo nằm cạnh châu đại dương . Dựa vào số liệu của
ngành nhân loại học ,dân tộc học ,ngôn ngữ học ,ngành khoa học nhân văn đã
xác định được vùng đơng nam á có một cơ tầng văn hóa riêng biệt, phi Hoa, phi
Ấn.
Những yếu tố nội sinh của văn hóa việt mang nhiều đặc điểm chung của
cơ tầng văn hóa Đơng Nam Á. Như vậy trong chừng mực nào đó, ý kiến của
GS.Phạm đức Dương chính xác với khía cạnh này “Việt Nam là một Đơng Nam
Á thu nhỏ có đủ 3 yếu tố văn hóa ; núi, đồng bằng và biển đủ các sắc tộc thuộc
các ngữ hệ khác nhau.
Lịch sử đã cho thấy sức sống mãnh liệt của văn hóa việt nam thể hiện ở
năng lực tiếp biến văn hóa tài tình dù trong hồn cảnh bị áp đặt hay tự nguyện
tiếp nhận văn hóa ngoại lai, đến mức tiếp biến văn hóa trở thành phương tiện để
người Việt chống lại đồng hóa văn hóa, làm giàu và phát triển mạnh mẽ nền văn
hóa với bản sắc riêng của mình tạo ra sắc mạnh giải phóng và bảo vệ nền độc
lập tự chủ của đất nước trước những thế lực xâm lược hung mạnh. Sức sống này
do những điều kiện địa lí-lịch sử của Việt Nam quy định và nó làm cho văn hóa
việt nam vừa có tính bảo tồn mạnh vừa có tiềm năng phát triển cao về mặt địa lí
Việt Nam nằm trên “ngã tư của các nền văn minh”, vì vậy tuy mang trong mình
cơ tầng văn hóa Đơng Nam Á nhưng trong lịch sử việt nam chịu ảnh hưởng của
những làn gió văn hóa Ấn độ,Trung hoa,Pháp, và sau này thêm cả văn hóa Nga,
Đơng âu,Nhật, Mĩ. Cùng tràn đến với một số dịng văn hóa bên ngồi là ở những

cuộc xâm lược bành trướng. Trong lịch sử hang ngàn năm giữa trăm ngàn nhu
cầu để tồn tại của những con người sống trên mảnh đất Việt Nam. Có một nhu
cầu chung thường trực và cấp thiết đòi hỏi tất cả phải chung sức chung long
đồng tâm nhất trí mới đáp ứng được là nhu cầu độc lập tự do và bảo vệ độc lập –
tự do cho dân tộc và đất nước. Với một đất nước không rộng dân không đông
nhưng luôn phải đối đầu với những thế lực ngoại xâm to lớn và có trình độ phát

4


triển văn hóa cao hơn hẳn và ln tìm cách để đồng hóa thì con đường tồn tại
duy nhất là bảo tôn bản sắc và nâng cao sức mạnh của văn hóa dân tộc. Người
Việt có ít nhất 2 cách ứng sử mềm dẻo và khơn ngoan.
1. Là duy trì tổ chức làng tự trị tương đối đóng khép có từ xa xưa-một
hình thức cơng xã nơng thơn, trong quan hệ họ hàng và làng mạc gắn bó với
nhau tạo nên tính gắn kêt cộng đồng hết sức mạnh mẽ , về đối nội thì duy trì
được văn hóa việt , về đối ngoại thì khi bị ngoại thuộc vẫn buộc chính quyền cai
trị. Nhờ thế mà tuy có lúc nước mất nhưng văn hóa việt vẫn cịn vì làng cịn . Và
đây chính là cơ sở để để người việt luôn ý thức giành lại độc lập cho tổ quốc tự
do cho dân tộc mình.
2. Là tự nguyện tiếp nhận văn hóa ngoại lai, cố gắng học tập những thành
tựu của nó nhưng biến đổi những yếu tố có ích của văn hóa đó thành văn hóa
của người việt.
Do lịch sử Việt Nam chủ yếu là lịch sử giải phóng dân tộc và bảo vệ độc
lập tự do nên người việt phải luôn coi trọng cả bảo tồn lẫn phát triển văn hóa dân
tộc thì năng lực bảo tồn càng mạnh. Trong bối cảnh tồn cầu hóa việc bảo tồn
bản sắc dân tộc hồn tồn có thể dựa vào sức sống mãnh liệt đặc biệt là năng lực
truyền thống kỳ lạ về tiếp biến của nền văn hóa Việt. Dựa vào đó hồn tồn có
cơ sở để tin rằng càng hịa nhập thì văn hóa việt càng phát triển với bản sắc
riêng càng đậm đà.

Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt với Quốc Tế thì có
những cuộc giao lưu lớn như giữa Việt nam với Trung hoa và đó là sự giao lưu
tiếp biến rất dài trong nhiều thời kỳ của lịch sử Việt nam . Qúa trình giao lưu và
ấy diễn ra cẢ hai trạng thái :Giao lưu cưỡng bức và giao lưu không cưỡng bức.
Tiếp đến là giao lưu với văn hóa ấn độ đây là sự giao tiếp văn hóa tự nguyện chứ
khơng có sự cưỡng bức ở đây, và cuối cùng là sự giao lưu tiếp xúc vs văn hóa
phương tây(Pháp-Mỹ). Q trình giao lưu và tiếp biến của văn hóa việt nam và
văn hóa phương tây làm cho người việt thây đổi và cấu trúc lại nền văn hóa của

5


mình đi vào vịng quay của văn minh phương tây giai đoạn cơng nghiệp. Diện
mạo văn hóa văn hóa việt nam thây đổi dựa trên các phương diện như dung chữ
quốc ngữ xuất hiện phương tiện văn hóa nhà in, máy in, báo chí.
Như vậy giao lưu và tiếp biến văn hóa có vai trị hết sức quang trọng
trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc, nhưng giao lưu như thế nào và tiếp
biến như nào để vừa giữ gìn vừa phát triển văn hóa đó là câu hỏi đặt ra cho
chúng ta nhất là thời đại nay…

6


7


8


9



10



×