Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (501.41 KB, 48 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
chiếm một trong những vị trí then chốt, rất mực quan trọng của Việt Nam. Nhìn từ góc thiên
nhiên, nó chẳng có gì nổi bật: tài ngun có cái khơng bằng của một xã hoặc một huyện ở địa
phương khác, môi trường thì ngày càng suy thối, con người vốn gốc gác là dân tứ xứ. Ấy thế
mà trong sự trộn lẫn cả cái ưu lẫn cái nhược nêu trên, khoảng khơng gian nhỏ bé đó đang thực
hiện hết kỳ tích này đến kỳ tích nọ. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu gọi đây là đất của địa linh
nhân kiệt trong bài tổng kết 300 năm phát triển của thành phố, quả là một đánh giá công bằng
và có trách nhiệm, khiến các nhà khoa học tự nhiên phải quay nhìn lại những đoạn đường điều
tra mình đã đi qua. Chỗ nào là địa linh đây, để nhân kiệt đem tài đức ra phụng sự non sơng
gấm vóc, nhân lai địa linh lên nhiều lần hơn nữa? Công nghệ vật chất nào đã ươm bón cho
cơng nghệ nhân văn nào?
Những dịng sau đây đưa bạn đọc trở về địa linh với những công nghệ vật chất đã liên tục
phát triển theo không gian và thời gian. Bạn đọc sẽ thấy địa linh đây bình thường như khoai
sắn. Một tập hợp tài nguyên là yếu tố vật chất tạo nên một mơi trường thiên nhiên, nó khống
chế tồn bộ phát triển xã hội, trong đó sự phát triển của con người và sự ổn định của trời đất
là hai mặt đối nghịch muôn thuở. Sự đối nghịch cơ bản đó phải chăng lại là động lực thúc đẩy
thành phố tiến lên?
<b>Hè 1998 </b>
<b>Trần Kim Thạch</b>
<b>1. NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA MÔI TRƯỜNG</b>
Mơi trường là gì? Có thể nói, mơi trường là tổng (hay tập hợp) các điều kiện và ảnh hưởng
ngoại cảnh tác động lên sự sống và sự phát triển của cơ thể sống. Sự sống được biểu hiện
thông qua các quá trình trao đổi chất, năng lượng, thơng tin, q trình di truyền và biến dị,
quá trình thích nghi, phát triển và huỷ diệt (*).
Môi trương thiên nhiên là một tập hợp của những nhóm yếu tố thiên nhiên, gồm:
- Một khơng gian.
- Những yếu tố vật chất biến động trong khơng gian đó.
- Một hay nhiều nguồn năng lượng khống chế các yếu tố này.
- Và một thời gian.
Các yếu tố biến động trong không gian và thời gian đó, đối với thiên nhiên, được liệt kê
thành:
- Khí hậu
- Nước
- Địa chất
- Địa hình, địa mạo
- Đất
- Sinh vật
Đây là những dạng vật chất cụ thể, sử dụng nguồn năng lượng của vũ trụ, của mặt trời hoặc của
riêng trái đất, để tạo nên thuộc tính của từng kiểu dáng môi trường. Chúng tương tác lẫn nhau và
tạo ra <i>môi trương vô sinh</i> (abiotic), môi trường cơ bản của mọi mơi trường. Nó ảnh hưởng đến và
đồng thời chịu ảnh hưởng của các sinh vật, đặc biệt trong đó có con người. Cùng với một yếu tố
rất đặc biệt của trái đất, là sự sống, nó tạo nên môi trường sinh học, <i>môi trường hữu sinh</i> (biotic),
trong đó tác động qua lại của các sinh vật với nhau được gọi là <i>sinh thái</i>. Một đặc thù của sinh
thái, đó là xã hội của con người. Từ đó, có mơi trưỡng xã hội, với cơ bản là mơi trường tự nhiên
(nó bao gồm mơi trương vơ sinh và hữu sinh), trong đó tác động của con người giữ vai trị chính.
Khi cho môi trường tự nhiên yếu tố thời gian, tức là có quá khứ, có hiện tại và có tương lai,
người ta gọi đó là mơi trường địa chất. Thật vậy, sự biến động của môi trường trong quá khứ địa
chất, đó là sự biến động địa chất.
_____________________
* Theo “Concise Encyclopedia of Science and Technology” – NXB Mc Graw Hill – 1995.
Tại sao môi trường thiên nhiên cơ bản lại bắt nguồn từ trái đất?
Môi trường địa chất, qua nghiên cứu của khoa địa chất môi trường, đều từ trái đất làm ra và tồn
tại đến ngày nay. Nó cịn kéo dài ra một thời gian dài nữa, cho đến khi trái đất tiến đến giai đoạn
vỡ tung vì sụp đổ cơ lý. Trái đất bắt đầu bằng một khối bụi trên 4500 triệu năm trước đây. Đó là
đất nguyên thuỷ. Do quá trình vận động, khối bụi co rút lại, trở thành nén dẽ, dưới một nguồn
năng lượng vô biên, gọi là trọng lực. Nguồn năng lượng này xoay chuyển cả vũ trụ và ảnh hưởng
đến tồn bộ các thành viên của nó.
Sự co rút tạo ra một nhân rắn và một vỏ cứng nơi trái đất. Nhân bị vỏ ép đến độ hoá lỏng, vận
động theo nguồn năng lượng mơi sinh ra nó (gọi là <i>địa nhiệt</i>) và bắt đầu tạo đá, cùng địa hình địa
mạo ban đầu của nó. Vỏ đất căng mãi, phải nứt nẻ và sụp đổ, giúp cho vật liệu nóng lỏng từ ruột
đất trào ra, làm cho bên trên mặt đất có thêm các quyển vật chất mới:
- Một quyển làm bằng khơng khí do ruột đất phun ra, gồm có hơi nước, khí cacbơnic, ơxi, nitơ
và những khí hiếm khác; đó là <i>khí quyển.</i>
- Một quyển làm bằng nước, chảy tràn trên mặt đất, ngưng đọng ở các chỗ trũng, len lõi vào
trong đất đá, và kết thành băng nơi hai chỏm cực hoặc trên các đỉnh núi cao; đó là <i>thuỷ quyển.</i>
- Một quyển làm bằng đá lỏng, nguội lại, kết tinh, bị mài mịn, lắng động và hố đá; đó là <i>thạch </i>
<i>quyển.</i>
Trên ba quyển này và bên trong của chúng, là tập hợp các sinh vật (trong đó có con người) tạo
thành <i>sinh quyển</i>. mọi nghiên cứu về môi trường ngày nay thường tập trung vào sinh quyển này,
vì nó liên quan trực tiếp đến con người.
Nói tóm lại, nguồn gốc tự nhiên của mơi trường là phát sinh từ trái đất và phát triển song song
với sự tiến hoá của trái đất. Trong nghiên cứu mơi trường của một vùng lãnh thổ, hoặc tồn cầu,
chúng ta bắt đầu từ môi trường địa chất.
<b>2. TỪ TÀI NGUYÊN ĐẾN MÔI TRƯỜNG</b>
<b> </b>Những yếu tố vật lý, dựa trên vật chất cụ thể, như đất, đá, nước, khơng khí, hoặc dựa trên dạng
tích tụ của chúng như địa hình, địa mạo, được gọi là <i>tài nguyên</i>, vì chúng giúp con người sử dụng
vật liệu của chúng, hoặc nguồn năng lượng tiềm ẩn bên trong chúng.
Ví dụ: <i>tài nguyên khí quyển</i>. Vật chất của nógiúp cho năng lượng được tồn trữ và hoạt động: ở
dạng khơng khí nóng hoặc khơng khí lạnh. Nhiệt độ khơng khí biểu hiện cho nguồn năng lượng
(mặt trời, phóng xạ, sức nóng của sinh vật) và cịn tạo ra gió, bão, mưa, tuyết…)Kết hợp với
chiều cao, khơng khí tạo một khơng gian trên cao khác với phần thấp bên dưới. Đi vào trong vỏ
đất, không khí cũng đổi thay. Sự chênh lệch nóng lạnh làm cho vỏ đá nứt nẻ, vỡ vụn và tiêu tan,
gây nên một địa hình mới. Đối với sinh vật và con người, khơng khí là nguồn vật chất tạo năng
lượng, thông qua thở, tổng hợp thức ăn hữu cơ, tiêu huỷ và hồi sinh từng cá thể…
<i> Nước</i> cũng là một tài nguyên và là yếu tố của mơi trường, vì đó là vật chất mang năng lượng,
chuyển năng lượng, có tác động đến khung cảnh tự nhiên của trái đất, đồng thời ảnh hưởng trực
<i>Đất đá</i> là tài nguyên, mà cũng là yếu tố môi trường như nước và khơng khí.
Trong sự phát triển của xã hội loài người, chúng ta cần đến tài nguyên, sử dụng chúng và tạo ra
của cải vật chất cho xã hội. Khi chúng ta động đến tài nguyên, chúng ta lại va chạm với môi
trường tự nhiên. Lấy tài nguyên ra, thêm tài nguyên vào, chận tài nguyên ở chỗ này, phá tài
nguyên ở chỗ khác, trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta đều va chạm đến môi trường, thường
làm nó biến động theo hướng xấu đi, ít khi làm nó tốt hơn.
<b>Hàng trăm hecta rừng đã bị chặt phá để lấy gỗ.</b>
Ví dụ ở Indonesia và cả ở Việt Nam, người miền núi đốt rừng lấy đất canh tác. Đó là <i>phá một </i>
<i>tài nguyên</i> để có một tài nguyên khác. <i>Việc đốt rừng gây ranạn cháy rừng</i>, như vậy sự va chạm
môi trường ở đây là lớn và nguy hiểm: <i>đồi trọc hiện ra, đất không giữ nước, nước tạo lũ lụt và </i>
<i>bốc hơi mất…</i>cái vịng xốy ốc suy thối cứ như vậy mà quay, đi tới chỗ phá hỏng tồn bộ mơi
trường ban đầu, gây ơ nhiễm khơng khí, dẫn đến bệnh tật chết người.
Như vậy, phát triển xã hội là một phạm trù gồm hai vấn đề đối kháng nhau: sử dụng tài nguyên
và bảo vệ môi trường. con người đang loay hoay mãi với mâu thuẫn cơ bản này: làm sao sử dụng
tài nguyên trong khuôn khổ cho phép của môi trường đây?
<b>3. TỪ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÙNG LÃNH THỔ</b>
Bàn về cuộc sống và sự phát triển cộng đồng của một vùng lãnh thổ, trước hết là bàn đến môi
trường thiên nhiên, rồi đến môi trường xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh là một vùng lãnh thổ
quan trọng của đất nước. Việc nghiên cứu các kiểu dáng mơi trường của nó, từ cơ bản đến
chuyên biệt là một điều bức xúc của thị dân.
<b>TRƯỚC HẾT, KHƠNG GIAN CỦA ĐƠ THỊ NÀY LÀ GÌ VẬY?</b>
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở 10041’02’’ - đến 10048’55’’ vĩ độ Bắc, 103036’03’’ -
106045’23’’ kinh độ Đông, bao gồm một diện tích 22 – hóc 6.000 hecta. Một nhà địa lý, khi nhìn
bản đồ địa chính của nó, đã thốt lên: trơng nó như một con hạc đang x cánh. Thật vậy, Củ Chi
– Hóc Mơn là cánh trái chiếm 1/3 bề mặt đất đai, còn Cần Giờ là cánh phải, chiếm 1/3 đất đai
khác. Đầu chim là Thủ Đức, hướng ra biển Đông, xuyên Trường Sơn Nam, cịn đi chim nối
liền với đồng bằng sông Cửu Long. Phần trước ngực của hạc là con sông lớn nhất miền nam,
hoàn toàn nằm trong lãnh thổ nước ta: sông Đồng Nai, chảy từ cao nguyên viễn tây xinh đẹp về,
dài đến 550 kilơmét. Nó mang một dịng phù sa bổ dưỡng chủ yếu và đất đỏ bazan. Sông tạo ra
bảy bậc thềm, gồm nhiều thác lớn, mà thác quan trọng nhất là thác Trị An, nay đã biến thành một
đập thuỷ điện lớn vào bậc nhất nhì của cả nước ta. Từ cánh trái đi xuống cịn một con sơng nữa,
hồn tồn Nam Bộ, là sơng Sài Gịn, chảy từ biên giới Campuchia về và đổ vào sông Đồng Nai ở
Nhà Bè, nơi mà ai về Gia Định thì theo sơng Sài Gịn, cịn ai về Biên Hồ thì theo sơng Đồng
Nai. Ngã ba sơng đó cũng chính là nơi tàu biển 20.000 tấn đã vào cảng Sài Gòn từ hơn 30 năm
qua.
Một dòng nước nữa, không lớn lắm nhưng mang một tên lịch sử là rạch Bến Nghé, nay biến
thành Kênh Đôi, phân ranh Bắc Sài Gòn ở trên và Nam Sài Gòn ở dưới. Một dòng chảy tự nhiên
và chỉnh trang chính của thành phố mang tên kênh Nhiêu Lộc.
Giữa các dòng nước ấy là một bề mặt cao ráo, bằng phẳng , hơi nghiêng về phía nam và đông
nam, tạo ra nhiều bậc thềm thấp, đi từ + 6 mét đến + 36 mét do sông Đồng Nai, khi vươn ra biển,
đã giậc cấp mà thành. Đó là đặc điểm địa mạo của <i>Bắc Sài Gòn.</i> Trái lại, bên dưới rạch Bến
Nghé là một khu vực nằm xấp xỉ mực nước biển, đi từ + 0,5 đến + 3 mét, thường bị triều cao phủ
gần hết, là khu<i> Nam Sài Gòn</i>, đang lấn dần ra biển Đơng. Hệ thống thốt nước tự nhiên tạo ra ở
đây một mạng lưới sông rạch chằng chịt, với dịng chảy uốn khúc vơ kể, trong đó có sơng Sồi
Rạp, sơng Lịng Tàu, sơng Đồng Tranh là nổi tiếng hơn cả, trong lịch sử khai phá lẫn trong lịch
sử chiến tranh. Đồng bồi phù sa đó được mang một tên lịch sử kháng chiến, là rừng Sác Gia
Định, chiếm trọn huyện Cần Giờ, một huyện độc đáo nằm gọn trong một tam giác châu bỏ túi
(mang tên tam giác châu Đồng Nai) mà bản chất không khác tam giác châu khổng lồ láng giềng
là đồng bằng sông Cửu Long. Các nhà địa chất gọi Thành phố Hồ Chí Minh là trương học nhỏ
của Nam Bộ, biết rõ bản chất tự nhiên của nó tất là biết được cái nôi lớn Nam Bộ vây quanh.
<i>a.</i> <i>Khu vực gị thềm</i>: đây là nơi có địa hình cao nhất, có móng đá lộ ra, hoặc nằm rất nơng
dưới đất, mang tính chất đất liền cao nhất, đồng thời có các yếu tố đất, nước, khí hậu đặc
biệt nhất.
<i>b.</i> <i>Khu vực thềm phù sa cổ</i>: Đây là những mặt bằng phẳng tương đối cao, giật cấp về phía
nam, mang tính trung gian về địa hình và khí hậu.
<i>c.</i> <i>Khu vực đê sơng và bưng thấp ven sông</i>: Đây là đất thấp, úng ngập vào mùa mưa, ẩm
thấp vào mùa khô, nằm dọc theo hai bên sông hoặc nơi giáp ranh của các cửa sơng, gồm
đất hữu cơ, có phèn hoặc không phèn.
<i>d.</i> <i>Khu vực đồng bằng thuỷ triều</i>: Nơi đây, đất thấp, úng ngập đã đành, mà còn ngập nước
triều cường mỗi ngày hai bận, bị nước lợ quay quanh và có khí hậu hướng về đặc điểm
biển.
<i>e.</i> <i>Khu vực rừng ngập mặn</i>: Đây là vùng đất cực thấp, đa số bề mặt nằm dưới mực nước
biển trung bình, ngập mặn quanh năm, có một thảm thực vật đất liền nhưng chịu mặn một
cách độc đáo, khí hậu hồn tồn mang tính ven biển.
Mấy trăm năm trước, con người đầu tiên vẫn phải thích nghi với các khu vực mơi trường này.
Dù có biến động cách nào đi nữa, các thuộc tính cơ bản của từng khu vực vẫn còn nguyên vẹn
như vậy, mặc dù tác động của con người vào môi trường chung quanh không phải là nhỏ: việc xẻ
núi, lấp sông, tạo mặt bằng mới, uốn dịng cũ…tất cả có để lại dấu vết của lao động có suy nghĩ
hay khơng có suy nghĩ, nhưng nói cho cùng, so với thiên nhiên to rộng và cực mạnh chung
quanh, các tác động đó khơng đáng là bao. Điều này có thể hiểu được khi lấy con người ra làm tỉ
lệ cho thiên nhiên. Móng đá đối với ta cứng chắc dường nào, nhưng đối với trái đất, thì nó mỏng,
mềm mại và dẻo đến nỗi nơi nào hướng về phía mặt trăng, vỏ đất phình ra, tạo nên hiện tượng
địa triều (*).
Ngày nay, qua sự sử dụng đất đai, các khu vực môi trường tự nhiên có những biến động, giúp ta
tách chúng ra thành một số khu vực phụ. Trong Hình 2, thềm phù sa cổ có thể chia được làm hai,
nhờ có cơng trình đơ thị hố liên tục. Qua canh tác, các loại bưng thấp có ranh giới rõ ràng hơn,
gồm có 3 phụ khu. Đê sơng và lịng sơng cũng trở thành đơn vị nổi bật. Như vậy, từ 5 khu vực
môi trường, qua mấy thế kỷ biến động, nay đã có 9 khu vực mơi trường khác nhau. Trong tương
lai, có thể phân thêm những đơn vị mới nữa, đặc biệt ở thềm phù sa cổ phía bắc, cũng như ở đất
ngập mặn mênh mơng ở phía nam.
Và đây là hậu quả sâu xacủa sự sử dụng tài nguyên tự nhiên của thành phố.
_______________
<b>1. GIAI ĐOẠN PHÔI THAI BÊN BỜ TÂY NGUYÊN </b>
Những số liệu quan trắc nơi các điểm lộ của miền Đơng Nam Bộ, cịn lưu lại rõ nét trên mặt
đất, phối hợp với số liệu thăm dò địa vật lý và các mũi khoan nghiên cứu tầm sâu, đã cho thấy
móng đá cổ nhất bên dưới TP.HCM là một loạt dày đá phiến sét, đá phiến vôi và đá cát (đá trầm
tích) đã bị vị nhàu, có nơi biến chất nhẹ. Dựa trên di chỉ của những sinh vật đã hoá đá (những
hoá thạch hay những địa khai), người ta định được tuổi tương đối của chúng là thời cuối Cổ Sinh
(cách nay khoảng 350 triệu năm) kéo dài đến thời đầu Trung Sinh (cách nay độ 100 triệu năm).
Bên dưới móng này có gì? Một móng đá cứng và cổ hơn? Hay là một ruột đất nóng lỏng? Chưa
có xác minh trực tiếp.
Muốn hiểu rõ điều này, các nhà địa chất phải đi lên phía bắc, vào Tây Ngun: Đà Lạt, Bn
Mê Thuột, Plâyku, KonTum…, Tây Nguyên hiện ra dưới chân chúng ta với một móng đá khác
hẳn, mà mũi khoan sâu cũng như những điểm lộ xác lập một thứ tự đáng tin cậy: <i>những móng đá </i>
<i>của miền Đơng gối lên móng đá Tây Ngun, cổ hơn, thuộc tuổi trước Cổ Sinh, đá mang tuổi </i>
<i>tuyệt đối hàng nghìn, hàng vài nghìn triệu năm trở lên. Đó là móng đá Thái Cổ, xưa nhất ở miền </i>
<i>Nam, chiếc nôi khổng lồ của bao tài nguyên khống sản q giá mà nền cơng nghiệp tiên tiến </i>
<i>của TP.HCM sẽ thừa hưởng. Trong thời rất cổ đó, chưa có dấu vết của sự sống, nên đó là móng </i>
<i>đá Vơ Sinh, nằm bên dưới móng đá của thành phố ta, có dấu vết sinh vật, nên gọi là móng đá </i>
<i>Hiển Sinh.</i>
<b>2. GIAN ĐOẠN LẬP NÊN TRƯỜNG SƠN NAM</b>
<b> </b>Trường Sơn Nam bắt đầu từ những lớp đá vôi của biển nóng vây quanh lấy hải đảo cổ Tây
Nguyên (có tên khoa học là địa khối Kông Tum), như kiểu biển đông đang vây quanh lấy đảo
Hải Nam ngày nay. Đáy biển được nâng lên từ từ, đá vôi được thay thế bằng những tập đá phiến
sét dày, rồi đến đá cát, cuối cùng là những loạt than đá của đầm lầy đất liền. Sự chuyển đổi của
tướng đá như thế được các nhà địa chất xem như một chuyển động uốn nếp của vỏ đất, tạo nên
trước hết là những cung đảo, nhô lên khỏi mặt biển, cuối cùng một rặng núi dài hiện ra và cao lên
mãi như ngày nay. Đó là hiện tượng nổi núi, hay <i>tạo sơn.</i>
<i> </i>Dãy núi mọc lên thường rất dài, nên được gọi là trường sơn. <i>Trường Sơn Nam </i>chạy từ ngoài
khơi của Mũi Cà Mau, đến tận Tây Ngun. Nó được nối dài ra biển Đơng rồi quanh ngược ra
Bắc bộ, nơi có một <i>Trường Sơn Bắc</i> có cấu tạo khơng giống nhưng có tuổi địa chất tương đương.
Mỏm đá nhỏ nhô ra ở Gị Long Bình, Thủ Đức, là cái cịn sót lại của Trường Sơn Nam ấy, sau
nhiều giai đoạn thăng trầm sau đó, ở thời kỳ mà sự phong hố và xói mịn móng đá xảy ra một
<b>Đơn vị môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh</b>
Hiện tượng xói mịn được tiếp tục bằng thời kỳ vùi lấp trở lại bên dưới phù sa sơng. Móng đá
trầm tích của Thủ Đức xuất hiện nơi mũi khoan ở nhiều độ sâu khác nhau: tại khu chế xuất Linh
Trung nó nằm ở độ sâu 50 mét, nhưng tăng nhanh độ sâu về phía tây và phía nam, hoặc đơng
nam. Ở Củ Chi nó đạt 200 mét, ở Lê Minh Xuân, ta gặp nó ở 380 mét, cịn ở Nhà Bè, nơng hơn,
đạt 220 mét. Sự lồi lõm của mặt đá cổ cho thấy sự phong hố mang tính chọn lọc đã đành mà cịn
nói lên kết quả của sự trồi sụt của mặt đất do chuyển động của vỏ đất địa phương dọc theo một
số đứt gãy mà cơng trình đo vẽ bản đồ địa chất đã phát hiện được.
<b>3. GIAI ĐOẠN SỤT LÚN VÀ BỒI TỤ</b>
<b> </b>Từ 100 triệu nam đến 70 triệu năm, cùng lúc với sự uốn nếp của vỏ đất để tạo thành Trường
Sơn Nam, những nứt nẻ lớn địa phương đã tạo điều kiện cho những trận phun trào núi lửa khủng
khiếp, đi kèm với xâm nhập của đá lỏng từ ruột đất lên vỏ đất bên ngoài. Cái gò đá nhỏ, mang
tên là núi Châu Thới, nằm sát ranh Thủ Đức, là chứng tích của một miệng núi lửa to lớn, nay đã
bị mài mòn gần hết. Đá xanh Biên Hoà (gọi là đaxit và anđêzit) trào ra rộng khắp Nam bộ, mà
một mảng nhỏ ngày nay được khai thác tại Gị Long Bình, cạnh nghĩa trang thành phố. Đá xanh
đó đi xuyên qua một vỏ đá xâm nhập quan trọng hơn nữa, trải dài từ Tây Nguyên ra tận đáy mỏ
bạch hổ ngoài khơi Vũng Tàu, kéo xuống đến Indonesia, mà du khách có thể sờ được tại các đồi
đá trơ trụi tại Bà Rịa, Long Hải và Vũng Tàu. Đó là đá hoa cương (đá granit) đủ loại mà sự biến
động sau thời kỳ xâm nhập đã khiến nó bị rỗng ra rất nhiều, chứa được nước khống bên trong
(như nước khoáng suối Nghệ tại Bà Rịa, nước khống Đa Kai tại Bình Thuận và một nước
khoáng Lang Biang ở Lâm Đồng) đồng thời chứa cả dầu và khí thiên nhiên bên dưới mỏ Bạch
Hổ, mỏ Rồng, mỏ Đại Hùng trên thềm lục địa Nam bộ, tạo ra một ngoại lệ quan trọng đối với các
nhà tìm kiếm.
Tại sao có sự nứt nẻ của móng đá như vậy? Theo các tư liệu khoa học cơng bố vào các năm 90,
thì từ 70 triệu năm trở về sau. TP.HCM và các khu vực vây quanh đã chịu ảnh hưởng của một
thứ <i>đại dương bỏ túi,</i> với đáy nước từ vài trăm mét, sụp xuống đến 2000 rồi 4000 mét dư. Sự
tách dãn đó, ngày nay cịn tiếp tục, đẩy Trường Sa ngày càng xa Hồng Sa, mặc dù lúc đầu hai
khu vực đó nằm cạnh nhau. <i>Sự tách dãn đó cũng làm móng đá xâm nhập nứt nẻ và trở thành xốp </i>
<i>và thấm</i>, như đã nói ở trên.
Bên dưới TP.HCM, sự toạc nứt đó làm cho móng đá có chỗ lồi lõm đột ngột, do những đường
nứt sụt dài (gọi là đứt gãy) xảy ra, một đường chạy dọc theo sông Đồng Nai, một đường chạy
dọc theo sơng Sài Gịn, và một đường chạy từ Bình Chánh đến Long Thành. Chính các thung
lũng sơng đó là chứng tích của các đứt gãy mà các mũi khoan đã xác định ở chiều sâu. Chiều sâu
đó đã bị biển nhiều lần tràn vào bồi tụ, làm nên một địa tầng dày đến 400 mét với sự xen kẹp phù
sa sông và đất sét ven bờ, tạo ra những lớp thô và mịn. Mũi khoan tìm nước ngầm đã gặp phải
nước nhạt ở các tầng thật khô (cát, sạn) và nước lợ, sắt ở tầng mịn hạt hơn (ven biển). Chính lịch
sử địa chất đã giúp tìm ra và giới hạn các khu vực có nước ngầm phong phú, chỉ đạo sự sử dụng
đúng mức và đồng thời hướng dẫn sự bảo vệ nó.
Cách nay khoảng 10 triệu năm, một cuộc biển tiến do móng đá Nam bộ sụt lún, để lại một tầng
nước lợ sâu trong đất liền, nhưng may thay, có nơi nước mưa lắng đọng đã làm cho nước này hoá
nhạt và mà trở thành một tầng nước ngầm rất quan trọng.
Sự xâm nhập kiểu đó cũng thường xảy ra về sau, lần cuối cùng cách đây 11.000 năm, sóng ngập
mặn chân thềm Nhơn Trạch, lên tận đến Đức Hồ. Sau đó biển rút dần ra, đạt vị trí ngày ngay, để
rồi sẽ lại nữa!
<b>4. GIAI ĐOẠN YÊN TĨNH HIỆN NAY</b>
<b> </b>Từ 6000 năm trở lại đây, biển tiếp tục rút ra khơi, để lại sau lưng một đồng bồi phù sa do hệ
thống sông Đồng Nai, Sài Gòn lập nên, tạo ra rừng Sác Gia Định nói chung và huyện Cần Giờ
nói riêng. Những phức hệ trầm tích ven biển gồm có những cồn cát ven bờ, gọi là đất giồng, xuất
hiện theo chân sóng. Ban đầu một phức hệ nằm ở Cát Lái – Nhơn Trạch, sau dời xuống Long
Thành, rồi Lý Nhơn, cuối cùng là Cần Thạnh – Đơng Hồ ngày nay. Sau lưng những giồng đó là
một mặt bằng phủ sét mặn, gọi là đầm mặn, trên đó một thảm thực vật mọc lên và giữ đất, gọi là
<i>rừng ngập mặn.</i>
Nhẩm tính, trong ngần ấy thời gian, đất Đồng Nai vươn ra biển Đông khoảng 60 kilômét, mỗi
năm lấn biển được 10 mét. Quả là một cơng trình đầy kiên nhẫn đối với tầm vóc của con người.
Tuy nhiên, chỉ cần một chuyển động sụt lún kiến tạo của vỏ đất thơi, thì trong khoảnh khắc vài
ngày, biển lại tràn trở vào chỗ cũ.
<b>Sơ đồ địa chất trầm tích Thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ</b>
<b>Hệ thống đứt gãy chính ảnh hưởng đếnn nền móng và </b>
<b>1. TÀI NGUN KHỐNG SẢN</b>
<b> </b>Khống sản của TP.HCM, như có thể thấy được trên bản đồ địa chất tỉ lệ 1: 50.000, là một <i>thế </i>
<i>yếu</i> của địa phương so với các tỉnh vây quanh. Nó chỉ ngang ngửa với một số tỉnh của đồng bằng
sông Cửu Long, và thua xa các tỉnh miền đông, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, nếu chỉ xét về
mặt <i>khoáng sản qui ước</i>, tức nằm trong tầm khai thác và chế biến với khả năng tự có của ta hiện
nay. Nhưng nếu hiện đại hố được thiết bị, máy móc hoặc biết dựa vào các công nghệ mới, các
kỹ thuật cao, thì các <i>khống sản không qui</i> <i>ước</i> hiện nay (tức là không sử dụng được) sẽ trở
thành <i>qui ước. </i>Đây là một khái niệm mới trong kinh tế khoáng sản. Những năm 1960, nếu ta có
khí thiên nhiên ngồi khơi, thì khí đó bị xem như khơng khai thác được, vì cơng nghiệp dầu mỏ
thời ấy khơng có kỹ thuật cao để khai thác khí một cách kinh tế. Phải đợi đến thập kỷ 20, khi
cơng nghiệp khí thiên nhiên đã ra đời rồi, thì khí đó mới trở thành một khống sản quy ước của
nước ta.
<b>1.1. Khoáng sản qui ước</b>
<b> </b>Trước hết, TP.HCM có <i>vật liệu xây dựng</i> mà ngay từ khi mới đặt chân đến đây, ông bà ta đã bắt
đầu sử dụng. Đó là cát, đất sét, đất thịt. những địa danh như Rạch Cát, Cát Lái…nói lên những
thành tích khai thác ban đầu. Dụng cụ nhà bếp, gạch ngói, cũng từng bước xuất hiện nhờ khai
thác đất sét Đồng Nai, Thủ Đức. Sau đất, đến đá ong biên hoà (latêrit), một thứ sét đỏ, chứa 30%
sắt có màu đỏ bầm: khi cịn nằm dưới đất nó mềm và dẻo như đất sét, nhưng khi gặp khí trời,
hiện tượng kỳ lạ của khoa học trầm tích: sự <i>hố đá do bốc hơi</i> bề mặt, một thứ chất kết dính rất
kinh tế thời bấy giờ. Ngày nay, hầm đá xây dựng xuất hiện ở Thủ Đức, nối tiếp hầm đá Châu
Thới từng được khai thác hơn 100 năm rồi từ 1892. Ở Thủ Đức cịn có nguồn sạn trắng, có giá trị
trang lát cao, nhưng nay đã cạn kiệt. Còn đất sét trắng (nhưng không phải là cao lanh đúng
nghĩa) thì không cạnh tranh lại với đất sét Bình Dương – Bình Phước (Chánh Lưu, Hồ Bình,
Đất Cuốc).
Chỉ vào các năm 80 trở về sau, mỏ đá xanh của Thủ Đức, mới đi vào hoạt động, với qui mô
nhỏ, không đáng kể. Ngay đối với vật liệu xây dựng, TP.HCM đã và đang nhập đủ loại từ các
vùng chung quanh. Đối với những loại khoáng sản khác, dù là kim loại hay không kim loại đi
nữa, chúng ta vẫn phải nhập. Vàng bạc đá quý cũng từ mọi miền đất nước chạy về thành phố, để
được chế tác rồi trở ra thị trường tại chỗ. Đến nước suối giải khát là nguồn khoáng sản lỏng,
phong phú ở các tỉnh lân cận, cũng phải tìm về nơi phân phối tại đây (Đa Kai, Đảnh Thạnh, La
Vie, Lang Biang, Vĩnh Hảo). Như vậy, TP.HCM khơng phải là nơi cung ứng khống sản qui ước
(nước ngầm chưa được xem là khoáng sản), mà là nơi chế biến khống sản. Hình ảnh của đá ốp
Một số cố gắng khai thác nguồn khoáng sản tại chỗ, như than bùn Tam Tân dùng làm phân bón
tổng hợp hoặc vi lượng, đất sét lợ dùng làm bentônit, nhưng trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, chúng khơng mang được tính cạnh tranh, vì chất lượng ngun liệu kém q, dù có giá trị
cự ly cao nhưng vẫn khơng có giá mềm trong thị trường.
<b>1.2. Khống sản khơng qui ước</b>
<b> </b>Chúng đòi hỏi một tiến bộ khá quan trọng về công nghệ khai thác hoặc chế biến, hoặc cả hai,
đồng thời không bắt buộc đầu tư thiết bị đắt tiền để có giá thành thấp, ngồi ra, dù có giá trị cự ly
tốt, nhu cầu thị trường phải lớn và lâu dài thì nhà đầu tư trong thời buổi kinh tế thị trường mới
dám quyết định làm nhờ vào cái giá mềm cần thiết của sản phẩm.
Trước hết là khoáng sản kim loại nằm trong cát và bùn nơi cửa sơng, có hàm lượng từ 1% đến
5% mà hiện nay, đang đòi hỏi một cơng nghệ mới, tự động hố để có một giá thành thấp. Qua
cơng nghệ này, có thể lấy được titan, zircon, mơnazit có lượng thấp nhưng giá đất gấp năm, mười
lần ti – tan, lại có thị trường nước ngồi. Chúng ta có thể kết hợp khai thác quặng với nạo vết
luồng lạch và san lấp mặt bằng. Đó là cách tốt nhất để hạ giá thành nguyên liệu, một công lợi đôi
ba việc. Đất san lấp lấy từ bùn pha cát cửa sông chẳng những làm nền móng tốt về sau, mà cịn là
đất trồng trọt rất tốt cho những loại cây có giá trị kinh tế cao (cây thuốc, cây công nghiệp đặc
biệt).
<b>2. TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI</b>
Đất đai trước đây chỉ được quan niệm theo nghĩa hẹp về mặt bằng, hoặc được biểu hiện như
một đơn vị canh tác. Trong ngành địa chính đất đai mang ý nghĩa của một không gian ba chiều,
có các yếu tố mơi trường tự nhiên, lẫn các loại tài nguyên trong đó. Đây là giá đỡ cụ thể của mọi
hoạt động phát triển kinh tế xã hội của một khu vực. Người ta đã thử liệt kê trong đất đai, có
những ý nghĩa gì:
- Một mặt bằng chưa hoặc đã cải tạo để sử dụng
- Nơi khai khống cho nơng cơng nghiệp
- Một thổ nhưỡng trong trổng trọt, canh tác
- Một diện tích thảm thực vật hoang dã
- Một diện tích để cư trú
- Một diện tích làm nhà máy
- Một bề mặt dùng cho giao thông vận tải
- Một cụm đô thị tập trung…
Tên đặt cho đất đai dựa trên nguồn gốc phát sinh, mang tính mơi trường, khơng nhất thiết dựa
trên địa hình, bản chất thổ nhưỡng đơn thuần. Khoa trầm tích học giúp ta có các đơn vị cơ bản
đó. Ví dụ ở TP.HCM, khoa học này giúp ta phân biệt bốn nhóm đất đai là:
- Nhóm phong hố của món đá (khơng đáng kể về bề mặt)
- Nhóm đồng bồi trẻ (1/3 bề mặt)
- Và nhóm phù sa đáy nước (khơng đáng kể về bề mặt)
<b>2.1. Đất phong hố của móng đá</b>
Đây là một diện tích khơng vượt quá 500 hecta (0,2% mặt bằng của TP.HCM) không đáng chú
ý nếu nó khơng mang thuộc tính kinh tế cao. Hiện nay nó có giá trị vị trí thuộc loại lớn nhất
thành phố. Có các loại sau đây:
- Đất sét đồi từ móng đá phiến sét nhiều màu và tro núi lửa phong hố; nó khơng mang thuộc
tính nơng nghiệp, thường đáng kể về mặt nền móng tốt và vật liệu gốm sứ.
- Đất thịt và đất cát pha, do móng đá cát và đá bùn phong hoá, dùng làm vật liệu san lấp, khơng
có giá trị nơng nghiệp, nhưng có thể dùng trồng cây công nghiệp ngắn hoặc dài ngày với hiệu
quả thấp.
- Đất sét vàng đỏ, trải trên móng đá xanh núi lửa, chỉ có giá trị về nền móng và đá xây dựng.
Một trường hợp ngoại lệ, là đất đỏ phong hố từ móng đá hỗn hợp, có cái hố đá như đá ong
Biên Hoà, dùng làm vật liệu san lấp (nay đã sạch nhẵn).
Đây là loại đất đai dùng cho các khu cơng nghiệp, nhờ nền móng tốt, cao ráo, nhưng lại khong
<b>2.2. Đất xám miền Đông</b>
Thềm phù sa cổ là loại vật liệu bị nén dẽ lâu đời, trải qua một giai đoạn hoá đá (gọi là xuyên
sinh) ban đầu. Nhưng do bị tiếp xúc với khí trời, mặt trên bị phong hố, rã ra từng lớp, tạo nên
đất cát pha bằng phẳng và cao ráo (như ở Củ Chi) hoặc lồi lõm, nhấp nhô quan trọng (như Thủ
Đức). Người Pháp gọi đây là <i>đất xám</i>, vì phần hữu cơ bên trong đã bị mất dần, đất khơng cịn cái
sắc đậm đà của độ phì cao nữa, nên rất phù hợp với tính “bạc màu” gán cho đất ấy.
Về mặt địa mạo, đây là <i>đất thềm</i> do sự phong hoá bề mặt của những vỉa phù sa cổ có bản chất
thạch học khác nhau.
Thống kê cho thấy diện tích đất này chiếm khoảng 40.000 hecta tức 18% của diện tích thành
phố. Cứ 5 hecta đất trồng trọt thì có gần 1 hecta đất xám.
Đất này thuộc loại không phèn, nhưng có nơi nhiễm sắt, một số nằm dưới trũng lại chứa mùn.
Sự hoá sắt xảy ra từ khi thảm thực vật bên trên bị tàn phá. Chúng tôi đã theo dõi sự hoá đá của
đất xám tại khu vực gò Thủ Đức từ 1948 đến 1968, tức 20 năm. Thay vì rừng già, kéo từ nhà
máy Châu Thới đến Nhà máy xi măng và Gị Cơng, là những đồn điền cao su bát ngát gọi là “cao
su đất xám”. Đến năm 1958, tức là 10 năm sau, những nơi nào đồn điền bị đốn để lấy gỗ, như ở
Gị Cơng (Long Bình) thì đất xám bị trơ ra, trơi dài theo triền để xuôi ra sông Đồng Nai hoặc
Suối Cái. Đến năm 1964, khi xa lộ Biên Hoà bắt đầu hoạt động, đất đã trở nên đỏ, chất sắt ngoi
lên, biến đất mặt thành một thứ đất cát vàng, vàng đỏ hoặc nâu đỏ. Sau đó, đến năm 1968, tức là
Ở Củ Chi, Gị Vấp, Hóc Mơn, nơi nào có thảm thực vật bị huỷ hoại, do chất độc khai hoang,
do bom đạn, hay do con người, đá ong ngoi lên thay cho đất trồng, tạo ra hiện tượng latêrit hoá
tương đương với Thủ Đức, tức là một thảm sắt phủ lên đất thềm. Đất vườn, đất rẫy, nhờ có thảm
thực vật thấp che phủ, nhờ có nước tưới đến 9 – 10 tháng mỗi năm, nên lớp sắt đó chưa bị sự bốc
hơi dẫn lên mặt đất: chúng nằm ẩn bên dưới đất, ở chiều sâu 0,5 – 2 mét tuỳ theo cấu trúc của
thềm phù sa.
Như vậy, tương tác giữa chất đất với mực nước ngầm bên dưới (vỉa nước này do mưa cung cấp
trực tiếp tại chỗ) đưa đến khái niệm về chiều dầy của <i>đới thống khí</i>, tức là đới nằm từ mặt đất
đến mực nước ngầm mùa kiệt. Bất cứ thực vật nào muốn sống trên đất xám mùa nắng, đều phải
có bộ rễ đủ dài để xuyên qua đới thống khí này, khơng cần phải tưới: cỏ sẽ chết tiệt vào các
tháng khô, để rồi rộ trở lại vào đầu mùa mưa.
Thực tế cho thấy, đất thềm mang tính càng bằng phẳng bao nhiêu, càng dễ trồng trọt một loại
cây chủ đạo bấy nhiêu. Bản chất đất thay đổi nhanh chóng với vi địa hình ở trên mặt, thongg6
qua mực nước ngầm bằng phẳng bên dưới, cho nên khi cần chia nhỏ đơn vị chất xám ở đây,
không phải theo tỉ lệ sắt, hoặc tỉ lệ yếu tố hoá học nào khác, mà theo độ lồi lõm của mặt đất. Đất
đồn điền, và đất vườn, đều được làm phẳng một cách tuyệt đối.
Nhưng nơi đất cao, đới thống khí dầy q, trồng trọt trở nên khó khăn, đồng bào cho hạ mặt
đất xuống, tức là đưa bộ rễ cây đến gần đới ẩm bên dưới, áp dụng chính xác quy luật “đổi dạng
để đổi đất”. Một loại đổi dạng nữa không phải trực tiếp, mà gián tiếp: làm đê giữ nước trong mấy
tháng đầu mùa mưa, đó là hạ mức đất xuống ngang mực nước. Tất nhiên việc tưới suốt mùa nắng
cũng là một cách đổi chất đất bằng cách ấn đất xuống dưới mực nước bằng sức bơm.
Một cách đổi dạng rất qui mô, khoa học, là dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng về, qua kinh Đông. Bằng
cách này, từng bước đất thềm cao ráo sẽ biến dần một cách gian tiếp thành đất phù sa nhạt ven
sơng, gần nước mà ráo, mùa nắng thì khơng khơ, một loại đất có năng suất cao nhất.
<b>2.3. Đất phù sa nhạt</b>
Chiếm bề mặt 5.203 hecta (2,3%) đất phù sa sông do các sông Sài Gịn, Đồng Nai, Vàm Cỏ
Đơng cũng như một số rạch nhỏ hơn, bồi đắp bằng cách đưa vật liệu bở rời từ nơi cao đến lấp nơi
thấp trong thời lịch sử con người. Đất là loại cát pha, dễ ráo nhưng giữ được độ ẩm tốt vào mùa
nắng, nhờ có địa hình khá thấp, lại gần các dòng nước. Do lắng tụ trong một môi trường thuỷ
động cao, giàu ơxy, nên khơng yếm khí, do vậy khơng hề chứa chất phèn và chứa rất ít mùn. Phù
sa này gồm có nhiều loại, từ thơ đến mịn, và nếu nghĩ đến thực vật sẽ trồng lên trên, ta phải nghĩ
đến chiều dầy của nó trên loại đất có trước nó.
Tính phủ lấp này là một đặc điểm chung của đất bồi: <i>lớp phủ bên trên, và lớp bị phủ bên dưới </i>
<i>có hai nguồn gốc khác nhau</i>, vì tuy có một số liên hệ thứ cấp về sau, đất bên dưới không sinh ra
đất bên trên. Đất bên dưới là một đất thô, đất bên trên cũng là một đất thô khác, nhưng do quá
xanh héo, khi gặp lớp đất bên dưới. Điều đó khơng có nghĩa là đất xấu bên dưới phát triển dần
khác nhau.
Phù sa nâu tươi và vàng xám của các con sông lớn tạ ra ba loại đất, theo quan điểm địa mạo thổ
nhưỡng, là: <i>đất đê</i> sông, <i>đất bưng</i> ven đê và <i>đất đồng lũ</i>. Nếu lấy chuẩn canh tác đối với cây lúa,
nơi nào có đất phù sa dầy bằng và trên 20 cm (đủ bảo đảm bộ rễ lúa phát triển trong điều kiện ổn
định về nước mặt) thì xem như thuộc vào một trong ba đơn vị đất trên đây. Nếu chiều dầy đó
kém hơn 19 cm, thì đất sẽ mang tên lớp bên dưới của phù sa.
Đất đê sông là một thứ cát pha ở dọc theo sông Sài Gòn, từ Trảng Bàng xuống đến Thủ Dầu
Một (Bình Mỹ). Từ đây về đến Bình Thạnh, đó là một loại bùn pha, từ Bình Thạnh đến Ba Son là
sét pha. Đây là đất tương đối cao nhất trong đất bồi trẻ, nhưng không bao giờ ráo, dùng làm đất
thổ cư, đất vườn và đất rẫy. Khơng hề có phèn, đất có chiều dầy trên 0,5 mét, nên bảo đảm một
mức canh tác an toàn.
Đất bưng ven đê là phần trũng thấp hơn, nằm phía sau đê, gồm có bùn pha hoặc sét pha, giàu
hữu cơ, ẩm ướt quanh năm. Loại đất này khơng có phèn, do đó là đất lý tưởng cho cây lúa mùa
mưa, và một số hoa màu khác mùa nắng.
Đất đồng lũ là loại sét pha, giàu hữu cơ, lót trên chỗ trũng của thềm phù sa cũng như các <i>lịng </i>
<i>sơng cổ</i>. Đất không chứa phèn, nên phủ lên đất khác khơng phèn, thì được xem như hệ thống đất
ở đó khơng phèn. Ví dụ ở Suối Cái, Thủ Đức, đất đồng lũ, do những lúc sông Đồng Nai bị lũ lớn
dâng lên bồi đắp, nằm ngay trên đất xám của thềm phù sa (không phèn), nên được xem như đất
Đất đồng lũ là đất lúa và một số cây chịu phèn, như bạch đàn, tràm và đào. Nhưng tại đây, đầu
tư lớn thường đưa đến thất bại, khi làm dậy phèn từ bên dưới lên.
<b>2.4. Đất phèn </b>
Trước nhất đất này chiếm những chỗ trũng như lịng sơng cổ (Tam Tân – Nhị Xn – Lê Minh
Xuân), <i>cửa sông cổ</i> (Bưng Sáu Xã), đất gồm chủ yếu là sét pha, giàu mùn, có than bùn mỏng.
Chất hữu cơ là nơi có điều kiện tốt cho vi sinh vật kết hợp lưu huỳnh (S) của các tế bào sinh vật
bị thối rữa với sắt (Fe) trong nước lợ lập ra khoáng <i>macasit</i> SFe và <i>pirit</i> S2Fe. Khoáng này khi
gặp khí trời, thì ơxi hố thành <i>jarơsit </i>(phèn sắt) có màu vàng rơm tạo ra nước chua; và thành
<i>aluminit</i> (phèn nhơm) có màu trắng trong, tạo ra nước rất chua. Khi nước đã chua, các ion sắt và
nhôm tự do ùa vào rễ cây mà tính chọn lọc bị xố mất. Do đó cây chết vì ngộ độc sắt và ngộ độc
nhơm.
Như thế, xác bã thực vật tạo ra <i>phèn tiềm tàng</i> pirit. Nơi nào có xác bã thực vật thì nơi đó sẽ tạo
pirit: nhiều lớp sét chứa pirit chồng chất lên nhau theo ngày tháng, dù khơng cịn chất mùn nữa,
vẫn chứa nhiều phèn tiềm tàng, như sét xám xanh ở bưng Thái Mỹ hoặc Lê Minh Xuân. Nếu bên
trên không có lớp đồng lũ dầy phủ lên, thì đất này mang tên là đất phèn.
Đất phèn ở TP.HCM chiếm 57.718 hecta (38%), được gọi là đất bưng, với những đơn vị sau:
- Đất bưng phèn, khi lượng hữu cơ kém hơn 10% trọng lượng
- Đất bưng lầy, khi lượng hữu cơ chiếm từ 10 đến 30% trọng lượng
- Đất bưng trấp, khi lượng hữu cơ chiếm từ 30 đến 50% trọng lượng
- Đất than bùn, khi lượng hữu cơ vượt quá 50% trọng lượng
Đây là đất của tràm, bạch đàn và đào nếu có lên liếp. Ở dọc theo cửa sơng Sài Gịn cổ, từ Thái
Mỹ đến Lê Minh Xuân, cũng như ở Bưng Sáu Xã, đất còn trồng được lúa vào mùa mưa. Đa số
diện tích trồng được mía và thơm với năng suất cao. Điều này không lạ: tuy là đất dễ gây chua,
<i>đất phèn là đất có độ phì cao nhất.</i>
<b>2.5. Đất mặn và đất hoá nhạt</b>
Trong giai đoạn lấn biển, tuy chậm nhưng liên tục suốt 5.000 năm qua, sông Đồng Nai – Sài
Gòn đã bồi đắp để nâng đáy biển lên cao, tạo ra Rừng Sác Gia Định. Diện tích của phần đất loại
này, thuộc TP.HCM, có 31.496 hecta (15,5%). Ở phần lấn ra khơi, đất giàu cát, pha bùn và sét.
Phần nằm bên sau thì chỉ tồn sét với bùn, giàu hữu cơ và có một ít phèn tiềm tàng pirit (dưới
1%). Đây là đất chủ yếu úng ngập mặn quanh năm, nhưng nơi nào nhô lên khỏi mực nước biển
cao nhất, thì sẽ được nước mưa hoá nhạt từng phần, cho đến khi nhạt hẳn. Với một lượng bùn và
cát trên 75%, đất không hề chứa phèn. Nhưng phèn bắt đầu tăng với tỉ lệ nâng cao hơn 25%, đặc
biệt sét smectit và mơnmơrilơnit thì tạo mơi trường sản sinh cho pirit.
Do kết hợp tính chất địa mạo với thổ nhưỡng, đất mặn rừng sát gia dịnh gồm có các đơn vị chính
là:
- Đất giồng, nhạt hố từ lâu, cao và ráo, gồm tồn cát gió.
- Đất giữa giồng, hoá lợ từng phần, nhờ nước của giồng cát, gồm cát pha bùn và sét.
- Đất phẳng thuỷ triều, hoá nhạt vào mùa mưa, bùn pha sét giàu hữu cơ.
- Đất đầm mặn, gồm sét pha bùn, giàu hữu cơ, có phèn tiềm tàng pirit.
Đất giồng là đất vườn, chẳng những hợp với rau màu mà còn hợp với nhãn, dừa, mãng cầu.
Nước mưa rút rất sâu vào mùa nắng, nên có hơi bị hố mặn quanh năm, như Lý Nhơn, Cần Giờ,
Hào Võ, Giồng Chùa. Một số giồng quan trọng hơn vẫn giữ được nước ngọt như Giồng Ao,
Long Hoa, Đơng Hồ.
Đất giữa giồng bắt đầu có rưng sát với đước, mấm, chà là. Còn đất phẳng thuỷ triều, nằm ở
Bình Khánh và một phần An Thới Đơng, có khả năng canh tác lúa, trồng cói, dừa nước và ni
<b>2.6. Tính tốn quỹ đất</b>
Những con số trên đây về diện tích đất cho ta thấy TP.HCM khơng có sức mạnh về lương thực,
lại còn yếu về thực phẩm. Quỹ đất của cây công nghiệp, rau màu đạt tầm quan trọng đáng kể
hơn. Quỹ đất còn cho thấy rừng cạn và rừng ngập, dưới dạng đồn điền hay tự nhiên, là thế mạnh
mà nay gần như mất đi phân nửa, mặc dù trước đây hơn 100 năm, Sài Gòn là thị tứ nằm giữa
<i>rừng già đất nhạt và rừng già đất mặn liền ranh nhau.</i>
Với rừng ra đi, mực nước ngầm sụt xuống, địa mạo của Sài Gòn – Gia Định gián tiếp bị nâng
cao, đất hố bạc màu, rồi sa mạc khơ, cuối cùng trở thành đá.
Về mặt này, chúng ta đã vượt qua khung cho phép của môi trường, tức là đeo bám bên ngoài
lan can ngăn cách ta với một vực thẳm về sản xuất.
<b>Lịch sử bồi tụ phù sa của huyện cần giờ trong 6000 năm qua </b>
<b>Địa điểm khai thác khống sản qui ước</b>
<b>Vị trí nhóm đất của Thành phố Hồ Chí Minh</b>
<b>3. TÀI NGUYÊN NƯỚC</b>
Ở nước ta nói chung, ở TP.HCM nói riêng, tài nguyên nước chỉ gồm có thể lỏng (nước mưa,
nước mặt và nước ngầm) và thể hơi (sương, sa mù và mây). Chúng biến đổi từ thể này sang thể
khác, từ vị trí này sang vị trí khác, trong một chu kỳ nước khép kín, được nhà thơ Tản Đà tóm
gọn trong một câu:
<i>Nước đi ra bể lại mưa về nguồn</i>
<b>3.1. Mưa trên thành phố</b>
<b> </b>Miền Nam nói chung, và TP.HCM nói riêng, có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 5 và chấm dứt vào cuối tháng 10, còn mùa nắng đi từ tháng 11 đến hết tháng 4. Lượng
mưa tăng dần từ phía Nam lên phía Bắc và Đông bắc, từ 1.300 mm đến 2.100 mm. Huyện Cần
Giờ có lượng mưa kém nhất (1.300 – 1.700mm), cịn Củ Chi và Thủ Đức có lượng mưa cao nhất
Theo dõi lượng mưa suốt 50 năm qua, có thể lập con số bình qn sau đây cho một số địa điểm
tiêu biểu:
- Tân Sơn Nhất 1860mm - Hóc Mơn 1843mm
- Bình Chánh 1504mm - Cát Lái 1788mm
- Thủ Đức 1850mm - Cần Giờ 1102mm
- Củ Chi 1909mm
Như vậy, một lớp nước dầy 1,6 mét phủ lên tồn diện tích của thành phố, đưa đến đây một thể
tích 3 tỉ 250 triệu mét khối nước, tức là hơn 800 mét khối nước cho mỗi cư dân. Như vậy, nếu
nước này được giữ lại để dùng, thì chúng ta thừa dư nước ngọt cho cả năm.
Nhưng chỉ có 15% được giữ lại trong đất, cịn 85% trơi xuống sơng và đi ra biển. trong 6 tháng
nắng, vấn đề nước ngọt trở nên điều vất vả cho tồn thành phố, và vơ cùng gay gắt cho Cần Giờ,
một phần của Nhà Bè, Bình Chánh và Thủ Đức.
Mọi nỗ lực của thành phố từ trước đến nay vẫn là, bằng mọi cách, <i>tạo một mùa mưa thứ hai </i>
<i>trên thành phố</i>, trong đó ưu tiên cho các huyện đất mặn rồi đến các huyện đất gò. Cho tới nay, ưu
tiên thứ hai đạt trước: các huyện đất gị có nước ngầm và kênh nước mặt, cịn các huyện đất mặn
lại được thêm nước biển, do hồ chứa nước ngọt đã xây dựng lên ở Dầu Tiếng và Trị An: mùa
mưa thứ hai năm 1988 ở phía nam của Thủ Đức là mưa nước mặn.
<b>3.2. Nước mặt</b>
<b> </b>Nhìn trên ảnh vệ tinh SPOT -1 chụp toàn cảnh, khu Sài Gịn – Gia Định có một hệ thống sơng
rạch chằng chịt. Suối lớn nối tiếp suối con, đưa nước từ vùng cao xuống thung lũng sông để xuôi
ra biển: đây là nước chảy theo triền, theo trọng lực. Rạch con nối rạch lớn, đưa nước biển vào đất
liền, chảy từ trũng thấp nước mặn, vào trũng nước ngọt cao hơn: đây là sông rạch hoạt động theo
triều.
Có ba con sơng cần được chú ý:
Trước hết là <i>sơng Sài Gịn</i>, phát nguồn từ Lộc Ninh đi vào TP.HCM từ Bến Súc, và chấm dứt ở
Cát Lái, với một triền rất kém suốt chiều dài 70 km, tạo nên lịng sơng từ 300 đến 400 mét, chiều
sâu từ 10 đến 15 mét ở Bình Thạnh. Nhờ đó mà tàu 10.000 tấn vào ra Tân Cảng dễ dàng, còn tàu
20.000 tấn cập bến Nhà Rồng khơng gặp bất cứ khó khăn nào về đáy nước.
Tại Dầu Tiếng, lưu vực sơng là 2.700 km2, cho phép dịng sơng chảy 59,4m3/giây trong khi đó,
tại Bình Mỹ, với lưu vực 4.200 km2, có lưu lượng là 84m3/giây. Hiện nay các con số này khơng
cịn nữa, vì đập dầu tiếng đã đóng cổng. Trước kia, tồn bộ khúc sơng này bị ảnh hưởng triều,
nay ảnh hưởng đó còn mạnh hơn nữa, nước lên và nước ròng sát cách nhau từ 1,5 mét đến trên 2
mét.
Riêng <i>sông Đồng Nai</i>, tiếp cận thành phố từ cầu Đồng Nai đến cửa Sồi Rạp, có đoạn đường 90
km, rộng từ 500 đến 800 mét và sâu từ 10 đến 15 mét tại Nhà Bè, nước chảy với triền cao hơn,
Cùng với <i>sông Vàm Cỏ Đông</i>, không trực tiếp cung cấp nước cho thành phố như hai sông kia,
cả ba con sơng có ảnh hưởng đầu tiên là rút nước trong đất cao của thành phố, lôi ra biển vào
mùa nắng. Qua mùa mưa, việc rút nước khơng cịn nữa, sơng tạo nên mạng lưới xói mịn rất quan
trọng, khiến cho mặt đất trơ biến đổi mỗi năm. Khi thảm thực vật còn phong phú, ở Thủ Đức, Củ
Chi, khe rảnh mới không xuất hiện nhiều như bây giờ. Ngồi ra, người dân Thủ Đức cịn than
phiền: “đá ong lớn dần lên thấy rõ”. <i>Đá mọc ra và lớn lên, đó là hiện tượng hạ thấp mặt đất do </i>
<i>xói mịn thời khí</i>. Đá ong trước đây bị vùi sâu đôi ba tấc bên dưới, nay đã trơ ra ngoài mặt đất rồi.
đá mọc là hiện tượng báo động về đất nghèo, còn khốc liệt hơn cả đất hoá đá nữa.
Một phần nước mặt quan trọng khác nằm về phía nam của thành phố, từ ranh Cát Lái – Bình
Thạnh – Lê Minh Xuân ra đến Cần Giờ. Đó là mạng lưới dòng chảy của Rừng Sác Gia Định.
Vào mùa lũ hàng năm, trước khi có đập Dầu Tiếng và Trị An, nước ngọt về đến Rạch Lá (dừa
nước) mỗi tháng 9, trọn khu Bình Khánh, nam Nhà Bè hưởng nước sông. Năm 1988, nước ngọt
vào tháng 9 chỉ về đến Bình Thạnh. Như vậy sự xâm nhập mặn đã xảy ra như dự đón. Cù lao
Bình Quới ngày nay sẽ trở thành một khu du lịch nước mặn hơn là nước ngọt như những năm
qua. Một số ruộng, có đến 30% ở Lý Nhơn, An Thới Đơng và khu Bình Khánh đã bị nhiễm mặn,
mất mùa, do vậy, cần phải chuyển truyền thống canh tác lúa ở đây sang nuôi trồng thuỷ sản nước
lợ. Việc chuyển nghề như vậy không phải là điều gì khó khăn lắm (*).
<b>Bản đồ phân khu về tài nguyên nước trong Thành phố Hồ Chí Minh</b>
Khu 1. Nước trời phong phú, nước mặt hoàn toàn nhạt, nước ngầm rất phong phú
Khu 2. Nước trời kém, nước mặt bị nhiễm chua hoặc mặn, nước ngầm tầng sâu khá phong phú
Khu 3. Nước trời kém, nước mặt lợ quanh năm, nước ngầm kém thường hay bị lợ hay phèn
Khu 4. Nước trời kém, nước mặt và nước ngầm đều lợ hoặc mặn
Khu 5. Móng đá khơ lộ thiên, nước trời rất phong phú, nước mặt vắng
<b>Bản đồ phân bố mưa tại Thành phố Hồ Chí Minh</b>
(Số liệu: Sở Thuỷ Lợi)
___________________
Điều đáng lo hơn cả, đó là nguồn phù sa và thức ăn từ trên miền cao đưa về. Nguồn phù sa gồm
cát, sét à các chất keo vơ cơ, được dịng chảy mang về. Càng ngày càng chảy yếu dần, sạn sỏi,
rồi cát, bùn dần dần rơi xuống đáy nước, sau đó chỉ cịn có sét và keo ra đến cửa biển Cần Giờ.
Cùng với đất “thầu lên” này, cịn có các hạt bé của chất hữu cơ, do sự phong hoá của cây cỏ miền
cao, cũng được theo về, đi chung với các chất vi lượng bổ ích khác của nam Tây Nguyên và
miền Đông. Về sản lượng chất sống sinh ra suốt đoạn đường dài từ nguồn về, tính tốn của thế
giới cho thấy (trong mỗi mét vuông nước mặt):
- Sông nước đục 57 gam
- Suối 35 gam
- Cửa sông 23 gam
Các phiêu sinh vật, thức ăn cho tôm cá ở cửa Cần Giờ, xuất hiện dọc theo sông suối từ 2 đập
giữ nước sẽ dừng ở các cửa van. Ta chỉ cịn có 23/57 + 35 gam, tức ¼ thức ăn cho tơm cá ở Rừng
Sác Gia Định. Về mặt lý thuyết, cái giá phải trả cho nước ngọt Kinh Đông và điện cho Trị An, đó
là ¾ lượng hải sản phải giảm đi ở Cần Giờ.
Tất nhiên bao giờ chúng ta cũng phải trả cho thiên nhiên cái này để lấy của thiên nhiên cái kia.
Việc xây dựng đập Trị An và Dầu Tiếng là rất đúng, vì khơng có nước, và nhập khẩu điện thì
chẳng bao giờ phát triển sản xuất ở thành phố ta được. Hiện nay, việc đánh bắt tự nhiên nên
chuyển dần sang nuôi trồng, với nguồn tôm giống tại chỗ (chớ không phải ở nơi khác chở về) có
thêm thức ăn đảm bảo, thay tất cả cái gì có cho con tôm trong đất “thầu lên” tự nhiên đó (chớ
khơng phải thức ăn theo một cơng thức nào của nước ngồi).
Đây cỉ mới là một ví dụ nhỏ về thay đổi môi trường tự nhiên vài một số biện pháp tái thích nghi
của sinh vật và con người. Chắc chắn các nhà quản trị kinh tế xã hội còn phát hiện ra nhiều điều
phải àm, phải sửa sai, để đạt mức hoàn chỉnh cần thiết: chúng ta chỉ tiến tới đó, một cách khơng
duy ý chí, bằng những xấp xỉ đúng dần mà thôi.
Trong một cửa sông mà sự chênh lệch cửa thuỷ triều gần 4 mét, và mỗi ngày có 2 lần triều như
vậy, khung cảnh sống, nói cho cùng, là một chuỗi thích nghi liên tục xảy ra hàng giờ.
<b>3.3. Nước ngầm</b>
Đây là nguồn tài nguyên “khoáng sản” phong phú nhất mà một đô thị lớn có thể chứa được
trong lịng đất của mình. Từ 1920 đến nay, nước ngầm được liên tục nghiên cứu và khai thác
theo tiến trình phát triển của Sài Gịn, rồi TP.HCM. Nửa thế kỷ trước, cái mũi khoan của công ty
Quốc tế Lane Wells đã khẳng định một móng đá khơ, nhưng phù sa cổ nằm giữa nó với lớp mặt
bên trên là nguồn cung cấp nước quan trọng. Cho đến năm 1975, với nỗ lực của các công ty quốc
doanh của Bộ Giao Thông Vận Tải, và của một số xí nghiệp tư nhân hơn 2.000 mũi khoan nông
và sâu đã được triển khai để lấy nước cho sản xuất cũng như cho ăn uống, song song với hệ thốn
nước mặt dẫn từ Hoá An, Đồng Nai về.
vào đầu các năm 80, Nguyễn Hồng Bỉnh (1981) cho biết rất rõ về nước ngầm (còn gọi là <i>nước </i>
<i>dưới đất</i> theo các trường phái của Pháp và Liên Xô) như sau:
<i> + Nước dưới đất trong vùng phù sa cổ lộ diện</i>
Qua tài liệu các hố khoan thăm dò khai thác trong các khu vực thành phố ta thấy nguồn nước
dưới đất rất phong phú và hiện diện chủ yếu trong các nham thạch bời rời của phù sa cổ. Ngoài
lớp nước nước ngầm nơng gần mặt đất, tính đến độ sâu 120m cịn có 3 tầng chứa nước lớn có
khả năng khai thác theo hướng cơng nghiệp.
<i><b>a. L</b><b>ớp nước ngầm nông, gần mặt đất ở độ sâu từ 3 </b><b>– 15m </b></i>
Lớp nước ngầm này chịu ảnh hưởng trực tiếp nước thời tiết, có động thái thay đổi theo mùa.
Mùa mưa, mực thuỷ tĩnh nằm sâu từ 1 – 6,5 mét tuỳ cao độ mặt đất. Mùa khô, mực thuỷ tĩnh hạ
xuống trung bình sâu từ 5 – 9 mét, cá biệt có nơi sâu đến 10 – 12 mét như ở nơng trường An Phú
– Củ Chi, gị Đơng Thạnh – Hóc Mơn, ở Thủ Đức nhiều nơi sâu đến 13 – 14 mét.
Biên độ dao động mực thuỷ tĩnh giữa hai mùa thay đổi từ 3,5 – 6 mét. Cung lượng giếng cũng
thay đổi theo mùa. Mùa mưa, cung lượng giếng lên đến 5 - 10 l/giây; mùa khô cung lượng giếng
giảm chỉ còn khoảng 0,5 -1,5 l/giây chỉ tạm đủ cho nhu cầu sinh hoạt gia đình và tưới chút ít hoa
màu. Trung bình, trên mỗi hecta đất trồng hoa màu, nhân dân đào từ 7 – 8 giếng thủ công.
Tính chất lý hố của nước nói chung tương đối tốt, ngoại trừ lượng vi sinh cao, nhân dân hầu
hết đều dùng lớp nước này cho sinh hoạt và tưới cây trồng, nhất là ở vùng ven và ngoại thành.
Đa số nước đều bị nhiễm bẩn B. Coli và coliform: 2.400/100 ml.
Nước thuộc loại bicacbonat natri canxi, loại nhạt, có độ tổng khoáng hoá thấp.
Miền cung cấp của lớp chứa nước này là nước trời mưa trực tiếp ở trên mặt; miền thoát nước là
các nơi trũng thấp, chân gị, các mạch, mơi nước, các dịng suối rạch và một phần thấm xuống
tầng chứa nước bên dưới.
Nhân dân vùng ven và ngoại thành hầu hết đều đào giếng lấy nước dùng cho sinh hoạt và tưới
cây trồng. Tuy nhiên, kết quả thí nghiệm cho thấy lớp nước này có độ pH hơi thấp (bằng 4,5 đến
5,5) và phần lớn thường bị nhiễm bẩn do cách lấy sử dụng chưa hợp vệ sinh. Ngoài ra, do đặc
điểm cấu tạo thường xen kẹp và không đồng nhất của lớp chứa nước, nên trữ lượng cũng hạn
chế, chỉ đủ sử dụng cho sinh hoạt là chính và tuỳ điều kiện tự nhiên của từng nơi, có thể đủ tưới
cho cây trồng trong suốt mùa khô hoặc chỉ một phần trong các tháng đầu mùa khô.
<i><b>b. T</b><b>ầng chứa nước thứ hai “bán áp”</b></i>
Tầng chứa nước này dầy trung bình 15 -15m, được phân bố ở độ sâu khoảng từ 15 – 30m, là
loại nước có áp lực nhẹ cục bộ. Nham thạch cấu tạo tầng chứa gồm cát, sạn hạt nhỏ đến thơ, màu
trắng vàng. Tầng này có cấu tạo hạt mịn bên trên và thô dần xuống dưới: ở độ sâu 15 – 25m là
cát hạt nhỏ đến vừa, từ 25 – 35m là cát thô lẫn sạn sỏi thạch anh. Tầng chứa nước này thường
cách ly với lớp nước bên trên bằng một lớp sét (như ở vùng Củ Chi – Hóc Mơn). Lớp sét này có
dạng thấu kính xen kẹp khơng liên tục; do đó, ở nhiều nơi tầng chứa nước thứ hai thông thương
với lớp nước ngầm nông bên trên như ở các vùng Gị Vấp, Tân Bình. Trong khu vực thành phố,
số địa chất thuỷ văn tầng chứa nước cũng có nhiều thay đổi. Trong không gian, tầng chứa nước
phân bố không đều, đại thể như sau:
- Bề dầy lớn và đặc điểm thuỷ lực khá phong phú trong các vùng Sài Gòn – Chợ Lớn, Tân
Bình. Tỉ lưu giếng từ 1 – 5 l/giây/m, cung lượng khai thác khoảng 1.500 – 3.000 m3/ngày/giếng.
- Bề dầy trung bình và đặc điểm thuỷ lực trung bình trong các Hóc Mơn, Củ Chi, Thủ Đức. Tỉ
lưu giếng từ 1 – 5 l/giây/m, cung lượng khai thác khoảng 600 – 1.500 m3/ngày/giếng.
Tầng nước này không hiện diện ở một số vùng trong huyện Hóc Mơn và Quận 12 như gị Đơng
Thạnh thuộc ấp Lan Trung, Tân Thới Hiệp – Trung Mỹ Tây, ấp Mỹ Hoà – xã Tân Xuân và một
số vùng trong huyện củ chi như Phước Vĩnh An, và một vài vùng trong khu vực phía bắc Thủ
Đức.
Chất lượng nước tương đối tốt về mặt vi sinh. Nước có tính chất lý hố cùng nhóm với nước
ngầm nơng bên trên thuộc loại bicacbonat natri nhạt, có độ tổng khống hoá thấp.
Tầng chứa nước này đã và đang được khai thác nhiều để phục vụ cho các nhà máy công nghiệp,
cơ sở sản xuất, cho nhu cầu dân dụng và tưới rau màu trong vùng (trước đây ở nội thành Sài Gòn
– Chợ Lớn khai thác hơn 40 giếng trong tầng này với tổng lượng cấp gia tăng từ 80.000 –
162.000 m3/ngày) đưa đến tình trạng nhiễm mặn ở một số giếng.
<i><b>c. T</b><b>ầng chứa nước thứ ba “có áp”</b></i>
Đây là tầng chứa nước có áp lực, có chiều dầy khá lớn, nằm ở độ sâu từ 50 – 90m. Mực thuỷ áp
nằm sâu cách mặt đất từ 5 – 12m, riêng tại vùng đồi Thủ Đức có nơi sâu cách mặt đất đến 28m,
thường thấp hơn mặt thuỷ tĩnh của lớp nước mặt, ở cùng một nơi từ 2 – 5m. Tầng nước này nằm
dưới các tầng chứa nước thứ hai bên trên bằng một lớp đất sét chặn nước dầy 10 – 20m, trải rộng
đều khắp vùng. Cấu tạo tầng chứa gồm cát sạn dầy 30 – 40m và thường có xen kẹp các thấu kính
đất sét mỏng, khả năng chứa và cấp nước rất phong phú, có nơi tỉ lưu giếng đạt tới 11 – 12
l/giây/m (theo số liệu thí nghiệm của Nhật ở Hóc Mơn). Riêng khu vực bắc Thủ Đức, tầng chứa
nước này thường không hiện diện, cột địa tầng từ độ sâu 30m trở xuống rất thường gặp nhóm đá
macma.
Tầng chứa nước này do ở tương đối sâu nên việc khai thác sử dụng chưa được phổ biến.
Riêng vùng huyện Củ Chi ở phía tây bắc thành phố, khu vực nông trường Phạm Văn Cội 1 và
2, cấu tạo tầng chứa nước này tương đối mỏng hơn – bề dầy từ 15 – 30m, đặc tính thuỷ lực giếng
có phần kém hơn ở Hóc Mơn, nhưng nói chung cũng khá phong phú.
Nước thuộc loại bicacbonat natri canxi có độ tổng khống hố thấp loại nhạt và trung bình.
Nhìn chung, nước có tính chất lý hố và vi sinh tổng quát tốt, đạt yêu cầu cho cả dân dụng lẫn
cây trồng. Tuy nhiên, ở một vài nơi lượng sắt cục bộ bị nhiễm khá cao, cần phải qua khâu sử lý
trước khi sử dụng. Nhìn chung, tính chất lý hố loại nước giữa hai tầng chứa nước thứ hai và thứ
ba tương đối giống nhau, nằm cùng nhóm. Miền cung cấp và thoát nước tầng này hiện nay chưa
xác định được rõ ràng, song rất có thể nguồn cung cấp một phần do nước tầng trên ngấm xuống
Tầng nước có áp này có đặc tính thuỷ lực tốt, rất phong phú, cho thấy có một tiềm năng dồi dào
về nước dưới đất, đáp ứng được yêu cầu khai thác theo hướng công nghiệp bằng hệ thống giếng
khoan sâu với một cung lượng khai thác hợp lý trong khoảng từ 60 – 120m3/giờ/giếng. Qua các
tính tốn cho thấy tầng này có khả năng khai thác được với hệ số từ 50 – 80 l/giây/km2.
<i><b>d. T</b><b>ầng chứa nước thứ tư</b></i>
Ở độ sâu từ 100m, cũng là tầng chứa nước có áp. Cấu tạo tầng chứa gồm cát sạn nhỏ dầy 15 –
20m. Vì tầng này hiện diện tương đối sâu, khai thác tốn kém, nên trước đây vẫn ít được lưu ý
đến; do đó đến nay vẫn chưa có số liệu đánh giá cụ thể tầng nước này.
Ngoài ra, qua tài liệu hố khoan thăm dò sâu 200m của Nhật tại Hóc Mơn cho thấy ở độ sâu từ
120m trở xuống cịn có tầng chứa nước thứ năm có hàm lượng hạt mịn cao, khả năng lưu thông
nước và nhả nước kém, ít có khả năng là nguồn cấp nước tốt.
<i><b>Nước ngầm dưới đất trong khu vực các v</b><b>ùng phèn m</b><b>ặn p</b><b>hù sa m</b><b>ới</b></i>
- Vùng bưng phèn: nằm về phía tây và tây bắc thành phố trong các vùng nông trường Lê Minh
Xuân, Phạm Văn Hai, Nhị Xuân, Thái Mỹ…
- Vùng thấp nhiễm mặn và phèn: nằm về phía nam và đơng nam thành phố, trong các vùng Nhà
Bè, Cần Giờ, Bưng Sáu Xã, Thủ Đức.
Các vùng bồi tích trẻ này hầu hết đều trũng thấp, các lớp nước ngầm nông gần mặt đất phần lớn
đều bị chua, phèn, mặn, không sử dụng được. Lớp nước ngầm nông này thường chịu ảnh hưởng
trực tiếp và dao động theo thuỷ triều. Các vỉa nước ngọt chỉ có khả năng tìm gặp được trong cấu
tạo phù sa cổ nằm chôn vùi bên dưới cấu tạo phù sa mới. Một số vỉa nước ngọt cũng bị phèn,
mặn xâm nhập. Qua một số giếng khoan thực hiện trong các vùng này đã tìm thấy được các vỉa
nước ngọt ở những độ sâu như sau:
Thái Mỹ - Củ Chi: tầm sâu 20 – 30m, nước ngọt tự trào qua ống 73mm, với lưu lượng
80m3/ngày (pH=6,85; SO4=7mg/l, NaCl=115 mg/l).
Cầu Bơng - Hóc Mơn: ở độ sâu 50 - 80m gặp được loại nước lợ, hàm lượng SO4=3.610
mg/l, pH=6,9.
Nông trường Phạm Văn Hai gặp hai tầm nước:
- Tầm sâu 58 - 69m: nước mặn phèn sắt cao, Ph=5,3; Fe=39mg/l.
- Tầm sâu 100 – 112m: là loại nước hơi lợ có hàm lượng Fe cao, NaCl=1815 mg/l, pH=4,4.
Fe tổng cộng =40 mg/l.
Vùng Phú Định, giếng sâu 97m, nước rất ngọt, Ph=5,4; NaCl=8,6 mg/l.
Giếng tại Bình Chánh sâu 290m, nước rất ngọt, NaCl=68 – 200 mg/l; pH=7,5; SO4=15 –
20 mg/l; Fe=1 mg/l.
Chợ Quán, giếng sâu 200 – 220m.
Vùng huyện Cần Giờ: Sở Thuỷ lợi đã thực hiện hoàn tất 2 hố khoan thăm dị tìm kiếm
nước ngọt nhưng khơng thành công.
1) Hố khoan ở xã Tam Thôn Hiệp sâu 115m, địa tầng cho thấy từ độ sâu 30 – 105m có cấu tạo
phần lớn là cát sạn, trong đó chỉ có một lớp đất sét xám xen kẹp ở độ sâu 62 – 79m, đến độ sâu
105m hố khoan gặp đá.
Kết quả thử nghiệm mẫu nước ở hai tầm sâu có cát của hố khoan (62m và 100m) đều bị mặn.
2) Hố khoan ở nông trường thanh niên thuộc xã tam thôn hiệp sâu 181,20m. Hố khoan cho thấy
cấu tạo đất mịn đến thơ có lẫn sạn hầu như hiện diện suốt cột địa tầng từ độ sâu 8 – 154m. Hố
khoan bắt đầu chạm đá cứng ở độ sâu 175,80m và khoan xuyên qua 5,40m đá gốc. Đá thuộc
nhóm macma, cịn tươi, cưng rắn, hơi sậm màu thuộc loại kiềm, có lẽ là nhóm điơxit (granit
xanh). Cấu tạo địa tầng cho thấy hiếm có khả năng gặp được nước ngọt.
Từ sau 1985 các kết quả này đã được Liên Đoàn 8 Địa chất Thuỷ văn chuyên về khoan sâu
khẳng định. Nếu như ở rìa tây Bình Chánh, thuộc xã Tân Tạo, nước ngầm có áp phun lên từ độ
sâu 300 mét, từ các mũi khoan ở Rạch Lá, Rạch Lỡ (Cần Giờ) đều gặp nước mặn từ 230 – 250
mét, cịn bên dưới là móng đá macma khô.
Các mũi khoan ở Đỗ Hoà, gần giáp ranh với Nhơn Trạch (có nước ngầm tốt) của Đồng Nai,
cũng cho thấy nước mặn.
<b>Bản đồ phân bố độ mặn của nước mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh </b>
<b>Từ khi có đập Dầu Tiếng và đập Trị An, vào mùa kiệt, ranh nhạt lấn đến Cát Lái; vào mùa </b>
<b>mưa, ranh mặn chuyển từ Lý Nhơn lên đến mũi Bình Khánh </b>
<i><b>Đánh giá khả năng khai thác sử dụng</b></i>
Một số đặc điểm địa chất thuỷ văn thu thập được tại khu vực thành phố cho thấy nổi bật các nét
chính sau:
- Nguồn nước ngầm dưới đất chủ yếu hiện diện trong cấu tạo bời rời của trầm tích phù sa cổ có
chất lượng tương đối tốt và có khả năng cung cấp rất lớn. Nhất là tầng chứa nước thứ hai bán áp
và tầng chứa nước thứ ba có áp lực.
- Tầng chứa nước thứ hai bán áp, thông thường nhiều nơi với nước ngầm nông bên trên và chịu
ảnh hưởng của nước thời tiết, thuỷ áp thay đổi rõ rệt theo mùa. Tầng nước có khả năng khá
phong phú đã và đang được sử dụng rất nhiều, tương đối dễ khai thác bằng cả thủ công lẫn giếng
khoan công nghiệp, kinh phí đầu tư hạ. Tầng nước này trước đây do khai thác quá độ (nội thành
Sài Gòn trong những thập niên 40 – 50), do bảo quản hoặc xử lý hố khoan chưa đúng mức, đã
gây ra sự nhiễm mặn hoặc nhiễm bẩn ở một số nơi trong các vùng ven ranh giới phía nam Sài
Gịn – Chợ Lớn.
- Tầng chứa nước thứ ba có áp lực, tương đối nằm ở sâu hơn, tầng nước có khả năng dồi dào, độ
nghiệp. Tuy nhiên, điểm thăm dò và thí nghiệm về tầng này vẫn cịn ít và hạn chế ở một vài
- Các thông số địa chất thuỷ văn về tầng chứa như trữ lượng nước ngầm, nguồn cung cấp, lượng
bổ sung (để cân đối khai thác) đến nay vẫn chưa có số liệu cụ thể. Cần tiếp tục khoan thí nghiệm
nghiên cứu xác định thì mới có thể chọn được phương án tối ưu về khai thác và sử dụng nguồn
tài nguyên này của thành phố.
Từ năm 1983, Sở Thuỷ Lợi thực hiện đề án nghiên cứu ứng dụng nước ngầm để tiến tới cân đối
sử dụng tài nguyên nước cho thành phố. Để hỗ trợ cho đề án này, trường Đại học Tổng hợp và
trường Đại học Bách khoa đã xác lập, qua mũi khoan và đo địa vât lý, các cấu trúc chứa nước
của phù sa cổ.
Kết quả cho thấy đó là những thung lũng sông cổ của hệ thống Đồng Nai – Cửu Long, đầy vật
liệu thô, dẫn nước mưa thấm sâu từ phía bắc về. Vỉa nước được thành lập bằng một cơ chế nới
rộng (không gian) và cơ chế bồi đầy (thời gian).
Thực tiễn cho thấy ít ra một vỉa cát sạn thô chứa nước được kẹp giữa hai lớp sét khơng thấm. Ví
dụ mũi khoan 1 (hình 11) cho thấy ít nhất nó đã gặp trường hợp kẹp vỉa 2 lần: vỉa xếp kiểu lòng
máng số 2 bị kẹp giữa hai vỉa sét không thấm số 3, và vỉa cắt xốp số 4 thì khơng như vậy: trên nó
hiểu nổi.
Giếng đào tay (A) chỉ cần phá vỡ lớp đất mặt và tạo một bồn chứa cho nước trong cát sét rỉ ra:
Ở Thủ Đức, có lớp đá ong mỏng phải khoét qua, vì lượng sắt trong nước tẩm cao, sức mao dẫn
vào mùa nắng tạo nên một mũ sắt trong mặt trên của vĩa cát sét. Đây là latêrit (đá ong) rắn (L).
Cũng tại Thủ Đức, và đôi khi tại Hóc Mơn, Củ Chi, khoan qua lớp cát mặt và latêrit mặt, ta rơi
vào một vĩa nước tốt và có áp nhẹ (mũi khoan B và C) nằm ở độ sâu 20 – 30m. Nhờ có áp đó,
nước trào lên ở bưng trũng, kiểu Thái Mỹ (Võ Ngọc Tùng 1980). Tất cả vĩa loại này đều là các
lịng máng rộng, có cát và sạn đã bị mài mịn, nhưng cũng khơng tránh khỏi những hạt còn lởm
chởm do lũ đưa từ khu vực có đá như Châu Thới về cách đó mươi kilơmét. Nếu khoan xuyên qua
các lòng máng ấy, ta gặp được sét nước lợ của một khu rừng sác, nên chỉ có sét đỏ, cực dẻo hiện
ra. Sự nén dẽ tự nhiên đã vắt hết chất mặn ra khỏi vỉa sét, thay vào đó có nước ngọt trẻ hơn đến
tẩm vào, nhờ các lòng máng cổ dẫn nước về, cho đến khi sét no nước mới thôi.
Trong những vỉa sét nước lợ, đỏ và dầy, thường có những lịng sơng nhỏ cắt ngang, mùa lũ
mang cát từ trong đất liền đến lấp đầy trũng, tạo nên những vỉa nước treo có trữ lượng giới hạn.
Theo chúng tơi, ở lịng đất huyện Cần Giờ, nếu khơng thấy nước ngọt nơi lịng máng quan trọng
(có chiều dày vài mươi mét), thì khơng nên đi vào các vỉa nước treo. Báo hiệu của vỉa nước treo
loại này là một lớp sét đỏ, cực dẻo, mỏng, nằm ngay trên vỉa cát. Đó là đá latêrit tiềm ẩn, gặp khí
trời là nó hố cứng như đá ong ngay. Sự hiện diện của latêrit tiềm ẩn rất có ích cho việc dự báo
cứng nhắc, thiếu loại trừ và phản biện, các tác giả trước đây đã rơi vào lỗi lầm về phương pháp
luận nên khơng thu được kết quả.
Dạng chi chít của lòng máng cổ là một qui luật của các hạ lưu trong khu vực nóng ẩm có gió
mùa. Dạng chi chít như vậy khiến cho kỹ sư khoan giếng, khi khoan trúng vào hai lòng máng
nằm cạnh nhau, lại ngỡ rằng khoan vào cùng một “thảm” chứa nước. Thật ra, tầng chứa nước
không giống như “bánh da lợn” mà là một mực sâu cụ thể, nơi đó lịng máng đan vào nhau như
những ống nước đan thành một lưới khá nhặt. Đa số các kỹ sư khoan từng phát hiện một dạng
phên sưa đầy dòng nước ngọt. Dạng này chỉ thấy được nơi một mơ hình nổi do các giếng khoan
tập hợp lại.
Điều rắc rối là, theo xác suất, người khoan giếng có thể rơi ngay vào khe hở của mặt phên, do
vậy chẳng có nước ở mực sâu dự kiến. Nếu gặp “vận may” mũi khoan đi sâu hơn vài mét, rơi
ngay vào một lòng máng cổ hơn, nước trào lên miệng giếng. đến khi “vận rủi”, khoan đến 10 mét
nữa chưa có lòng máng mũi khoan đành dở dang. Nếu nắm vững mơ hình sắp xếp của lịng
máng, bấy giờ nên nhích mũi khoan theo chiều ngang thì sẽ gặp được lịng máng đã bị ngắm hụt.
Đó là trường hợp dùng <i>kỹ thuật khoan xiên</i> của địa chất dầu khí.
Trong bài học tiếp thu được từ các đội khoan của Trung Ương và của thành phố, chúng tôi
thường thấy rằng chỉ dời khoan vài mươi mét thì kết quả khác hẳn. Nhiều người khoan giếng lão
luyện bảo rằng khoan cho xí nghiệp bên này đường có nước rất tốt, cịn khoan cho cơng ty bên
kia đường, lại gặp tồn sét đỏ. Nhận xét này nói lên bề ngang giới hạn của lòng máng chứa nước
ngầm.
Từ quan niệm tầng nước ngầm là một thảm mênh mông và liên tục, đến thực tiễn các lòng
máng ốm và dài bện vào nhau như lưới nhặt, ta phấn khởi hay nên lo ngại? Đứng về mặt lý luận
mà nói, thảm nước liên tục tạo nhiều thuận lợi cho người khoan (phóng đâu trúng đó, như mọi
người mong ước), còn mạng lưới lòng máng gây lo ngại (có khi phóng “sai” gặp giếng khơ).
Thật ra, mạng lưới lòng máng là điều đáng phấn khới, diện tích chung của các sạn thơng trong
tầng chứa nước có giảm (nhưng khơng đáng kể), điều này được bù lại bằng một mức cung cấp
liên tục và dồi dào từ nguồn về. Nghiên cứu trầm tích học của phù sa cổ nơi hệ thống Đồng Nai,
các tác giả nghiêm túc trước đây (Lê Văn Triết 1967, Nguyễn Ngọc Quỳnh 1968 – 1972, Nguyễn
Hữu Phước 1974 – 1978) cho thấy dòng chảy cổ đi từ Bắc và Đông Bắc xuống. Những lòng
máng cổ, do sự mài mịn của khối nâng phía Bắc, đã lộ lên khỏi mặt đất, nơi các thung lũng sông
hoặc các chỗ trũng. Từ các nơi ấy, nước sông và nước mưa đã thấm vào, gom lại và chảy rỉ về
dưới dốc. Đây là cơ sở của sự phấn khởi, nhất là khi thực tế cho thấy có thời gian bổ sung rất
ngắn của nước ngầm sau khi giếng đã cung cấp nước liên tục trong một thời gian nhiều năm.
Một khi cấu trúc đã <i>xong, bản đồ nổi của các tầng chứa nước</i> trở thành hiện thực. trước khi
muốn khoan ở địa điểm nào, chỉ cần nhìn vào bản đồ này để chọn tầng nước thích hợp, như một
bác sĩ giải phẫu nhìn vào ảnh chụp tia-X của cơ thể người bệnh, trước là định bệnh, sau đặt con
dao mổ đúng chỗ. Tp. Hồ Chí Minh là một trong vài thành phố của thế giới có một bản đồ như
vậy. Vì đi quá xa theo mũi nhọn tiến bộ thế giới, nên một cơng trình như thế đã bị lãng quên.
máng kín, và lưu lượng của nó ra sao. Viện Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Gia, phối hợp với cơ
quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) và trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh,
đã đưa kỹ thuật <i>đồng vị thuỷ văn</i> vào nghiên cứu các vấn đề nêu trên. Đây cũng là một kỹ thuật
rất hiện đại, mà trừ Nhật và Úc ra, chưa có nước nào ở Đơng Á – Thái Bình Dương sử dụng được
trong giữa thập kỹ 80 này (*).
Kết quả đến năm 1986, sau 4 năm vật lộn với các loại nước ngầm, cho ta thấy có ba nhóm
nước, phân theo tích tỉ lệ đơtêrit/ơxy – 18. Một nhóm nước trẻ, do các trận mưa thời Hai Bà
Trưng để lại, nằm ở 30 mét phù sa cổ trên cùng. Một nhóm thứ hai, có tuổi của nước mưa thời
Vua Hùng, nằm từ 30 – 80 mét. Nhóm thứ ba sâu hơn 100 mét, đến 200 – 300 mét, có tuổi từ
10.000 đến 20.000 năm, thì bắt nguồn từ đất Campuchia. Nguồn của nước đều từ nước mưa, do
đó; nó được bổ cấp hàng năm: nước ngầm của thành phố ta không phải là túi cô lập, mà thuộc về
một hệ thống mở ở hai đầu; phần nguồn hứng nước mưa, ở đất cao, phần cuối thông ra biển
Đông. Nước chảy tự nhiên theo triền ngầm, mỗi năm từ 30 – 50 mét, do đó nếu khơng dùng hết,
nước ngầm sẽ mất hút ngồi biển; cịn dùng quá độ, nước biển sẽ ngấm vào đất liến, nhưng nền
móng thì khơng bị lún chìm hay sụp lở như đối với hệ thống kín (dùng bao nhiêu sẽ hết bấy
nhiêu).
Việc bổ cấp ở đầu nguồn, cho đến nay, đã được hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An chứng minh. Khi
hai hồ này chứa nước, mực nước ngầm ở thành phố, vào mùa kiệt nước nâng cao hơn các năm
trước, từ 0,5 đến 1,2 mét. Đây là kỹ thuật bổ sung nhân tạo, cũng là kỹ thuật hàng đầu trên thế
giới, dùng để lọc nước, dẫn nước và tồn trữ nước mưa một cách tuyệt đối an toàn.
<b>Cấu trúc chứa nước nằm bên dưới Thành phố Hồ Chí Minh</b>
<b>Một di tích của rừng mưa nhiệt đới tại Thành phố Hồ Chí Minh</b>
<b>(cặp cây đa quận 1)</b>
___________________________________
<b>Bãi biển cần giờ, nơi Thành phố Hồ Chí Minh vươn ra Biển Đơng</b>
<b>Đất giồng (cát gió) tại Cần Thạnh, nơi trồng được cây ăn trái</b>
<b>Một cách giữ giồng cát đừng tràn vào đất liền: trồng cây phi lao</b>
<b>Đất cát pha giữa giồng:</b>
<b>ngập thuỷ triều ngày hai lần, chứa Đước, Mấm, Dà và Chà Là </b>
<b>đất sét mặn, đầy phèn tiềm tàng (pirit) của đầm lầy mặn:</b>
<b>ngập triều thường xun, được tái trồng Đước làm rừng phịng hộ.</b>
<b>Cơng tác tái trồng rừng tại các nơi thất bại của các vng tơm</b>
<b>4. TÀI NGUN KHÍ HẬU </b>
<b> 4.1. Đặc điểm khí tượng của thành phố</b>
Cũng như toàn miền Nam, chế độ mùa mưa và mùa nắng tương phản nhau, vẫn không làm cho
nguồn năng lượng mặt trời giảm sức ảnh hưởng từ mùa này sang mùa khác một cách đáng kể.
Nói chung, so với một thành phố ở khí hậu ơn hồ, như Thượng Hải, Đông Kinh hay Paris, mỗi
mét vuông nhận không tới 1,395 kW, trong đó có 30% hắt trở lại khơng gian và 47% tạo ra sức
nóng sưởi ấm thành phố ta. Lúc bị mây bao phủ, sức nóng đó khơng thốt đi được, tạo ra oi bức
khó chịu: đó là hiện tượng của chuyển mưa. Số cịn lại là 22,99% tạo nên khí hậu, kể cả gió, bão,
sóng, bốc hơi. Chỉ cịn 0,01% là dùng xho cây xanh tạo ra sự sống cơ bản, làm nguồn thức ăn
cho các sự sống khác.
Nếu lấy đơn vị là kilơcalo/m2/năm, thơng số cơ bản vềdịng năng lượng mặt trời là 1.700.000
kC vào đến mặt đất, cây xanh chỉ hấp thu được 410.000 kC, mất đi 389.190 kC để tạo một sinh
khối bằng 28.010 kC. Từ đó, lên đến con người, chỉ cịn độ 13 kC mà thơi. Như vậy, nếu khơng
đưa khoa học kỹ thuật vào đây để tăng năng suất, thì vành đai của ngoại thành khơng nuôi nổi
cung cấp về dòng năng lượng thì nó sẽ trở thành một thành phố chết trong khoảnh khắc.
Những nghiên cứu cơ bản tổng hợp trên thế giới về nhu cầu của con người, đo theo đơn vị
kilôcalo (kC), được phát biểu khá đầy đủ:
Người tiền sử (loại vượn người): 2.100 kC/ngày
Người bộ lạc (kiểu sốngở sa mạc châu Úc): 4.200 kC/ngày
Người nông nghiệp lạc hậu: 15.000 kC/ngày, đây là trường hợp nông dân ngoại thành.
Người nông nghiệp tiến bộ: 30.000 kC/ngày, đây là trường hợp của thị dân nội thành.
Người công nghiệp: 75.000 kC/ngày, đây là trường hợp của thị dân ở Singapore.
Người công nghệ: 230.000 kC/ngày, đây là trường hợp của thị dân ở Genève, Thuỵ Sĩ.
Số lượng kC này không phải chỉ dùng cho con người sống, mà còn tạo ra tiện nghi và các điều
kiện truyền thông khác, chúng đánh giá mức độ văn minh của xã hội. Với 2.100 kC/ngày, như
người tiền sử đã sử dụng, thì ngày nay khơng ai xem đó là sống, mà chỉ là tồn tại.
Với nguồn năng lượng đưa từ mặt trời vào, cộng thêm nguồn năng lượng của ruột đất (tạo ra
sức nóng của vỏ đất) và mặt trăng (tạo ra triều biển), rõ ràng khí hậu là biểu hiện cụ thể của
nguồn năng lượng dồi dào, phong phú cho thành phố, thừa dư cho nhu cầu, nhưng bị vương vải
khắp nơi. Tài nguyên khí hậu có đặc điểm như vậy đó: thừa thì q thừa, nhưng khơng gom lại
được thành điểm có lợi, cho nên thiếu vẫn thiếu.
<b> 4.2. Tác nhân của khí hậu</b>
<b> </b>Nhiệt độ thuộc loại cao, liên tục quanh năm, khá ổn định. Đỉnh của mùa nóng là 400C vào tháng
Với nhiệt độ như vậy, con người cũng như các sinh vật khác phải thích nghi nhiều. Hoa quả và
cây cơng nghiệp ôn đới như <i>thông</i> không phát triển tự nhiên được. trên 180C cơ thể con người
phải mất một số năng lượng nào đó để thích nghi, cho nên người thiếu ăn trở nên lừ như khi
nóng q.
Sự thích nghi của nội thành là tạo những dòng mát nhân tạo, bằng quạt mát, bằng máy điều hồ.
Cịn ở nơng thơn, người dân tranh thủ làm việc đồng áng từ mờ sương hoặc ngay lúc sụp mặt
trời.
Nhiệt độ làm cho khơng khí bị đốt nóng, hố nhẹ và bốc lên cao, từ đó tạo ra gió, rồi bão, do
khơng khí lạnh ở ngoài biển, nặng hơn, tràn vào. Những trưa hè gay gắt nhất vẫn có gió mát ở
nơng thôn. Một vài nơi, hiện tượng con trốt xảy ra, khiến cho đất màu mỡ bị hốt lên và vãi ra
khắp nơi; đặc biệt là ở những đồng trống thuộc đất gò, hiện tượng này thường xảy ra.
Ở nơi nước mặt, cũng như trên lá cây xanh, hiện tượng bốc thốt hơi xảy ra. Đo đạc tồn năm,
theo mạng lưới mới của Phân viện Khí tượng (Văn Thanh 1983), trung bình mức bốc hơi đạt
1.399 mm/năm, ngày nắng của mùa khô đạt 5 – 6 mm, còn mùa mưa đạt 2- 3 mm. Đây là những
con số tai hại khơng ít, cho người và sinh vật chung quanh. Tại Cần Giờ, không có nước ngầm sử
dụng được, và chỉ có nước mặt bị mặn quanh năm, sự sống nông thôn nhờ vào mấy tháng mưa.
Tại đây, mỗi năm chỉ có 1.600 mm mưa, thế nhưng nếu khơng giữ gìn cẩn thận, độ bốc hơi đạt
1.000 mm, tức là dù có giữ hết nước mưa lại, ta cũng chỉ cịn 600 mm nước trong ao chứa. Mỗi
nhà, muốn có nước đủ uống, hoặc phải đào ao thật rộng để hứng nước mưa, hoặc là làm ao hẹp
hơn và đậy lại bằng một thứ gì đó để chống bốc hơi.
Nhiều gia đình thả bèo lên mặt nước, hoặc làm ao rau muống, hoặc che một giàn mướp, nhưng
sự thốt hơi khơng dưới 500 mm. Tốt nhất là dùng tấm đậy bằng lá dừa nước, hoặc bằng nilơng,
thì lượng bốc hơi được kềm xuống dưới 200 mm, tức là rất kinh tế cho mỗi hộ.
Một phương pháp chống bốc hơi đã được người Úc sử dụng trên cồn cát Vũng Tàu, và cũng có
khả năng dùng ở cồn cát Cần Giờ. Vào cuối mùa mưa, họ phun lên mặt cát còn ẩm một lớp dầu
hắc dầy 0,5 mm. Suốt 6 tháng nắng, độ bốc hơi bị xoá mất, cả cồn cát trở thành một bể chứa
nước (lượng nước chứa bằng 0,3 thể tích cát). Đến đầu mùa mưa năm sau, họ lại huỷ bỏ lớp nhựa
đen, cho cồn hứng nước mưa trở lại.
Ở một số đất gị và thềm tại Thủ Đức, Gị Vấp, Hóc Mơn, và nhất là Củ Chi, nhiều biện pháp
chống bốc hơi có sáng tạo, chủ yếu là áp dụng cho cây trồng.
Khi trồng đào ở thủ đức, người ta bắt đầu xuống cây con vào đầu mùa mưa. Cạnh bên cây đào,
ở vị trí che được nắng nhiều, người ta trồng một cây đu đủ. Vào mùa khơ sau đó, cây đu đủ lớn
nhanh hơn, che nắng cho cây đào và giữ được độ bốc hơi của đất ở mức thấp nhất. Vào mùa
nắng thứ hai, cây đu đủ khơ héo, nhưng bóng che vẫn cịn đủ để giữ bóng mát cho cây đào. Đến
mùa mưa thứ ba, cây đào đã lớn và bắt đầu trổ hoa.
Một số nơi khác, như gị ơng Yệm (Thủ Đức), Gò Nổi (Củ Chi), người ta cắm một ống tre chứa
đất cạnh bên cây con và cho nước vào đó. Nước rỉ rả lan dần ra gốc cây con (đào, mít, xồi…),
cũng giữ độ ẩm cần thiết cho cây trồng.
Một cách tìm độ ẩm, tức là chống bốc hơi gián tiếp, là hạ mặt đất. Trong đất xám có cao trình
15 mét trở lên, người ta trồng cây dài ngày, cây ăn trái lâu năm bằng cách đào một giếng khơi
sâu từ 1 đến 1,5 mét và đưa cây con vào đó. Tàng cây con che miệng giếng, tạo nên một độ ẩm
khơng khí giúp cho nước không bốc hơi quá nhanh, để làm héo cây.
Cuối cùng là nhà nông kết hợp cây chuối với cây trồng dài ngày khác nhau. Bụi chuối là một
“cây nước” tự nhiên, nó ln ln giữ độ ẩm tốt cho cây con, ít ra là trong 3 năm đầu.
Ở những khu vực đất mặn, có nước mặn khoả lấp liên tục hay từng thời, việc ngăn nước lại
thành ô, như ao cá, vuông tôm, nước bị bốc hơi mãnh liệt, sau khi hố nóng đến 400Csẽ trở nên
mặn hơn, từ 20.000mg/l đến 36.000 mg/l, trong một hiện tượng gọi là <i>sắc mặn</i> (Bùi Thị Lạng
1988). Hiện tượng này là hậu quả của ô nhiễm nhiệt đi sau giai đoạn bốc hơi liên tục. Ở mức độ
này, người đầu tư ni trồng phải tính tốn: trồng thêm cây vào giữa vuông nước, và chịu mất
sản lượng thuỷ sản vì phiêu sinh trở nên nghèo đi trong bóng mát, hoặc đốn hết cây che, để bị sắc
mặn và hâm nóng mà hậu quả cũng là hạ thấp năng suất và sản lượng.
Sự chênh mực nhiệt độ khơng khí của hai khu vực cạnh nhau sẽ tạo ra gió với vận tốc tỉ lệ
thuận với sự chênh mực đó. Nói chung, thành phố ta thuộc loại mưa thuận gió hồ, khơng mấy
khi có bão đáng kể. Những cơn bão thổi từ Biển Đông vào, đều yếu dần khi đến gần thành phố.
Tuy vậy, đi dọc theo bờ biển, gió là một tác nhân khí hậu khơng mang tính xây dựng cho lắm.
Trước nhất, hiện tượng sắc mặn là do gió tác động phần lớn, vì độ quét ẩm bên trên mặt nước.
Sau đó, là <i>gió chướng</i> ghi lại dấu ấn khá rõ nét trên bờ biển Cần Giờ.
<b>Ảnh hưởng của sự biến động mơi trường đối với khí hậu</b>
Gió chướng thổi từ đông bắc về vào đầu mùa khô, với vận tốc đến 40 km/giờ, gây ra nơi vịnh
Gành Rái những đợt sóng cao đến 4 mét, chạy bủa vào bờ Cần Thạnh, khiến cho đất sụt lở nhiều
đoạn, kể cả tại chợ cá của thị trấn này. Người ta đã xây dựng kè, bằng cách chất đá hộc thành
tường dầy dọc bờ biển. Cuối cùng, sau đôi ba mùa, kè bị vùi chơn mất dạng. Hiện nay, có dự án
làm một kè ngang, nhơ ra biển để cắt sóng của gió chướng. Đây là phương án tốt hơn, cần được
kiện toàn. Tuy nhiên, cũng cần hỗ trợ kè ngang đó bằng những <i>bè cắt sóng</i>ở ngồi khơi. Bè này
làm bằng tre, được neo ngay đúng chỗ gió bắt đầu tác động lên mặt nước để đẩy mặt nước lên
thành sóng (Nguyễn Ngọc Thạch, 1973). Cứ vào mùa chướng, tàu kéo sẽ đưa bè ra neo tại giữa
Vịnh Gành Rái, làm hai hoặc ba loạt như thế, thì sóng lớn sẽ khơng còn nữa. Tại cảng
Yokohama, người nhật cắt sóng bằng cách <i>phun bọt khí</i> từ đáy lên mặt nước, ngay chỗ có mặt
tiếp xúc đầu tiên giữa gió và nước biển. GIó khơng thể đẩy nước thành sóng trên một mặt nước
“lởm chởm” bọt khí như vậy. Cách này có ưu điểm là không cản trở lưu thông tàu bè, nhưng đối
với ta, nó quá đắt so với các bó lồ ồ của bè tre.
Những người nuôi tôm trong các vng cơng nghiệp, có diện tích rộng trên 100 hecta, có chiều
Vng tơm càng lớn, sóng càng to. Cơng ty Cofidec đã có sáng kiến dùng bè tre cắt sóng với
hiệu quả rất cao; giữ vuông tôm rộng mà mặt nước vẫn im lặng trong mùa chướng.
Ở đất gị, gió cũng gây nhiều tác hại không kém. Những loại cây chịu gió kém, như hồ tiêu và
cà phê, địi hỏi những rào chắn gió hữu hiệu. Nhà nơng ở đây tận dụng các cây mọc nhanh, như
dâu tằm, anh đào, v.v…đã đạt được kết quả khả quan, mà không phải đầu tư đáng kể, ngược lại
cịn có nguồn chất đốt cho gia đình.
Hình như chỉ có một nơi mong có nắng và có gió nhiều nhất ở thành phố ta. Sân phơi lúa
chăng? Vâng, cũng có thể, nhưng lúa ta có bao nhiêu, đường nhựa đen là sân phơi lý tưởng về
mọi mặt, ít gió một chút cũng chẳng sao. Chúng tơi muốn nói đến ruộng muối ở cần giờ. Cửa
biển của chúng ta nước lợ nhiều hơn nước mặn, đủ độ Clo để không dùng cho sinh hoạt được,
nhưng lại thiếu độ Natri làm muối. Ở ruộng muối, nắng bao nhiêu, gió bao nhiêu cũng khơng đủ
bởi vì muốn biến nước biển thành đá muối, không thể không dùng dồi dào năng lượng thiên
nhiên được.
<b>5. TÀI NGUYÊN SINH VẬT TRÊN CẠN </b>
<b> </b>Như trên đã nói, nguồn năng lượng mặt trời, thơng qua các tác nhân khí hậu, là cội nguồn của
sự phát triển trong giới sinh vật. Chính nó là động lực bên trong của những biểu hiện sinh thái
bên ngoài. Như vậy tài nguyên sinh vật ở chừng mực nào đó, là tài ngun khí hậu. Khí hậu nào
sẽ tạo tài nguyên ấy trên một giá đỡ thích hợp.
<b> 5.1. Tài nguyên rừng</b>
<b> </b>Trên thực tế dấu vết của rừng dầy nhiệt đới đã vắng mặt cách nay 50 năm, khi đất xám Gia
Định, nối dài từ Trảng Bàng xuống, từ Củ Chi và Thủ Dầu Một qua, được đưa vào đồn điền cao
su. Ở Thủ Đức, Phú Thọ, Gị Vấp, Hóc Mơn, Củ Chi, đâu đâu cũng có loại cây cao su đất xám
của người Pháp, tuy ít lượng nhưng rất nhiều chất. Chúng không giống những đồn điền cao su
đất đỏ ở Bình Dương – Bình Phước, Đồng Nai, tuy nhiều lượng nhưng kém chất hơn.
Cho đến các năm 50, một vài cụm rừng già cịn sót lại ở chân núi châu thới, gồm có dầu, bằng
lăng, sao, kiểu rừng còn thấy cho đến các năm 60 ở Bình Dương, Bình Phước (Lê Công Kiệt
1987). Nhưng vài năm sau đó, nhu cầu gỗ xẻ trong chiến tranh đã làm chúng biến mất, kể cả một
số đồn điền cao su ở ngoại thành. Rừng dầy mất đi, bụi rậm mọc lên khắp nơi, có chỗ thành được
rừng chồi, có chỗ tiếp tục sa sút thành trảng cỏ. Cùng với chiều hướng suy thối của rừng, cịn có
chiều hướng suy thoái của đất và nước tẩm, khiến cho du khách trước kia rất thích thú du ngoạn
ở Thủ Đức, Lái Thiêu, Hóc Mơn, Củ Chi, nay thấy rõ những ùng đất khô cằn bát ngát, chỉ mong
băng qua thật nhanh chớ không dám dừng chân. Suối Xuân Trường nổi tiếng ở Thủ Đức khi còn
tán rừng Châu Thới sum suê, đã khô và mất dấu vào các năm 60. suối Lồ Ồ và Suối Tiên, cũng
Những nơi nào rừng được thay bằng vườn cây thì cảnh tươi mát của giữa thế kỷ này vẫn cịn
duy trì. Tại Hóc Mơn, kinh tế vườn còn giữ được mức độ cũ. Mười Tám Thơn Vườn Trầu quả là
nơi cịn một cái gì hấp dẫn của tán cây rừng già. Một vài nơi, trong sân những đình chùa có hơn
trăm năm lịch sử, những cây dầu hai người ơm gợi lại hình ảnh của tầm cỡ rừng già.
vọt”, hoạt động liên tục trong mùa nắng, như những cần bơm dầu ở rìa sa mạc Sahara, tạo ra một
mùa mưa thứ hai trên đám rau đậu tươi mát. Những trảng cỏ không tồn tại được vào mùa nắng,
vì thiếu nước, đất xám bị silic hoá tạm thời, trở nên cứng như đá. Chảo cày thép lăn trên đất
không hề lún dưới dây xích xe tăng, vang lên như lăn chiếc thùng sắt trên xi măng.
Việc trồng cây gây rừng, vì thế, khơng phải dễ thực hiện, mặc dù thành phố đã cố gắng nâng
diện tích lên hàng vạn hecta. Các nghiên cứu cơ bản cho thấy sinh khối của thực vật ở cạn
(gam/m2 lá xanh/ngày) cho thấy rất rõ:
- Rừng thông bảo lộc 9
- Trảng cỏ 0,1
- Rừng già 6
- Sa mạc 0,05
Khi sinh khối tự nhiên đã giảm từ 9 đến 0,1 ở một số nơi của đất xám, tức là hạ xuống 90 lần
sản lượng, thì rõ ràng cần đầu tư 100 lần hơn trồng cỏ để trồng rừng. Nay ta chưa đầu tư đủ trồng
cỏ, thì cũng khó có sức gây rừng.
Tuy vậy, khoa học về rừng đã sớm cho thấy có nhiều loại cây thâm mộc có khả năng thích nghi
với mơi trường khắc nghiệt để vươn lên như tràm bông vàng, bình linh đại, bạch đàn, đào lộn hột
v.v...nên việc đầu tư trồng rừng sẽ ít tốn kém hơn trồng cỏ. Thực tế cho thấy nhiều cụm rừng
kiểu đó đã xuất hiện ở Thủ Đức, Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Mơn và đang có đà phủ xanh thành
phố trở lại. Gần đây, khi cây bạch đàn đã được chứng minh là không làm hư đất, không làm
hoang mạc môi trường cũng như không làm ơ nhiễm khơng khí, người ta mới mạnh dạn trồng nó
để làm bột giấy và xuất khẩu gỗ. Quả thật là một cây anh hùng, trồng ở đất nào cũng được và
chẳng đòi hỏi một sự chăm sóc đặc biệt nào.
<b> 5.2 Tài nguyên nông nghiệp</b>
<b> </b>Với một quỹ đất nơng nghiệp gồm 1/5 diện tích phù sa nhạt khơng phèn, khơng mặn, và một ít
đất trũng ở thềm dễ ráo vào mùa nắng, và nếu rút kinh nghiệm của đồng bằng sông Cửu Long, là
không nên canh tác lúa với bất cứ giá nào (Võ Tòng Xuân, 1989), thế mạnh nông nghiệp của
vành đai xanh ngoại thành cần được tính tốn lại. Những thơng số kinh tế kỹ thuật sẵn có của Cơ
quan Lương Nơng Quốc Tế (FAO) áp dụng vào bản đồ thích hợp canh tác của TP. Hồ Chí Minh,
sẽ giúp ta biết đầu ra của từng thửa ruộng, tính được tỉ lệ vốn/lời để lập luận chứng đầu tư.
Mỗi tỉnh của Nam Bộ, có diện tích non 5 lần hơn thành phố, cũng có đất mặn, đất giống kiểu
Cần Giờ, và đất nơng nghiệp khơng phèn kiểu Bình Chánh, Nhà Bè, là Minh Hải, được áp dụng
một <i>phương pháp điều tra cơ bản tổng hợp</i> rất hiện đại của Chương trình 60B, cho thấy khơng
với phương pháp tốt đó, cung4 có thể suy rằng chúng ta khó vượt trên 0,8 triệu tấn mà không phá
vỡ qui luật môi trường, và cả qui luật kinh tế (trồng lúa theo kiểu bao cấp, với bất cứ giá nào).
Ban chỉ đạo phát triển của Tỉnh đi đến một quyết định rất quan trọng: không chạy theo số lượng
Không nên đầu tư nặng về thâm canh tăng vụ, mà chỉ giới hạn vào một số diện tích nào đó. Cịn
bao nhiêu đất lúa tốt, xốy vào trồng lúa mùa xuất khẩu, với các giống nổi tiếng là ngon cơm ở
địa phương. Đây là một gợi ý tốt cho thành phố ta, vì chẳng những chúng ta cần lúa tốt xuất
khẩu, mà cần cả lúa tốt để chế biến thành sản phẩm cao cấp để xuất khẩu. Những nơi có lúa ngắn
ngày với chất lượng khơng xuất khẩu được, thì dùng cho chăn ni. Nếu chăn ni tốt hơn, ta sẽ
có nhiều đạm hơn bột. Bữa ăn của người dân sẽ văn minh hơn, và có các thế hệ mai sau sẽ thơng
minh hơn bây giờ: đạm hố bữa ăn là chiến lược cơ bản để đưa nền văn minh của thành phố đi
lên, giúp con cháu chuẩn bị kịp đua tranh với các nước láng giềng trong thế kỷ 21.
Đối với đất xám, những nơi nào chưa trồng rừng, mà có điều kiện tốt về nước (mưa <i>hai </i>mùa
mỗi năm) qua cân đối tài nguyên nước, nên phát triển cây công nghiệp xuất khẩu. Trước nhất là
hồ tiêu, một cây quan trọng của ngành kinh tế đối ngoại, đã được người Hoa đưa vào trồng lần
đầu tiên ở Nam bộ tại Hóc Mơn, cách đây 200 năm, vì đất đai và khí hậu rất hợp. Hiện nay, khắp
nơi có đất xám đều có vườn hồ tiêu. Cây tiêu và cây trầu đều cùng giống với nhau, nên Mười
Tám Thôn Vườn Trầu ở hóc mơn đã trở thành Mười Tám Thơn Vườn Tiêu với năng suất 2 kg
mỗi dây/năm. Một vườn nông dân cá thể, trồng 100 gốc tiêu trên thân cây cau, thu được từ 180
đến 230 kg vào mùa khơ. Tất nhiên cơng chăm sóc, bón phân, trừ sâu không phải nhỏ, nhưng 1
công hồ tiêu bằng 1 hecta lúa là điều đáng làm, để tránh vất vả không cần thiết cho nhà nông.
Thành phố cũng có 5.000 hecta rau cao sản xuất khẩu ở trên đất xám. Một số nơi còn trồng cả
hoa, như ở Tân Bình, Gị Vấp và thủ đức. Thuốc lá được phát triển ở Gò Vấp và Thủ Đức, là mặt
hàng tốt. cây thuốc nam cũng xuất hiện nhiều nơi. Đó là những sản phẩm khơng thể thiếu được,
có nhu cầu trong và ngoài nước. Trước năm 1975 rau quả của Sài Gòn xuất đi Singapore và
Hồng Kông, nay lẽ nào lại kém hơn chăng?
Gần đây, mặt hàng xuất khẩu đã rộ lên, là cây phong lan, một thứ cây không cần bản đồ địa
mạo thổ nhưỡng. Hoa đã được xuất khẩu và nếu biết kết hợp khoa học với kỹ thuật và kinh tế đối
ngoại, như Thái Lan đã đi, thì đối với hệ thống các nước XHCN cũ, phong lan Sài Gòn sẽ giữ vai
trò của phong lan Bangkok ở các nước còn lại.
Tưởng cũng nên kết hợp tài nguyên rừng với tài nguyên nông nghiệp ở cây đào lộn hột. Một
cây sa mạc cũng rất anh hùng mà vai trị xuất khẩu và cơng nghiệp hố chất của nó cũng khơng
nhỏ. Nói cây rừng, thì đây là cây của đất xám khơ cằn, trồng đâu mọc đó như cây bạch đàn. Nói
cây nhà, thì đây là vườn cây ăn trái, sum suê, đẹp đẽ và không ô nhiễm đến người, cây nên thuốc.
Kẹo hột điều có lẽ là loại ngon nhất thế giới về thể loại của nó.
<b>6. TÀI NGUYÊN SINH VẬT DƯỚI NƯỚC</b>
<b> </b>Thuỷ vực của TP. Hồ Chí Minh chứa đất phèn và đất mặn. Nước bên trên ít khi ngọt, mà cũng
mặn và cũng chua. Một vài lịng sơng lịng suối trên đất phù sa mới có nước ngọt và đất lành cho
thuỷ sản, nhưng chắc không đáng quan tâm.
<b> 6.1. Tài nguyên rừng</b>
<i><b> R</b>ừng ngập mặn</i> chiếm một diện tích 40.000 hecta là một tài nguyên rừng quí bậc nhất của
Đây là một tổng thể hài hoà do sức sống lấn biển trong suốt 5.000 năm qua, do vậy môi trường
tự nhiên nơi đây biến động theo <i>nhịp điệu</i> rõ ràng: nhịp điệu nửa ngày của triều biển, nhịp điệu
mỗi ngày của ánh nắng mặt trời, nhịp điệu nửa năm theo hai mùa mưa nắng và nhịp điệu trầm
tích kiến tạo thì lâu hơn. Các yếu tố tự nhiên, lập nên tổng thể hài hoà này, mỗi khi tăng hoặc
giảm đột ngột, tạo nên sự cố về mơi trường mà hậu quả khó lường trước được. Do vậy, mọi khai
thác ở nơi đây đòi hỏi sự cân nhắc thận trọng, sao cho đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất mà kế
hoạch tồn tại liên tục trong nhiều chục năm.
Bằng phương pháp điều tra cơ bản tổng hợp khu vực này từ các năm 60 đến nay, chúng tôi xác
lập những yếu tố cụ thể của môi trường, đề ra các dạng tài nguyên và lập phương án khai thác
chung một cách hợp lý.
Sông Đồng Nai trước đây đã tải ra ngoài cửa một chục triệu mét khối cát bùn và đất sét, lập nên
phù sa trẻ trải lên một móng phù sa cổ khá ổn định.
Rừng ngập mặn có lượng mưa trung bình 1000 – 1200 mm/năm. Mùa mưa kéo dài 6 tháng,
mùa nắng cũng kéo dài 6 tháng (mùa mưa: tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11 và mùa nắng: 12, 1, 2, 3, 4 và
5). Ở Gò Nhơn Trạch, lượng mưa thường đạt 1.400 mm/năm. Nhờ đó rừng ngập mặn phát triển
rất phong phú. Vào các năm 1968 – 72, dù bị chất độc khai hoang tàn phá nặng nề, đến sau năm
1978 rừng bắt đầu tái sinh mạnh mẽ trở lại. Sau đó, rừng có bị đốn phá, nhưng ngày nay nhờ Sở
Lâm Nghiệp nỗ lực trồng lại, rừng phủ xanh 10.000 hecta, tức là phân nửa diện tích cần trồng.
Nước mưa chảy theo triền, cùng nước sông, mang phù sa lơ lửng và thức ăn, trôi vào rừng ngập
mặn, tạo ra đới <i>phù du</i> phong phú tại đây, khiến cho thuỷ hải sản tự nhiên đạt mức độ cao nhất
của các rừng ngập mặn ở Nam Việt Nam. Đây là qui luật môi sinh có tầm quan trọng cơ bản về
mặt kinh tế. Tất nhiên là cây rừng tại chỗ cũng đóng góp một lượng thức ăn bằng phần phân huỷ
của chúng, gọi là <i>hạt bé hữu cơ</i>, nhưng mọi ngăn cách với nguồn thức ăn, nơi các vùng đất cao
vây quanh, sẽ mang đến hậu quả tai hại về lâu dài (đập Trị An và Dầu Tiếng).
Sự xâm nhập mặn kết hợp với các đơn vị phù sa ngập nước tạo ra những cơ sở cư trú cho thuỷ
sản. Độ mặn tăng và giảm theo mùa tại một địa điểm. Một lằn ranh mặn 4% NaCl vẽ theo tháng
cho thấy vào tháng kiệt nhất, nó nằm ở đập Ơng Nhiêu, cịn vào tháng 9, nó đến tận Đỗ Hồ
(trong tháng 6/87 tại Đỗ Hồ, nước sơng Lịng Tàu khơng vượt q 1%). Độ mặn tăng nhanh về
phía sơng Thị Vải và rất chậm về phía sơng Sồi Rạp, điều đó cho thấy lưu lượng Đồng Nai gần
50% đổ ra cửa sông này, ảnh hưởng của đập Trị An chưa cao.
Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến thảm thực vật và thuỷ hải sản, cho nên độ mặn tối ưu 18 phần
ngàn NaCl thường được dùng làm chuẩn phân biệt tôm cá nước mặn với tơm cá nước lợ. Trung
bình đường 18 phần ngàn đi từ giữa sông Vàm Sát sang đến giữa sơng Đồng Tranh.
Cũng như tồn bộ Rừng Sác Gia Định và các rừng ngập mặn khác ở Việt Nam, sản phẩm của
Cần Giờ tỏ ra rất phong phú và đa dạng. theo cách liệt kê của FAO – UNESCO trong quyển
“Sách Đầu tay về Quản lý Rừng Ngập Mặn” (1984), các tào nguyên gồm những sản phẩm trực
tiếp và gián tiếp.
nghiệp (hoá chất cơ bản, bột giấy, keo, sợi viscôz), thực phẩm, dược liệu, vải, da, phân khoáng,
v.v…Sản pẩm gián tiếp gồm tơm cá, ngao sị, chim, thú, ong mà giá trị trị xuất khẩu đạt đỉnh rất
cao. Cơng trình nghiên cứu trong 30 năm qua của trường Đại học Tổng hợp TP. HCM ( và Đại
học Khoa học Sài Gịn trước kia) cho thấy thảm rừng có những loại cây trụ cột cho nền kinh tế
của TP.HCM như mấm, đước, bần, nét, vẹt, cui, cọc đỏ, cọng vàng với giá trị về gỗ, chất
xenluloza và hoá chất, đều được thực tiễn công nhận trong hai thập kỷ vừa qua (Bảng 1 và 2).
Vì rừng ngập mặn giữ vai trị then chốt, cho nên dù có khai thác bất cứ tài nguyên nào, việc bảo
vệ rừng vẫn là pháp lệnh. Mục tiêu bảo vệ mang tính đa dạng, nhưng trong đó, có mơi sinh của
các sản phẩm gián tiếp là tôm cá. Chúng ta giữ rừng để ni thuỷ hải sản, và chỉ có rừng mới là
tài nguyên chiến lược ở đây.
<b>Bảng 1: LIỆT KÊ SẢN PHẨM KINH TẾ CỦA RỪNG NGẬP MẶN</b>
<i><b>1. S</b><b>ản phẩm trực tiếp</b></i>
<i><b>A. Nhiên li</b><b>ệu:</b>Củi đốt gia đình, củi hong sấy thuỷ sản</i>, củi hong sấy bành cao su, củi dùng cho lò
gạch, gốm, than củi chạy máy nước đá LNG, cồn đủ loại.
<i><b>B. Xây d</b><b>ựng:</b>Gỗ xây dựng đủ loại</i>, cừ, gỗ lót đường sắt, gỗ lót sàn, trụ rào, ống dẫn, ván ép, keo
dán, chất kết dính, đá xây dựng.
<i><b>C. Đánh bắt thuỷ sản:</b>Chà, nọc</i>, phao, <i>chất thuốc cá, tananh để nhuộm lưới, rọ bẫy tôm cá.</i>
<i><b>D. Nông nghi</b><b>ệp:</b></i>Cỏ chăn nuôi, <i>phân xanh, thức ăn gia súc.</i>
<i><b>E. Công nghi</b><b>ệp giấy:</b></i>Bột giấy đủ loại.
<i><b>F. Th</b><b>ức ăn, uống, thuốc trị bệnh:</b></i> Đường, cồn, dầu ăn, dấm, trà giả (thay cho trà), nước lên
men, <i>trái cây đặc sản</i> (ví dụ: nhãn, mãng cầu), gia vị, <i>hương liệu</i>, thức ăn, rau quả, giấy vấn
thuốc hút, <i>dược liệu đa dạng.</i>
<i><b>G. D</b><b>ụng cụ trong nh</b><b>à: </b></i>Bàn ghế, keo dán, dầu xức tóc, gội đầu, <i>dụng cụ cầm tay</i>, cối xay lúa, <i>đồ </i>
<i>chơi trẻ em</i>, dụng cụ thể thao, <i>hương liệu, thuốc xông, que diêm.</i>
<i><b>H. V</b><b>ải, da:</b></i>Sợi tổng hợp viscô, thuốc nhuộm vải, <i>tananh cho da giầy.</i>
<i><b>I. Các th</b><b>ứ khác:</b></i>Bao bì, <i>thùng gỗ xuất khẩu</i>, chất tẩy rửa, sét gạch ngói, phân vơi lân, phân kali,
sạn sỏi trang trí, <i>kỷ vật du lịch và văn hoá.</i>
<i><b>2. S</b><b>ản phẩm gián tiếp</b></i>
<i><b>A. Cá:</b>Thức ăn đủ loại</i>, nước chấm, <i>phân bón.</i>
<i><b>B. Tơm, cua: Th</b>ức ăn</i>
<i><b>C. Sị, </b><b>ốc:</b><b> Th</b>ức ăn, chất vơi, vật liệu trang trí, kỷ vật.</i>
<i><b>D. Ong: M</b>ật, sáp.</i>
<i><b>E. Chim: </b></i>Thức ăn, lơng vũ, du lịch, quan sát.
<i><b>G. Bị sát: Th</b>ức ăn, da, du lịch.</i>
<i><b>H. Các th</b><b>ứ khác:</b><b> Th</b>ức ăn, du lịch, giải trí</i>
<b>* </b>
<b>* * </b>
Với đập dầu tiếng và trị an thiết lập trên nguồn, phù sa sẽ không về để lấn biển nữa, rừng ngập
mặn theo độ xâm nhập mặn nới về nguồn: rừng dừa nước sẽ được thay bằng mắm, đước, rừng
bần sẽ được thay bằng dừa nước. Việc nới rộng diện tích rừng kiểu đó địi hỏi phải hy sinh nơng
nghiệp đất mặn cho rừng và tôm cá nước mặn.
<b>6.2 Tài nguyên thủy hải sản</b>
<b> </b>Đứng về mặt chiến lược mà nói, ở Rừng Ngập Mặn Đồng Nai, thuỷ sản thuộc loại phong phú
nhất nước, đi từ nước nhạt sang nước lọ, và nước mặn, có thể ni và tái tạo hàng năm trong môi
trường tự nhiên. Nếu nắm vững môi trường này, và rõ được sinh lý từng loại, ta có khả năng định
cư và vỗ béo nó để đưa vào khai thác, với vốn đầu tư khơng đáng kể so với đánh bắt ngồi biển
khơi.
Về mặt chiến thuật, nuôi và khai thác thuỷ hải sản tại chỗ sẽ có liên hệ với nông nghiệp, lâm
nghiệp, giao thông thuỷ bộ. Sự phát triển về thuỷ sản, dù là thuỷ sản đáy hay là thuỷ sản nước
điều chịu tác động của sự phát triển những ngành kia. Ví dụ thuốc trừ sâu rầy của bộ phận nông
nghiệp sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp thủ tiêu thức ăn của tôm cá, và cả tôm cá nữa. Việc đốn rừng
bừa bãi đưa đến mất cân đối về độ ẩm, về sóng, gió, ánh sáng, cũng có tác hại khơng kém. Nạo
vét lịng sơng, đắp đê đập, thực hiện thường xun qua rừng ngập mặn đã có những hậu quả rõ
nét. Do vậy, mỗi cơng trình thực hiện ở rừng ngập mặn này đều buộc phải tuân thủ điều kiện tiên
quyết là ổn định môi trường vật lý.
Mọi xáo trộn về môi trường này, nếu ở đây đem lợi cho ta, thì chỗ kia gây hại khơng kém. Cho
nên đối với tôm cá, và các thuỷ sản khác, việc theo dõi địh kỳ các biến động của môi trường vật
lý là điều bắt buộc.
Kinh nghiệm nhân dân lẫn hiểu biết của thế giới đều công nhận rằng đánh bát tôm cáở đáy nước
sông rạch không làm thay đổi mơi trường rừng ngập mặn. Tính phong phú của loài này hay loài
nọ trong rừng ngập mặn đều tuỳ thuộc vào thức ăn sẵn có của khu vực, nhưng thất bại đa số tuỳ
thuộc vào tổ chức đánh bắt. Chỉ rất gần đây, mọi người mới chấp nhận rằng chính rừng ngập
mặn mới là nơi duy trì tơm cá một cách có ý nghĩa.
Nếu đáy là phương tiện ơn hồ, thì cào, xiệp là các phương tiện thường gây tác hại <i>chỗ ở</i> của
tôm cá, mặc dù không ảnh hưởng đến môi trường.
Thức ăn cơ bản của sinh vật nơi rừng ngập mặn là những hạt hữu cơ xuất phát từ lá, thân và rễ
mục của cây rừng. Mỗi năm, lượng hữu cơ rơi vào nước đi từ 10.000 đến 14.000 kg chất khơ trên
mỗi hecta. Ngồi ra cịn có các phù du thực vật mang tính tự dưỡng. Ở cấp cao hơn, những động
bản, và hai là nếu phải thu hoạch một số lượng lá làm thức ăn cho gia súc hay tơm cá, thì dứt
khoát sẽ làm nghèo kiệt lượng thức ăn trên, do chỗ đó, vẫn giữ mơi trường rừng ngập mặn như
nguyên thuỷ, cỉ đắp đập những chỗ trống tự nhiên, thêm vào đó, nên làm đồn điền thức ăn gia
súc bằng cách trồng riêng lẻ những khoảnh rừng gồm ba thứ cây mấm, đước và nét mà Bảng 2 đã
cho thấy số liệu rất tốt về nguồn dinh dưỡng. Theo bảng này, cây Mấm (<i>Avicennia marina</i>), Nét
(<i>ceriopsrox burghiana</i>) và Đước (<i>Rhizophora mucronata</i>) đều là những loài có thể đưa vào dạng
đồn điền để thu hoạch một cách cân đối. Nếu sử dụng gỗ của chúng vào cơng nghiệp bột giấy thì
việc đốn rừng xoay vịng lại càng tạo mối lợi lớn.
<i><b>B</b><b>ảng 2: Ph</b><b>ân tích ba lo</b><b>ại lá cây d</b><b>ùng làm th</b><b>ức ăn gia súc</b></i>
Loài Độ ẩm Na K Béo Sợi Đạm Tro Độ tiêu
hoá
Mấm
Nét
Đước
65,41
62,02
68,90
5,52
2,76
3,45
0,45
0,59
0,62
4,18
5,35
2,68
16,04
14,59
14,30
10,8
5,9
4,7
16,30
10,02
14,00
62,60
97,38
77,40
<b>(theo Kurian Patolia 1980) </b>
<b> </b>Theo ước tính sơ bộ, ở Rừng Sác Gia Định còn có nguồn thức ăn cơ bản thứ hai, là các axit
amin thải từ cống rãnh, các nhà máy chế biến thức ăn, hố xí v.v...ra lịng sơng, chúng hồ tan vào
nước để vào rừng, nơi đó được làm giàu thêm bằng các chất hữu cơ hoà tan tại chỗ.
Nơi trú ẩn của tôm cá tại rừng ngập mặn đã được khắp thế giới công nhận. Tại đây, các đơn vị
trầm tích có ranh rõ ràng về đất, và có những đặc trưng định kỳ về bản chất nước, con cá theo
nước có thuộc tính đặc biệt, như độ mặn nhạt, độ sâu, độ đục trong (nước dớn, nước thầu lền,
v.v...), và độ vận động (giáp nước, xốy cuộn, v.v...). Đặc biệt là các nơi nước nơng, có diện tích
rộng, như phẳng giữa giồng, bãi bồi, đê triều, phẳng thuỷ triều v.v...đều là nơi có sản lượng cao
hơn hết, vì hội đủ các yếu tố thích hợp của mơi trường lý hố. Độ sâu tối ưu đã được xác lập là
không quá 2 mét bên dưới mực nước biển trung bình, nhưng số liệu cụ thể của Mỹ ở Flrida là 0,3
- 0,5 mét, chiều dầy của nước có đơng tơm cá nhất. Kết hợp cới các điều kiện khí hậu, ngư dân
bủa lưới đánh bắt cạnh những nơi trú ẩn thì được năng suất cao.
Nhiều kết luận cho thấy rừng ngập mặn là một ao tự nhiên, dẫu cho khó tổ chức đánh bắt một
chút, nhưng hơn hẳn ao nhân tạo vì rất ổn định, khơng bị dịch bệnh. Tuy vậy, đối với hai chương
trình mục tiêu về lương thực thực phẩm và xuất khẩu, thì đánh bắt đơn thuần trong rừng ngập
mặn không giúp thành phố ta ổn định nguồn hàng. Như thế, ao nhân tạo cần hội đủ mặt mạnh
của trũng nước tự nhiên, đồng thời có các mặt mạnh của riêng nó, như chọn được giống, nuôi
bằng thức ăn công nghiệp và đánh bắt dễ dàng.
Sau đây là vị trí và cách ni tơm cá:
- Ni trong những lịng sơng, rạch sẵn có, bằng cách thả lưới kẽm ngăn các dịng nước. Loại
ni này được phân ra làm 2 kiểu:
Kiểu ni ở đáy (sị huyết, sị lơng, ngao...)
Kiểu ni trong lịng nước, kết hợp với bè nổi (tơm, cá, cua, sị ốc).
- Ni trên mặt bằng của rừng ngập mặn, bằng cách đắp đập nơi những khoảng trống có nước
nơng và có luồng nước đi qua. Kỵ nhất là làm ao có nước tù (khơng có cống), đốn rừng đước để
có mặt bằng và mỗi năm mỗi dời chỗ. Kiểu làm ăn bằng cách hái lượm như vậy phải bị nghiêm
cấm.
Mỗi ao rộng từ 100 đến 500 hecta, tốt nhất là nằm ngay trên cồn và bãi thuỷ triều. Nếu không
chọn giống và không cho ăn, năng suất đạt 180 – 300 kg/hecta mỗi năm cho Rừng Sác Gia Định.
Trong phương án có cho ăn dặm thêm, năng suất vượt 500 kg/hecta/năm.
Nuôi trong ao hướng ra khơi có nhiều mối lợi. Nhiều quốc gia khuyến khích biện pháp này,
xem như một kiểu lấn biển nhân tạo, thực hiện ở Cù Lao Dung, trước cửa Định An và Tranh Đề.
Các bãi thuỷ triều nông của cần giờ là rất quan trọng, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có cơng trình
nào ngồi cơng trình du lịch, dù đã có gợi ý rất tha thiết về hướng khai thác này.
Trong giai đoạn còn nghèo vốn, cần phải hết sức tôn trọng các ngư trường tự nhiên, tức ngư
cho từng địa phương nhỏ. Phương chăm giúp cho tăng năng suất là giảm hoặc thủ tiêu yếu tố
giới hạn, mà cụ thể gồm có:
- Ổ định bãi trú và ao bắt (đập tràn)
- Điều tiết nguồn nước và khí hồ tan (kinh, giếng, bom)
- Diệt sinh hại (cá sơn, cá chốt, cua)
- Bổ sung nguồn mồi (thịt của cá, hào hến, ngao sò)
- Bảo quản, vận tải, chế biến, phân phối
Ngồi việc đánh bắt, ni dưỡng cần dành vốn đầu tư cho đào tạo tay nghề và nâng cao thông
tin khoa học kỹ thuật.
Nếu nguồn thuỷ sản nước ngọt của Thành phố Hồ Chí Minh (như cá đồng và tôm càng xanh
Thủ Đức) là khơng đáng kể, thì nguồn hải sản nước lợ, đứng thứ hai sau Mũi Cà Mau trên địa
<b>CHƯƠNG IV</b>
<b>BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN – </b>
<b>MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC THẾ KỶ QUA</b>
<b> </b>Đất đai và những tài nguyên liên hệ là những yếu tố của môi trường. Mọi sử dụng tài nguyên
đều ảnh hưởng đến mơi trường đó. Do con người đã từng sử dụng tài nguyên mà không chú ý
đến bảo vệ môi trường nên có khi cả tài ngun lẫn mơi trường, đều bị thiệt hại, đôi lúc đến độ
không sửa chữa được.
<b>1. BIẾN ĐỘNG CỦA KHÍ HẬU</b>
<b> </b>Tài nguyên này có ảnh hưởng đến cuộc sống, và cũng là thuộc tính cơ bản nhất của mơi trường.
Khó có thể nói khí hậu biến đổi như thế nào trong mấy thế kỷ qua, một khoảnh khắc quá ngắn
của trái đất, mặc dù trong lịch sử cận đại của hành tinh, khí hậu đã biến đổi khơng ngừng. Thành
phố vẫn có ba đới rõ rệt: ven biển, chuyển tiếp và đất liền. Vì thế, về mặt vĩ mơ, có thể nói 300
năm trước với ngày nay, khí hậu vẫn như vậy.
Tuy nhiên về mặt vi mô, những biến động trong chi tiết đều có xảy ra ở chỗ này chỗ nọ, khi này
khi khác. Trước hết, cùng với khí hậu thế giới, khí quyển của ta chứa ít ơxi hơn (vì mất thảm
thực vật rừng già) và giàu khí cacbơnic hơn (vì sử dụng nhiên liệu, cháy rừng, núi lửa và hoá
chất), nên năng lượng mặt trời bị giữ lại trên mặt đất, làm trái đất nóng lên theo <i>hiệu ứng nhà </i>
<i>kính</i>. Hiệu ứng này làm tuyết ở hai cực tan nhanh và nhiểu hơn, đến nỗi mực biển dâng cao, nước
mặn tràn vào đất liền. Theo ước tính, biển sẽ dâng 0,5 mét trong 50 năm tới, và nếu tiếp tục trong
vài thế kỷ nữa, thì sẽ đạt 3 mét. Trong 50 năm đầu, gần 1/5 đất đai của TP. HCM, đặc biệt là <i>Cần </i>
<i>Giờ sẽ nằm dưới sóng biển.</i> sau ba thế kỷ sóng biển sẽ lại vào đến Nhà Bè và Bình Chánh. Nhơn
Trạch trở thành một cửa sông duy nhất của sông Đồng Nai như hồi nào. Bức tranh mực nước
biển dâng là như vậy.
Thành phần độ ẩm cũng giảm, làm cho tính thống mát xưa kia khơng cịn nữa, mà sự oi bức
của trưa hè gia tăng, do chất bêtơng và nhựa đường thay dần diện tích cây xanh. <i>Ơ nhiễm nhiệt</i>
khơng chỉ xảy ra ở các vuông tôm Cần Giờ, mà ở bất cứ đâu không còn thảm thực vật. Ngày xưa
Gò Vấp, Hóc Mơn, Bà Chiểu, Bình Chánh tươi mát chừng nào, mà ngày nay ngột ngạt, nóng
bỏng như vậy. chỉ mới có 50 năm sau cùng thôi.
Cùng với độ ẩm, thành phần hố học của khơng khí cũng chứa nhiều độc hại hơn. Khơng khí
nhiễm bịu từ 5 đến 9 lần ở các khu dân cư đông đúc, nhiều xe. Các hầm đá có bụi vượt từ 9 đến
12 lần mức cho phép của vệ sinh đô thị. Nhà máy Xi măng Hà Tiên ở Thủ Đức làm ô nhiễm
khơng khí khơng thua một hầm đá to lớn. Trong bụi của nó, có tỉ lệ silic (chất gây bệnh phổi chủ
yếu) đạt 10 – 15 lần mức cho phép ở ngoại thành. Khói nhà máy và khói xe cũng là nguồn ô
nhiễm hữu cơ liên hệ đến sức khoẻ con người. Một nhà máy sứ tạo ô nhiễm thật cao về SO2 và
HF, cũng là những hoá chất rất tai hại cho phổi.
<b>2. BIẾN ĐỘNG VỀ NƯỚC MẶT</b>
<b> </b>Với một địa hình địa mạo diễn biến không đáng kể, với một khí hậu gặp nghịch cảnh của ô
động sâu sắc và phổ biến. Khổ thay, đây lại là tài nguyên quyết định cho sự sống của chúng ta.
Về mặt tự nhiên, nước mặt của TP. HCM mới bị biến động từ 1985 trở về sau, khi hai đập thuỷ
nông Dầu Tiếng và thuỷ điện Trị An được xây dựng lên ở đầu nguồn. Vào mùa lũ, trước năm đó,
nước nhạt về đến tận Rạch Lá của Cần Giờ; Nhà Bè có nước nhạt vây quanh. Vào mùa kiệt, nước
mặn bị triều đưa thốc lên đến tận Lái Thiêu và cầu Đồng Nai. Sự biến động về bề mặt của <i>biển </i>
<i>nhạt/lợ</i> quả rất lớn. Bây giờ, nước nhạt chỉ đến nhà bè vào mùa lũ, còn nước lợ đến Cát Lái vào
mùa kiệt. Như vậy biến động bề mặt đó giảm rất đáng kể nhờ sự điều tiết của hai đập giữ nước
bên trên. Năm nay, với đập Thác Mơ trên Bình Phước, biến động bề mặt lại giảm thêm, càng làm
nước nhạt rời xa Cần Giờ mà tập trung hơn nữa vào Thủ Thiêm, Bình Chánh.
Về mặt ơ nhiễm nhân tạo, bức tranh không thể khả quan như ô nhiễm mặn tự nhiên. Do canh
tác có giới hạn, ơ nhiễm phân bón và thuốc trừ sâu khơng đáng kể, nhưng ô nhiễm về chất thải
công nghiệp thì đáng lo. Việc này mới xảy ra từ 50 năm qua, trước đó khơng đáng kể. Đầu nguồn
của sơng Đồng Nai và sơng Sài Gịn, thuộc hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, có hơn 800 cơ sở
sản xuất trong nước và hơn 10.000 cơ sở kinh doanh lớn nhỏ làm nguồn ô nhiễm nước mặt.
Chúng gồm đủ loại, từ khai khống, nung gạch ngói, chế biến mủ cao su, gốm sứ, nhà máy hoá
chất, trại chăn nuôi công nghiệp. Trong nước thải của nhà máy mủ cao su, nước chứa nồng độ
chất độc hữu cơ đạt 14,5 mg/lít, trong đó nitrit có hại đạt 5 lần mức cho phép. Với 240.000 mét
khối nước thải công nghiệp, hệ thống sông chứa 11.400 tấn COD, 4.950 tấn BOD và 6.000 tấn
chất rắn lơ lửng, trong đó có 120 tấn photphát gây độc. Những con số trên đây của Sở Khoa học
- Công nghệ - Môi trường 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai bắt đầu mang tính báo động cho
chúng ta, những người dùng nước mặt cho sinh hoạt và ăn uống. Chỉ cần đi đò dọc theo kênh
Nhiêu Lộc, mà điển hình là tại Cầu Bông và cầu Thị Nghè, ta đã biết độ ô nhiễm nước như thế
nào rồi. Còn những con kênh khác như kênh Đôi, kênh Tham Lương, kênh Xáng…tất cả cũng ơ
nhiễm như vậy. Có lẽ trong tương lai không xa phải làm cóng dẫn nước nhạt từ hồ Dầu Tiếng
hoặc hồ Trị An về cho thành phố mà thôi.
<b>3. BIẾN ĐỘNG CỦA NƯỚC NGẦM</b>
<b> </b>Cho đến cách nay 50 năm, nước ngầm của TP. HCM khơng có biến động đáng kể. Nhưng theo
nhịp điệu ngày càng tăng của đơ thị hố, nước ngầm được sử dụng ngày càng nhiều vào khâu
sinh hoạt của thị dân, nên hiểm hoạ của ô nhiễm nước đã xảy ra. Các hướng ô nhiễm là: dây bẩn
từ mặt đất, dây bẩn giữa các tầng nước, và nhiễm mặn do lấy nước quá tải.
Từ năm 1920 đến 1960, nước ngầm được lấy từ các tầng nông và vừa, không sâu quá 100 mét.
Nhưng vào các năm đầu thập kỷ 60, người ta phát hiện các tầng này bị nhiễm mặn vì bị khai thác
q mức. Ví dụ tầng nước 50 mét, trước đó cho nước ngọt ở một giếng khoan tại hãng nước đá
BGI gần công viên Mê Linh, về sau cho nước lợ tại giếng khoan ở hồ Con Rùa. Như vậy biên lợ
đã lấn lên phía bắc sài gịn. Các chun gia Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ đề nghị dùng nước ngầm
Hố An về dùng. Nhờ không bơm dùng nữa, ranh nước lợ lại xuôi về Nam và nằm tại Nhà Bè.
Từ thập kỷ 70 trở về sau, nước ngầm lại được khai thác và sử dụng bừa bãi một lần nữa. Lần
này, chỗ nào cũng khoan giếng nông và những điều kiện bảo vệ giếng không được chu đáo.
qua các cửa sổ của tầng chắn ở giữa.
Chỉ trong vòng 50 năm, một số lớn tầng ngầm ở những nơi nằm dưới các kênh mương ung thối,
các hố rác công cộng, các nghĩa trang đều bị ô nhiễm nặng. Theo các cơ quan chức năng, đây là
mức báo động đỏ khi chuẩn bị bước qua thế kỷ thứ 4 của thành phố. Chúng ta đã để lại cho đời
sau một thảm hoạ đang lan rộng của cuộc sống. Bài giải sẽ địi hỏi một đầu tư lớn về cơng sức và
thời gian: <i>bổ cấp nước sạch ở đầu nguồn nước ngầm</i> sau một thời gian dài di chuyển, với một
tốc độ từ 50 đến 100 mét mỗi năm.
Ba loại ô nhiễm nước ngầm, loại nào cũng cần được phòng chống từ ngay bây giờ, một cách
đồng loạt. Với nước mặt bị ô nhiễm, nếu nguồn nước ngầm không trong lành như 100 năm trước
đây, thì sức khoẻ của thị dân sẽ bị sa sút nặng nề.
<b>4. BIẾN ĐỘNG VỀ KHỐNG SẢN</b>
<b> </b>Là một <i>tài ngun khơng tái tạo</i>, mọi khoáng sản đều biến mất nếu tận dụng hết. Vật liệu xây
dựng bị giảm xuống rất thấp và có cơ khơng cịn nữa. cát xây dựng ở Thủ Đức khơng cịn được
bổ cấp như trên, do các con sơng lớn đều có đập ngăn nước ở trên nguồn, nơi sinh ra cát thô và
sạch. Đá sạch chỉ còn được một ít, đất sét trắng khơng đáng kể, đất sét gạch ngói cũng chẳng
còn. TP. HCM chuẩn bị nhập mọi thứ khoáng sản cơ bản từ các nơi khác. Nó chờ đợi một thời
gian nữa mới chuyển khống sản khơng qui ước thành qui ước. Một thành phố cơng nghiệp mà
thiếu khống sản, do bị cạn kiệt nhanh chóng, cần đi tìm mỏ khoáng sản ở các vùng chung
quanh, để nuôi những công nghiệp liên hệ. Cuộc hành trình này sẽ rất gian nan.
<b>5. BIẾN ĐỘNG VỀ SINH VẬT</b>
<b> </b>Điều hiển nhiên là sau 100 năm đô thị hoá, thảm thực vật phong phú là rừng mưa nhiệt đới
khơng cịn. Thảm thực vật nhân tạo hiện nay không đủ giữ khí hậu tốt ngày xưa nữa. Vườn,
ruộng, đồn điền chỉ thay được một phần thảm thực vật hoang dã trước đây. Biến động sinh quyển
mang tính tiêu cực rõ rệt về mặt thiên nhiên của môi trường.
Cũng may, Rừng Sác Gia Định chưa bị phá tan, nên tính phịng hộ của rừng ngập mặn xưa kia,
nay vẫn con duy trì ở một mức độ chấp nhận được. Sinh vật hoang dã, như hải sản ven biển và
cửa sông, ở Cần Giờ là một kỳ tích cần bảo vệ dưới hình thức công viên quốc gia, hơn là nơi
khai thác kinh tế.
Sau nhiều thế kỷ cư trú, con người đã tàn phá gần hết sinh quyển địa phương. Đây là tài nguyên
bị xoá sạch hẳn. Điều đó ảnh hưởng khơng nhỏ đến mơi trường sống trong tương lai.
<b> </b><i>Tài nguyên và môi trường, đất với trời, nơi thành phố Hồ Chí Minh, quả khơng có gì đặc sắc, </i>
<i>vượt trội hơn những nơi khác của đất nước ta. Có vài đặc điểm đối với một không gian nhỏ bé </i>
<i>như vậy: một mặt bằng cao ráo phẳng phiu nằm cạnh một mặt bằng khác ngập úng và chia cắt; </i>
<i>một bể nước ngầm mênh mông nằm bên dưới một vùng khô khốc; một khu nước mặn cài răng </i>
<i>lược với một khu nước nhạt; một khí hậu biển xen kẽ với một khí hậu đất liền; và một con người </i>
<i>đi từ biển vào rồi lại quay về với biển. Cái khơng gian bé nhỏ đó lại là một hội tụ hài hoà của </i>
<i>những đặc điểm thiên nhiên trong cái tâm của Nam bộ: một chút của miền Đơng phía bắc nằm </i>
<i>cạnh một chút của miền Tây phía nam thành phố. Từ biển vào, con người mở đường bám vào </i>
<i>miền Đông, giờ đây, khi trở ra biển, con người đó lại trải qua một miền Tây Nam bộ. Là điểm </i>
<i>nối miền Đông với miền Tây, Thành phố Hồ Chí Minh, xuất thân từ Gia Định, đến Sài Gịn, đã </i>
<i>khơng ngừng phát triển với những kỳ tích của mình, nhờ con người đặc biệt sáng tạo và xung </i>
<i>kích. </i>
<i> Trong thế kỷ tới, khi đường biển và đường hàng không thay dần cho đường bộ và đường sắt, </i>
<i>thành phố đi ra biển là một sáng tạo mang tính đột phá. Tính sáng tạo đó cịn có tính độc đáo, vì </i>
<i>đường ra lần này (sơng Sồi Rạp) không giống như đường vào trước đây (sơng Lịng Tàu): </i>
<i>đường ra phải ngắn hơn, rộng hơn, sâu hơn để chuyển một cảng nửa biển (Cảng Sài Gòn) thành </i>
<i>một cảng biển nước sâu (Cảng Phú Xuân) cho tàu to gấp nhiều lần thứ hiện có ra vào dễ dàng, </i>
<i>nối Nam bộ với thế giới bên ngoài. Đổ bộ vào đất liền, ôn bà chúng ta vượt qua một vùng đất </i>
<i><b>không h</b><b>ứa</b><b>. Con cháu h</b>ọ giờ đây ra khơi, họ phải vượt qua một vùng đất <b>n</b><b>ửa hứa, đất Rừng Sác </b></i>
<i>Gia Định ngập mặn, để rồi chuyển nó thành <b>đất hứa</b>. Một thách thức vô cùng to lớn đang đợi </i>
<i>họ: khí hậu nóng dần lên, nước biển sẽ dâng cao từ từ, đến cuối thế kỷ 21 những nơi nào đất cao </i>
<i>hơn mực nước biển 1 mét hiện nay sẽ bị tràn nước biển. Quả thật chúng ta ra khơi theo kiểu của </i>
<i>chúng ta, nhưng biển khơi số sắng quá, lại ùa vào quá nhanh theo kiểu của nó làm chúng ta ngở </i>
<i>ngàng trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố một đơ thị lớn vào bậc nhất nhì của đất </i>
<i>nước.</i>
<i> Chúng ta sẽ không lùi bước. sáng tạo này kế tiếp sáng tạo khác, con người đô thị này sẽ chuyển </i>
<i>bại thành thắng, chuyển cái khơng thành cái có, chuyển cái lạ thành cái quen…Nhận kệt nằm ở </i>
<i>chỗ đó vậy.</i>
DORNBUSCH W.K, J.R. May, W.P. Cowry 1969. <i><b>Distribution tial construction site in the </b></i>
<i><b>Mekong Delta, South Vietnam, Viet Nam. US Corps. Tech. Rep. S.69-7, Washington D.C </b></i>(Bản
đồ địa chất trầm tích của TP. Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000 và chú giải nền móng cơng trình).
ĐẶNG CƠNG MINH (Chủ biên) 1985. <i><b>Đất, Nước v</b><b>à khoáng s</b><b>ản Th</b><b>ành ph</b><b>ố Hồ Chí Minh</b></i>.
Nguyệt san Khoa học và Phát triển (chuyên đề 2) 76 tr.
NGUYỄN NGỌC TRÂN (Chủ biên) 1990. <i><b>Đồng bằng Sông Cử</b><b>u Long, Tài nguyên, Môi </b></i>
<i><b>trường, Phát triển</b></i>. Ủy ban Khoa học Nhà nước. Chương trình 60 – B. 401 tr. (Phương pháp và
kết quả điều tra cơ bản tổng hợp liên quan đến Thành phố Hồ Chí Minh).
TRẦN BẠCH ĐẰNG (Chủ biên) 1995. <i><b>Sơ khảo về huyện Cần Giờ</b></i>. <i><b>U</b><b>ỷ ban Nhân dân huyện </b></i>
<i><b>C</b><b>ần Giờ.</b></i> 320 tr. (dương minh hồ, đồng chủ biên, nói về đất nước và con người, có phần chi tiết
về Rừng Sác Gia Định).
LỜI NĨI ĐẦU
<b>CHƯƠNG I</b>
<b>MƠI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN: TẤT CẢ TỪ TRÁI ĐẤT</b>
<b>1. NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA MÔI TRƯỜNG</b>
<b>2. TỪ TÀI NGUYÊN ĐẾN MÔI TRƯỜNG</b>
<b>3. TỪ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÙNG LÃNH THỔ</b>
<b>KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ TP. HCM</b>
<b>CHƯƠNG II</b>
<b>LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NỀN MĨNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH</b>
<b>1. GIAI ĐOẠN PHƠI THAI BÊN BỜ TÂY NGUYÊN </b>
<b>2. GIAN ĐOẠN LẬP NÊN TRƯỜNG SƠN NAM</b>
<b>3. GIAI ĐOẠN SỤT LÚN VÀ BỒI TỤ</b>
<b>4. GIAI ĐOẠN YÊN TĨNH HIỆN NAY</b>
<b>CHƯƠNG III</b>
<b>CÁC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TRONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH</b>
<b>1. TÀI NGUN KHỐNG SẢN</b>
1.1. Khống sản quy ước
1.2. Khống sản khơng quy ước
<b>2. TÀI NGUN ĐẤT ĐAI</b>
2.1. Đất phong hố của móng đá
2.2. Đất xám miền Đông
2.3. Đất phù sa nhạt
2.4. Đất phèn
2.6. Tính tốn quỹ đất
<b>3. TÀI NGUN NƯỚC</b>
3.1. Mưa trên thành phố
3.2. Nước mặt
3.3. Nước ngầm
<b>4. TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU </b>
4.1. Đặc điểm khí tượng của thành phố
4.2. Tác nhân của khí hậu
<b>5. TÀI NGUYÊN SINH VẬT TRÊN CẠN</b>
5.1. Tài nguyên rừng
5.2 Tài nguyên nông nghiệp
<b>6. TÀI NGUYÊN SINH VẬT DƯỚI NƯỚC</b>
6.1. Tài nguyên rừng
6.2 Tài nguyên thủy hải sản
<b>CHƯƠNG IV</b>
<b>BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC THẾ KỶ QUA</b>
<b>1. BIẾN ĐỘNG CỦA KHÍ HẬU</b>
<b>2. BIẾN ĐỘNG VỀ NƯỚC MẶT</b>
<b>3. BIẾN ĐỘNG CỦA NƯỚC NGẦM</b>
<b>4. BIẾN ĐỘNG VỀ KHOÁNG SẢN</b>
<b>5. BIẾN ĐỘNG VỀ SINH VẬT</b>
<b>THAY LỜI KẾT</b>