Tải bản đầy đủ (.docx) (64 trang)

MỘT số vấn đề lý LUẬN về xây DỰNG và sử DỤNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN kỹ NĂNG xã hội CHO TRẺ KHUYẾT tật TRÍ TUỆ 4 5 TUỔI TRONG lớp mầm NON hòa NHẬP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.42 KB, 64 trang )

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
XÃ HỘI CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 4 5 TUỔI TRONG LỚP MẦM NON HÒA NHẬP

Cơ sở lý luận
Trên thế giới
Nghiên cứu về trẻ KTTT thì trước thế kỷ XIX,
hầu như chưa có quan điểm khoa học nào về
KTTT. Kể từ khi quyển sách mang tên “De I’
education d’ un home sauvage” của Itard ra đời
năm 1801, xã hội mới tham gia tích cực vào
việc cải thiện tình trạng của trẻ KTTT. Itard tin
rằng, tình trạng KTTT có thể được khắc phục
phần nào nhờ q trình giáo dục tốt. Học trị
của Itard là Seguin đã mở những ngôi trường
đầu tiên cho trẻ KTTT tại Mỹ. Cả hai nhà khoa
học này đều có thể được coi là những người đầu
tiên quan tâm tới trẻ KTTT. [12]
Sự quan tâm tới những người KTTT đã có
một thời thụt lùi, đó là vào khoảng cuối thế kỷ


XIX. Do có những phát hiện về biến dị thần kinh
trung ương trong ngành thần kinh học, người ta
cho rằng tình trạng KTTT ln có ngun nhân
là những tổn thương ở thùy não. Vì những tổn
thương ở não là khơng thể thay đổi được nên
người ta cho rằng việc điều trị cho những người
KTTT là hồn tồn vơ ích. Lý thuyết về biến dị
này đã có ảnh hưởng rất tiêu cực đến những
người KTTT, rất nhiều người trong số họ phải


sống tách biệt suốt đời với cộng đồng xã hội
trong những trung tâm cư trú lớn. [12]
Từ những năm 1970, quan điểm về KTTT đã
có những thay đổi. Phẩm chất về con người
cũng như những nhu cầu về xã hội được đề cao.
Người ta cho rằng, người KTTT nên được sống
trong một mơi trường bình thường thay vì sống
trong các trung tâm riêng biệt. Đây chính là
thời kì của sự bình thường hóa và hội nhập.
Luận điểm phát triển đã được sử dụng để
cãi thiện những khía cạnh phát triển khác nhau.
Luận điểm chính của cách xem xét này là:
những người KTTT có khả năng phát triển trong


suốt cuộc đời, dĩ nhiên là với tốc độ và cường
độ riêng và với mức độ linh hoạt khác nhau.
Luận điểm này dựa trên 4 yếu tố là tiền đề sinh
học; chức năng nền tảng: cảm giác, vận động
và tâm lý; những ảnh hưởng của môi trường;
lịch sử phát triển. Bốn yếu tố này có ảnh hưởng
qua lại với nhau, sự thay đổi của một yếu tố kéo
theo sự thay đổi của cả tổng thể. [12]
Nghiên cứu về kỹ năng xã hội của trẻ KTTT
lứa tuổi mầm non, năm 1966, nhà xuất bản
giáo dục Matxcova cho ra đời cuốn “Tâm lý học
hoạt động nhận thức của trẻ bình thường và trẻ
có tật”. Đây là cơng trình nghiên cứu của các
nhà tâm lý học Nga về trẻ em nói chung và trẻ
khuyết tật nói riêng. Dù khơng trực tiếp bàn

đến vấn đề KNXH nhưng cơng trình cũng đã bắt
đầu quan tâm đến việc đánh giá và giáo dục kỹ
năng thích ứng nói chung và kỹ năng xã hội nói
riêng cho trẻ KTTT.
Vào những năm 1970, nhiều cơng trình
nghiên cứu với những kết quả đánh giá cụ thể
đã xác định những kỹ năng cần phải có để


người KTTT có thể hội nhập cộng đồng. Điều
này được công bố trong các cuốn sách: “Đánh
giá HVTƯ – cẩm nang KTTT: Lý thuyết và
nghiên cứu tâm lý” của Meyers, Nihira và
Zetlin. “Nghiên cứu sự thay đổi của HVTƯ của
người KTTT nặng và rất nặng”của Whitman và
Scibak.
Năm 1988, tác giả Goldstein cho ra đời
cuốn sách “Đánh giá kỹ năng xã hội”, trong đó
nói về đánh giá và một số phương pháp đánh
giá KNXH cho trẻ.
Nghiên cứu của A.S.Seipt qua trò chơi sẽ
làm bình thường hóa các quan hệ của đứa trẻ
với thế giới xung quanh. Trị chơi có thể giúp
đứa trẻ bớt đi tính nhõng nhẽo, ích kỷ, hàn gắn
những tổn thương của đứa trẻ
Nghiên cứu của G.Piagie cho rằng: “Trị chơi
của trẻ em là hoạt động trí tuệ thuần túy, là
một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí
tuệ là sự thích nghi.”
Nhà tâm lí học nổi tiếng H.Wallon xem trò

chơi là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm,


ông chỉ ra đặc tính phức tạp và đầy mâu thuẫn
trong hoạt động vui chơi của đứa trẻ và cho
rằng động cơ vui chơi của trẻ em là sự cố gắng
tích cực của đứa trẻ để tác động vào thế giới
bên ngoài nhằm lĩnh hội những năng lực của
con người chứa trong thế giới đó. Qua trị chơi
trẻ luyện tập những năng lực vận động, cảm
giác, trí tuệ và luyện tập các chức năng xã hội.
Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 60 của thế
kỷ 20, Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề giáo
dục và nghiên cứu về trẻ khuyết tật. Đã có một
số nghiên cứu về trẻ KTTT và công tác giáo dục
trẻ KTTT.
Năm 1966, Nhà nước ban hành Thơng tư số
202/CP về chính sách đối với người già, trẻ mồ
côi và trẻ khuyết tật. Năm 1975, Bộ y tế đã ra
quyết định số 91/BYT về việc thành lập khoa tâm
thần thuộc bệnh viện Bạch Mai với nhiệm vụ
điều tra cơ bản về trẻ KTTT phối hợp với việc
thăm khám và và chữa bệnh. Kể từ đó, việc


chăm sóc và dạy KNS cho trẻ KTTT được quan
tâm.
Năm 1995, tác giả Trần Trọng Thủy có cơng
trình nghiên cứu về trẻ học kém và phương

pháp dạy học chính trị. Cùng thời gian này,
cơng trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý
của tác giả Nguyễn Cảnh Thìn cũng được cơng
bố. Trong những cơng trình nghiên cứu này, tình
trạng hạn chế về nhận thức và các kỹ năng
thích ứng của trẻ KTTT cũng đã được đề cập.
Cũng trong thời gian này, nhiều cơng trình
nghiên cứu về trẻ KTTT đã được triển khai thực
hiện như “Trẻ chậm khôn”(1994) của tác giả
Phạm Văn Đoàn và các cộng sự [4] . Năm 2003
tác giả Trần Thị Lệ Thu cho ra đời cuốn sách
“Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ KTTT”[13],
và năm 2010, tác giả này cho ra đời cuốn “Đại
cương về can thiệp sớm cho trẻ KTTT”[14].
Năm 2008, một số tác giả xuất bản một số sách
như :“Đại cương giáo dục trẻ KTTT” (Huỳnh Thị
Thu Hằng)[7],“ Đánh giá trẻ khuyết tật trong
giáo dục đặc biệt” (Nguyễn Thị Nguyệt) [9].


Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân
Hải năm 2008 cũng nói về “Điều chỉnh nội dung
dạy học một số mơn học cho học sinh CPTTT
lớp 1 hịa nhập”[6] , luận án tiến sĩ của tác giả
Đinh Nguyễn Trang Thu năm 2017 nghiên cứu
về “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh
KTTT học hòa nhập ở tiểu học”[15] hay luận án
tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hưng năm 2017
viết về “Giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh
khuyết tật trí tuệ học lớp 1 hịa nhập”[8]

Kỹ năng xã hội (KNXH) là một trong những
yếu tố được quan tâm nhiều trong sự quan tâm
chung về sự phát triển của những người KTTT.
Tuy nhiên, các cơng trình nghiên cứu về KNXH
cho người KTTT không nhiều, hầu hết là những
bài viết, những bình luận ngắn trên các tạp trí
khác nhau. Mà chủ yếu, KNXH được nghiên cứu
lồng ghép trong những cơng trình nghiên cứu
về hành vi thích ứng nói chung.
Đề tài cấp bộ mã số B 2000-49-18: “Biện
pháp hình thành và phát triển kỹ năng xã hội
cho trẻ KTTT bậc tiểu học trong môi trường giáo


dục hòa nhập bậc tiểu học” của tác giả Nguyễn
Văn Đình cùng đồng nghiệp thực hiện, đã
nghiên cứu về các biện pháp hình thành kỹ
năng xã hội cho học sinh KTTT ở bậc tiểu học.
Các kỹ năng đó bao gồm: kỹ năng sinh hoạt tại
gia đình, các kỹ năng sinh hoạt tại cộng đồng,
kỹ năng vui chơi, kỹ năng giao tiếp ứng xử. [5]
Nghiên cứu về trò chơi phát triển KNXH cho
trẻ KTTT trong lớp mầm non hòa nhập cũng đã
có một số đề tài nghiên cứu. Trong cơng trình
nghiên cứu của Đồn Thị Thao năm 2014 đã nói
về “Biện pháp phát triển KNXH cho trẻ KTTT 4 –
5 tuổi thơng qua trị chơi dân gian”[12] hay
nghiên cứu của Lưu Thị Bich về “Sử dung
phương pháp trị chơi để hình thành và phát
triển KNXH cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại

trường tiểu học Hải Vân, TP Đà Nẵng”[3]
Như vậy, qua một số nghiên cứu về trị
chơi, có thể thấy rằng trị chơi đóng một vai trị
quan trọng trong việc giáo dục, hình thành
nhân cách, phẩm chất cho trẻ em nói chung và
phát triển KNXH cho trẻ KTTT nói riêng.


MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾT TẬT
TRÍ TUỆ
Khái niệm khuyết tật trí tuệ (KTTT)
Theo DSM – 5 khuyết tật trí tuệ được định
nghĩa như sau: Khuyết tật trí tuệ là một rối loạn
khởi phát trong giai đoạn phát triển bao gồm cả
thiếu hụt trong hoạt động trí tuệ và thích ứng
trong các lĩnh vực nhận thức, xã hội, và thực tế.
Ba tiêu chí sau đây phải được đáp ứng:
Thiếu hụt trong các chức năng trí tuệ chẳng
hạn như tư duy trừu tượng, giải quyết vấn đề,
lập kế hoạch, đánh giá, học tập từ tài liệu, và
học hỏi từ kinh nghiệm, những thiếu hụt này
được xác nhận qua đánh giá lâm sàng và cá
nhân, kiểm tra trí thơng minh đã chuẩn hóa.
Thiếu hụt trong hoạt động thích ứng dẫn
đến thất bại trong việc đáp ứng các chuẩn về
phát triển văn hóa xã hội, độc lập cá nhân và
trách nhiệm xã hội. Nếu khơng có sự hỗ trợ, thì
sự thiếu hụt sẽ giới hạn chức năng trong một
hoặc nhiều hoạt động của cuộc sống hàng
ngày. Chẳng hạn như giao tiếp, hòa nhập xã hội



và sống tự lập… trên nhiều môi trường như: tại
nhà, tại trường học, nơi làm việc, và cộng đồng.
Thiếu hụt trí tuệ và thích ứng trong giai
đoạn phát triển. [2]
Theo AAMR “KTTT là một dạng tật có đặc
điểm là bị hạn chế đáng kể trong việc thực hiện
chắc năng trí tuệ và các kỹ năng thích nghi
thực tế, thích nghi xã hội, kỹ năng nhận thức.
Loại tật xuất hiện trước 18 tuổi”.
Như vậy, KTTT là một khuyết tật được đặc
trưng bởi những hạn chế đáng kể cả về chức
năng trí tuệ (lí luận, học tập, giải quyết vấn
đề…) và trong hành vi thích ứng, bao gồm các
kỹ năng thực hành và kỹ năng xã hội hàng
ngày. Khuyết tật này xuất hiện trước 18 tuổi.
[13]
Phân loại khuyết tật trí tuệ
Phân loại KTTT theo DSM –5[1]:
Mức

Lĩnh vực khái

Lĩnh vực xã

Lĩnh vực thực

độ


niệm

hội

hành

Nhẹ

Ở độ tuổi mầm Khả năng tương Kỹ năng chăm


non, trẻ khơng tác xã hội kém; sóc cá nhân có
có sự khác biệt trẻ gặp một số thể phù hợp với
rõ ràng. Trẻ em khó khăn trong lứa tuổi, nhưng
trong độ tuổi đến việc

thu

thập các

nhiệm

vụ

trường và người các tín hiệu giao phức tạp hơn có
lớn thì tập trung tiếp xã hội bằng thể cần hỗ trợ. Ví
những kỹ năng ngôn ngữ hơn dụ: mua sắm đồ
học tập liên quan so với các bạn ăn, vận chuyển
đến việc đọc thời đồng trang lứa. nhà,


chuẩn

bị

gian viết tốn Khó khăn có thể thực

phẩm



hoặc

tiền.

Ở trong điều tiết quản lý tiền

người

lớn,

tư cảm

xúc



duy trừu tượng hành vi thích
lập kế hoạch linh ứng với lứa tuổi.
hoạt nhận thức
có phần bị suy

yếu.

Trung Kỹ năng khái Có sự khác biệt Trẻ có thể chăm
bình

niệm giảm rõ rệt trong xã hội và sóc bản thân tốt
về

phát

triển giao tiếp từ các tuổi trưởng thành.

ngôn ngữ và kỹ bạn đồng trang Người lớn thường


năng học đường. lứa. Ngơn ngữ có thể tham gia
Trẻ em ở độ tuổi diễn
đi học

đạt

đơn vào tất cả các

tiến bộ giản hơn nhiều công

việc

gia

trong việc đọc so với các bạn đình . Có thể làm

viết hiểu biết về khác. Trẻ gặp việc với sự hỗ trợ
thời gian và tiền vấn đề với nhận đáng kể tại nơi
bạc nhưng chậm thức các thông làm việc
hơn so với các tin

trong

các

bạn đồng trang tình huống xã
lứa. Người lớn = hội. Trẻ bị giới
phát

triển

kỹ hạn khả năng

năng học tập là ở đánh giá và đưa
cấp tiểu học. Hỗ ra quyết định
trợ liên tục cần của mình. Trẻ
thiết trong việc cần nhiều sự trợ
ra

quyết

khái niệm

Nặng

Hạn


chế

được

các

định giúp trong cuộc
sống

đạt Ngơn ngữ nói bị Trẻ cần hỗ trợ
kỹ hạn chế về từ cho

năng khái niệm. vựng



mọi

hoạt

ngữ động trong cuộc

Ít hoặc khơng pháp. Giao tiếp sống hàng ngày.


hiểu

về


ngôn được tập trung Cần giám sát trẻ

ngữ viết và toán, vào các sự kiện mọi lúc. Chúng
thời gian và tiền hàng ngày.

tôi sẽ không đưa

bạc. Cần hỗ trợ

ra quyết định có

rất nhiều để giải

trách nhiệm liên

quyết vấn đề

quan đến phúc
lợi.

Rất
nặng

Khơng có khái Có thể hiểu các Phụ

thuộc

vào

niệm về các biểu hướng dẫn đơn người khác cho

tượng,

một số giản và tín hiệu. tất cả các cơng

chức năng của Sử dụng các tín việc

liên

quan

các đồ vật, mặc hiệu khơng lời đến chăm sóc cơ
dù điều này có để thể hiện. Có thể hàng ngày.
thể bị hạn chế thể trả lời và Việc

tham

bởi các kỹ năng cảm thấy thoải vào

các

gia
hoạt

vận động thô và mái với những động này bị hạn
tinh.

người

thân chế .. Một số


quen. Có thể bắt nhiệm vụ cụ thể
đầu tương tác xã đơn
hội

giản

như

với những mang bát đĩa đến

người như vậy bàn có thể được


thơng qua các hồn thành. Trẻ
cử chỉ đơn giản. cùng lúc bị suy
Các vấn đề về giảm thể chất và
cảm giác và thể cảm giác là rào
chất có thể gây cản đối với sự
ảnh hưởng đến tham giam vào
các hoạt động các hoạt động tự
xã hội

phục vụ

Theo AAMR, sử dụng tiêu chí thích ứng để
phân loại mức độ KTTT, với 4 mức độ hỗ trợ:
Hỗ trợ không thường xuyên: Hỗ trợ dựa trên
nhu cầu. Hình thức hỗ trợ này có đặc điểm là
không liên tục, một người không phải lúc nào
cũng cần được hỗ trợ hoặc chỉ cần sự hỗ trợ

ngắn hạn trong suốt cuộc đời. Hỗ trợ không
thường xuyên có thể ở mức độ cao hoặc thấp
Hỗ trợ có giới hạn: Mức độ hỗ trợ tùy theo
thời điểm, hạn chế về thời hạn nhưng khơng
giống với hình thức hỗ trợ không thường xuyên,


hình thức hỗ trợ này cần ít nhân viên hơn và
kinh phí thấp hơn
Hỗ trợ mở rộng: Hỗ trợ diễn ra đều đặn ví
dụ như hỗ trợ hằng ngày tại những mơi trường
nhất định có thể là ở nhà hoặc nơi làm việc
Hỗ trợ toàn diện: Hỗ trợ thường xuyên và ở
mức độ cao nhất, hỗ trợ trong nhiều môi trường
và trong suốt cuộc đời. Hỗ trợ tồn diện địi hỏi
sự tham gia của nhiều người, hình thức hỗ trợ
này mang tính chất xâm nhập nhiều hơn so với
hỗ trợ mở rộng và hạn chế hoặc hỗ trợ hạn chế
về thời gian.
Nói tóm lại, cách phân loại mức độ KTTT
thường được sử dụng hiện nay là cách phân loại
theo DSM – 5 và AAMR. Việc phân loại KTTT
giúp có cơ sở để đốn biết và đặt kì vọng ở mức
độ hành vi của trẻ, xác định được mức độ, hình
thức chăm sóc, giáo dục cần thiết và phù hợp
với trẻ.
Một số đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết
tật trí tuệ 4 – 5 tuổi



Đặc điểm về nhận thức của trẻ KTTT
Theo học thuyết của Piaget, sự phát triển
nhận thức ở trẻ KTTT khác với trẻ bình thường
thể hiện ở đặc điểm: từng giai đoạn phát triển
kéo dài hơn và cả quá trình phát triển sẽ dừng
lại sớm hơn. Sự trì hỗn hồn thiện của hệ
thống vỏ não cấp một và cấp hai sẽ đưa đến
việc thiếu hụt các hoạt động tập trung đối với
trẻ KTTT. Theo lí thuyết của Piaget điều này sẽ
dẫn đến giảm khả năng học của trẻ. [14]
Kinh nghiệm cho thấy trong những tháng
đầu tiên trẻ KTTT rất thụ động và ít biểu hiện sự
quan tâm tới mơi trường xung quanh. Có thể
ngay từ giai đoạn phát triển này, trẻ đã bắt đầu
phải chịu đựng "khuyết tật thứ phát" của mình,
đó là khơng được kích thích đầy đủ do khơng
được tương tác với mơi trường. Trẻ khơng thích
nghi với mơi trường giống như những trẻ bình
thường khác. Giai đoạn phát triển đầu tiên của
trẻ KTTT sẽ kéo dài hơn so với trẻ bình thường
và các giai đoạn tiếp theo cũng kéo dài hơn,


cuối cùng sự phát triển của trẻ sẽ chững lại ở
một giai đoạn nào đó. [14]
Lí thuyết của Piaget đưa ra một mơ hình
trong đó gợi mở những vấn đề thực tiễn về quá
trình phát triển của trẻ/người KTTT:
Trẻ KTTT rất nặng (IQ < 20) không phát
triển qua được giai đoạn vận động-cảm giác. Có

thể học giao tiếp với các đồ vật và thể hiện sự
thích thú trong khám phá. Đơi khi họ điều
khiển/kiểm sốt được những vật cố định và có
quan hệ xã hội cơ bản với những người quan
trọng trong môi trường của họ nhưng các chức
năng và khái niệm phản ứng chỉ đạt mức độ
của một đứa trẻ dưới 2 tuổi.[14]
Trẻ KTTT nặng (IQ 20-35): có thể so sánh
với mức phát triển của một trẻ bình thường
trong khoảng 2-4 tuổi. Theo Piaget, đây là giai
đoạn tiền thao tác trong đó ngơn ngữ nói phát
triển. Giao tiếp ở mức đơn giản. Những người
này khơng có các khái niệm nhận thức, do đó
khơng có khả năng dự đốn những tình huống
mới dựa trên nhận thức hiện tại. [14]


Trẻ KTTT trung bình (IQ 35-50): có thể so
sánh với trẻ ở tuổi 4 đến 7 tuổi. Họ ở giai đoạn
tiền tư duy logic. Họ có thể tạo ra những khái
niệm dựa trên những trải nghiệm, nhưng nói
chung họ vẫn quan tâm chủ yếu tới các trải
nghiệm trực tiếp qua nhận thức. Họ khơng có
các khái niệm trừu tượng và thường cố giải
quyết vấn đề theo nguyên tắc "thử và sai" (thử,
nếu sai thì làm lại).
Trẻ KTTT nhẹ (IQ 50-70): có thể được so
sánh với trẻ 7 đến 12 tuổi. Đây là giai đoạn
thao tác cụ thể, các vấn đề được giải quyết
theo tư duy logic, nhưng khơng có khả năng tư

duy trừu tượng.
Theo cách phân loại trên, những người KTTT
khơng bao giờ đạt được giai đoạn thao tác hình
thức (giai đoạn từ sau tuổi 12), giai đoạn mà tư
duy biểu tượng và trừu tượng xuất hiện. [14]
Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ KTTT
Ngôn ngữ của trẻ KTTT chậm hơn so với trẻ
bình thường cùng độ tuổi. Khi đến tuổi đến
trường, những trẻ KTTT có vốn từ nghèo nàn


hơn, các em ít dùng các câu phức tạp, câu có
liên từ khó khăn trong việc sử dụng ngơn ngữ để
diễn tả ý kiến của bản thân và hay trả lời cộc
lốc. Nếu ở trẻ em bình thường giai đoạn 3- 4 tuổi
có tích lũy 1 số lượng lớn các từ, ngơn ngữ tích
cực của trẻ phần lớn có hình thức ngữ pháp
chính xác dù phát âm vẫn có đơi chỗ sai sót.
Trong khi đó ở độ tuổi này, việc phân biệt âm
thanh cũng như hình thành lời nói ở trẻ KTTT
xuất hiện rất chậm, ngôn ngữ nghèo nàn và sai
sót. Chính sự phát triển chậm và khơng đầy đủ
của cơ quan phân tích ở trẻ KTTT đã kìm hãm sự
phát triển ngôn ngữ như là quy luật, nhất là
trong thời kì mà ngơn ngữ phải được sử dụng
như 1 phương tiện giao tiếp và là công cụ của tư
duy. Sự không phát triển về mặt giao tiếp đã
gây cho trẻ sự ngưng trệ về mặt phát triển trên
nhiều khía cạnh: tư duy, giao tiếp, hành vi…Ở
trẻ KTTT các từ riêng biệt được thể hiện rõ phải

đến khi trẻ 2-3 tuổi, những câu ngắn gọn có tính
chất ngữ pháp phù hợp với hoàn cảnh phải đến
khi trẻ 5- 6 tuổi mới xuất hiện. [12]


Hơn nữa vốn từ mà trẻ KTTT 4- 5 tuổi có
được mất một thời gian dài để hồn thiện ý
nghĩa. Điều này cũng xảy ra ở trẻ bình thường,
theo thời gian trẻ sẽ dần hiểu được khái niệm
của từ và sử dụng mang tính chính xác hơn.
Theo ý kiến của K.M Xeesesenop: từ tồn tại đối
với trẻ em trong một thời gian nào đó khơng
phải là khái niệm mà chỉ là tên riêng để dành
cho một vài sự vật. Qua thực tiễn học tập, ý
nghĩa của từ mới được tăng lên và hình thành
khái niệm chính xác. Ở trẻ KTTT nhẹ, quá trình
chuyển từ tên riêng đến từ khái niệm được
hồn thiện rất lâu và khó khăn hơn rất nhiều.
[12]
Hệ thống ngữ pháp ở trẻ KTTT cũng rất khó
hồn thiện. Những câu nói của trẻ thường rất
đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khó
khăn trong việc lựa chọn từ để thể hiện những ý
nghĩ có sắc thái khác nhau. Khi tới tuổi đến
trường, trẻ KTTT vẫn thường sử dụng những cấu
trúc câu mà trẻ bình thường sử dụng ở độ tuổi 3
hay 4. Ngôn ngữ của trẻ chắp vá không nêu


được nội dụng ý nghĩa. Vì vậy muốn biết được ý

nghĩa của trẻ phải hiểu tâm trạng của trẻ.[13]
Trong giai đoạn trước khi đến trường (0-5
tuổi), trẻ phát triển những kỹ năng giao tiếp và
xã hội. Trẻ có những khuyết tật rất nhỏ trong
các lĩnh vực vận động cảm giác và thường
không phân biệt được khỏi những trẻ không bị
khuyết tật trí tuệ. Đến cuối thời kì thiếu niên
chúng có thể đạt được những kỹ năng học tập ở
mức độ xấp xỉ với lớp 6. Trẻ cần được dạy
những môn học cơ bản tại trường ở mức độ tối
đa mà khả năng của trẻ cho phép.
Trẻ KTTT nhẹ có khả năng thể hiện mình
trong việc chọn bạn, trong các hoạt động giải
trí, cách ăn mặc,…Khi trở thành người lớn, trẻ
thường đạt được những kỹ năng xã hội và nghề
phù hợp cho việc tự hỗ trợ bản thân ở mức tối
thiểu nhưng sẽ cần có người giám sát, hướng
dẫn và giúp đỡ. Đặc biệt khi trẻ gặp phải những
vấn đề khó khăn và chịu sức ép về kinh tế hoặc
tình cảm bất thường (trẻ thường dễ bị tổn
thương về vấn đề tình cảm). Khi được trợ giúp


thích hợp, người KTTT nhẹ có thể sống khá
thành cơng trong cộng đồng, hoặc một cách
độc lập hoặc tại những mơi trường có giám sát.
[12]
Đặc điểm tình cảm xã hội của trẻ KTTT
Khó xây dựng các mối quan hệ gắn bó: Trẻ
KTTT cùng với người mẹ của mình khó xây dựng

được mối quan hệ gắn bó mẹ con theo hướng
tích cực. Tín hiệu mà trẻ phát ra, sự chủ động
hành động của trẻ là rất yếu. Nếu sự đáp ứng
của người mẹ mạnh có thể phần nào xây dựng
được mối quan hệ gắn bó, dù khơng được tốt
nhất, nhưng nếu sự đáp ứng của người mẹ cũng
yếu thì sự phát triển mối quan hệ của trẻ với
người xung quanh là rất khó khăn.
Các giai đoạn phát triển tình cảm – xã hội
của trẻ KTTT chậm hơn so với trẻ bình thường,
trẻ cần nhiều kích thích hơn trẻ bình thường.
Tần số kích thích khơng quan trọng bằng chất
lượng kích thích, nghĩa là mức độ đáp ứng đúng
nhu cầu thực sự của trẻ. Vì những nhu cầu ấy
khác nhau ở mỗi trẻ và người lớn thường không


nhận ra điều đó nên trẻ KTTT thường ít nhận
được những kích thích phù hợp hơn trẻ bình
thường. Trái lại, trẻ thường bị kích thích quá
mức hoặc bị kích thích dưới mức thơng thường.
Các kích thích cng ảnh hưởng tới chất lượng
của sự phát triển tình cảm – xã hội ở trẻ.
Không hứng thú tham gia vào các tương
tác xã hội: Do tính thụ động của trẻ kéo dài
trong giai đoạn phát triển đầu tiên nên trẻ KTTT
có thể khơng hứng thú tham gia vào các tương
tác xã hội với mơi trường. Những kích thích từ
tiếp xúc với mẹ có thể khơng đủ với trẻ. Thêm
vào đó, việc cha mẹ trẻ ý thức rằng họ có 1 đứa

con KTTT có thể gây ra những vấn đề trong gia
đình.
Phản ứng với sự trêu đùa: Tại sao nghiên
cứu về sự trêu đùa lại có ý nghĩa trong việc
nghiên cứu đặc điểm phát triển tình cảm – xã
hội của trẻ KTTT? Trêu đùa, chọc tức người khác
là một trong những cách trẻ tìm hiểu thế giới xã
hội và những giới hạn của giao tiếp xã hội. Trẻ
KTTT kém nhạy cảm trong nắm bắt thái độ của


người xung quanh; bộc lộ sự đồng cảm của
mình một cách rất “trẻ con”, chỉ như những trẻ
12- 18 tháng tuổi (khóc, buồn, diễn đạt sự đồng
cảm bằng ngơn ngữ đơn giản, khiến người khác
khơng hiểu).
Tìm hiểu mục tiêu của người khác: Trẻ KTTT
khó hiểu được các mục tiêu của người khác, bởi
mục tiêu đó khơng thể hiện trực quan. Trẻ khó
liên kết được các tình huống có tính chất liên
hệ.
Hiểu cảm xúc: Trẻ KTTT khó có thể hiểu
được các suy nghĩ biểu hiện ra bên ngồi. Do
vậy trẻ khó khăn trong việc đoán biết được ý
định của người khác để có những phương thức
cũng như những hành động phù hợp trong giao
tiếp. Trẻ khơng có thuyết suy nghĩ sẽ khơng
hiểu được những cảm xúc, suy nghĩ của chính
mình cũng như của người khác. Khơng có
thuyết suy nghĩ là 1 trong những khiếm khuyết

rất lớn gây trở ngại trong quá trình tương tác xã
hội, dẫn đến những hạn chế trong giao tiếp và
học tập.


Trên đây là 1 số đặc điểm về tình cảm- xã
hội và ngôn ngữ của trẻ KTTT nhẹ. Đây là những
đặc điểm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
kỹ năng xã hội cho trẻ KTTT. [12]
Đặc điểm về hành vi của trẻ KTTT
Hành vi trẻ KTTT được các nhà khoa học
biết đến như là một thách thức lớn không chỉ
cho người giáo viên trực tiếp dạy học cho đối
tượng này trong lớp học mà còn cho cả các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu. Trong tổng số trẻ
KTTT thì có tới 40% trẻ có những biểu hiện hành
vi lệch chuẩn (hành vi bất thường). Đặc điểm
hành vi của trẻ KTTT được thể hiện trên 3 cấp
độ: tự ý thức, tự nhận thức và tự ý thức về mặt
xã hội và các kĩ năng xã hội.
Tự ý thức được hiểu như là khả năng tự
nhận thức mặt tình cảm, xã hội về chính bản
thân cũng như về những người xung quanh có
được qua việc ghi nhớ và trải nghiệm những
tương tác trong đời sống thực của một cá nhân.
Liên quan đến trẻ KTTT thì điều này rất có giá
trị vì chỉ cần một trong các yếu tố của tự ý thức



×