ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MAI
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MAI
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 602280
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Thế Nghĩa
Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là hồn tồn
trung thực, chính xác có nguồn gốc rõ ràng.
TP. Hồ Chí Minh, ngày…..tháng 04 năm 2011
Tác giả
Trần Thị Mai
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1. LÝ LUẬN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC .......................................................................... 10
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC ...... 10
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực ........................................................................ 10
1.1.2. Vai trị của nguồn nhân lực đối với sự nghiệp cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa ............................................................................................... 21
1.2. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ....................................... 30
1.2.1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực ........................................................ 30
1.2.2. Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực................................... 35
1.3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ........ 43
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Mỹ ...................................... 43
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Trung Quốc ......................... 46
1.3.3. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Thành phố Hồ Chí Minh ..... 50
1.3.4. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Bình Dương......................... 56
1.3.5. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Thành phố Đà Nẵng ............ 59
Kết luận chương 1 .............................................................................................. 64
Chương 2. CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐỒNG NAI VỚI
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.................................... 66
2.1. ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở ĐỒNG NAI................................................................................. 66
2.1.1. Khái quát về tỉnh Đồng Nai ....................................................................... 66
2.1.2. Những đặc điểm chủ yếu của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Đồng Nai ................................................................................................... 76
2.2. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỒNG NAI.............. 81
2.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực ở Đồng Nai .................................................... 81
2.2.2. Một số tồn tại và mâu thuẫn trong phát triển nguồn nhân lực ở
Đồng Nai ................................................................................................... 95
2.2.3. Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực ở Đồng Nai ...................................... 105
2.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC Ở ĐỒNG NAI................................................................ 109
2.3.1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội........................................................ 109
2.3.2. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo................................................... 115
2.3.3. Phát triển khoa học và cơng nghệ ............................................................ 118
2.3.4. Xây dựng, hồn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực ...... 122
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 125
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 127
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 130
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 138
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nhân tố con người được xem là nguồn lực quan trọng nhất
để cạnh tranh và phát triển. Đặc biệt là, trong kỷ nguyên công nghệ thông
tin và phát triển kinh tế tri thức, nguồn nhân lực lại càng có vai trị quan
trọng hơn bao giờ hết. Chính lực lượng này sẽ vươn lên làm chủ kỷ nguyên
mới cùng những kiến thức mới của nhân loại. Vì lẽ đó, nhiều quốc gia đã
đặt việc phát triển nguồn nhân lực ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát
triển của mình.
Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, con người
luôn được coi là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài
nguyên. Đảng ta xác định: “con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết
định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
[33,201]. Vì vậy, ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực đang là một trong
những hướng ưu tiên và là khâu đột phá để thực hiện thành cơng sự nghiệp
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Đồng Nai luôn phấn đấu vươn
lên tạo những bước phát triển mới. Đồng Nai thuộc khu vực miền Đông
Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nằm ở cửa ngõ phía Bắc
đồng thời là một trung tâm công nghiệp và đô thị của vùng, tỉnh có vị trí
vai trị rất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu thương mại của
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Thời kỳ vừa qua, sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh có những bước tiến mạnh mẽ, tạo được bước ngoặt trong sự
2
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần tích cực vào thành tựu
chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân liên tục đạt cao và
ổn định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; sản xuất cơng nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao; kim ngạch xuất khẩu
tăng nhanh; nông nghiệp phát triển toàn diện; thu hút vốn đầu tư trong và
ngồi nước tăng mạnh. Cơng tác giáo dục - đào tạo phát triển. Đời sống vật
chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mặc dù, Tỉnh đã
đạt được những thành tựu lớn nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
vốn có. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng chất lượng tăng trưởng và
năng suất lao động chưa cao. Các ngành kinh tế chưa tạo được mối liên
hồn, ổn định hỗ trợ lẫn nhau. Phát triển cơng nghiệp chưa gắn chặt với
thay đổi cơ cấu lao động xã hội và cải thiện mức sống của người dân. Khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường còn hạn chế do thiếu
đầu tư chiều sâu, chậm đổi mới cơng nghệ. Hệ thống dịch vụ chất lượng
cao nhìn chung còn kém phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu. Nơng
nghiệp tuy phát triển tồn diện nhưng năng suất chưa cao và chưa thực sự
ổn định. Công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của sự
phát triển ở trình độ cao.
Nhằm khắc phục những hạn chế đang cản trở khơng nhỏ đến q
trình xây dựng sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VIII
đã xác định: “Phát huy tối đa nguồn nội lực, đặc biệt là nhân tố con người.
Đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ.
Mở rộng quan hệ hợp tác vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực và
thế giới. Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, tạo bước chuyển
3
biến mạnh mẽ về chất, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh
tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
nhất là cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng thơn. Phát triển kinh tế với cơ
cấu hợp lý, nâng cao tỷ trọng khu vực dịch vụ”[39,25]. Vì vậy, việc nghiên
cứu vấn đề “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Đồng Nai” càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa thiết thực đối với
tiến trình phát triển của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nguồn nhân lực được nghiên cứu khá nhiều với những cách
tiếp cận khác nhau, trong đó có những cơng trình tiêu biểu như sau:
“Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn
nước ta” của PGS. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1996). Các tác giả đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn
nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của giáo dục - đào
tạo, qua đó nêu bật vai trị của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam.
“Triết học với sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa” của
PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997).
Trong đó, tác giả phân tích giá trị thế giới quan và phương pháp luận của
triết học trong việc nhận thức và hoạch định chiến lược, chính sách và
phương pháp thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, tác giả
phân tích khá sâu sắc vai trị của nguồn nhân lực đối với cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam và đề
xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực trong
q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999). Các tác giả đã phân tích vai trị
của nguồn lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Từ đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực nước ta đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước Việt Nam”
của TS. Bùi Thị Ngọc Lan (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002). Từ
sự phân tích vị trí vai trị của nguồn nhân lực trí tuệ trong sự phát triển
xã hội, những đặc điểm chủ yếu của nguồn lực trí tuệ, thực trạng và xu
hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam; tác giả đưa ra những
phương hướng giải pháp chủ yếu để phát huy nguồn nhân lực trí tuệ
trong cơng cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
“Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực
tiễn” do GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS. TS. Nguyễn Thế Nghĩa,
PGS. TS. Đặng Hữu Tồn đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002). Đây là cơng trình đã tập hợp những nghiên cứu khá sâu về
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và mối quan hệ giữa cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa với phát triển con người và tạo nguồn nhân lực; với sự
nghiệp xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; với sự
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và với sự phát
triển giáo dục và khoa học - công nghệ.
“Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS.
Nguyễn Hữu Dũng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Trong đó,
tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát
5
triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người, đồng thời đề xuất các
chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu
quả nguồn lực con người trong sự phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
“Nguồn lực con người trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” của TS. Đồn Văn Khải (Nxb Lý luận chính trị, 2005). Tác
phẩm đã trình bày vai trị của nguồn lực con người trong q trình cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
Qua đó, đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả
nguồn lực con người trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Phát huy nguồn lực con người để cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa:
kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của TS. Vũ Bá Thể (Nxb Lao
động – Xã hội, Hà Nội, 2005). Tác giả đã nêu một số vấn đề như: lý luận
và kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để
phát triển kinh tế, thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta trong những năm
qua. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và những giải pháp phát huy nguồn
lực con người để cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới.
Bên cạnh những cơng trình tiêu biểu trên, đã có một số đề tài, luận
án, luận văn nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các vùng và các tỉnh, thành phố. Trong đó, có
các cơng trình tiêu biểu như: “Phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bằng
sông Cửu Long đến năm 2020” (Bùi Thị Thanh, Luận án tiến sĩ kinh tế,
năm 2005); “Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Tây Nguyên” (Lê Văn Thanh, luận án tiến sĩ triết học năm
2007); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
6
ở Đà Nẵng” (Dương Anh Hoàng, luận án tiến sĩ triết học, năm 2008);
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Bến Tre” (Nguyễn Thị Mỹ Phương, luận văn Thạc sĩ triết học, năm 2009);
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tiền
Giang hiện nay” (Phạm Văn Thanh, luận văn Thạc sĩ triết học, năm
2010)... Các đề tài, luận văn, luận án này đã bước đầu đi sâu phân tích đặc
điểm cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở từng vùng và tỉnh, thành phố; làm rõ
thực trạng phát triển nguồn nhân lực và nguyên nhân của chúng ở từng địa
phương, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy, phát triển nguồn nhân
lực ở các địa phương nói trên.
Ngồi ra, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những cơng trình,
bài viết về vấn đề nguồn nhân lực được đăng trên các tạp chí, các kỷ yếu
khoa học…Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có cơng trình khoa học nào
trực tiếp nghiên cứu vấn đề “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai”. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng
sáng tạo những thành tựu của các cơng trình có trước, luận văn này góp
phần làm sáng tỏ những đặc điểm cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực
trạng, nhu cầu và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Dựa trên tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu của đề tài, tác giả
xác định mục đích của luận văn này là: làm rõ thực trạng nguồn nhân
lực ở Đồng Nai và đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển
7
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Đồng Nai trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích và làm rõ các khái niệm: nguồn nhân lực, phát triển
nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực, các yếu tố tác động phát
triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam.
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực và tình hình phát triển
nguồn nhân lực ở tỉnh Đồng Nai hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân
lực ở Đồng Nai phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời
gian tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm cơ bản của Đảng và
Nhà nước ta về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, về xây dựng con người
và phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, tham khảo các chủ trương,
chính sách của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai trong lĩnh vực cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ…
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp:
lơgíc và lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê, diễn dịch - quy nạp,
so sánh và khái quát hóa.
8
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm của cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực trạng nguồn nhân lực của Đồng Nai
cùng những yêu cầu cấp bách về phát triển nguồn nhân lực ở Đồng
Nai trong thời gian tới.
Luận văn xác định rõ quan điểm phát triển và đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai trong những năm tới.
6. Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Nội dụng nghiên cứu và kết quả của luận văn có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn
đề con người và phát triển nguồn nhân lực nói chung cũng như vấn
đề phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Đồng Nai nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của lý luận
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp đảng ủy,
chính quyền, các ngành của tỉnh Đồng Nai trong việc hoạch định các
chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có hai chương, 6 tiết.
9
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nói đến nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên
con người), tức là nói đến con người chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào
q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội IX của Đảng Cơng Sản
Việt Nam đã khẳng định: “Nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững,…con người và
nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa…” [33,112].
Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta
có hệ thống các nguồn lực khá phong phú, đa dạng: nguồn lực tài nguyên
thiên nhiên tương đối giàu có, nguồn vốn trong nước và vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng phát huy hiệu quả trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Vị trí địa lí, chế độ chính trị xã hội và vai trò của Đảng, Nhà
nước …cũng trở thành những nguồn lực để thực hiện cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong hệ thống nguồn lực trên, nguồn
lực con người (nhân lực) ở vị trí trung tâm và giữ vai trị quyết định
khơng chỉ với các nguồn lực khác mà còn khai thác, sử dụng, phối hợp
các nguồn lực trở thành một lực tổng hợp thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
10
Các nguồn lực như tài chính, tự nhiên, viện trợ nước ngồi, thương
mại quốc tế đều đóng vai trị quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, song
khơng có nguồn lực nào quan trọng hơn nguồn lực con người. [85,15]
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó
chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ có tác dụng khi và chỉ khi có sự tác
động của con người. Hơn nữa, chúng chỉ có giới hạn nhất định, khai thác đến
một lúc nào đó sẽ cạn kiệt. Trong khi đó, nguồn lực con người mà cốt lõi là trí
tuệ lại là nguồn lực vơ tận. Tính vơ tận của trí tuệ con người biểu hiện ở
chỗ nó có khả năng khơng chỉ tái sản xuất về mặt sinh học mà cịn đổi
mới, khơng ngừng phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết
chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho năng lực
nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của con người phát triển như
một q trình vơ tận.
Nhờ vậy, con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, khám phá ra
những tài nguyên mới và sáng tạo ra những tài nguyên vốn khơng có sẵn
trong tự nhiên. Với bản chất hoạt động có mục đích sáng tạo ra những hệ
thống cơng cụ sản xuất mới đã tác động vào tự nhiên một cách dễ dàng
hơn. Chính sự phát triển khơng ngừng của cơng cụ sản xuất từ thủ cơng
đến cơ khí và ngày nay là tự động hố được xã hội lồi người chuyển
qua các nền văn minh từ thấp đến cao, từ đó nói lên mức độ vơ tận của
năng lực con người.
Trí tuệ con người có sức mạnh vơ cùng to lớn một khi nó được vật
thể hố, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão
của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại đang thúc đẩy
các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền
11
kinh tế tri thức. Ở những nước này lực lượng sản xuất trí tuệ ngày càng
phát triển và chiếm tỷ trọng cao. Nguồn lợi mà họ thu được từ lao động
chất xám chiếm tới hơn nửa tổng giá trị tài sản quốc gia.
Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho
thấy sự thành cơng của cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu
vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện,
nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của
con người.
Nhân tố con người được phát triển sẽ tạo ra nguồn lực người. Coi
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa là một trong các quan điểm chính để phát triển nhanh và bền
vững đất nước. Nguồn lực con người có khi được gọi là nguồn nhân lực
hay vốn người. Vốn người giữ một vị trí đặc biệt trong các yếu tố phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Gọi là vốn tức là coi con người như một tài nguyên không những
thế mà còn là thứ tài nguyên đặc biệt, một thứ vốn quý nhất. Điều đặc
biệt quan trọng là khái niệm nguồn nhân lực đã trở thành một khái niệm
công cụ cơ bản để định hướng, chỉ đạo và tổ chức các quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm “nguồn lực nhân lực” (nguồn lực con người) đã được
sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở các nước phương Tây và một
số nước châu Á. Quan niệm về nguồn lực con người rất đa dạng, được
tiếp cận dưới nhiều góc độ và theo nhiều quan điểm khác nhau.
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, yếu tố con người được coi
là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định
12
sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, do đó, quyết định
năng suất lao động và tiến bộ xã hội.
Xuất phát từ quan điểm xem con người như một tác nhân của sự
phát triển thì nguồn nhân lực là một nhân tố của sản xuất tương tự vốn,
tài nguyên, tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ với mục tiêu tăng
sản lượng, tăng trưởng kinh tế. [56,24]
Theo Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan
hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con
người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá
nhân. Như vậy, theo quan điểm này nguồn lực con người được xem
như một nguồn vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên
thiên nhiên…
Theo tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc
gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham
gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, theo
nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó,
nguồn nhân lực bao gồm tồn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Thứ hai, theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã
hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm
dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản
xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình
13
lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy
động vào q trình lao động.
Các nhà kinh tế học lại cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận
dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn
nhân lực được biểu hiện trên hai mặt. Một mặt, nguồn nhân lực biểu hiện
về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc
theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được
từ họ. Mặt khác, về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chun mơn,
kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là
tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao
động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Như vậy, theo quan niệm
này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng khơng phải là nguồn
lao động, đó là những người khơng việc làm nhưng khơng tích cực tìm
kiếm việc làm, tức là những người khơng có nhu cầu tìm việc làm,
những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp (1977-1985), nguồn nhân lực xã
hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và mong muốn có việc
làm. Như vậy, theo quan niệm này thì những người trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động nhưng khơng muốn có việc làm thì khơng
được xếp vào nguồn lực xã hội.
Một số quốc gia phát triển khác như Australia thì lại xem nguồn
nhân lực là toàn bộ những người bước vào độ tuổi lao động, có khả năng
lao động. Trong quan niệm này khơng có giới hạn trên về tuổi của nguồn
nhân lực.
14
Ở Việt Nam, Đại hội VI (1986) là đại hội đầu tiên của Đảng ta đưa
ra luận điểm coi trọng yếu tố con người, phát huy yếu tố con người trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong giới nghiên cứu bắt đầu đưa ra
những quan niệm về nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có một khái niệm thống nhất.
Theo cách xác định của Tổng cục thống kê, nguồn nhân lực xã hội
bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ
15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, có tính thêm các lao động trẻ em và
lao động cao tuổi. Xét trên thực tế, lực lượng lao động là một bộ phận của
nguồn lao động nhưng không đồng nhất với nguồn lao động. Lực lượng lao
động không bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động nhưng không
tham gia vào hoạt động kinh tế - như đang đi học, đang làm nội trợ cho gia
đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc.
Giáo sư Phạm Minh Hạc lại cho rằng, “Nói tới nguồn nhân lực,
theo định nghĩa đầy đủ, là nói tới nguồn lao động, đội ngũ lao động, nói
chung là nói tới vốn người” [45,10].
Từ góc độ của khoa học quản lí tổ chức vĩ mô, nguồn nhân lực
được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự trong mọi tổ chức cụ thể. Trên
bình diện quản lí quốc gia và quốc tế, nguồn nhân lực chính là nguồn tài
nguyên con người của một quốc gia, của các nước trong khu vực và trên
thế giới. [19,24]
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực (Human Rersources) là tổng thể
các tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, một vùng lãnh
thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở một mức độ nào đó, có khả
năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
15
(hoặc một vùng, một địa phương cụ thể). Nguồn nhân lực là một bộ phận
cấu thành các nguồn lực quốc gia như một nguồn lực vật chất (trừ con
người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám)…Những nguồn
lực này được huy động một cách tối ưu (tạo thành véctơ tổng hợp) để
phát triển kinh tế - xã hội. Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực
được hiểu là nguồn lao động. [85,23]
Từ những phân tích trên có thể khái quát, Nguồn nhân lực là
toàn bộ lực lượng người trong độ tuổi lao động với những phẩm chất
nhất định (sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, chính trị, chun mơn, kỹ năng,
kinh nghiệm…) đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay mỗi vùng, địa phương nhất định.
Những dấu hiệu đặc trưng của nguồn nhân lực:
Thứ nhất, số lượng nguồn nhân lực là tổng số lực lượng lao động (đã
và đang được đào tạo) đang và sẽ tham gia vào q trình phát triển kinh tế xã hội. Nó được quy định bởi quy mô, tốc độ phát triển dân số và số lượng
người trong độ tuổi lao động.
Khi đề cập đến vấn đề số lượng nguồn nhân lực của một tổ chức,
một địa phương hay một quốc gia, câu hỏi đầu tiên đặt ra là hiện tại có
bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người trong tương lai. Đây là
những câu hỏi để xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số
lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố bên trong
(ví dụ: nhu cầu thực tế cơng việc địi hỏi phải tăng số lượng lao động) và
nhóm yếu tố yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay
lực lượng lao động do di dân.
16
Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trị quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội. Bởi vì, nếu số lượng nguồn nhân lực khơng tương
xứng với sự phát triển (hoặc thừa, hoặc thiếu) đều tác động không nhỏ
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, trong các yếu tố cấu
thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là
lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp các yếu tố về
phẩm chất và sức mạnh của lực lượng lao động đang và sẽ tham vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực được
thể hiện ở nhiều yếu tố như: trí tuệ, trình độ học vấn, sự hiểu biết, đạo
đức, chun mơn, kĩ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của người lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong nguồn
nhân lực. Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội, cũng như đối với sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chất lượng nguồn nhân lực là sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố
và giá trị cùng tham gia tạo nên. Trong đó, gồm ba yếu tố cơ bản: thể
lực, trí tuệ, đạo đức.
Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát
triển bình thường, có khả năng lao động. Đây là cơ sở quan trọng cho
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, có thể đáp
ứng những địi hỏi về hao phí sức lao động trong q trình sản xuất với
những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả
năng học tập và lao động lâu dài.
Trí tuệ là tri thức, năng lực nhận thức và tư duy mang tính sáng
tạo thích ứng với xã hội con người. Nói đến trí tuệ là nói đến yếu tố
17
tinh thần, trình độ văn hóa và học vấn của con người, biểu hiện ở
những khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt
động thực tiễn nhằm đạt hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định
hướng giá trị hoạt động của bản thân để đạt được mục tiêu đề ra.
Nói đến nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ ở trong đó; là
nói đến “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm
chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục
tiên tiến gắn liền một nền khoa học, công nghệ hiện đại”. [32,9]
Trí tuệ của con người ngày càng phát triển, tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhà tương lai học người Mỹ - A.
Toffler đã khẳng định rằng, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai
thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người là không bao giờ cạn kiệt, bởi
“tri thức có tính chất lấy khơng bao giờ hết”. [1,41]
Trí tuệ được thể hiện ra trước hết ở trình độ văn hóa của người lao
động. Trình độ văn hóa là những hiểu biết của người lao động về giới tự
nhiên, đời sống xã hội và về chính bản thân con người. Trình độ văn hóa
của nguồn nhân lực là một tiêu chí hết sức quan trọng phản ánh chất
lượng của nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng
một cách nhanh chóng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
Trí tuệ được thể hiện chủ yếu ở trình độ chun mơn kỹ thuật của
người lao động. Trình độ chun mơn, kỹ thuật là sự hiểu biết, kỹ năng
thực hành về chun mơn nghiệp vụ, có khả năng chỉ đạo, quản lý, hoặc
thực hiện một công việc thuộc một chuyên môn nghiệp vụ nhất định.
18
Ngày nay, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động dưới tác
động của tồn cầu hóa, của cuộc cách mạng công nghệ và của nền
kinh tế tri thức đang đặt ra những yêu cầu rất cao đối với sự phát triển
trí tuệ của con người, của lực lượng lao động. Họ khơng chỉ có khả
năng tiếp thu những tri thức mới, vận dụng có hiệu quả vào sản xuất,
mà còn phải biết thường xuyên tự bổ sung, nâng cao tri thức không để
bị lạc hậu trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ. Như
vậy, nguồn nhân lực đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
phải bao gồm những người lao động có sự phát triển cao về năng lực
trí tuệ, đủ sức làm chủ và tiếp thu cơng nghệ mới, có khả năng sử dụng
công cụ tiên tiến, phương tiện hiện đại. Cho nên, tri thức trở thành yếu tố
không thể thiếu của người lao động và cũng chỉ có tri thức mới có thể
làm cho xã hội tiến bộ. Để tránh nguy cơ chậm tiến thiết tưởng cần phải
nhắc lại tuyên bố của ông Akiô Môrita, cố chủ tịch hãng SONY danh
tiếng: Sự phồn thịnh của một đất nước nằm trong óc sáng tạo của nền
văn hóa giáo dục và khả năng sáng tạo ra công nghệ mới. Không vươn
lên trên trường quốc tế bằng đại bác và bom đạn thì phải bằng lao động
và nỗ lực sáng tạo. Một nước có cơng nhân lành nghề thì khơng cần
đến ngun liệu và cả không gian sinh tồn.
Đạo đức là yếu tố nền tảng trong các yếu tố của chất lượng
nguồn nhân lực. Trong cấu trúc nhân cách thì đức và tài là hai thành
phần cấu tạo nên nhân cách của con người. Trong đó, đạo đức được
xem là cái gốc, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển thế giới quan,
nhân sinh quan của mỗi người. Đồng thời, nó định hướng và tạo điều
kiện để phát triển những năng lực bản chất người ở trình độ ngày càng
19
cao, sao cho mỗi cá nhân có thể bộc lộ tất cả những khả năng của
mình để sống, sản xuất, sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã
hội. Vì vậy, ngồi việc làm giàu tri thức khoa học thì nhất thiết người lao
động cần phải có những phẩm chất đạo đức, thế giới quan, nhân sinh
quan, phương pháp luận để ứng xử nhanh nhạy trước mọi sự kiện một
cách nhân bản nhất.
Phương Tây có một thời kỳ dài đề cao vai trò của khoa học, kỹ
thật quá mức, hạ thấp những giá trị đạo đức, nhân văn của con người.
Những tưởng với chiếc đũa thần của chủ nghĩa kỹ trị có thể giải quyết
được mọi vấn đề. Song chính sự sùng bái kỹ thuật đó đã làm cho con
người bị tha hóa, bị nơ lệ, phụ thuộc vào máy móc, lúc nào cũng ở trong
tâm thế hoang mang và lo sợ một thảm họa do chính kỹ thuật đưa đến.
Sự kiện Hirơsima và Nagasaki chắc chắn cịn lâu mới xóa mờ trong lịch
sử nhân loại. Do vậy, việc trang bị những tri thức về đạo đức, về nhân
văn có vai trị rất quan trọng. Tài và đức phải đi đơi với nhau, khơng thể
thiên lệch, trong đó, đức là gốc của tài.
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi
xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện
trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, cơ cấu
về độ tuổi, cơ cấu về nghề nghiệp…Cơ cấu nguồn nhân lực của một
quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh
tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nguồn nhân lực.
Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu
tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung
20
ở cả hiện tại cũng như trong tương lai của mỗi tổ chức, địa phương,
quốc gia, khu vực và trên tồn thế giới.
1.1.2. Vai trị của nguồn nhân lực trong cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác đã khẳng định, tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài
người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội theo
quá trình lịch sử - tự nhiên, trong đó, hình thái kinh tế - xã hội sau
bao giờ cũng cao hơn hình thái kinh tế - xã hội trước. Với quan điểm
đó, các ông cũng đồng thời khẳng định vai trò cải tạo thế giới và sáng tạo
nên lịch sử của con người. Con người, chủ thể của hoạt động sản xuất vật
chất và là yếu tố hàng đầu đóng vai trị quyết định trong sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người một
mặt cải tạo tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình, mặt khác cũng cải
tạo chính bản thân mình. Ph.Ăngghen viết: “Lao động là nguồn gốc của
mọi của cải…lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
loài người, và như thế đến một mức người” [7,641]. Trình độ sản xuất
của con người càng cao thì con người càng có điều kiện để thỏa mãn
những nhu cầu về vật chất từ đó, làm phong phú thêm đời sống tinh
thần của mình và làm phong phú thêm đời sống xã hội. Và cũng qua
đó, con người tự phát triển mình, phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã
hội. Như vậy, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, con
người vừa là điểm khởi đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại là trung
tâm của sự biến đổi lịch sử, nói cách khác con người là chủ thể chân
chính của mọi q trình xã hội.