Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.85 KB, 20 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b> I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:</b>
<b> 1. Đặt vấn đề: </b>
Giáo dục đạo đức học sinh là một vấn đề cần phải đặc biệt coi trọng, nhất là
trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn cơng nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước
đang dược đẩy mạnh, đất nước đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển cùng với
các nước trên thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy: “ Dạy cũng như học,
<i>phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng đó là cái gốc rất quan</i>
<i>trọng”. Trong công cuộc đổi mới hiện nay khi yếu tố con người được coi trọng</i>
thì tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần và đạo đức của con người cần
được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực. Việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong những vấn đề thường
xuyên của công tác giáo dục, đồng thời cũng là đòi hỏi cấp thiết của việc nâng
cao chất lượng giáo dục hiện nay. Đặc biệt là khi nền kinh tế thị trường đang
cuốn hút mạnh mẽ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi vào công việc làm giàu cho dân cho
nước. Chính vì thế việc đào tạo, giáo dục học sinh Tiểu học phát triển toàn diện
hết sức quan trọng trong ngành giáo dục hiện nay.
Một trong những yếu tố hình thành con người mới phát triển toàn diện là
phẩm chất đạo đức. Điều đáng quan tâm hơn là hiện nay việc giáo dục đạo đức
cho học sinh cũng còn những mặt hạn chế nên thực tế vẫn còn hiện tượng học
sinh chưa ngoan, học sinh cá biệt. Nếu khơng có biện pháp giáo dục đúng đắn,
kịp thời thì sẽ ảnh hưởng khơng nhỏ đến sự đào tạo thế hệ tương lai kế thừa sự
nghiệp đất nước từ đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.
Để những hành vi đạo đức chưa tốt khơng cịn tồn tại trong nhà trường và xã
hội thì việc giáo dục đạo đức phải được đặc biệt coi trọng và thực hiện một cách
thường xuyên, chặt chẽ để hình thành nhân cách cho học sinh.
Vậy làm thế nào để cho học sinh của mình trở thành những đứa con ngoan,
trò giỏi, là con người có ích cho xã hội. Xuất phát từ những vấn đề trên làm tôi
“ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
đúng đắn, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ học tập, hồn cảnh gia đình cụ
thể, xác hợp với từng đối tượng học sinh nhằm hạn c
hế đến mức tối đa những hành vi đạo đức chưa ngoan của học sinh Tiểu học,
cụ thể là học sinh lớp Năm nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, quán
triệt mục tiêu của Đảng và Nhà nước. Quyết tâm cao nhất 100% học sinh có hạnh
kiểm thực hiện đầy đủ và khơng cịn học sinh chưa ngoan.
<b>3. Lịch sử đề tài: </b>
Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy, bản thân nhận thức được tầm quan
trọng của việc giáo dục đạo đức học sinh, làm thế nào để các em trở thành học
sinh phát triển toàn diện. Đồng thời các em có thể tiếp tục học tốt ở những cấp
học tiếp theo và mai sau góp phần xây dựng đất nước. Chính vì thế tơi đã tiến
hành giáo dục đạo đức học sinh chưa ngoan ở lớp Năm của mình.
<b>4. Phạm vi đề tài:</b>
- Đề tài là những biện pháp giúp cho học sinh chưa ngoan rèn luyện, phấn
đấu và giáo dục học sinh chưa ngoan trong lớp phát triển toàn diện.
- Thời gian thực hiện từ đầu năm học đến ngày 30 tháng 04 năm 2012.
- Tại lớp: 5/2. Trường Tiểu học Long Khê
<b>II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM:</b>
<b>1. Thực trạng đề tài:</b>
Đất nước ta hiện nay đang trong giai đoạn cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích
cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Mọi người đều như xoáy vào guồng
quay của cơ chế thị trường, tất cả đều gấp gáp, bận rộn bởi cơm, áo, gạo, tiền.
Nhưng yếu tố được xem là quan trọng bậc nhất trong mỗi gia đình là việc hình
thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho con cái của mình đã bị các bậc phụ
huynh xao lãng, và quên đi vai trò và trách nhiệm đối với con cái.
Chúng ta đã biết các em học sinh ở vùng nông thôn cuộc sống đã gặp rất
nhiều khó khăn, mặt khác điều kiện giao tiếp với mơi trường bên ngồi cịn rất ít.
Ở gia đình các em cịn nhiều thiếu thốn. Chính vì thế đa số phụ huynh quanh năm
suốt tháng lo chuyện kinh tế gia đình mà khơng có thời gian quan tâm đến việc
giáo dục đạo đức, chăm lo cho con cái...Có một số gia đình khơng đủ điều kiện
mua sắm đồ dùng học tập, quần áo đầy đủ cho các em. Chính vì lẽ đó làm cho các
em mặc cảm với bạn bè, thầy cô nên các em tỏ ra chán nản, ham chơi, lười
học...Cũng có nhiều bậc phụ huynh cứ đinh ninh rằng mình đã làm trịn bổn phận
đối với con cái như mua sắm đầy đủ các món đồ đắc tiền, con cái muốn gì được
nấy, con cái xin gì thì cho nấy mà thiếu đi sự quan tâm đến các em thì cũng dễ
dẫn đến các em sẽ hư hỏng. Bên cạnh đó điều đau lịng hơn là thiếu sự quan tâm
của cha mẹ, mà cha, mẹ mãi lo công việc làm ăn, chạy theo sự cuốn hút của đồng
tiền, họ đâu biết rằng trẻ em đang rất cần bầu khơng khí đầm ấm, hạnh phúc của
gia đình, rất cần sự chăm sóc, quan tâm gần gũi của cha mẹ, của những người
thân. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến trẻ em ngày càng bị sa sút về mặt đạo
đức. Cụ thể là tình hình đạo đức của học sinh lớp Năm Trường Tiểu học Long
nhập với bạn bè chung quanh, lầm lì ít nói. Em luôn không thuộc bài, không làm
bài ở nhà, thường xuyên không đem đủ dụng cụ học tập, nhất là sách vở. Áo quần
em xốc xếch trông rất dơ bẩn, đầu tóc khơng gọn gàng trong giờ chơi tồn chơi
các trị chơi nguy hiểm: chạy nhảy trên bàn ghế, tuột cầu thang, đánh lộn với các
bạn, chọc ghẹo các bạn khác đang chơi... Với tính cách của em Trình làm tơi rất
lo lắng. Từ đó tơi có kế hoạch tìm hiểu nguyên nhân từ đâu làm em trở thành một
học sinh như thế.
<b>2. Nội dung cần giải quyết: </b>
Mỗi con người tồn tại và phát triển trong xã hội luôn phải chịu sự chi phối,
tác động của ba yếu tố: nhà trường, gia đình và xã hội. Là học sinh Tiểu học các
em đang trong giai đoạn phát triển, hiếu động, dễ bắt chước. Nếu gia đình, nhà
trường và xã hội khơng có sự phối hợp chặt chẽ, sâu sát để giáo dục các em thì
khơng thể phát hiện, uốn nắn, giáo dục... kịp thời những học sinh ham chơi, xao
lãng việc học, nhiễm thói xấu và có hành vi đạo đức kém. Một số nguyên nhân
dẫn đến các em trở thành học sinh cá biệt là:
a/ Nhà trường:
Giáo dục cho học sinh phát triển toàn diện là trách nhiệm của ngành nói
chung và của mỗi nhà trường, mỗi giáo viên nói riêng. Quan hệ giữa giáo viên
chủ nhiệm và học sinh là mối quan hệ tế nhị, nhạy cảm và vô cùng phức tạp. Mối
quan hệ này không phải qua một buổi học hay một tuần học mà phải trải qua một
năm học, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và nó phụ thuộc vào nghệ thuật sư
phạm, cách ứng xử của người giáo viên của mỗi nhà trường đối với học sinh.
- Nhưng nhìn chung về phía nhà trường thường có những quy định chung
- Cơng tác Đội cịn những điểm hạn chế, chưa thực sự đủ sức thu hút, lôi
cuốn học sinh vào sân chơi bổ ích, những hình thức vui chơi tập thể, múa hát
chưa thực sự có tác dụng giáo dục đạo đức cho các em.
- Giáo viên chủ nhiệm phần lớn dành thời gian cho cơng việc truyền thụ
kiến thức là chính, chưa thực sự quan tâm nhiều đến vấn đề rèn luyện, sửa chữa
những hành vi đạo đức chưa tốt cho học sinh.
b/ Gia đình:
Đa số gia đình phụ huynh sống bằng nghề nơng hoặc làm cơng nhân trong
các cơ quan xí nghiệp. Riêng gia đình em Trình sống bằng nghề làm thuê. Cha
mẹ em suốt ngày rong ruổi ngoài đồng làm mướn để kiếm tiền ni sống gia
đình. Họ ít chú ý đến việc học hành của con cái. Bản thân họ lại học vấn thấp.
cử chỉ, việc làm, lời nói của từng thành viên trong gia đình và những người xung
quanh đều để em bắt chước. Xuất phát từ gia đình khơng nề nếp, thiếu sự quan
tâm dạy dỗ, sự kèm cặp, nhắc nhở học hành, em Trình trở nên lười biếng, ham
chơi, không nghe lời thầy cô, có thái độ khơng tốt đối với bạn bè.
c/ Mơi trường xã hội:
Mơi trường xã hội bên ngồi có ảnh hưởng rất lớn đến q trình hình thành
nhân cách của con người. Cũng như được sống trong môi trường lành mạnh, văn
minh....Tất nhiên mỗi cá nhân phải tự phấn đấu để hồn thiện chính mình và
ngược lại.
Riêng gia đình em Trình cịn nghèo, cuộc sống khơng ổn định, không nề nếp.
Hơn nữa, nhà em gần các tụ điểm ăn chơi, thường xuyên xảy ra các tệ nạn xã hội
như: cờ bạc, đá gà, cá độ, chơi Game... Chung quanh em có nhiều học sinh bỏ
học. Các hình thức ăn chơi đã dần dần tiếp cận, tiêm nhiễm với em. Đầu tiên là
em đánh bài ăn chơi, sau là ăn tiền và đặc biệt là em rất mê chơi Game. Em ít
được tiếp xúc với những trị chơi giải trí lành mạnh, khơng có nhiều điều kiện gặp
gỡ, giao lưu với bạn bè chăm ngoan, học giỏi. Mặt khác bản thân em chưa có ý
thức về mức độ nguy hiểm của những trò chơi, chưa biết chọn bạn mà chơi. Cứ
ngày một ngày hai dần dần những trò chơi khơng lành mạnh ấy đã nhiễm vào đầu
óc cịn non nớt của em. Từ đó, đến trường em khơng cịn thích thú học tập nữa.
Các trị chơi với bạn bè trong lớp trở nên nhạt nhẽo, lời thầy cô nhắc nhở đối với
em là một điều phiền toái và em trở thành một học sinh sống tách biệt với các bạn
trong lớp.
<b>3. Biện pháp giải quyết:</b>
kẻ sau những môn học và sau ngày học, điều mà tôi không hề thấy ở em ngay đầu
năm học.
Đến tuần đầu của tháng thứ hai, lớp chính thức bầu ban cán sự lớp. Chức vụ
lớp trưởng, lớp phó do các bạn học sinh giỏi, khá đảm nhận. Còn đến các tổ
trưởng, tổ phó tơi gợi ý bầu em làm tổ trưởng tổ bốn. Bất ngờ có nhiều ánh mắt
dồn về phía em, rồi những cánh tay giơ lên ra hiệu tán thành. Tuy nhiên cịn vài ý
kiến nhỏ khơng đồng tình. Tơi nhìn thấy nơi em nét mặt rạng rỡ, ẩn chứa sự vui
mừng và niềm phấn khởi.
Để thay đổi tính cách một con người quả là việc làm không dễ và phải mất
nhiều thời gian không phải ngày một, ngày hai mà em Trình chuyển biến được.
Hai, ba tuần đầu, em chưa hoàn thành nhiệm vụ của một học sinh. Chính bản thân
em khơng thuộc bài, khơng làm bài đầy đủ làm ảnh hưởng đến phong trào thi đua
Bên cạnh sự giáo dục của giáo viên chủ nhiệm, cơng tác đội có tác động
khơng kém phần quan trọng. Cũng nhờ phong trào đội giúp em vui chơi hòa nhập
cùng tập thể. Những bài hát vui tươi, hồn nhiên trong những lần sinh hoạt đội,
những chuyến tham quan ngoại khóa, những trị chơi dân gian lành mạnh, bổ ích,
những cái nắm tay thành vịng trịn làm cho các em xích lại gần nhau hơn. Cụ thể
em Trình đã xóa dần mặc cảm và rút ngắn khoản cách đối với bạn bè.
Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là học tập theo nhóm, đôi bạn học
tập gần nhà. Từng tổ được phân công theo khả năng giỏi, khá, trung bình, yếu.
Mỗi nhóm có từ 4 đến 5 học sinh. Em giỏi có nhiệm vụ giúp đỡ, hướng dẫn,
giảng giải cho những em học trung bình, yếu. Từng nhóm báo cáo kết quả vào
tiết sinh hoạt cuối tuần. Vì thế chất lượng học tập ngày càng đi lên, các em thi
đua học tốt và em Trình đã từng bước tiến bộ rõ rệt. Bên cạnh đó cịn có phong
Nhà trường, gia đình và xã hội phải có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với
nhau, tạo nên một vòng khép kín. Đó cũng là điều kiện tất yếu góp phần giáo dục
học sinh phát triển tồn diện. Vì thế để góp phần vào việc giáo dục học sinh chưa
ngoan, giữa gia đình và nhà trường cần có thơng tin hai chiều thơng qua các cuộc
họp phụ huynh theo học kì. Trong các cuộc họp, giáo viên chủ nhiệm có nhiệm
vụ báo cáo tình hình cụ thể về kết quả học tập lẫn đạo đức của từng học sinh, đặc
biệt là những em học kém, chưa ngoan giáo viên phải trực tiếp trao đổi riêng với
các bậc phụ huynh để được tiếp nhận ý kiến phản hồi từ phía gia đình học sinh.
Ngồi ra cịn bầu chọn chi hội trưởng, chi hội phó cùng nhau bàn bạc, trao đổi ý
kiến, kết quả là giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh có sự cảm thơng, thống
nhất cùng nhau đề ra những biện pháp hữu hiệu để giáo dục các em ngày một tốt
hơn.
Tuy nhiên đối với em Trình, giữa gia đình và giáo viên cần có mối quan hệ
thường xuyên hơn để giáo viên kịp thời thông báo những tiến triển hay những
mặt cịn hạn chế của em đến gia đình. Sau nhiều lần tiếp xúc với bản thân em và
gia đình em, báo cáo cụ thể về hạnh kiểm và kết quả học tập của em một cách nhẹ
nhàng, gần gũi và tế nhị. Cuối cùng cha mẹ em cũng đã nhận ra những sai sót của
mình. Một lời cảm ơn đầy hứa hẹn và quyết tâm đã trở thành nguồn động lực rất
lớn giúp tơi hồn thành tốt nhiệm vụ, giúp em Trình trở thành học sinh chăm
ngoan.
<b> 4. Kết quả chuyển biến đối tượng: </b>
đức của em, từ một học sinh chưa ngoan hay nói tục, chửi thề, chọc ghẹo các bạn
<b>III. Kết luận: </b>
Ngày nay, trước những thành tựu to lớn của khoa học kĩ thuật, địi hỏi phải có
những con người phát triển tồn diện. Sự phát triển khơng cân sức giữa khoa học
và đạo đức là nỗi lo cho những con người làm cơng tác giáo dục nói riêng và cho
tồn cộng đồng nói chung. Muốn vậy ta cần giáo dục đạo đức cho học sinh ngay
từ bậc Tiểu học. Để việc giáo dục đạo đức các em đạt hiệu quả tốt, đòi hỏi lương
tâm và trách nhiệm của mỗi giáo viên chủ nhiệm với tính sáng tạo, chủ động,
nhiệt tâm trong quá trình truyền thụ kiến thức và hình thành nhân cách cho học
sinh, những công dân mới, công dân chân chính của tương lai được thể hiện ngay
từ bậc Tiểu học.
<b>1. Tóm lược giải pháp: </b>
Đội ngũ thầy cơ giáo, nhà trường, gia đình và xã hội cần tạo cho các em mơi
trường sống lành mạnh, bổ ích để hình thành và phát triển nhân cách. Ba yếu tố
trên phải có sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau.
Qua các biện pháp tôi thực hiện để giúp học sinh cá biệt tiến bộ, tôi nhận thấy
muốn đạt kết quả tốt phải lần lượt làm các công việc sau :
- Nâng cao nhận thức của phụ huynh về việc học tập và giáo dục đạo đức của
con cái .
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các em trở thành học sinh chưa ngoan.
- Lựa chọn các phương pháp giáo dục thích hợp để các em hoà nhập cùng với
các bạn .
- Kết hợp chặt chẽ các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội để kịp thời
trao đổi, bàn bạc tìm hướng giải quyết tạo mơi trường giáo dục tốt nhất cho các
em.
- Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp thông qua
các phong trào, tạo cho các em động cơ thích thú học tập. Trong việc uốn nắn các
em, giáo viên chủ nhiệm phải ln giữ thái độ bình tĩnh, khơng nóng vội, không
dùng lời lẽ nặng nề với các em, gần gũi với các em, xem học sinh là con em của
mình, chia sẻ vui buồn, lắng nghe ý kiến của các em để từ đó có biện pháp giáo
dục phù hợp.
<b>2. Phạm vi đối tượng áp dụng :</b>
Với những biện pháp tôi trình bày và đã thực hiện trong năm học 2011-2012,
nó có thể áp dụng trong các khối lớp của bậc Tiểu học. Nếu thực hiện như thế thì
sẽ góp phần làm hạn chế những hành vi đạo đức chưa ngoan của học sinh.
Người viết
I. <b>ĐẶT VẤN ĐỀ</b>
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TAØI
a. Cơ sở lý luận:
mơn này cịn rất nhiều hạn chế. Vì thế cần có biện pháp giúp học sinh quan
sát, lập dàn ý và viết đoạn văn nhất là đối với kiểu bài tả cảnh.
b. Cơ sở thực tiễn:
Năm học 1010 – 2011 lặng lẽ trôi qua hết 3 tuần đầu mà người giáo
viên chưa biết vì sao học sinh lười học văn, rất sợ viết đoạn văn , lập dàn ý
một bài văn? Qua thực tế các giờ lên lớp dạy Tập làm văn tôi nhận thấy các
em chưa chuẩn bị bài tốt, viết một đoạn văn rất “cực khổ”, đối với các đoạn
văn tả cảnh, các em kể nhiều hơn tả, liệt kê là chủ yếu, chưa biết chọn lọc các
chi tiết hay, sinh động. Viết văn thì khơng thành câu, viết câu thiếu thành
phần, sai nhiều lỗi chính tả lại khơng biết sử dụng dấu câu, viết các câu văn
tối nghĩa, nghèo vốn từ. Các em chưa tiếp cận với vẻ đẹp của con người và
thiên nhiên đất nước. Chính vì thế, bài văn các em chưa bộc lộ cảm xúc cá
nhân, chỉ miêu tả qua loa, sơ sài, một cách máy móc bên ngồi của cảnh, còn
cái ẩn chứa bên trong là tâm trạng vui, buồn,… của sự vật thì các em khơng thể
hiện được. Từ thực tế trên, bản thân học hỏi và tìm tòi một vài biện pháp giúp
học sinh quan sát, lập dàn ý và viết hoàn chỉnh, sinh động một đoạn văn tả
cảnh.
2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:
Tích cực hóa hoạt động của học sinh, nâng cao hiệu quả việc dạy học
sinh làm văn nhất là văn tả cảnh là vấn đề rất quan trọng và hết sức cần thiết
nhằm vận dụng các hiểu biết và kỹ năng về Tiếng Việt do các phân mơn khác
rèn luyện, cung cấp góp phần hoàn thiện kỹ năng làm tốt bài văn tả cảnh
đồng thời vun đắp tình yêu tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
tiếng nói dân tộc, hình thành nhân cách con người Việt Nam. Giúp các em có
được khả năng viết bài văn sinh động, xúc tích, giàu hình ảnh, biết sử dụng
các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả, biết sử dụng các giác quan khi quan sát
3. LỊCH SỬ ĐỀ TAØI:
4. PHẠM VI ĐỀ TAØI:
Đề tài gồm các biện pháp thực hiện giúp cho học sinh khối lớp Bốn và
khối Năm học và thực hành viết một đoạn văn tả cảnh hồn chỉnh.
II. NỘI DUNG CƠNG VIỆC ĐÃ LÀM
1. THỰC TRẠNG ĐỀ TAØI:
Việc dạy và học văn tả cảnh ở lớp Năm bên cạnh những ưu điểm mang
lại một số kết quả nhất định vẫn còn khá nhiều hạn chế. Hạn chế lớn nhất, dễ
thấy nhất là bệnh công thức, máy móc thiếu đi tính chân thật trong cả cách
dạy và cách học biểu hiện như sau:
- Vay mượn ý của người khác thường là những bài văn mẩu, học sinh thường
học thuộc để chép vào bài làm của mình. Các em khơng cần phải quan sát,
khơng cần có cảm xúc riêng đối với đối tượng được miêu tả, thậm chí có khi
các em chưa hiểu mình viết những gì? Đoạn văn, bài văn có nội dung, ý nghĩa
gì?
- Về phía giáo viên: để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để đảm bảo
chất lượng khi kiểm tra, giáo viên cho học sinh học thuộc bài văn mẩu để khi
đề bài tương tự cứ thế chép ra. Dẫn đến tình trạng cả thầy và trò đều lệ thuộc
vào văn mẩu.
Qua khảo sát chất lượng 32 học sinh lớp chủ nhiệm năm học 1010 – 2011,
kết quả như sau:
+ Số bài học sinh biết lập dàn ý và viết được đoạn văn: 3
+ Số bài học sinh lập được dàn ý nhưng chưa viết được đoạn văn: 7
+ Số bài học sinh chưa biết lập dàn ý, chưa viết được đoạn văn: 22
Như vậy tỉ lệ học sinh chưa biết lập dàn ý và viết đoạn văn khá cao.
Hầu như các em chỉ biết khi làm văn là viết cho xong và nộp bài. Nguyên
nhân do đâu? Một phần cũng bởi giáo viên chưa chuẩn bị chu đáo khi hướng
dẫn các em làm bài còn học sinh chưa biết quan sát đối tượng miêu tả còn đại
khái lướt qua nên khơng tìm được ý, nghèo ý, bài làm khơng sáng tạo, khơng
biết ghi chép những gì mà mình quan sát được một cách rõ ràng, thiếu sự
tưởng tượng, ít cảm xúc, vốn ngơn ngữ cịn q ít. Từ những ngun nhân trên
đã ảnh hưởng tới chất lượng giờ học, không gây hứng thú học tập cho học
sinh. Chính vì thế làm sao để giúp các em biết cách quan sát, lập dàn ý để có
thể viết tốt một đoạn văn là nền tảng tiến tới hồn thành tốt một bài văn?
2.NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYEÁT
Chúng ta cần xác định dạy Tập làm văn là giúp các em nói, viết lưu
lốt. Học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng cảm xúc, tình cảm lành mạnh
trong sáng, có khả năng quan sát, lựa chọn, sắp xếp ý rõ ràng. Rèn cho các em
có khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú. Qua đó, vốn sống các em tăng
lên giúp các em tự tin, có khả năng ứng xử linh hoạt trong cuộc sống. Dạy –
học văn miêu tả nói chung thường theo một quy trình: Phân tích đề - quan sát
tìm ý- lập dàn ý- viết đoạn văn – hoàn chỉnh bài văn. Sản phẩm của phân mơn
Tập làm văn chính là bài văn của các em viết theo từng kiểu bài. Để làm được
tốt các bài văn này, ngoài các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, các em cịn rèn
Đây là kỹ năng giúp các em nhận diện đặc điểm loại văn. Và khâu đọc
kỹ yêu cầu đề bài là khâu rất quan trọng đối với cả giáo viên và học sinh
nhằm tránh lạc đề. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách tự đặt câu hỏi
và tự trả lời:
+ Thể loại văn là gì?
+ Kiểu bài văn là gì?
+ Đối tượng miêu tả ?
+ Trọng tâm là cảnh gì?
- Học sinh gạch chân các từ ngữ cần lưu ý.
2. Kỹ năng quan sát đối tượng miêu tả:
Khi tả cảnh cần quan sát tỉ mỉ từng bộ phận của cảnh, tìm ra màu sắc,
âm thanh, hình ảnh tiêu biểu và cảm xúc của người đối với sự vật, cần quan
sát theo trình tự hợp lý:
+ Trình tự thời gian: quan sát từ sáng đến tối, từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc
+ Trình tự khơng gian: quan sát từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trái
sang phải, từ trong ra ngồi…
+ Trình tự tâm lý: thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc thì quan
sát trước.
Học sinh phải xác định được yêu cầu quan sát: tìm được những nét riêng
tiêu biểu của sự vật, chỉ cần ghi chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận
sâu sắc nhất chứ khơng thống kê tỉ mỉ chi tiết về sự vật. Để làm được bài văn
đúng u cầu , q trình quan sát khơng thể dàn đều mà phải tìm ra trọng tâm
+ Thị giác: nhận ra màu sắc, hình dáng sự vật…
+ Thính giác: nhận ra âm thanh, nhịp điệu gợi cảm xúc
+ Khứu giác: nhận ra mùi vị tác động đến tình cảm
+ Vị giác và xúc giác: cảm nhận sự vật
dụng các giác quan để quan sát; quan sát cần đi vào trọng tâm của cảnh và
người, rèn ở các em sự tinh tế trong quan sát.Tuy vậy trong quá trình hướng
dẫn quan sát giáo viên nên khéo léo gợi mở để học sinh huy động vốn sống,
khả năng tưởng tượng và cảm xúc giúp cho việc quan sát tốt hơn.
3. Lập dàn ý- lựa chọn và sắp xếp ý khi tả cảnh:
Nội dung bài làm đầy đủ, phong phú là yêu cầu không thể thiếu được
của bài làm văn tốt. Từ việc quan sát tốt, các em tìm được ý và sắp xếp các ý
thành một dàn bài trước khi viết thành văn. Học sinh cần bám theo yêu cầu
của đề bài, huy động vốn thực tế ( mà các em đã được hướng dẫn quan sát qua
khâu chuẩn bị) để lựa chọn những nét tiêu biểu nổi bật của đối tượng, sắp xếp
ý một cách hợp lý:
a. Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả bằng cách trực tiếp hay gián tiếp. Đây
là phần gây ấn tượng đầu tiên cho người đọc. Các em có thể vào bài bằng một
câu hay nột đoạn nhưng phải bám sát nội dung yêu cầu đã được xác định,
khơng gị bó, khơng áp đặt.
Ví dụ:Tả ngơi trường của em
Nằm dọc theo tỉnh lộ 835 là ngôi trường Long Khê thân yêu của em!
b. Thân bài: Giáo viên hướng dẫn học sinh phát triển theo nhiều ý khác nhau:
- Tả cảnh: theo từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian
Ví dụ: Tả ngơi trường của em
*Tả theo từng bộ phận của cảnh:
+ Sân trường
+ Lớp học
+ Phòng Đội
+ Thư viện
+ Hoạt động của thầy cô và học sinh…
* Học sinh phát triển ý trong mỗi cảnh, ý của mỗi em mỗi khác thật đa dạng,
giáo viên nên để học sinh phát triển các ý thật tự nhiên theo cảm nhận của
các em khơng gị bó, gượng ép cần hướng các em phát triển phong phú về nội
dung, làm nổi bật yêu cầu của đề bài, có thể tả nhiều bộ phận nhưng khơng
coi đó là chủ yếu mà cần làm nổi bật cảnh cần tả do đề bài yêu cầu, tránh liệt
kê đầy đủ nhưng nặng nề kể lể khơ khan.
dung chính mà các em vừa khai thác ở phần thân bài. Để thực hiện tốt điều
này, chúng ta có thể gợi mở:
Chẳng hạn: giáo viên có thể hỏi học sinh: Em hãy nói tình cảm của em
với mái trường? Mở cho học sinh nói theo ý của mình sau đó GV chắt lọc, sửa
sai.
Ví dụ: Mai đây dù có đi đâu, về đâu em cũng không bao giờ quên ngôi trường
thân yêu này cùng với thầy cô, bạn bè với bao kỷ niệm đã theo em qua từng
năm tháng của tuổi học trò.
4. Kỹ năng viết đoạn :
Để học sinh dễ viết thành đoạn văn, khi lập dàn ý bài văn xong bao giờ
các em cũng phải trình bày miệng, giáo viên gợi cho các em bằng những câu
hỏi dễ nhớ, hướng các em chọn lựa chi tiết, diễn dạt bằng câu văn ngắn, gọn,
có hình ảnh, sử dụng các biện pháp tu từ đã học như : so sánh, nhân hóa, điệp
từ, điệp ngữ… làm cho cách diễn đạt chi tiết, sinh động hơn. Những câu hỏi gợi
ý thường được xen vào trong bài làm văn miệng. Bài văn hay không thể thiếu
cảm xúc của người viết. Cảm xúc đó có thể bộc lộ ở từng câu, từng đoạn của
bài. Điều này ở mỗi tiết học, trước khi viết đoạn giáo viên cần lấy ví dụ cụ thể
và đi đến khái niệm về cảm xúc của mình trước sự vật, hiện tượng để các em
hiểu và vận dụng vào bài viết. Kết hợp hài hòa các yếu tố xây dựng nội dung,
diễn đạt có nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc làm cho đoạn văn có hình ảnh, sinh
động, giàu cảm xúc và kết quả bài làm cao hơn.
Giáo viên cấn bồi dưỡng cách làm văn qua phân môn của Tiếng Việt
như:
+ Tập đọc: hướng dẫn các em về cách dùng từ ngữ, hình ảnh hay, phân
tích tâm trạng cảm xúc của nhân vật qua các bài tập đọc
Ví dụ: Bài thơ Sắc màu em yêu ( Tiếng Việt 5 tập 1)
Tơi cho các em nhận xét từng hình ảnh sự vật, từng cảnh đẹp quê hương,
những tình cảm mộc mạc, tự nhiên qua các sắc màu gần gũi, gắn bó với các
Còn bài thơ Hạt gạo làng ta tơi phân tích giúp học sinh hiểu sâu hơn về nghệ
thuật tu từ như so sánh, cách miêu tả giàu cảm xúc và sử dụng hình ảnh đối
lập
Mẹ em xuống caáy”…
+ Luyện từ và câu: giúp học sinh hiểu đúng các nghĩa của từ. Điều này
thật cần thiết và vô cùng quan trọng vì có hiểu đúng nghĩa của từ thì mới sử
dụng đúng, mới biết chọn lựa từ diễn đạt sinh động…biết cách liên kết câu
thành đoạn, liên kết đoạn văn thành bài văn,…
+ Chính tả: rèn cho các em có kỹ năng viết đúng thì người đọc mới hiểu
đúng, rèn chữ viết đẹp thì cách trình bày bài văn rõ ràng, sạch đẹp.
5. Kiểm tra và sửa chữa:
Sau khi hoàn thành một đoạn văn, khâu kiểm tra giúp các em rà sốt lại
những gì cịn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh để các em bổ sung sửa chữa kịp thời
và hồn chỉnh đoạn viết. Thơng thường học sinh hay mắc một số lỗi sau:
a. Lỗi về cấu tạo ngữ pháp: các em viết câu thiếu thành phần chính làm cho
câu văn khơng rõ ràng, có khi tùy tiện đưa khẩu ngữ nói vào làm cho câu
thiếu đi giá trị thẩm mỹ. Đôi khi học sinh viết câu không xác định được thành
phần, lỗi này thường mắc phải ở những học sinh yếu, lý do các em nhớ từ nào,
cụm từ nào viết ngay vào bài chứ khơng tìm cách sắp xếp các cụm từ đó để
biểu đạt nội dung. Lỗi này rất khó chữa. Giáo viên cần trao đổi trực tiếp với
học sinh để biết các em muốn diễn đạt điều gì giúp các em chữa câu cho
đúng. Học sinh có khi quan sát gì thì viết nấy, khơng chọn lọc từ ngữ, không
Ví dụ: Các từ ghép có tiếng xanh, các em phải biết nghĩa của từ: xanh biếc,
xanh rì, xanh lơ, xanh rờn, xanh um, xanh ngắt,… Hoặc trắng có các từ chỉ các
màu trắng khác nhau: trắng toát, trắng hếu, trắng phau, trắng muốt, trắng
bệch, trắng xóa, trắng ngần, …
c. Lỗi về dấu câu: học sinh mắc phải khá nhiều do các em không nắm được
cấu tạo câu, các kiểu câu chia theo mục đích nói, cũng như khơng nắm được
nghĩa của câu. Học sinh thường khơng sử dụng dấu câu, có khi cả đoạn văn
chẳng có dấu câu nào. Cịn khi sử dụng thì sử dụng sai.Trường hợp này, giáo
viên hướng dẫn lại cho học sinh nắm về tác dụng của từng dấu câu nhất là đối
với những dấu câu hay sử dụng nhiều như dấu chấm, dấu phẩy, …Giáo viên
nêu nhiều ví dụ cụ thể để học sinh phân biệt cách sử dụng dấu câu trong một
văn cảnh như thế nào cho phù hợp.
3. KẾT QUẢ CHUYỂN BIẾN
Aùp dụng những kinh nghiệm mà tôi đã tìm tịi vào giảng dạy văn tả
cảnh ở lớp Năm , tôi thấy kết quả thể hiện khá rõ nét. Kể từ khi áp dụng cho
đến thời điểm này, hiện tượng học sinh sợ làm văn nói chung và sợ văn tả
cảnh nói riêng khơng cịn nữa,cụ thể trong các bài kiểm tra định kỳ, khơng
cịn hiện tượng học sinh không làm được bài tập làm văn hay làm bài sơ sài
chỉ một vài dòng đem nộp. Điểm các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ
tăng dần. Học sinh hứng thú học tập hơn. Trong giờ học, các em tập trung hơn,
say sưa cùng bạn trao đổi ý tìm được qua quan sát đối tượng miêu tả. Tơi rất
- 100% học sinh nắm được thể loại, yêu cầu của đề bài.
- 100% học sinh có khả năng quan sát, tìm ý
- 100% học sinh biết lập dàn ý và viết đoạn văn tả cảnh
Trong đó:
+ Lập được dàn ý chi tiết và viết được đoạn văn hay, sử dụng từ ngữ chính
xác, có hình ảnh: 18
+ Lập dàn ý và viết được đoạn văn theo đúng trình tự dàn ý đã lập: 10
4. BÀI HỌC KINH NGHIEÄM
Để việc dạy và học văn tả cảnh ở lớp Năm có hiệu quả, theo tơi cần lưu
ý một số điểm sau:
a. Cần năm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung từng tiết dạy . Trên cơ sở đó để
có kế hoạch thiết kế nội dung bài dạy cho phù hợp với học sinh và đạt được
mục tiêu đề ra.
b. Phải đảm bảo yêu cầu quan sát: quan sát đúng đối tượng miêu tả, các em
phải được quan sát thực sự, quan sát nhiều lần bằng nhiều giác quan khác
nhau. Giáo viên khéo léo gợi mở để học sinh huy động vốn sống, khả năng
tưởng tượng và cảm xúc để kết quả quan sát tốt hơn.
c. Thiết kế nội dung bài dạy đầy đủ và phong phú, khuyến khích học sinh tìm
ý, phát triển ý đa dạng làm nổi bật yêu cầu của đề bài.
d.Luyện học sinh viết câu văn hay, dùng từ có hình ảnh, biết sử dụng các biện
pháp nghệ thuật phù hợp.
e. Hướng dẫn học sinh biết bộc lộ cảm xúc trong bài làm.
f. Chấm, chữa bài tỉ mỉ, có hiệu quả giúp học sinh dễ dàng nhận ra những ưu ,
khuyết điểm của mình, của bạn, trao đổi , học hỏi lẫn nhau, đúc kết kinh
nghiệm cho bản thân.
III. KẾT LUẬN
1. Tóm lược giải pháp
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chương trình sách giáo khoa
mới là đổi mới phương pháp dạy học: Mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi
học sinh đều được bộc lộ mình. Vì vậy, giáo viên với vai trị tổ chức hoạt động
của học sinh phải có cách hướng dẫn các em xác định chính xác, cụ thể yêu
cầu của bài, giúp học sinh chủ động tìm kiếm thông tin để làm bài. Muốn làm
bài văn đạt kết quả cao thì giáo viên phải có các bước hướng dẫn cụ thể, rõ
ràng thông qua hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời. Từ đó học sinh cảm thấy
không ngại, không sợ học tiết tập làm văn vì các em đã nắm được các trình tự
quan sát, và biết quan sát được tỉ mỉ hơn, cụ thể hơn. Nhờ đó khi viết đoạn văn
các em đã có sẵn nội dung từ khâu quan sát, lập dàn ý. Như thế, việc viết
đoạn văn trở nên thuận tiện hơn rất nhiều khơng cịn mơ hồ đối với các em
nữa. Các em sẽ tích cực chủ động tham gia chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện
kỹ năng, hứng thú khi làm bài, tự tin hơn khi học tập làm văn
“ Văn chương vốn là nghệ thuật của ngôn từ”. Nhờ chất liệu ngôn ngữ
mà bài làm văn của học sinh có tính hình tượng và cảm xúc. Mục đích của
chúng ta là làm sao để học sinh viết được một bài văn sinh động, biết dùng từ
chính xác, cơ đọng, hiểu đúng điều mình muốn viết, viết đúng điều mình
muốn nói, khơng hiểu được điều đó, người giáo viên rất khó khăn trong việc
giảng dạy tập làm văn
2. Phạm vi, đối tượng
Đề tài có thể áp dụng cho học sinh Tiểu học ở khối lớp 4 và khối lớp 5.
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm mà bản thân đã tích lũy được trong q
trình giảng dạy nhằm giúp học sinh học tốt hơn về văn tả cảnh. Tơi rất mong
được sự góp ý chân thành của hội đồng khoa học của trường cũng như của
ngành để rút thêm những kinh nghiệm cần thiết cho quá trình dạy học tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn !