Tải bản đầy đủ (.docx) (8 trang)

DE CUONG CTLLVT 65

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.14 KB, 8 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b> §Ị c¬ng</b>


<b>Cuộc thi tìm hiểu Lực l</b>“ <i><b>ợng vũ trang Thanh Hoá 65 năm xây dựng,</b></i>
<i><b> chiến đấu và trởng thành . </b></i>”


<b> Câu hỏi 1: Anh (chị) cho biết quá trình thành lập và hoạt động của tổ chức</b>
<b>tiền thân LLVT Thanh Hoá ngày nay?</b>


<b> Tr¶ lêi:</b>


Ngày 29/7/1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá đợc thành
lập. Trong những năm vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền từ (1939- 1945), Đảng bộ tỉnh Thanh Hố đẩy mạnh việc tổ chức, xây dựng lực
l-ợng vũ tranh cách mạng, các đội tự vệ phản đế cứu quốc lần lợt ra đời chuẩn bị cho cuộc
tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng.


Đầu năm 1941, Trung ơng cử đồng chí Đặng Châu Tuệ vào Thanh Hoá phổ biến
chủ trơng của Trung ơng, chuẩn bị tổ chức lực lợng vũ trang, lập căn cứ cách mạng,
chuẩn bị thời cơ phát động khởi nghĩa. Tháng 7/1941 Chiến khu Ngọc Trạo ra đời, 21
chiến sỹ cách mạng đợc chọn lựa từ nhiều huyện trong tỉnh, vợt vòng vây của mật thám
đã về Ngọc Trạo tụ họp. Sau một thời gian bị mật thám nghi ngờ, để bảo đảm an toàn
cho chiến khu, các chiến sỹ đã bí mật luồn rừng về Hang Treo. Tại đây, đêm 19/9/1941,
đội du kích Ngọc Trạo dới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Châu Tuệ chính thức làm lễ
thành lập. Đây là một trong những lực lợng vũ trang tập trung đầu tiên, tiền thân của lực
lợng vũ trang tỉnh Thanh Hoá.


Đầu tháng 10/1941, đợc bọn cha cố phản động chỉ điểm, thực dân Pháp đa quân
đánh úp vào Đa Ngọc (Thọ Xuân), nơi đang tập trung hơn 100 tự vệ; tại đây cuộc chiến
đấu đã diễn ra, nhiều đồng chí đã anh dũng chiến đấu và hy sinh, một số đồng chí trốn
thốt tìm đờng đến Ngọc Trạo, bọn mật thám bắt đầu lần ra dấu tích. Ngày 19/10/1941,
chúng đã đa quân đánh phá chiến khu. Các chiến sỹ đã kiên cờng chiến đấu, nhng vì thế


yếu, bị địch bao vây, anh em phải rút lui để bảo toàn lực lợng.


Chiến khu Ngọc Trạo chỉ tồn tại 3 tháng, nhng tinh thần cách mạng bất khuất,
dũng cảm của đồng bào và chiến sỹ Ngọc Trạo là tấm gơng sáng cho nhân dân trong
tỉnh noi theo đứng lên chống thực dân đế quốc. Ngọc Trạo còn để lại một bài học xơng
máu về tổ chức, xây dựng căn cứ địa, bảo vệ và phát triển lực lợng cách mạng.


Câu hỏi 2: Anh (chị) cho biết bối cảnh và quá trình thành lập Tỉnh đội bộ dân
<b>quân Thanh Hoá (nay là Bộ CHQS Thanh Hoá); ý nghĩa thực tiễn đối với cách</b>
<b>mạng Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hố nói riêng?</b>


<b> Tr¶ lêi:</b>


Trớc sự phát triển rộng khắp của lực lợng dân quân, du kích trong tỉnh; đứng trớc
yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
(tháng 01/1947) về việc “Cấp tốc xúc tiến tổ chức lực lợng vũ trang và lãnh đạo dân
quân”, Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ngời về thăm Thanh Hố(tháng 2/1947);
Quyết định của Chính phủ(tháng 3/1947) đổi tên “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia”
thành “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ”, thành lập các Ban chỉ huy
Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội dân quân trực thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp.


Từ giữa năm 1947 các huyện trung châu và ven biển Thanh Hoá đã tiến hành tách
các bộ phận tác chiến, quân sự thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp thành hệ thống cơ
quan chỉ huy các cấp: xã đội, huyện đội thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp.


Sau một thời gian chuẩn bị cán bộ, ngày 9/10/1947, Chủ tịch uỷ ban kháng chiến
tỉnh Thanh Hoá Đặng Việt Châu ký Quyết định số 3932 TH/KC thành lập Tỉnh đội bộ
dân quân Thanh Hoá (nay là Bộ CHQS Thanh Hoá). Ngày 18/12/1947, Chủ tịch uỷ ban
kháng chiến Liên khu 4 Trần Hữu Dực ký quyết định (số117/QN – LK4) bổ nhiệm các
chức vụ thuộc Ban chỉ huy Tỉnh đội Thanh Hoá gồm: Đồng chí Võ Nguyên Tuệ, Tỉnh


đội trởng; Đ/c Lê Hữu Khai, chính trị viên; Đ/c Lê Nh Hoan, Tỉnh đội phó; Đ/c Lê Minh
Sơn, tỉnh đội phó.


Song song với việc thành lập cơ quan Tỉnh đội và Huyện đội, ở cơ sở thành lập Xã
đội, Thơn đội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Chính trị, Văn th, Quản lý, Vũ khí, Tổ chức quân sự; ngồi 5 ban, cơ quan cịn đợc biên
chế 1 đại đội chun mơn 21 ngời. Tổng số tồn cơ quan lúc này gồm 88 cán bộ, chiến
sỹ.


Về tổ chức Đảng ở cơ quan Tỉnh đội; thành lập chi bộ 12 trực thuộc Tỉnh uỷ; đồng
chí Lê Hữu Khai, Tỉnh uỷ viên, Chính trị viên Tỉnh đội làm bí th chi bộ.


<b> * ý nghÜa:</b>


<b> Tỉnh đội bộ dân quân Thanh Hoá đợc thành lập là sự chấp hành thực hiện triệt để</b>
Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng về việc “Cấp tốc xúc tiến tổ chức LLVT và
lãnh đạo dân quân” và Chỉ thị của Hồ Chí Minh khi ngời về thăm Thanh Hoá (tháng 2
năm 1947); là sự chuẩn bị lực lợng tích cực nhất cho cách mạng nói chung, Thanh Hố
nói riêng.


Kể từ đây lực lợng dân quân, du kích và tự vệ Thanh Hoá đợc chỉ huy, chỉ đạo
chặt chẽ và thống nhất từ trên xuống dới, tạo điều kiện để phong trào phát triển nhanh
chóng, dần đi vào nền nếp.


Từ đây Đảng bộ, chính quyền Thanh Hố đã có một cơ quan tham mu tác chiến
đắc lực; làm cơ sở để lãnh đạo phong trào cách mạng ở Thanh Hoá chiến đấu và dành
thắng lợi, lập nên những chiến công vẻ vang, cùng với cả nớc hồn thành sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nớc.



<b> Câu hỏi 3: Anh (chị) cho biết những đóng góp và thành tích nổi bật của qn,</b>
<b>dân Thanh Hoá trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (từ 1945 </b>–<b> 1954)? </b>


Tr¶ lêi:


1/ Những thành tích trong xây dựng và bảo vệ địa phơng.
* Xây dựng lực lợng vũ trang.


- Xây dựng lực lợng dân quân với qn số 227.248 ngời, Du kích 32.126 ngời,
trong đó (Lão dân quân: 15.000 cụ, Nữ dân quân: 14.227 chị, thiếu niên quân 9.788
em).


- Xây dựng bộ đội địa phơng: 3 tiểu đoàn, 40 đại đội, 6 trung đội.


- Tổ chức và duy trì 1 xởng (Phạm Huy Thuần) sản xuất súng kíp; 01 xởng (Thọ
Long) sản xuất dao, kiếm, lựu đạn; (2 xởng) đúc vỏ mc- chi-ê, mìn, lựu đan.


<i> * Tăng gia, sản xuất cña LLVT.</i>


- Dân quân: Cày 12.795 mẫu lúa, thu hoạch 3.783 tạ. Chăn nuôi 3.142 con gà, lợn;
60 ao cá. Tự sắm vũ khí 3.097.953 đồng.


- Bộ đội địa phơng: Cấy lúa 312 mẫu. Lao động giúp dân sản xuất 242.636 công.
* Chiến đấu bảo vệ địa phơng.


- Đánh 156 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt và sát thơng 3.391 tên, bắt sống và gọi hàng
2.326 tên.


- Thu 1.476 khẩu súng các loại và hàng chục tấn quân trang, quân dụng khác.
2/ Phơc vơ tiỊn tun.



<i> - Bổ sung lực lợng xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phơng: Tòng quân 56.792</i>
ngời; Thanh niên xung phong 6.321 ngời; Bộ đội địa phơng bổ sung chủ lực 2 tiểu đoàn,
34 đại đội, 6 trung đội; Du kích bổ sung chủ lực: 500 ngời. Riêng năm 1953 và 6 tháng
đầu năm 1954 đã bổ sung 18.890 ngời, bằng quân số 7 năm (từ 1946 – 1952).


- Dân công tiếp vận, dân công cầu đờng, huy động phục vụ các chiến dịch thời kỳ
cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp với tổng số ngày công phục vụ 34.177.233 ngày;
Riêng dân công làm cầu đờng 11.000.000 ngày công. Chiến dịch Thợng Lào huy động
cao nhất so với kháng chiến 300.000 ngời. Chiến dịch Điện Biên Phủ huy động nhiều
phơng tiện nhất (Xe đạp thồ 11000 chiếc, thuyền các loại: 1.300 chiếc).


- Cung cấp lơng thực, thực phẩm và tiền của phục vụ kháng chiến: Trong 2 năm
(1946, 1947) gạo bằng 1.076 tấn; lúa hóa giá (năm 1948) bằng 4.061 tấn; ủng hộ dân
quân sắm vũ khí 3.960.000 tấn; lúa khao quân (năm 1949) bằng 7.936 tấn; cấp dỡng bộ
đội địa phơng (năm 1949) là 400 mẫu ruộng, 1.096 tấn thóc và 1.000.000 đồng. Công
phiếu kháng chiến (năm 1950) là 42.633.120 đồng; Công trái Quốc gia (năm 1951) là
1.334.914.200 đồng.


- Ngày 13/6/1957 trong buổi nói chuyện với đại biểu nhân dân Thanh Hố nhân
dịp về thăm tỉnh nhà, Hồ Chí Minh khen ngợi: “<i>Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng</i>
<i>Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hố cũng có một</i>
<i>phần vinh dự đến đó .</i>”


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

- 2 cờ Thi đua phục vụ khá nhất cđa Hå Chđ tÞch.


- 8 đơn vị đợc phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân:
1. Huyện Cẩm Thuỷ.


2. Huyện Thạch Thành.


3. XÃ Nga An – Nga S¬n.
4. XÃ Nga Thành Nga Sơn.
5. XÃ Nga Giáp Nga Sơn.
6. X· Ngäc Tr¹o – Th¹ch Thành.
7. XÃ Thanh Vân Thạch Thành.
8. XÃ Cỉ Lịng – B¸ Thíc.


- Tun dơng 5 anh hùng quân đội.
1. Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện


2. Liệt sỹ Trơng Công Man
3. Liệt sỹ Trần Đức


4. Liệt sỹ Lê Công Khai
5. Liệt Sỹ Lò Văn Bờng.


- Tuyên dơng 2 anh hùng nông nghiệp.
- 3 chiến sỹ thi đua toàn quốc.


- Huân chơng các loại: 167 cái
- Chiến sỹ thi đua cấp Liên khu: 39 ngời
- ChiÕn sÜ thi ®ua cÊp tØnh: 226 ngêi.
- B»ng khen cấp Trung ơng: 300 bằng.
- Bằng khen cấp liên khu: 1275 bằng


- 5 Huân chơng Quân công, 4 Huy chơng kháng chiến, 307 Huy chơng chiến công
các loại.


Câu hỏi 4: Anh (chị) biết gì về sự kiện Hàm Rồng chiến thắng; diễn biến của 2
<b>ngày chiến đấu 3 và 4/4/1965, tại trận địa chiến đấu cụm Hàm Rồng- Nam Ngạn? ý</b>


<b>nghĩa lịch sử của chiến thắng?</b>


<b> Tr¶ lêi:</b>


<b> * Đặc điểm tình hình và cơng tác chuẩn bị chiến đấu.</b>


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nớc; địa danh Hàm Rồng- Thanh Hoá đợc nhắc
tới nh là điểm tập trung các đầu mối giao thông thuỷ, bộ quan trọng đối với cả hai miền
Nam – Bắc. Lúc đó khu vực Hàm Rồng gồm thị xã Thanh Hoá và 3 xã Hoằng Long,
Hoằng Lý, Hoằng Anh của huyện Hoằng Hố, với diện tích 50 km2, gồm 10 vạn dân, là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hố và giữ vị trí quan trọng về quốc phòng, nơi tập
trung nhiều cơ quan đầu não (55 đầu mối cơ quan tỉnh và thị xã), các nhà máy, kho tàng,
bến bãi, nhà ga, cửa hàng Trung ơng và địa phơng. Từ kết quả trinh sát của không quân
Mỹ, giới quân sự Mỹ xác định: từ Hà Nội vào đờng mịn Hồ Chí Minh có 60 điểm tắc,
trong đó Hàm Rồng đợc xem nh là một “điểm tắc lý tởng, là “đầu mút của khu vực cán
xoong”.


Đánh phá Hàm Rồng, địch không chỉ hy vọng làm giao thông vận tải của ta bị bế
tắc mà còn hòng làm suy yếu nền kinh tế, chính trị của một tỉnh hậu phơng đối với chiến
trờng và gây tình trạng đình đốn đối với nhiều ngành sản xuất khác của Thanh Hoá.
Nhận định đúng âm mu của địch, Bộ Tổng t lệnh đã điều động các lực lợng phịng
khơng nhanh chóng về Hàm Rồng. Tết Ngun Đán năm 1965, trung đoàn 13 pháo cao
xạ 37 ly thuộc S đoàn 213 Quân khu 3 đang huấn luyện ở Nam Định đợc lệnh vào
Thanh Hoá chiến đấu, 2 đại đội triển khai chiến đấu tại Lèn, 2 đại đội triển khai chiến
đấu tại Hàm Rồng. Ngày 3/3/1965 Bộ t lệnh Phịng khơng – khơng qn lệnh cho tiểu
đoàn 14, thuộc s đoàn 330 đang bảo vệ Thủ đơ về phối hợp với Trung đồn 13, Qn
khu 3, hai đại đội triển khai trận địa chiến đấu tại Hàm Rồng, 2 đại đội triển khai chiến
đấu tại Sầm Sơn. Quân khu ba còn tiếp tục tăng cờng lực lợng pháo cao xạ bảo vệ Hàm
Rồng. Trớc khi bớc vào trận đánh ít lâu, S đồn 304 và S đoàn 350 đợc lệnh đa một đại
đội pháo cao xạ 37 ly và một đại đội 14,5 ly về Hàm Rồng phối hợp chiến đấu.



Cuối tháng 3/1965, Tỉnh đội Thanh Hoá tăng cờng cho Hàm Rồng một trung đội
14,5 ly và một tổ trung liên, các đơn vị dân quân tự vệ khẩn trơng ổn định tổ chức, tăng
cờng luyện tập, tổ chức nhiều trận địa chiến đấu bằng súng bộ binh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

Hàm Rồng cùng bộ đội đào đắp công sự. Các hợp tác xã nông nghiệp đã giành hàng
trăm héc ta ruộng đất trồng trọt cho bộ đội xây dựng trận địa. Để giữ bí mật và đề phịng
máy bay địch đến bắn phá, hàng ngàn cơng nhân đã đào cơng sự thâu đêm, suốt sáng, có
đêm đào đắp đợc 12 km giao thông hào, làm thêm nhiều trận địa dự bị, trận địa giả…
khơng khí hết sức khẩn trơng và quyết liệt.


Trên các trận địa bảo vệ Hàm Rồng, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phơng và dân
quân tự vệ; dới sơng chúng ta có hải qn; trên trời, lần đầu khơng qn ta tham chiến.
Sự phối hợp đó chứng tỏ ý nghĩa, tầm quan trọng của trận chiến đấu sắp xảy ra. Nhân
dân tỉnh Thanh Hố sục sơi ý chí quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ.


<b> * Diễn biến 2 ngày chiến đấu tại Hàm Rồng.</b>


Đúng 13 giờ ngày 3/4/1965, cuộc tiến công của địch vào Hàm Rồng bắt đầu, từng
tốp máy bay phản lực đủ các loại F105, F8, RF101 lao vào đánh cầu liên tục trong 2 giờ
35 phút. Cuộc tiến công đợc huy động với số máy bay và bom đạn lớn nhất của không
quân Mỹ vào một mục tiêu nhỏ hẹp. Bầu trời Hàm Rồng vang rền tiếng gầm, rú của
máy bay địch, mặt đất rung chuyển bởi những loạt bom hạng nặng dồn dập dội xuống.
Quân và dân Hàm Rồng bám chắc trận địa; Trên các hớng địch luôn luôn bị đánh
trả dồn dập. Các chiến sỹ đại đội 17 pháo cao xạ 37 ly ở cụm trận địa Yên Vực, đại đội
4 pháo cao xạ 14,5 ly của tiểu đoàn 14, s đoàn 330 ở cụm trận địa Ga Thanh Hoá và Bờ
Hồ; đại đội 2 pháo cao xã 37 ly ở cụm trận địa Nam Ngạn; đại đội 4 pháo cao xạ 37 ly
thuộc tiểu đoàn 14, s đoàn 350 ở đồi 75, trung đội 14,5 ly bộ đội địa phơng đóng trên
đồi 74; phân đội 7 Hải quân…cùng các trận địa của dân quân tự vệ trong khu vực chủ
động phối hợp tạo thành một lới lửa nhiều tầng, nhiều loại đã đập tan mọi thủ đoạn xảo


quyệt của địch.


Đến 17 giờ 11 phút, sau khi bị tiêu diệt 17 máy bay, địch phải ngừng đánh phá.
Bất chấp ma bom, bão đạn của kẻ thù cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững hiên ngang vắt qua
đôi bờ sông Mã.


10 giờ 2 phút ngày 4/4/1965, nhiều tốp máy bay địch từ sân bay Cò Rạt (Thái
Lan), sân bay Đà Nẵng, từ các tầu sân bay thuộc Hạm đội 7 từ ngoài biển kéo đến. Từ
nhiều hớng máy bay địch thay nhau bổ nhào giội bom ồ ạt vào khu vực Hàm Rồng, nh
-ng các lực lợ-ng phị-ng khơ-ng đã có nhiều dự kiến phơ-ng án tác chiến đánh trả quyết liệt
với sự tổ chức phản công lực lợng ở các hớng rất khoa học. Một mặt tập trung cho các
trận địa then chốt, mặt khác sử dụng loại pháo cao xạ 57 ly của đồn Tam Đảo chặn
đánh vịng ngồi. Trên tất cả các hớng ngay từ lúc còn xa mục tiêu chúng đã bị đánh
chặn với lới lửa phịng khơng 3 thứ qn nhiều tầng, nhiều hớng ở mọi độ cao từ xa đến
gần, làm cho đội hình chiến đấu của khơng qn địch bị rối loạn từ xa, khơng thể cơng
kích mục tiêu nh dự định; khi những chiếc lọt vào đến gần cầu lập tức bị các trận địa cao
xạ trên đồi Không Tên, đồi Ba Cây Thông, núi Ngọc, núi Rồng nổ súng chính xác.
Nhiều chiếc máy bay địch bị bắn rơi. Những chiếc bay lên cao trốn chạy bị không quân
ta chặn đánh quyết liệt.


Sau 11 lần cơng kích, 40 lần bổ nhào bắn phá, địch vẫn không đạt đợc mục đích,
số máy bay bắn rơi ngày càng tăng, đến 11 giờ tra địch phải dừng trận đánh buổi sáng.
Buổi chiều địch lợi dụng ánh sáng mặt trời, địch tập trung từ hớng tây nam, tấn
công liên tục, bổ nhào cắt bom nhanh đẻ tránh tổn thất. Nhng quân và dân Hàm Rồng
vẫn tỉnh táo, hiệp đồng chặt chẽ giáng trả lại chúng bằng những loạt đạn chính xác,
bằng những lới lửa chăng đầy nhiều tầng, nhiều hớng làm cho lũ giặc lái hoảng hồn phải
ném bom bừa bãi, tháo chạy thoát thân.


Đến 16 giờ các đợt tấn công của địch chấm dứt. Lại một ngày nữa thắng lợi to lớn,
30 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Không quân Hoa Kỳ đã phải trải qua những giờ phút đen tối


nhất.


<b> * ý nghÜa lÞch sư:</b>


Đây là trận thắng lớn của quân và dân Hàm Rồng, Thanh Hoá trong cuộc chiến đấu
chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Nó có ý
nghĩa to lớn, thể hiện ý chí quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của quân và dân trong khu
vực, với lực lợng pháo phịng khơng làm nịng cốt. Chiến thắng Hàm Rồng đã khích lệ,
cổ vũ tinh thần chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lợc của quân và dân cả nớc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

và nhân dân địa phơng…tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đánh thắng địch. Trận thắng
không những có ý nghĩa to lớn về việc thực hiện quyết tâm chiến đấu đánh thắng trận
đầu, phát huy truyền thống đánh giặc của cha ơng mà cịn có sức thuyết phục mạnh mẽ:
bằng các thứ vũ khí có trong tay, chúng ta có thể đánh thắng đợc khơng qn Mỹ.


Thắng lợi có tiếng vang lớn trong và ngồi nớc, khơng những trong thời kỳ đánh
Mỹ, mà còn lu truyền mãi về sau.


Với thắng lợi oanh liệt trong 2 ngày 3 và 4/4/1965, quân và dân Thanh Hoá đợc Bộ
Tổng t lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gửi th khen ngợi: “Đó là 2 ngày chiến thắng
giòn giã nhất, lớn nhất kể từ ngày 5/8/1964 đến nay. Là 2 ngày chiến đấu liên tục, đánh
rất quyết liệt, phối hợp rất chặt chẽ giữa LLVT, giữa bộ đội với nhân dân địa phơng.
Chiến cơng của các đồng chí là biểu hiện rực rỡ của ý chí sát đá “Quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ xâm lợc” để cứu nớc, cứu nhà của quân và dân ta. Đó là địn trừng phạt nặng nề
cho kẻ địch hoảng hồn khiếp sợ”.


Câu hỏi 5: Anh (chị) hãy cho biết những đóng góp và thành tích của qn và
<b>dân Thanh Hoá trong kháng chiến chống Mỹ xâm lợc (1954 </b>–<b> 1975)?</b>


Tr¶ lêi.



<b> 1. Thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu:</b>
<i> * Trong chiến đấu:</i>


- Trên không: đánh 9.983 trận, tiêu thụ 988.970 viên đạn các loại, bắn rơi 376 máy
bay (có 3 chiếc B52), trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 40 chiếc, bộ đội địa phơng bắn rơi
41 chiếc. Bắt sống 36 giặc lái.


- Trên biển: đánh 175 trận, tiêu thụ 8.897 viên đạn. Bắn chìm, bắn cháy 57 tầu biệt
kích và khu trục hạm (5 tầu biệt kích Nguỵ, 52 tầu khu trục hạm). Lực lợng vũ trang bắn
chìm, bắn cháy 12 chiếc. Bắt sống 3 biệt kích ngời nhái tại khu vực Nghi Sơn và Hà
Nẫm ( Hải Thợng, Tĩnh Gia).


* Phục vụ chiến đấu:


- Toàn tỉnh lúc cao nhất (1967) có 1.544 tổ báo động phịng khơng nhân dân. Thấp
nhất (1968) có 112 tổ báo động phịng khơng nhân dân.


- Hầm cá nhân lúc cao nhất (1967) có 1.309.845 cái, lúc thấp nhất (1968) có
155.887 cái. Đào gần 5.000 km đờng giao thơng hào. Có 3.500 đội cấp cứu, trên 2 vạn
túi thuốc.


<b> 2. TuyÓn qu©n chi viƯn chiÕn trêng.</b>


* Tuyển quân: Từ năm 1955 – 1975 tuyển đợc 227.082 thanh niên nhập ngũ vào
quân đội.


* Chi viện chiến trờng: Trung đoàn 14 huấn luyện quân tăng cờng (từ tháng 4/1970
– 1975), đã huấn luyện và giao cho các chiến trờng 78 tiểu đồn, (có 4 tiểu đoàn nữ).
Năm 1972 là năm giao cao nhất bằng 17 tiểu đoàn.



<b> 3. Xây dựng lực lợng vũ trang địa phơng.</b>
<i> * Xây dựng bộ đội địa phơng:</i>


- Năm thấp nhất (1964) có 2 đại đội bộ binh và 2 đại đội cao xạ hỗn hợp 37 ly và
14,5 ly.


- Năm cao nhất (1972) có 4 tiểu đoàn cao xạ, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1tiểu đồn cơng
binh dự nhiệm, 1 cụm (tơng đơng trung đồn), 2 tiểu đồn hỗn hợp phịng thủ khu vực
và hải đảo (chủ yếu là pháo binh) tơng đơng 12 đại đội pháo binh. Một trung đoàn huấn
luyện quân tăng cờng (qn số thời kỳ ít có 3 tiểu đồn, cao nhất có 11 tiểu đồn).


<i> * Xây dựng lực lợng dân quân tự vệ:</i>


- Năm cao nhất (1967) có 220.848 dân quân tự vệ (nữ cã 64.400 ngêi, chiÕm
11,3%).


- Năm thấp nhất (1974) có 166.744 dân quân tự vệ (nữ 67.415 ngời).


- Có 3.064 dân quân tự vệ tham gia chiến đấu sử dụng súng cao xạ 12,7 ly và 14,5
ly (nữ 588 chị, lão quân 39 cụ).


- Tay cày tay súng, có 3.355 ngời biết sử dụng súng trờng, trung liên đến pháo cao
xạ 37, 57 và 100ly để chiến đấu với máy bay Mỹ.


- Có 4 đại đội súng 12,7 ly chi viện cho chiến trờng Trị Thiên.


- Có 467 tổ (2.345 ngời) làm nhiệm vụ cơng binh giao thông và khắc phục bom
đạn địch.



</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

- Có 3.129 dân quân tự vệ đợc huấn luyện bổ sung pháo cao xạ.
- Có 543 dân quân tự vệ đợc huấn luyền bổ sung pháo mặt đất.
<b> 4. Những phần thởng cao quý.</b>


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc; LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hố đã có
165 đơn vị đợc Đảng và nhà nớc ta đã tuyên dơng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân
và 146 đơn vị đợc khen thởng Huân chơng Quân Công, Chiến công các hạng. Ngày
29/8/1965 nhân dân và LLVT Thanh Hố đợc Chủ tich Hồ Chí Minh tặng thởng Huân
chơng Độc lập hạng hai. Ngày 6/11/1978 LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hố đợc Chủ tịch
nớc Cộng hồ XHCN Việt Nam tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân vì có thành
tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc. Đồng thời có 77 cá nhân là con em quê
hơng Thanh Hoá đã anh dũng chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc trên quê h ơng và
trên chiến trờng cả nớc; cùng nhiều phần thởng cao quý của Đảng, nhà nớc, quân đội
đ-ợc tặng cho các tập thể và cá nhân.


Câu hỏi 6: Anh (chị) cho biết những đóng góp nổi bật của LLVT tỉnh trong sự
<b>nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc từ năm 1975 đến nay?</b>


<b> Tr¶ lêi:</b>


<i><b>1. Giai đoạn từ năm 1975 </b></i><i><b> 1990:</b></i>


Luụn tham mu kp thời cho Đảng, chính quyền địa phơng xây dựng lực lợng vũ
trang nhân dân phát triển đạt chất lợng ngày cao, tham mu xây dựng nền quốc phòng,
xây dựng khu vực phịng thủ ngày càng vững chắc, hồn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
đ-ợc giao, đi đầu trong phong trào chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả
thiên tai.


Năm 1979, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 14, Trung đoàn 74, cùng hàng ngàn con
em của quê hơng Thanh Hoá lại tiếp tục hành quân lên biên giới phía Bắc tham gia


chiến đấu, góp phần bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cơng của Tổ quốc.


Từ năm 1981 – 1990 Bộ CHQS tỉnh đã tham mu tổ chức 2 lần diễn tập cấp tỉnh
về: xây dựng pháo đài quân sự cấp huyện (1981), diễn tập vận hàng cơ chế 02 (TH-89).
Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, từ năm 1976 – 1990, lực lợng vũ trang
Thanh Hố tham gia xây dựng hồn thành nhiều cơng trình có giá trị kinh tế và đạt chất
lợng cao nh: Cống tiêu thủy Quảng Châu (Quảng Xơng), Cầu Xn Phơng (Tĩnh Gia),
Sơng Hồng, sơng Thống Nhất, làm hơn 40 km đờng miền núi từ Hồi Xuân (Quan Hoá)
đến Pù Nhi huyện (Mờng Lát) đợc Tỉnh, Quân khu, Bộ Quốc phịng tặng cờ thởng thi
đua vì có thành tích trong khơi phục, xây dựng, phát triển kinh tế của tỉnh.


Trong phong trào uống nớc nhớ nguồn, lực lợng vũ trang đã quy tập đợc hơn 500
mộ liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh. Hàng năm xây dựng qũy đền ơn đáp nghĩa,
phụng dỡng Mẹ VNAH, làm nhà tình nghĩa và thăm hỏi các gia đình chớnh sỏch.


<i><b>2. Giai đoạn 1990 </b></i><i><b> 2011: </b></i>


- Luụn là tỉnh dẫn đầu toàn quốc trong công tác tuyên truyền giáo dục quốc
phòng – an ninh tồn dân và bồi dỡng kiến thức quốc phịng-an ninh cho các đối tợng
cán bộ trong tỉnh; đợc Bộ Quốc phịng chọn báo cáo điển hình tại Hội nghị tồn quốc sơ
kết cơng tác bồi dỡng kiến thức QP-AN cho chức sắc, chức việc các tôn giáo. Đến nay
công tác giáo dục bồi dỡng kiến thức quốc phòng – an ninh đã đi vào nền nếp; việc bồi
dỡng kiến thức quốc phịng cho chức sắc, chức việc tơn giáo đạt kết quả tốt. Cơng tác
giáo dục quốc phịng cho học sinh, sinh viên của tỉnh đạt kết quả tơng đối toàn diện trên
tất cả các mặt.


- Có nhiều đổi mới sáng tạo trong công tác xây dựng lực lợng DQTV đặc biệt là
lực lợng Dân quân biển, đào tạo chỉ huy trởng xã, phờng, thị trấn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

- Có nhiều đổi mới sáng tạo trong công tác tuyển chọn, gọi cơng dân nhập ngũ và


tuyển sinh qn sự, góp phần tích cực nâng cao chất lợng tổng hợp cho Quân đội.


Từ năm 1991 đến 2011 tồn tỉnh Thanh Hố đã tuyển chọn và gọi hơn 100.000
thanh niên nhập ngũ (trong đó có gần 2.000 đảng viên); tuyển chọn hàng năm đều đạt và
vợt chỉ tiêu, khơng có trờng hợp nào chống lệnh.


Trong công tác tuyển sinh quân sự, Thanh Hoá là tỉnh dẫn đầu Quân khu 4 về tỷ
lệ thí sinh đậu vào các trờng Qn đội, ln đạt t 13-15%.


- Tham mu có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế-xà hội gắn với củng cố và tăng
cờng QP-AN:


Thành lập 02 trạm y tế Quân dân y kết hợp tại xã Tam Thanh (Quan Sơn), Bát
Mọt (Thờng Xuân). Trong giúp dân phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai dịch
bệnh, bằng khả năng quân y, y tế địa phơng và sự chi viện của Cục quân y đã tham mu
triển khai thực hiện tốt công tác cấp cứu, điều trị, khắc phục hậu quả sau lụt bão và dịch
tai xanh ở lợn, dịch cúm gia cầm, tiêu chảy cấp ở ngời đợc quân khu và tỉnh đánh giá
cao.


- Chăm lo thực hiện cơng tác chính sách: Cơng tác giải quyết chế độ, chính sách
đối với ngời có cơng, chính sách hậu phơng quân đội đợc quan tâm và đạt hiệu quả cao.
Trong đó: giải quyết chế độ thơng binh cho quân nhân, CNVQP đã phục viên xuất ngũ
về địa phơng hơn 10.000 đối tợng; xây nhà tình nghĩa: 94 nhà; nhà đồng đội: 39 nhà; trị
giá mỗi nhà từ 40 -60 triệu đồng. Bình qn mỗi năm Bộ CHQS tỉnh qun góp ủng hộ
ngời nghèo, nạn nhân chất độc da cam, ủng hộ đồng bào bị bão lụt…650.000.000đ.
Hàng năm Bộ CHQS tỉnh đã thăm tặng quà cho các đối tợng chính sách 550 đến 650
triệu đồng và tham mu cho cấp uỷ chính quyền địa phơng thăm hỏi, tặng quà cho các
đối tợng chính sách, gia đình cán bộ, chiến sỹ đang công tác ở nơi biên giới hải đảo mỗi
năn, hơn 1 t ng.



<b>* Các phần thởng cao quý:</b>


T nm 1975 – 2011, LLVT Thanh Hóa đã lập nên nhiều thành tích và chiến
cơng xuất sắc đợc Nhà nớc tặng thởng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó tiêu biểu là:


- Ngày 6/11/1978 LLVT Thanh Hóa đợc Đảng và Nhà nớc tuyên dơng anh hùng
LLVT nhân dân.


- Ngày 10/12/1984 Hội đồng Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng
Huân chơng Hồ Chí Minh cho LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều cơng lao,
thành tích trong sự nghiệp cách mạng, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN.


- Ngày 22/7/1997 Chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam thởng Huân chơng lao động
Hạng Ba cho cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS Thanh Hóa đã có thành tích xuất sắc trong cơng
tác thơng binh liệt sỹ, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, góp phần vào sự nghiệp xây dựng
CNXH và bảo vệ Tổ quốc.


- Chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam thởng Huân chơng Quân công Hạng Ba cho
Bộ CHQS Thanh Hóa thuộc Quân khu 4 đã có nhiều thành tích xuất sắc trong cơng tác
từ 1992 – 1996 góp phần xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.


- Ngày 3/4/2000 Chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam thởng Huân chơng Chiến
công Hạng Ba cho nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã có thành tích xuất
sắc thực hiện Nghị định 19/CP của Chính phủ về cơng tác quốc phịng từ 1995 – 1999
góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.


- Ngày 7/6/2005 chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam tặng Huân chơng bảo vệ Tổ
quốc Hạng Ba cho LLVT Thanh Hóa thuộc Quân khu 4, Bộ Quốc phịng đã có thành
tích xuất sắc thực hiện Chỉ thị 56/CT của Thủ tớng Chính phủ về xây dựng các tỉnh,


thành phố trực thuộc Trung ơng thành khu vực phịng thủ vững chắc từ 1989-2004, góp
phần vào xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.


-Ngày 5/7/2007 Bộ CHQS Thanh Hóa đợc Nhà nớc tặng thởng Hn chơng Qn
cơng Hạng Nhì vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cơng tác xây dựng Qn đội
nhân dân, củng cố Quốc phịng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8></div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×