BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM PHƯƠNG LOAN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ XUÂN HOÀNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:
60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN NGỌC THU
Đà Nẵng, Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả
Phạm Phương Loan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài. ...................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. ........................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 8
5. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 8
6. Cấu trúc đề tài ............................................................................................ 9
CHƯƠNG 1. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ
XUÂN HOÀNG ..................................................................................................10
1.1. CUỘC ĐỜI....................................................................................................10
1.1.1. Quê hương và tuổi thơ .......................................................................10
1.1.2. Những chặng đường đời của một nhà thơ- chiến sĩ...........................14
1.2. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC...............................................................................19
1.2.1 Quan niệm sáng tác .............................................................................19
1.2.2. Thành tựu qua các thể loại: ...............................................................22
CHƯƠNG 2. HÌNH TƯỢNG CÁI TƠI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XN
HỒNG ...............................................................................................................26
2.1. CÁI TƠI SÂU NẶNG NGHĨA TÌNH Q HƯƠNG ĐẤT NƯỚC ...........28
2.2. CÁI TƠI TRỮ TÌNH HỒN NHIÊN ĐA CẢM VÀ SÂU LẮNG ................42
CHƯƠNG 3. NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG THƠ XN HỒNG
..............................................................................................................................56
3.1. NGƠN NGỮ THƠ XN HỒNG ............................................................56
3.1.1. Ngơn ngữ trong thơ Xn Hồng giản dị và trong sáng ...................57
3.1.2. Ngôn ngữ thơ Xuân Hồng giàu nhạc điệu .......................................61
3.2. HÌNH ẢNH TRONG THƠ XN HỒNG ...............................................65
3.2.1. Hình ảnh thiên nhiên ..........................................................................66
3.2.2. Hình ảnh những con người trong kháng chiến ..................................69
3.2.3. Hình ảnh “người tình” .......................................................................73
3.3. THỂ THƠ ......................................................................................................80
3.3.1. Thể thơ dân tộc. .................................................................................80
3.3.2. Thơ tự do............................................................................................86
3.4. GIỌNG ĐIỆU THƠ XUÂN HOÀNG ..........................................................92
KẾT LUẬN .........................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................102
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong bài Tựa, giới thiệu “Dải đất Vùng trời” (Tuyển tập thơ Xuân
Hoàng, Hội Văn nghệ Quảng Bình, xuất bản năm 1976), nhà thơ Chế Lan
Viên viết: “Mỗi lần đi ngang dải đất khu Bốn cũ, đi ngang Quảng Bình, tơi
đều nhớ đến Xn Hoàng. Thơ anh đã gắn liền với cảnh vật nơi ấy. Thực là
thú vị nếu qua một rặng núi ta biết ở đấy có một loại hoa nào, qua mỗi địa
phương ta biết ở đấy có một nhà thi sĩ.”[ 17,tr 5]
Xuân Hoàng (1925-2004) thuộc thế hệ nhà thơ xuất hiện và trưởng thành
cùng với cách mạng và kháng chiến. Không chỉ là danh nhân của một miền
quê, mà ông còn là nhà thơ của đất nước; là một trong số những hội viên tham
gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, từ đại hội lần thứ nhất (1957). Xuân
Hoàng cũng đã khẳng định vị trí văn học sử của mình bằng sự có mặt trong tất
cả các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại và một số bài thơ được dịch giới thiệu
ra nước ngoài.
Suốt cuộc đời lao động nghệ thuật gần nửa thế kỷ, ông đã để lại một sự
nghiệp gồm có mười ba tập thơ, hai bản trường ca, hai tập truyện ký và hai
tập hồi ký-tự truyện với hàng nghìn trang viết. Điều đặc biệt là, thế giới nghệ
thuật ấy cùng với cuộc đời ông đã hịa quyện và gắn bó máu thịt với q
hương Quảng Bình. Và cũng từ đó, có lần nói như Chế Lan Viên, thơ Xuân
Hoàng đã đem đến “một điều khá thú vị về lý luận. Nếu nó đánh dấu sự kiên
trì của một người ba mươi năm phục vụ một địa phương, thì đồng thời một
mặt khác nó chứng tỏ một địa phương cũng thừa đất, thừa trời để làm giàu
cho những tâm hồn văn nghệ” [17, tr 8]
Đã có nhiều bài viết cũng như những bài bình luận về thơ Xn Hồng
trên các sách báo, tạp chí, cơng trình nghiên cứu; nhưng hình như càng qua
“Thời gian và Quãng cách” (tên một tuyển tập thơ của Xuân Hoàng), thế giới
2
nghệ thuật thơ Xuân Hoàng lại càng cần được tiếp tục tìm hiểu; khơng chỉ để
cảm nhận thêm vẻ đẹp hồn nhiên, đôn hậu của một tâm hồn thi nhân, mà qua
đó, người đọc càng yêu thêm cảnh sắc thiên nhiên, con người và truyền thống
văn hóa, văn học của quê hương Quảng Bình; đồng thời cũng thiết thực chuẩn
bị cho việc giảng dạy phần văn học địa phương trong chương trình nhà trường
phổ thơng hiện hành.
Đó là những lý do chúng tôi chọn làm đề tài của luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Cùng với hành trình sáng tác của nhà thơ Xuân Hoàng, nhiều bài viết,
bài bình luận và nghiên cứu cứu về thơ ơng cũng đã xuất hiện trên các sách,
báo và tạp chí trong suốt hơn mấy chục năm qua. Dưới đây, luận văn chỉ nêu
một số bài viết nổi bật có liên quan đến đề tài:
Sau tuyển tập thơ Dải đất vùng trời của Xn Hồng do Hội Văn nghệ
Quảng Bình xuất bản năm 1976, với lời Tựa của nhà thơ Chế Lan Viên, năm
1984, trong cơng trình nghiên cứu Nhà thơ Việt Nam hiện đại do Viện Văn
học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức biên soạn, Xuân Hoàng
là một trong 32 nhà thơ được tuyển chọn. Nhà nghiên cứu Đặng Quốc Nhật
đã có bài viết khá cơng phu về thơ ông. Tuy thời điểm ra đời của tập sách chỉ
mới dừng lại ở thơ Việt trước thời kỳ đổi mới, nhưng tác giả bài viết đã bước
đầu khái lược hành trình sáng tác của Xn Hồng qua hai cuộc kháng chiến
và khẳng định được những đóng góp của nhà thơ vào nền thơ của đất nước ra
đời trong lửa đạn qua hai bản trường ca “Sông Gianh” ra đời năm 1949 và
“Du kích sơng Loan” ra đời vào đầu những năm 1960. Đặt thơ Xuân Hoàng
vào nền thơ chung của cả nước qua hai cuộc chiến tranh, Đặng Quốc Nhật
cịn phân tích và cảm nhận: “Những bài thơ hay của Xn Hồng nói riêng và
của thơ kháng chiến nói chung, có sắc, có hồn, nên nó sống mãi được, để đến
tận bây giờ, người đọc vẫn thấy xúc động.” [ 49, tr 367].
3
Không chỉ vậy, cũng trong bài nghiên cứu này, Đặng Quốc Nhật đã bước
đầu phát hiện và khẳng định sự thay đổi mạnh mẽ về bút pháp của thơ Xuân
Hoàng khi bước vào những năm chống Mỹ trên quê hương Quảng Bình:
“…thơ anh đã bắt kịp được với khơng khí thời đại, nói được tiếng nói chung
một cách trữ tình, tiếng nói của những người trong trận, ở cửa ngõ chiến
trường. Đồng Hới, Trên đèo Mụ Giạ, Tổ đại bàng, Sơng Lê, Phu la nhíc…là
những bài thơ hay của Xn Hoàng và cũng là những bài thơ hay của thơ
chống Mỹ”[ 49, tr 371].
Trần Hùng trong cơng trình Chân dung văn học Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên sau 1975 của khoa Văn, Trường Đại học Khoa học Huế, với
bài viết Thơ Xn Hồng - từ sử thi đến trữ tình đã cho rằng: “Thơ Xn
Hồng cứ thế mà chuyển mình, cứ thế mà từng bước tự hoàn thiện và đã để
lại trong lịng bạn đọc những dấu vết khó phai mờ…”.
Năm 2001, Chi hội Nhà văn Quảng Bình xuất bản tập chân dung Nhà
văn Việt nam hiện đại Quảng Bình, nhà thơ Trần Nhật Thu có bài viết: “Anh
bạc đầu theo những cánh hoa lau”, ghi lại những kỷ niệm gắn bó với thơ và
với người anh Xn Hồng trong những năm đánh Mỹ ở Quảng Bình: “Đêm
đêm dưới hầm sâu, bên ngọn đèn dầu tù mù, tôi đọc những bài thơ tình hết
sức trong sáng và cảm động của anh.” và cịn nói thêm rằng: "Trong những
năm chiến tranh ác liệt chúng tôi dựa vào anh, dựa vào niềm tin của anh để
sống và tồn tại".
Cũng như Trần Nhật Thu, nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở Quảng Bình,
đã từng gắn bó với Xn Hồng và thơ ơng đều nói lên ảnh hưởng của cuộc
đời và thế giới nghệ thuật thơ Xuân Hoàng với đường đời và đường thơ của
bản thân mình.
Hồng Vũ Thuật tự bạch: "Trong từng chặng đường, từ ngày tôi mới đôi
mươi cho đến bây giờ, lúc buồn lúc vui đều có ơng bên cạnh. Ông che chở đời
4
tơi bằng tàu lá chuối xanh vùng cát trắng, gió Lào, chứ khơng phải là cái mũ
mão thói thường của người đời vốn ưa chuộng".
Mai Văn Hoan trong bài viết Người lữ khách trên “con tàu trần thế” đã
nêu lên những nét đặc sắc nhất về nhà thơ Xuân Hoàng và khẳng định Xn
Hồng là “Một nhà thơ gắn bó máu thịt với quê hương Quảng Bình; Một thi sĩ
tài hoa đa tình và lãng mạn; một con người vơ tư, hồn nhiên, hóm hỉnh nhưng
sâu nặng tình đời, tình người.[13, tr234-240 ]
Đọc lại trường ca Từ tiếng võng làng sen của nhà thơ Xuân Hoàng Mai
Văn Hoan thấy: Để có được bản trường ca ấy, nhà thơ Xn Hồng đã phải
làm việc hết sức công phu. Anh dành nhiều thời gian để sưu tầm, nghiên cứu
những tài liệu liên quan đến cuộc đời và thân thế của Bác. Anh từng đi nhiều
ngày trên đất Huế “tìm dấu chân Bác thuở cịn thơ”. Anh cũng đã tìm vào
Phan Thiết, bến nhà Rồng. Anh đã từng ngược lên Pắc Bó… để lắng nghe
những hồi âm về Bác. Mặc dù chưa phải là một tác phẩm đặc sắc nhưng
những tìm tịi, sáng tạo của tác giả bản trường ca Từ tiếng võng làng Sen rất
đáng được trân trọng. Đặc biệt là tấm lòng tri ân chân thành của nhà thơ đối
với Bác kính u.
Cùng đọc thơ Xn Hồng viết về Bác Hồ, Diệp Minh Luyện với bài
viết Tính tư liệu trong thơ Xn Hồng viết về Bác cũng có đoạn viết: “Phải
thừa nhận qua ngịi bút của Xn Hồng, thời điểm lịch sử thuần túy đã trở
thành thời điểm lịch sử thẩm mĩ. Nhà thơ khơng cịn là người đứng ngồi
cuộc nhìn vào mà thực sự nhập thân vào đó, là chứng nhân trung thành tinh tế
của từng cảnh ngộ, từng chi tiết. Ở bài thơ Về làng (6-1957) người đọc khơng
nhìn thấy chỗ đứng riêng biệt của tác giả. Hình như tác giả ở đâu đó, trong
đám đơng, trong tồn thể mọi người dân Kim Liên. Hai chữ “làng ta” là chữ
dùng khéo của tác giả. Lời tự xưng làng ta thật tự nhiên, thật máu thịt, thân
thuộc và hòa đồng đến cảm động:
5
Mai xuân rộn rã bờ tre
Truyền tin đi Bác đã về làng ta
Thơ viết về Bác của Xuân Hoàng thật đúng là những tư liệu lịch sử quý
giá được nhà thơ tái hiện bằng hình ảnh, sắc màu, bằng cảm quan của một thi
sĩ. Chính đây là điểm mạnh để nhà thơ Xn Hồng thốt khỏi sự chế ngự lơi
kéo của thông tấn xã mà bỏ qua vùng đất tư liệu, sự kiện trần trụi vượt đến cõi
thơ đầy biểu cảm, chân thực, sinh động, phác họa khá đầy đặn, sắc nét, khảm
vào tâm hồn mỗi người dân đất Việt, vào tâm linh một dân tộc Việt Nam đã
lắm đau thương niềm kiêu hãnh, tự hào một hình tượng đẹp kỳ vĩ, gần gũi
thân thiết vơ cùng: Bác Hồ Chí Minh! [ 34.tr 40 ]
Ngô Minh ở bài viết Xuân Hồng – ha hả điệu cười rung mắt kính… đã
hồi ức: “Trong hành trang tâm hồn tơi, có rất nhiều câu thơ về chiến tranh mà
lay động, thấm đẫm tình yêu xứ sở của Xuân Hoàng: Em đi phố nhỏ động
cành dừa/ Cửa biển về khuya gió đêm ngả lạnh/ Phố nhỏ tan rồi qua bao trận
đánh/ Chúng ta về ấm lại dải đường xưa…/… Phố nhỏ quê ta thức nhiều kỷ
niệm/ Dạ lan hương thơm những canh dài/ Em đi nhé bóng em lồng bóng
biển/ Bài thơ lành em đến ngủ bên vai (Đồng Hới). Hay những câu thơ tình
đẹp như tranh: Nếu cần nữa tơi là hồ trên núi/ Trong hoang vu im lặng ngắm
mây trời/ Em hãy đến chim thiên nga cánh mỏi/ Đậu yên lành trên gương mặt
hồ tơi. (Khi nào thấy)
…Xn Hồng đi kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cũng bằng thơ,
xây dựng quê hương đất nước cũng bằng thơ, yêu bằng thơ, ngồi đứng với ai
cũng có thể đọc thơ… Dường như trên đời này ngồi thơ anh khơng biết việc
gì khác” [ 38 ,tr.35].
Khi nhà thơ Xn Hồng qua đời, tạp chí Nhật Lệ của Hội Văn học
Nghệ thuật Quảng Bình, số 108 tháng 3- 2004 đã có nhiều bài viết về ơng của
bạn bè văn nghệ. Các bài viết đều khẳng định: “Một đời tận tụy vì sự nghiệp
6
văn học nghệ thuật, trước khi ra đi vào cõi thiên thu, nhà thơ Xuân Hoàng đã
để lại cho chúng ta một gia tài vô cùng quý giá. Sự ra đi của nhà thơ Xuân
Hoàng đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho công chúng bạn đọc và văn
nghệ sĩ Quảng Bình, bởi mảnh đất gió lào cát trắng ấy đã sinh ra anh, nuôi
dưỡng anh để anh trở thành nhà thơ lớn của đất nước. Và anh bằng tài năng
và nhiệt huyết đã trở thành trụ cột của văn học nghệ thuật Quảng Bình suốt
những năm chống Mỹ cứu nước và sau này.” [2,tr. 30]
Nhiều bài thơ tiễn biệt của bạn bè văn nghệ, của những người em đều có
chung tình cảm vơ cùng u thương, kính trọng: Mai Văn Hoan với bài thơ
Viếng anh Xuân Hoàng, Văn Tăng có Một lời tâm huyết, Văn Lợi với bài Nhớ
anh, Hải Kỳ có Nhớ Xn Hồng; Lâm Thị Mỹ Dạ có bài Một ngày sống, một
ngày thơ với lời đề từ: “Tưởng nhớ người anh kính mến-Nhà thơ Xn
Hồng” khơng chỉ nói lên những tình cảm chân thành và cả lòng biết ơn với
“người anh đưa lối / Cho tôi đi suốt cuộc đời thơ”.
Gần đây nhất, trong Kỷ yếu hội thảo quốc gia về danh nhân Quảng
Bình (tổ chức ngày 30 tháng 7 năm 2012), Tiến sĩ Phan Ngọc Thu trong bài
viết về “Nhà thơ Xuân Hoàng qua thời gian và quãng cách” đã khẳng định
“Nếu ngày xưa thi hào Nguyễn Du đã từng nói văn chương là “nết đất” (Văn
chương nết đất, thơng minh tính trời - Truyện Kiều ), thì sáng tác của Xn
Hồng đã góp phần vào nền thi ca hiện đại bằng sự biểu hiện một cách chân
thành, và xúc động hồn đất, hồn người q hương Quảng Bình nói riêng và
của cả miền Trung nói chung.” Và, bài viết cịn nêu nhận xét: “ Thơ Xuân
Hoàng thuộc xu hướng “mở rộng cánh cửa thơ cho thế giới hiện thực cuộc
sống ùa vào”. Chỗ mạnh của hồn thơ Xuân Hoàng là ở đấy; dường như ăng
ten cảm giác của nhà thơ thường trực phát hiện, đón nhận rất tinh nhạy những
vẻ đẹp của cuộc đời, và khi bắt gặp là nhanh chóng có thơ ngay.” [40]
7
Cũng trong mạch cảm xúc đó, Phan Văn Khuyến trong bài viết: Nhà thơ
của nhân dân đã khẳng định: “Nếu nói thơ Tố Hữu như biên niên sử về các
chặng đường của cách mạng Việt Nam, thì đọc thơ Xuân Hoàng ta cũng thấy
rõ từng giai đoạn lịch sử chiến đấu và xây dựng của Quảng Bình qua các tập:
Tiếng hát quê hương, Dải đất vùng trời, Cánh buồn đỏ…Có điều dễ thấy là
thơ anh có vần điệu trau chuốt, nhẹ nhàng dễ nhớ, dễ thuộc được công chúng
mến mộ.” [31, tr.42]
Ngồi ra cịn có nhiều bài viết khác của các của nhiều nhà thơ, nhà văn,
nhà nghiên cứu phê bình đăng trên các báo và tạp chí. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chưa có một cơng trình nào nghiên cứu thật toàn diện, đầy đủ về thế giới
nghệ thuật trong thơ Xuân Hoàng. Dù vậy, những ý kiến bàn luận trên đây là
tư liệu hết sức quý giá, giúp ích thiết thực cho chúng tôi thực hiện luận văn
này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các tập thơ và trường ca của Xuân Hoàng: Tiếng hát q hương (1959),
Du kích sơng Loan (1963); Hương đất biển (1971); Biển và bờ (1974);Dải
đất vùng trời (1970); Từ tiếng võng làng Sen (1983);Quãng cách lặng im
(1984); Thời gian và quãng cách (1990); Hoa quê Bác (1991); Thơ tình gửi
Huế (1995); Thơ gửi quê hương (1997);Nỗi niềm trao gửi (1997)…
Ngồi ra chúng tơi cịn sử dụng một số tác phẩm của nhà thơ đăng rải rác
trên các báo, cùng một số tác phẩm thuộc thể loại khác như hồi ký: Âm vang
thời chưa xa I, Âm vang thời chưa xa II.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Xn Hồng thơng qua những đặc
trưng nổi bật của cái tơi trữ tình và nghệ thuật biểu hiện.
8
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài thế giới nghệ thuật thơ Xn Hồng
chúng tơi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
Phương pháp hệ thống: Nhằm tiếp cận một cách hệ thống các tập thơ
của Xuân Hoàng và các bài nghiên cứu về thơ Xn Hồng.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này đi từ phân tích tác
phẩm để tổng hợp thành những luận điểm, luận cứ, luận chứng phù hợp với
yêu câu của luận văn.
Phương pháp so sánh: nhằm so sánh đối chiếu với thế giới nghệ thuật
của các nhà thơ cùng thời để tìm được những yếu tố mới lạ và bản sắc riêng
trong thế giới nghệ thuật thơ của nhà thơ.
Phương pháp thống kê: nhằm phát hiện hệ thống ngôn ngữ, hình ảnh, thể
thơ thường gặp trong thơ Xn Hồng, để từ đó nhận diện chính xác về đặc
điểm thế giới nghệ thuật của nhà thơ tìm hiểu được thế giới nghệ thuật thơ
Xuân Hoàng một cách hoàn chỉnh và tồn diện nhất.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã tìm hiểu thơ Xn Hồng trên bình diện của thế giới nghệ
thuật. Trong quá trình tiếp cận “Thế giới nghệ thuật thơ Xn Hồng”, người
viết xem đó như một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm nhiều phương diện có mối
quan hệ gắn bó biện chứng với nhau. Với đề tài này, người viết mong muốn
đóng góp thêm một hướng tiếp cận, nhằm tìm hiểu tương đối đầy đủ về sự
nghiệp sáng tác thơ ca của nhà thơ Xn Hồng, thơng qua việc nghiên cứu
những vấn đề nổi bật như Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân
Hoàng, Hình tượng cái tơi trữ tình và đặc trưng nghệ thuật trong thơ ơng, để
từ đó khẳng định bản sắc riêng độc đáo của ngịi bút Xn Hồng và vị thế
của ơng trong tiến trình vận động và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.
9
Người viết cũng hi vọng rằng những tư liệu và kết quả của luận văn sẽ
góp một phần thiết thực chuẩn bị cho việc giảng dạy phần văn học địa phương
trong chương trình nhà trường phổ thơng hiện hành.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có ba chương chính:
Chương 1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Hoàng.
Chương 2. Hình tượng cái tơi trữ tình trong thơ Xn Hoàng.
Chương 3. Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Xuân Hoàng
* * *
10
CHƯƠNG 1
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA
NHÀ THƠ XN HỒNG
1.1. CUỘC ĐỜI
1.1.1. Q hương và tuổi thơ
Xn Hồng (1925- 2004) tên thật là Nguyễn Đức Hoàng, quê gốc ở
Phước Hịa, Tuy Phước, Bình Định (gần mạn Gị Bồi quê ngoại của nhà thơ
Xuân Diệu). Nhưng xóm Câu, Đồng Hới, Quảng Bình lại chính là q mẹ.
Cái làng Đồng Đình mà Xn Hồng thường gọi thành Động Đình Hồ nằm
ngay giữa phố thị, bên cửa sông Nhật Lệ ấy là nơi nhà thơ sinh ra và đã nuôi
lớn nhà thơ “trong lời ru của sóng”, nơi mà những năm tuổi thơ ông đã “được
ngắm những cánh buồm trắng no gió căng phình uốn cong vút trên những
chiếc thuyền chở cá về làng vào buổi chiều. Gió nồm thổi lên từ biển thật
ngợp. Dải cát bên kia sông cứ sáng chói nắng vàng bên cạnh những lùm cây
xanh rì bóng mát, che ẩn những mái ngói đỏ tươi, những chịi rớ chơi vơi một
cách vững vàng trên mặt nước. Nước sông ở đây xanh một màu xanh thật lạ.”
[26,tr.34]. Cảnh sắc ấy cũng đã hịa vào thơ ơng:
Q hương tơi vốn hiền lành xinh đẹp
Sông rất xanh cửa biển mở chân trời,
Những động cát vàng ngói hồng chen lá biếc,
Một dãy thành rêu ấm nắng phơi
(Gửi quê hương chiến đấu)
Nhà thơ Xn Hồng từng nói rằng: “Người ta sinh ra ai mà chẳng có
q hương. Chính từ q hương của tuổi thơ mà chúng ta đi dần vào khái
niệm hoàn chỉnh về đất nước nói rộng ra, về Tổ quốc. [39, tr.5]
Dịng sơng Nhật Lệ trong xanh qua cái nhìn của ơng dường như có một
vẻ đẹp riêng: “ nước sơng ở đây xanh một màu xanh thật lạ. Nhìn ra cửa lạch,
11
ngọn đèn biển chất ngất trên động cát in hình dáng mảnh dẻ vào nền khơng
gian xanh biếc, ở đó những đám mây trắng thường hịa lẫn vào những con
sóng bạc chập chờn, hết tan lại hiện, hết hiện lại tan không cùng không tận
trong một sự đuổi bắt thầm lặng, diệu kì. Hình như chính những ước mơ
mơng lung của tuổi thơ tơi cũng đã bắt đầu hình thành ở đó, ở phía cuối cửa
biển xa lạ mà thân quen kia”. [26,tr.34] Và cũng chính biển nơi quê hương đã
giúp ông ngày càng trải nghiệm “ Đời là một biển sóng mn trùng. Cịn tơi
chỉ là con thuyền lênh đênh trên biển sóng đó. Các bến bờ chờ đợi bao giờ
cũng cịn ở xa, bao giờ cũng ở ngồi tầm tay với và thường là ở ngoài tầm
mắt bao quát chân trời của mình.” [26,tr.43]
Cũng như nhiều văn nhân khác, trong cuộc đời của mình Xn Hồng
đã từng đi và sống ở nhiều nơi, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn, cịn hầu
hết đời ơng gắn bó máu thịt với quê hương Đồng Hới- Quảng Bình. Trên quê
hương ấy, Xuân Hoàng đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ, cũng như những năm tháng hịa bình dựng xây trong gian khó. Xn
Hồng u q hương và gắn bó máu thịt với nó. Ơng nhớ từng con đường,
ngõ phố trong thị xã Đồng Hới:
Tôi thuộc hết tên đường trong thị xã
Những con đường mang những tiếng thân yêu:
Đường Lê Trực sớm chiều thường rộn rã,
Lê Thành Đồng xưởng mộc, biển sơn treo,
Lối cô Tám rẽ ngang về bến chợ,
Đào Duy Từ kè vững mở tầm khơi,
Lâm Úy vẫn cười kia bên nẻo phố,
Quách Xuân Kỳ cũng hẹn xuống đường vui.
(Gửi quê hương chiến đấu)
12
Có thể nói, tình u Xn Hồng dành tặng hết cho quê hương được đúc
kết lại qua tập thơ “ Thơ gửi Quê hương”. Và nhiều tập thơ khác nữa. Xn
Hồng đã hiến trọn tài năng, sức lực của mình cho quê hương Quảng Bình
yêu dấu. Trên mảnh đất kiên cường và gan góc này hầu như ở đâu cũng in dấu
chân nhà thơ.
Xuân Hoàng sinh ra trong một gia đình có ơng nội từng đỗ cử nhân sau
một thời gian học trường hậu bổ, ông được bổ làm tri huyện, huyện Hịa Đa,
Bình Thuận, miền cực nam xứ Trung Kì. Ít lâu sau ơng được cất nhắc lên làm
chức Án sát ở Bình Thuận. Nhưng do có sự liên hệ với một số sĩ phu yêu
nước ở Nam kỳ, bị bọn quan chức bí mật tố giác, nên bên Tây triều giám sát
rất kĩ. Sống dưới sự o ép ngột ngạt, càng ngày ơng càng nhận ra tính chất nơ
lệ của người cơng chức quan lại. Có tài bốc thuốc làm thơ ông xin từ quan ở
cái tuổi năm mươi, làm kẻ nhàn du, làm khách văn chương, bốc thuốc cứu
người nghèo không lấy tiền. Mặc dù không được sống cùng ông, chỉ gặp ông
một lần lúc lên ba và chỉ nghe kể lại; nhưng hình ảnh ơng nội vẫn để lại ấn
tượng rất sâu trong cuộc đời nhà thơ.
Ơng ngoại Xn Hồng lại là một ấm sinh. Ơng học giỏi nhưng không
ham thi cử, lấy sách làm bạn, ông chịu khó đi nhiều, để lùng sục hỏi mua
sách. Ông say mê với thú đọc sách và bổ sung khơng ngừng tủ sách của cha
để lại. Cũng bởi chính cái tủ sách của ông ngoại để lại đã làm Xn Hồng
thán phục và chống ngợp, tuy phải “kính nhi viễn chi”, mà vẫn vơ cùng say
mê. Và chính tủ sách đồ sộ đó đã đem lại nguồn tri thức phong phú làm hành
trang cho cuộc đời và tâm hồn thơ Xn Hồng. Ơng sớm tự ý thức được
rằng: “… bằng cái trí khơn nhỏ bé của mình, có chăm học mới đọc được chữ,
mới đọc được sách, mới khám phá được bao nhiêu điều bí mật ẩn dấu đằng
sau hai mươi cái tủ sách đầy ắp, hấp dẫn kia. [26,tr.55]
13
Thân mẫu Xn Hồng là con út trong gia đình, bà thơng chữ nho có thể
đọc được các sách Hán Nơm. Từ năm lên chín, bà thường được ơng ngoại rồi
các cậu kèm cặp, dạy chữ. Trong sáu năm học chữ nho ở nhà bà khơng chỉ
thuộc lịng Tứ thư, Ngũ kinh, mà còn thuộc nhiều thơ Đường và các truyện,
sách khác. Bà còn học và đọc được cả sách chữ quốc ngữ. Bà thường lấy
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm ru các cháu. Tuổi thơ
Xuân Hoàng đã lớn lên trong lời ru của mẹ.
Sống trong mơi trường ấy, Xn Hồng cũng được học chữ nho từ nhỏ;
tốt nghiệp bậc tiểu học ở Đồng Hới, ông vào Huế theo tiếp bậc trung học. Ở
đất thần kinh này, Xuân Hoàng may mắn được tiếp xúc với những thầy giáo
nổi tiếng như Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hoài Thanh…; và được giao
lưu với bạn bè cùng lứa tuổi trong khơng khí thơ ca của thời đại hồi bấy giờ.
Với vốn học vấn ấy Xn Hồng đã có một hành trang kiến thức và trí tuệ để
khi về quê nhà Đồng Hới tự tin bước vào nghề dạy học. Yêu thơ từ nhỏ, ông
đã tập làm thơ từ năm lớp ba tiểu học, rồi cũng từ đó đường đời thủy chung
với đường thơ cho tới tận sau này.
. Nhắc về những miền quê đã tác động đến hồn thơ Xn Hồng mà
khơng nhắc tới Huế cũng là một thiếu sót. Như trên đã nói, thời trẻ ơng đã
từng sống ở Huế. Sau ngày nước nhà thống nhất, hơn mười năm (1976-1989),
ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, sáp nhập thành một tỉnh lấy
tên là Bình Trị Thiên. Xn Hồng lại trở vào Huế cơng tác ở Hội Văn học
Nghệ thuật. Cũng như bao thi nhân khác, Xn Hồng nặng lịng u Huế, để
khi đi xa, ơng đã có riêng một tập Thơ tình gửi Huế với những Một chiều cố
đô, Đây trăng Vĩ Dạ, Hát về sông Hương, Những đêm Huế khi xa, Giã từ mưa
Huế…giúp nói hộ lịng mình. Hãy đọc một khúc “ Thơ xuân tặng Huế” của
Xuân Hoàng, sâu lắng kỷ niệm, bồi hồi và “rất Huế” xiết bao:
Tôi đi kháng chiến hai lần
14
Trở về: Huế vẫn trong ngần trời xanh
Vẫn vườn cây Huế thanh thanh
Vẫn mây vây khói xây thành vào xuân
Hương sen vẫn ngát mặt đầm
Vẫn xôn xao chút hương thầm tuổi hoa
Bồi hồi quên buổi cách xa
Xuân ơi, nhắc tháng năm tà mà chi?
1.1.2. Những chặng đường đời của một nhà thơ- chiến sĩ
Cũng như nhiều thanh niên trí thức cùng thế hệ, với tâm hồn lãng mạn,
Xuân Hoàng vừa dạy học kiếm sống, vừa u thích thơ văn. Vì vậy, con
đường học tập cũng không mấy suôn sẻ, một trong những bài thơ đầu tiên,
ông viết về quê hương, nhưng cũng gửi gắm tâm trạng, bài thơ Động Đình
Hồ, có đoạn:
Động Đình Hồ! Động Đình Hồ
Nắng vàng, trăng biếc, mộng san hô.
Thu sương nương cầu Cô Tô
Liễu mềm, lụa súng, bướm ngô rụng vàng
Đây thôn buồn! Đây thôn buồn.
Đây thơn vạn cổ hồng hơn tím sầu
Người đi đâu? Người đi đâu?
Lang thang gió bụi bạc màu tóc xanh?
Dừng chân lại dưới lều tranh
Chàng thi nhân sầu bên mành
Rượu tháng ngày một mình nghiêng ngả
Nợ bút nghiên, chàng khơng trả nữa…
Dòng thơ cuối vừa bày tỏ thái độ, vừa như một lời tiên cảm. Năm
1945, hai mươi tuổi Xuân Hoàng làm đơn xin vào học lại trường Việt Anh ở
15
Huế với quyết tâm lấy bằng tốt nghiệp Trung học. Nhưng chưa kịp thi thì tình
hình chính trị thay đổi. Trong hồi ký của ông đã ghi lại:“ Nửa đêm tôi đang
ngủ ngon bỗng bị đánh thức bởi nhiều tiếng súng nổ khắp nơi trong thành
nội…Chiếu (một người bạn thân của Xuân Hoàng) bỗng bật lên một nhận xét
đột ngột: Không khéo Nhật Pháp bắn nhau!”. Ở Việt Anh chúng tơi khơng
cịn thiết học hành gì nữa, chun đi săn lùng những tin tức ngày một phức
tạp hơn…”[26,tr.287] Trước tình hình đó, “nợ bút nghiên” khơng thể trả nữa,
nhà thơ trở về quê nhà, chuỗi ngày hoạt động cách mạng “trả nợ nước” bắt
đầu.
Tháng 3 năm 1945, Xuân Hoàng tham gia vào Đoàn Thanh niên cứu
quốc tại thị xã Đồng Hới, phụ trách công tác tuyên truyền, chuẩn bị cho cuộc
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945. Công việc đầu
tiên là tham gia diệt giặc dốt- một trong ba nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng
hồi bấy giờ. Xuân Hoàng theo những người đi biển để dạy chữ cho họ ngay
trên thuyền, giúp họ biết chữ để có thể hiểu và giác ngộ cách mạng. Ơng hăng
hái nhiệt tình tham gia mọi nhiệm vụ được cách mạng phân công: Dạy học ở
trường tiểu học Bảo Ninh, Đồng Hới. Làm cán bộ thông tin tuyên truyền ở
huyện Quảng Ninh và thị xã Đồng Hới. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ,
Xn Hồng hịa vào dịng người kháng chiến, sáng tác thơ văn kịp thời động
viên tinh thần chiến đấu của quân dân tỉnh nhà. Tháng 9 năm 1947 ông được
điều động về làm cán bộ biên tập tại Ty Thơng tin - Tun truyền Tỉnh Quảng
Bình.
Trong ba năm liền 1947, 1948, 1949 Xuân Hoàng được cử đi tham dự
lớp bồi dưỡng cán bộ văn nghệ do Đoàn văn nghệ kháng chiến Liên khu bốn
tổ chức ở Quần Tín, Thanh Hóa. Lớp bồi dưỡng do thầy Đặng Thai Mai phụ
trách. Ở đây, Xn Hồng cịn được học và được tiếp xúc với các thầy giáo là
những nhà văn hóa, nhà văn đã từng nổi tiếng như các thầy Trương Tửu, Vũ
16
Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Sanh. Thỉnh thoảng có nhà văn Nguyễn Tuân đến
nói chuyện về cách viết văn, đặc biệt là thể loại tùy bút mà thầy cho là loại
hình rất “khó tính”.
Cùng chung khóa học với ơng cịn có nhiều người mà về sau họ cũng đã
trở thành nhà thơ, nhà văn quen thuộc như: Bùi Hiển, Hoàng Trung Thông,
Trần Hữu Thung, Xuân Tửu, Minh Huệ, Nguyễn Thị Cẩm Thạnh, Thanh
Hương, Cẩm Lai… Cũng trong thời gian này, lớp học tổ chức các cuộc thi
sáng tác bao gồm các bộ môn: thơ, văn xuôi, nhạc, họa và kịch bản sân khấu.
Xn Hồng nhiệt tình tham gia, đạt giải nhì về tác phẩm văn xuôi. Riêng về
thơ ông trúng luôn hai giải: giải nhất về thơ lục bát và giải ba về thơ với bài
“Quê tôi”. Trở về, ông làm cán bộ biên tập kiêm thư kí Tịa soạn báo “Đánh
mạnh” của Tỉnh ủy Quảng Bình. Xn Hồng đã đi khắp chiến trường từ Lệ
Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới đến Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa… viết
báo, làm thơ, động viên kháng chiến.
Hịa bình lập lại ở miền Bắc, tháng 9 năm 1955 ơng được cử làm
Trưởng Phịng Văn nghệ thuộc Ty Văn hóa-Thơng tin Quảng Bình và được
bầu vào ban chấp hành, sau đó một năm được bầu làm Phó chủ tịch Hội Văn
nghệ Liên khu Bốn.
Năm 1957, Xuân Hoàng cùng với Minh Huệ, Minh Hiệu, Cẩm Lai được
giấy triệu tập của Ban Tuyên huấn Trung ương ra Hà Nội dự một lớp tập huấn
để sau đó tiến hành thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là một trong những
hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khóa đầu tiên, trong kỳ đại hội lần thứ nhất.
Năm 1959, Xuân Hồng được điều ra cơng tác ở Nhà xuất bản Văn học
với cương vị là Trưởng phòng biên tập Văn học hiện đại.
Sau một quãng thời gian ngắn sống ở Hà Nội, năm 1963, theo lời đề
nghị của Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Bình, Xn Hồng lại
đưa vợ con về quê nhà. Ông giữ chức vụ ủy viên thường trực Hội sáng tác
17
Văn nghệ Quảng Bình (ra đời từ năm 1960-1961), tiền thân của Hội Văn học
nghệ thuật Quảng Bình ngày nay. Năm 1964 Xuân Hoàng được bầu làm Chủ
tịch Hội sáng tác văn nghệ Quảng Bình tức là Hội Văn học nghệ thuật Quảng
Bình. Suốt cả mười năm (1965-1975) chống chiến tranh phá hoại bằng không
quân của đế quốc Mỹ, Xuân Hồng bám trụ ở q nhà, khơng quản ngại hy
sinh gian khổ, làm thơ ca ngợi những sự tích anh hùng của con người và
mảnh đất quê hương, đến tận các chiến hào, trân địa, các trọng điểm ác liệt
nhất đọc thơ, động viên đồng bào và chiến sĩ. Thơ Xn Hồng thời kỳ này
vừa trữ tình, vừa hào sảng, thực sự là tiếng thơ cất lên từ vẻ đẹp của tâm hồn
quê hương Quảng Bình trong chiến đấu.
Sau ngày đất nước hịa bình thống nhất, năm 1976, theo chủ trương của
trên, ba tỉnh Bình Trị Thiên hợp nhất, các cơ quan hành chính của tỉnh tập
trung về thành phố Huế. Thế là gia đình Xn Hồng cùng nhiều gia đình cán
bộ khác phải chuyển vào Huế. Xn Hồng giữ chức vụ Phó Chủ tịch và
quyền Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên. Căn nhà tập
thể của Hội Phụ nữ (cơ quan bà Bình-vợ của nhà thơ) ở số 6, đường Nguyễn
Thái Học, thành nơi gặp bạn thơ. Năm 1989, có chủ trương tách tỉnh, Xn
Hồng lại trở về Đồng Hới, ơng được bầu làm Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật
của Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình, cho đến ngày nghỉ hưu.
Nhìn lại cuộc đời mình, có lần trong Nhà văn Việt Nam-Chân dung tự
họa (Ngô Thảo & Lại Nguyên Ân, biên soạn, Nxb Văn học,1995), Xn
Hồng tự bạch như sau:
“Tơi rất bằng lịng với con đường mình đã chọn. (Có thể nói là từ bốn
mươi lăm năm nay sau khi dự lớp bồi dưỡng cán bộ văn hóa văn nghệ do
Đồn Văn nghệ kháng chiến Liên khu 4 mở, liên tục trong ba năm 1947,
1948, 1949 mà tơi là học viên khóa II). Tôi thấy người sáng tác (bất kỳ ở thể
loại nào) cũng cần phải có đức tính sau: - Hiếu học (bao gồm học ở sách vở, ở
18
cuộc đời, ở những người đi trước, ở bạn bè cả về nghiệp vụ lẫn về tri thức
nhiều mặt. – Yêu thương đời, yêu thương con người (cái tâm sáng tỏ) với một
nhiệt tình thắm thiết, sâu sắc và chân thực. Tất nhiên đối cực với lòng yêu
thương là sự căm ghét những cái xấu cũng với một dung lượng như vậy.
…Tôi quý trọng và học hỏi nhiều ở những nhà văn đàn anh có bản lĩnh
và uy tín trong giới văn học, Tôi học hỏi anh em trẻ ở các chỗ mạnh có thể
thấy được của họ (sự năng động, tính chất mới trong tư duy và sáng tạo) và
hay giao du với bạn đồng lứa mà tôi cho là cịn sức sáng tạo và có những quan
điểm tương đồng với mình trên một số mặt như Trinh Đường, Huy Phương,
Tạ Hữu Yên, Hoàng Minh Châu, Hữu Mai, Vũ Tú Nam v.v.”
Mấy chục năm làm lãnh đạo Hội, nhà thơ Xuân Hoàng đã chăm lo phát
hiện từng tác giả trẻ và tận tụy góp phần đẩy mạnh phong trào sáng tác ở q
nhà. Ơng đã gắn bó máu thịt với mảnh đất Quảng Bình, là đại diện và cũng là
cầu nối cho văn học của một vùng quê với văn học cả nước. Những năm cuối
đời, vô cùng bịn rịn với quê hương, nhưng tuổi già phải dựa vào con, ơng
cùng gia đình chuyển vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi cao sức yếu,
ơng vẫn đi về, cho đến lúc khơng cịn có thể đi được nữa.
Nhà thơ Xuân Hoàng qua đời vào lúc 11giờ 5 phút, ngày 24 tháng 1 năm
2004 (tức là ngày 4 tháng Giêng năm Giáp Thân), tại thành phố Hồ Chí Minh,
hưởng thọ 80 tuổi.
Cuộc đời cống hiến của nhà thơ-chiến sĩ Xuân Hoàng đã được Đảng và
nhân dân ghi nhận bằng các phần thưởng cao quý: Huân chương kháng chiến
chống Pháp hạng ba, Huân chương kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng
nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Huy chương vì sự nghiệp văn học
nghệ thuật Việt Nam và nhiều bằng khen của Bộ Văn hóa, Ủy ban nhân dân
tỉnh Quảng Bình..
19
1.2. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
1.2.1 Quan niệm sáng tác
Trên tạp chí Sơng Hương số 16 tháng 12 năm 1985, trong một
lần“Chuyện trị với nhà thơ Xn Hồng, tâm sự một đời cầm bút”, Bửu Nam
đã ghi lại ý kiến tâm sự của nhà thơ như sau: “thơ tơi có hai xu hướng chính
là sử thi và trữ tình. Thuở đi học tôi thường chịu ảnh hưởng của Vich-to-Huy
gô. Thơ ông vừa có cả hai xu hướng trên và hướng nào cũng có sự thành tựu.
Cịn ở Việt Nam thơ trữ tình của Huy Cận, thơ sử thi của Huy Thơng là những
ví dụ tiêu biểu, vạch hướng cho sự lựa chọn của tôi. Loại sử thi chủ yếu là
loại thơ hát ca về cái hùng tráng của lịch sử và những con người anh hùng, cá
nhân hay tập thể làm nên lịch sử. Mấy mươi năm qua lịch sử đã thâm nhập
thẩm thấu, qui định toàn bộ số phận dân tộc ta và cũng là số phận các cá nhân,
không ai đi ra ngồi được quỹ đạo đó. Đó là lịch sử của một dân tộc anh hùng
đã chiến đấu với kẻ thù có sức mạnh vật chất gấp trăm lần mình mà đã chiến
thắng. Thơ khơng thể khơng ngợi ca cái đó. Vả lại sứ mệnh của thơ ca và nhà
thơ khơng thể đứng ngồi cuộc, nhà thơ cũng phải là người đứng đầu sóng
ngọn gió, mơ tả hát ca về cuộc chiến đấu kiên cường, anh dũng của nhân dân
mình, cổ vũ khích lệ nhiệt tình, đốt cháy ngọn lửa thiêng liêng là lịng u
nước nơi mỗi cơng dân. Nhà thơ trong hồn cảnh đó phải là một cơng dân, mà
vũ khí cầm chặt trong tay là ngịi bút, tâm hồn trí tuệ, lịng căm thù và tình
u và hẳn là cần có cả niềm tin vững chắc nữa, Nhà thơ đánh địch bằng vũ
khí tinh thần.”
Xn Hồng đã sáng tác theo quan niệm mà mình vẫn ln ấp ủ ấy. Thơ
ông viết theo cái hồn sử thi nồng nhiệt nhất, ông ngợi ca không biết mệt mỏi
về những con người thật giản dị trong đời thường mà anh dũng vô song xuất
hiện trong cuộc kháng chiến như mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý anh hùng. Nhưng,
mặt khác, trong quan niệm của Xn Hồng, nhà thơ cịn là một con người –
20
hiểu theo nghĩa con người nhân loại, nhà thơ phải cố gắng và nổ lực trở nên
nhân loại nhất và khơng cái gì thuộc về con người mà xa lạ đối vối nhà thơ .
“Cái tơi” phải có của nhà thơ và “cái ta” của dân tộc, của thời đại phải cố
gắng hịa nhập làm một; đó là cái bản lĩnh sống của người làm thơ và bản lĩnh
của sự khái quát của anh ta và đó là cái gốc rễ của thơ trữ tình. Thơ trữ tình
vốn xuất phát từ chủ thể cảm xúc, cái tôi riêng của nhà thơ trong các mối
quan hệ với thế giới bên ngoài: thiên nhiên, xã hội lớn (đất nước, dân tộc nhân
loại), xã hội nhỏ (gia đình tình yêu, bạn bè, thân thuộc) và đơi khi với cả
chính mình, giữa những mâu thuẫn trong lịng khơng thể khơng biểu lộ,
khơng thể khơng giải quyết sự xung đột một cách nào đó trong cảm xúc thơ
để tiến tới sự hài hịa bình ổn trong nội tâm. Thơ trữ tình là tiếng nói con tim,
là lời biểu lộ tâm sự, là sự bộc bạch tâm hồn khi có tác động của thế giới bên
ngồi hoặc là sự nhìn lại cái thế giới bên trong khi khối lịng có điều ngổn
ngang muốn được cảm thơng trong sự bày tỏ. Xn Hồng phát biểu: Thơ trữ
tình của tơi bao giờ cũng mong đạt tới sự hịa nhập hữu cơ giữa “trữ tình
cá thể” và “trữ tình cơng dân”. Ngay cả trong chiến tranh tơi có tìm được cái
vẻ đẹp bình thường của cuộc sống để tạo cho được vẻ đẹp quân bình, trong
cái dữ dằn, khốc liệt của chiến tranh mà trong đó cảm xúc với thiên nhiên
chiếm vị trí chủ đạo: một đêm trăng Trường Sơn bình yên và thanh thản, một
vầng trăng ảo mộng đẹp như xứ sở của huyền thoại mà con đường uốn lượn
theo những dốc đèo cheo leo, những thác sâu, vực thẳm, khuất ẩn hiện vẻ đẹp
của thiên nhiên đem lại sự bình ổn cho tâm hồn thơ và dĩ nhiên là cho cả độc
giả, nó đem lại những giây phút nghỉ ngơi hiếm hoi để tái tạo lại sức mạnh mà
tiếp tục chiến đấu giữa cuộc chiến tranh đang gào thét với những âm thanh
cuồng nộ.
Tuy nhiên, cũng theo Xn Hồng, “có lúc hai loại này – sử thi và trữ
tình có sự giao tiếp và sự giao tiếp càng lớn càng nhuần nhuyễn một cách
21
vơ hình bao nhiêu thì sự thành cơng của một bào thơ càng dễ đạt bấy
nhiêu, đặc biệt thơ về đề tài chiến tranh: Bởi thơ về đề tài chiến tranh của ta
là thơ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nó thiên về ngợi ca nhưng nó phải
bộc lộ qua cái riêng của chủ thể trữ tình của người làm thơ, có thế nó mới
khơng chung chung, sơ lược, hời hợt.” [39,tr.24-25 ]
Những lời tâm sự trên đây là sự thể hiện quan niệm sáng tác của nhà
thơ. Khi tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ ông cũng thấy được sự vận động của
thơ theo hướng chính đó.
Nhìn lại từ năm 1975 trở về trước, ba mươi năm làm thơ của Xn
Hồng được cơ gọn ở tuyển tập Dải đất vùng trời (1976). Có thể tìm thấy ở
đây một Xuân Hoàng sử thi trọn vẹn nhất, một Xuân Hoàng hát ca không mệt
mỏi về cái hùng tráng của lịch sử, về khát vọng mang lý tưởng của cả cộng
đồng, về những con người kiến tạo nên lịch sử ngay trên mảnh đất thần kì của
q hương mình. Xn Hồng là một trong số ít các nhà thơ chuyên nghiệp đi
kháng chiến và kháng chiến chuyên nghiệp bằng thơ. Từ các địa danh bi tráng
mà ông qua: Bố Trạch, sông Gianh, Cảnh Dương, Đồng Hới…những anh
hùng kháng chiến vô danh hữu danh mà ơng gặp: du kích, bộ đội, Qch
Xn Kì, Trần Thiết…đến những sự kiện kháng chiến mà ơng trải qua: Cuộc
đưa tiễn, cuộc hội nghị ngoài khơi đều được miêu tả chân thật trong thơ bằng
cảm hứng ngợi ca:
Bức tranh thời đại còn nguyên nét
Con ngẫm mà yêu những lớp người
Áo rách dày lem đời hoạt động
Tìm trong đêm đói những ngày vui
( Gửi con gái 15 năm sau -1951)