ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ VINH
TU TỪ CÚ PHÁP
TRONG NGÔN NGỮ CÁC NHÂN VẬT
CỦA TIỂU THUYẾT SỐNG MỊN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng , tháng 05 năm 2014
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ VINH
TU TỪ CÚ PHÁP
TRONG NGÔN NGỮ CÁC NHÂN VẬT
CỦA TIỂU THUYẾT SỐNG MỊN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học :
TS. Bùi Trọng Ngoãn
Người thực hiện
Bùi Thị Vinh
Đà Nẵng , tháng 05 năm 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 5
4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 5
4.1 Phương pháp khảo sát thống kê, phân loại ............................................. 5
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp ........................................................... 5
5. Bố cục của luận văn .................................................................................. 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI . 6
1.1. Khái niệm tu từ cú pháp ..................................................................... 6
1.2. Miêu tả các loại tu từ cú pháp ................................................................ 8
1.2.1. Thu gọn cấu trúc cơ bản .................................................................. 8
1.2.2. Mở rộng cấu trúc cơ bản của câu .................................................. 12
1.2.3. Đảo ngữ ......................................................................................... 15
1.2.4. Câu hỏi tu từ .................................................................................. 16
1.3. Nam Cao và tiểu thuyết “Sống mòn” ................................................... 17
1.3.1. Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc ......................................... 17
1.3.2. Phong cách nghệ thuật của Nam Cao ........................................... 18
1.3.3. Tiểu thuyết “Sống mòn” ............................................................... 20
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP TU
TỪ CÚ PHÁP TRONG NGÔN NGỮ CÁC NHÂN VẬT CỦA TIỂU
THUYẾT SỐNG MÒN ................................................................................. 22
2.1. Các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân
vật thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại. ........................................................... 22
2.1.1. Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngơn ngữ đối thoại
của nhân vật được hình thành từ phương thức thu gọn cấu trúc............. 22
2.1.2. Các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ đối
thoại của nhân vật được hình thành từ phương thức mở rộng cấu trúc câu
................................................................................................................. 28
2.1.3. Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ đối thoại
của nhân vật qua kiểu câu chuyển đổi tình thái ..................................... 33
2.2. Các phương tiện tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân vật thể hiện
qua ngôn ngữ độc thoại thành lời ................................................................ 35
2.2.1. Phương tiện tu từ cú pháp trong ngôn ngữ độc thoại thành lời của
các nhân vật được hình thành từ phương thức thu gọn cấu trúc ............. 35
2.2.2. Các phương tiện tu từ cú pháp trong ngôn ngữ độc thoại thành lời
của các nhân vật được hình thành từ phương thức mở rộng cấu trúc. .... 38
2.2.3. Phép tu từ cú pháp trong ngôn ngữ độc thoại thành lời của các
nhân vật được hình thành từ phương thức chuyển đổi tình thái. ............ 40
2.3. Các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân
vật thể hiện qua độc thoại nội tâm .............................................................. 41
2.3.1. Phương tiện tu từ cú pháp trong ngơn ngữ độc thoại của các nhân
vật được hình thành từ phương thức thu gọn .......................................... 41
2.3.2. Các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ độc
thoại nội tâm của các nhân vật được hình thành từ phương thức mở rộng
cấu trúc .................................................................................................... 45
2.3.3. Biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ độc thoại của nhân vật
qua kiểu câu chuyển đổi tình thái............................................................ 49
2.4. Các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ người kể
chuyện. ........................................................................................................ 50
2.4.1. Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngơn ngữ của người
kể chuyện được hình thành từ phương thức mở rộng cấu trúc câu......... 50
2.4.2. Biện pháp tu từ cú pháp hình thành từ phương thức chuyển đổi
tình thái.................................................................................................... 55
CHƯƠNG 3. TẦM TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP
TU TỪ CÚ PHÁP ĐỐI VỚI CÁCH XÂY DỰNG NHÂN VẬT CỦA
NAM CAO ..................................................................................................... 56
3.1. Cá tính hóa nhân vật............................................................................. 56
3.2. Nêu bật thành phần xã hội của nhân vật .............................................. 65
3.2.1. Nhân vật xuất thân từ tầng lớp trí thức nghèo .............................. 65
3.2.2. Nhân vật thuộc tầng lớp nông dân ................................................ 68
C. KẾT LUẬN ............................................................................................... 72
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 73
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tu từ cú pháp trong tiếng Việt dù không phong phú bằng tu từ từ vựng
hay tu từ ngữ nghĩa nhưng có giá trị tu từ rất cao. Tuy nhiên tu từ cú pháp thật
khơng dễ nhận diện. Đồng thời, để đi tìm những cứ liệu của tu từ cú pháp thì
nơi biểu hiện phong phú nhất chỉ có thể là ngơn ngữ nghệ thuật.
Trong tiểu thuyết, giá trị tu từ cú pháp thể hiện rõ nhất thường là ở ngôn
ngữ của nhân vật. Tiểu thuyết “Sống mòn” là một trong những tác phẩm để
lại nhiều thành công ở phương diện này. Trong tác phẩm, dù ở trong ngôn
ngữ đối thoại, độc thoại hay ngôn ngữ người kể chuyện, Nam Cao vận dụng
và kết hợp rất linh hoạt các phép tu từ cú pháp nhằm diễn tả và làm nổi bật
tính cách của từng nhân vật. Nhờ vậy mà mỗi phát ngôn của mỗi nhân vật sẽ
thể hiện những nét tính cách riêng biệt, khơng thể trộn lẫn. Do đó, bên cạnh
những phương thức nghệ thuật khác, tu từ cú pháp là phương tiện để tác giả
thể hiện những suy tư, hành động, trạng thái, cảm xúc của nhân vật nhằm xây
dựng nên những nhân vật có cá tính.
Với mong muốn làm nổi bật tài năng sắc sảo của Nam Cao và khám
phá ngơn ngữ nhân vật của tiểu thuyết “Sống mịn” từ góc nhìn ngơn ngữ học,
chúng tơi chọn đề tài tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân vật của tiểu
thuyết “Sống mòn” làm đề tài nghiên cứu. Ở đề tài này chúng tôi không chỉ
tập trung khảo sát ở phương diện hình thức mà sẽ đi sâu phân tích, lí giải hiệu
quả nghệ thuật của các phép tu từ cú pháp đối với ngôn ngữ nhân vật.
Cũng thông qua việc tìm hiểu đề tài này, người viết nghĩ rằng đây là
một cơ hội để mình trau dồi thêm những kiến thức về tu từ học trong tiếng
Việt , hiểu thêm về Nam Cao và các sáng tác của ông. Với chúng tôi, những
cứ liệu thu được sẽ là nền tảng quan trọng cho quá trình giảng dạy về sau.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xung quanh các vấn đề của cuốn tiểu thuyết “Sống mòn”, Các nhà
nghiên cứu đã nhận xét, đánh giá tác phẩm này trên nhiều phương diện.
Đã có rất nhiều những cơng trình nghiên cứu, và bài viết đánh giá về nội
dung của tác phẩm. Đã từng có ý kiến cho rằng:“Sống mịn” là “cuốn sách
viết hỏng”. Soi xét cách hành xử, những suy nghĩ của nhân vật trong tác phẩm
với những giá trị ràng buộc người thầy trong xã hội, một nhà văn cho rằng:
“Nhà giáo mà tách rời học trị của mình và cái mục đích dạy người, đào tạo
người thì chẳng cịn gì để nói. Nhà giáo mà chỉ tính chuyện mưu sinh, tới
miếng ăn và tiền bạc thì cuộc đời tầm thường lắm, nhạt nhẽo lắm, dẫu một tài
năng như Nam Cao cũng không cứu vãn nổi” [dẫn theo 14, tr.37].
Ngược lại, những ý kiến khác lại khẳng định “Sống mòn” là cuốn tiểu
thuyết có giá trị về nhiều mặt. Như Nguyễn Đăng Mạnh đã thừa nhận: “Trong
số những cuốn tiểu thuyết của thời kì văn học 30 – 45, tơi cho rằng có hai tác
phẩm gọi là kiệt tác khơng tiền khoáng hậu viết bằng hai bút pháp khác nhau:
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và Sống mòn của Nam Cao” [dẫn theo 5. tr.2]
Hai năm sau khi tác phẩm được xuất bản, Nguyễn Đình Thi, trong bài
viết “Nam Cao”, đã có những nhận xét rất xáng đáng về giá trị nội dung của
tác phẩm. Ơng cho rằng: “Sống mịn tả cuộc sống thiểu nảo, quẩn, nhỏ nhen
của mấy người trí thức tiểu tư sản nghèo, một cuộc sống mù xám “mốc lên, gỉ
đi, mịn ra, mục ra”, khơng có lối thoát. Rộng hơn là vận mệnh mấy con người
ấy, ta thấy đặt ra một cách ám ảnh vận mệnh chung của cả một xã hội chua
xót, đau đớn, buồn thảm, tủi, trong đó sống khơng cịn ý nghĩa, quay về phía
nào cũng thấy dựng lên những bức tường bế tắc” [Dẫn theo 6, tr.201].
Trần Đăng Suyền cũng đồng quan điểm với Nguyễn Đình Thi. Ơng nhận
xét như sau: “Tiểu thuyết Sống mịn bề ngồi chỉ là những chuyện sinh hoạt
hằng ngày của mấy thầy cô giáo ở một trường tư thục ngoại ô, những cảnh
sống quẩn quanh của vợ chồng ông Học, cuộc sống tạm bợ của anh phu xe
v.v… nhưng bên trong đó lại chứa đựng nội dung ý nghĩa tư tưởng sâu sắc về
bi kịch tinh thần của người trí thức, về tình trạng chết mịn về tinh thần, về
vấn đề con người không được sống cuộc sống của con người theo đúng nghĩa
của nó v.v…” [14, tr.58].
Tập trung vào giá trị nhân bản của tác phẩm, Nguyễn Lương Ngọc với
bài viết “Nhà văn thức tỉnh nhân tính” cho rằng: “Ở những truyện như
Chuyện người hàng xóm, Đời thừa, Nước mắt, Điếu văn, và nhất là tiểu
thuyết Sống mòn, quan hệ - người được phanh phui khơng khoan nhượng.
Nếu điểm danh thì các thói xấu của người ta hiện hình gần đủ: Ham danh, đố
kị, bần tiện, xảo quyệt…Điều quan trọng hơn, là sau những dòng phanh phui,
mổ xẻ, bao giờ ta cũng thấy hiện lên đôi mắt “ầng ậng nước” của một tấm
lòng, một nhân cách lớn” [Dẫn theo 6, tr.220].
Về nghệ thuật, hầu hết các tác giả đều đánh giá cao nghệ thuật tự sự của
Nam Cao. Nguyễn Đăng Mạnh, trong bài viết “Sức hấp dẫn của Nam Cao”,
đã khẳng định Sức hấp dẫn của “Sống mòn” là nhờ sự sắc sảo ở khả năng
phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao: “Tiểu thuyết Sống mịn nếu khơng có
cái sâu sắc, phong phú của ngịi bút phân tích tâm lí thì làm sao có thể thu hút
được sự chăm chú của người đọc trên hàng trăm trang viết toàn về những
chuyện “chẳng có gì” chung quanh một bữa ăn, một căn nhà trọ, một chuyện
ghen tuông vớ vẩn…của mấy anh chị tư sản nghèo” [Dẫn theo 6, tr.218].
Phân tích “Nghệ thuật miêu tả tâm lí của Nam Cao”, Hà Văn Đức đã soi
rọi tiểu thuyết Sống mòn trên hai phương diện khắc họa tâm trạng và kết cấu
tâm lí. Ông khẳng định: “Nhân vật của Nam Cao không phải là nhân vật hành
động mà thường được soi rọi chủ yếu qua tâm lí. Chính đặc điểm này đã quy
định bút pháp miêu tả, ngôn ngữ, kết cấu của tác phẩm Nam Cao” [dẫn theo
14, tr.165].
Về phương diện ngôn ngữ, đa phần các bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở
những nhận xét, đánh giá chung về ngơn ngữ của tác phẩm “Sống mịn”, rất ít
cơng trình chun sâu. Dưới đây, chúng tơi đã khảo lược một số ý kiến nổi
bật của một số bài viếtvà cơng trình nổi bật.
Lại Ngun Ân, trong bài viết “Nam Cao và cuộc canh tân văn học”, đã
có những nhận xét khái quát về ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao. Ông cho rằng:
“Nam Cao tạo nên được một ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức được
những mạng lưới phức tạp gồm cả ngơn ngữ bên ngồi và ngơn ngữ bên
trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí những đan xen và
nhịe lẫn vào nhau của hai thứ ngôn ngữ ấy. Nam Cao là một trong số khơng
nhiều tác giả cùng thời có những tác phẩm mà ngôn ngữ dường như không cũ
đi so với thời gian” [dẫn theo 6, tr.216].
Nguyễn Hoành Khung, trong bài viết “Nghệ thuật viết truyện ngắn của
Nam Cao”, đã nhận định về ngôn ngữ trong các sáng tác của Nam Cao:
“Ngôn ngữ văn xuôi của ông cũng mới mẻ, gần với khẩu ngữ, nhất là trong
ngơng ngữ đối thoại. Có thể nói về nhiều mặt, các tác phẩm của Nam Cao đã
đánh dấu một bước phát triển mới của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam mới hình
thành trong nửa thế kỷ nhưng đang hiện đại hóa với một tốc độ thật nhanh
chóng” [Dẫn theo 6, tr.219].
Khai thác “Câu đặc biệt trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao”, Bùi
Thị Quy đã tiến hành giới thiệu chung, khảo sát, thống kê, phân loại và chỉ ra
giá trị biểu đạt của câu đặc biệt trong tiểu thuyết “Sống mịn”.
Cho tới nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về tác phẩm “Sống mịn”.
Nhưng đề tài tu từ cú pháp đến nay vẫn chưa có cơng trình nào đề cập dù chỉ
là ở mức độ khái quát. Vì vậy cùng với hiểu biết của bản thân, trong luận văn
này chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu đề tài tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các
nhân vật của tiểu thuyết “Sống mòn”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp.
Phạm vi nghiên cứu: Văn bản tiểu thuyết “Sống mòn” (tác phẩm văn học
trong nhà trường, Nxb hội nhà văn)
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp khảo sát thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này chúng rôi sẽ khảo sát và thống kê các phương
tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân vật của tiểu thuyết
“Sống mòn”. Song song với việc khảo sát và thống kê, chúng tôi tiến hành
phân loại các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp đã khảo sát và xếp
chúng vào nhóm dựa trên hình thức cấu tạo
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân chia tu từ cú pháp
trong ngôn ngữ các nhân vật thành các dạng thức chung. Từ đó đi đến lí giải
và làm sáng tỏ vai trị của các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp với vấn
đề cá tính hóa nhân vật trong tiểu thuyết này.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong
ngôn ngữ các nhân vật của tiểu thuyết “Sống mòn”
Chương 3: Tầm tác động của phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp đối
với cách xây dựng nhân vật của Nam Cao
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm tu từ cú pháp
Tu từ cú pháp đã được đề cập nhiều trong nhiều cơng trình phong cách
học. Qua tìm hiểu, chúng tơi đã thống kê được những quan điểm sau:
Võ Bình – Lê Anh Hiền, trong cơng trình “Phong cách học – Thực hành
tiếng Việt”, Nxb Giáo dục(1983), đã đưa ra ý kiến của mình về vai trị của cú
pháp trong tiếng Việt đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc áp dụng
phong cách học cú pháp trong việc phân tích hiệu quả diễn đạt dựa vào hình
thức kết cấu có mục đích của hoạt động lời nói. Bên cạnh đó, tác giả đã phân
loại các biện pháp phong cách học cú pháp; đó là: Đảo ngữ, Phép lặp, Phép
sóng đơi, phép treo, phép tăng cấp và tiệm thoái.
Đinh trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa, trong phần “Các phương tiện tiện tu
từ và các biện pháp tu từ cú pháp”, đã chia thành hai nhóm lớn: Nhóm những
kiểu câu giàu màu sắc phong cách (bao gồm: câu đơn đặc biệt, kiểu câu ẩn
chủ ngữ, kiểu câu lược chủ ngữ, kiểu câu có đề ngữ, các kiểu câu chuyển đổi
tình thái) và các biện pháp tu từ cú pháp (bao gồm: cú pháp sóng đơi, phép
nhấn mạnh các thành phần câu, phép dùng các kết từ trong câu ghép).
Đinh Trọng Lạc, trong cơng trình “99 phương tiện và biện pháp tu từ”
đã đưa ra khái niệm về phương tiện tu từ và biện pháp tu từ như sau: “Phương
tiện tu từ là những kiểu câu ngồi nội dung thơng tin cơ bản ra cịn mang phần
thơng tin bổ sung, cịn có màu sắc tu từ do được cải biến từ kiểu câu cơ bản
(có kết cấu C - V), tức là những kiểu câu có thành phần được thu gọn, hay
thành phần câu đảo trật tự” [8tr.84]. Căn cứ vào ba phương thức cải biến (rút
gọn, mở rộng, đảo trật tự), Đinh Trọng Lạc đã chia các phương tiện tu từ cú
pháp thành 3 nhóm:
- Nhóm phương tiện tu từ cú pháp rút gọn thành phần gồm: Tỉnh lược,
im lặng, câu đặc biệt.
- Nhóm phương tiện tu từ cú pháp mở rộng thành phần gồm: Đảo ngữ,
liệt kê, trùng điệp cú pháp, lặp liên từ, biến thể xen thêm từ, đề ngữ, trường
cú.
- Nhóm phương tiện tu từ cú pháp đảo trật tự thành phần gồm: Đảo ngữ,
phân cách, biệt lập.
Về khái niệm biện pháp tu từ, Đinh Trọng Lạc định nghĩa như sau: “Biện
pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng một cách khéo léo trong một hành động
lời nói, các phương tiện ngơn ngữ khơng kể là trung hịa hay tu từ trong một
ngữ cảnh rộng để tạo ra hệ quả tu từ.”
Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa các câu, và các phương tiện
chuyển đổi ý nghĩa của mối liên hệ giữa các thành tố của những kiểu câu này,
Đinh Trọng Lạc chia các biện pháp tu từ thành ba nhóm sau:
- Nhóm các biện pháp tư từ cú pháp dựa trên những tác động qua lại về
hình thức và ý nghĩa giữa một số kiến trúc cú pháp hoặc một số câu trong một
ngữ cảnh nhất định gồm: Sóng đơi, đảo đổi, lặp đầu, lặp cuối.
- Nhóm biện pháp tu từ cú pháp dựa trên sự chuyển đổi ý nghĩa của cấu
trúc cú pháp hoặc của kiểu câu trong một số ngữ cảnh nhất định. Đó là các
biện pháp làm nên sự chuyển dịch ngữ nghĩa trong những câu có có cấu trúc
bề mặt là: Cấu trúc nghi vấn, cấu trúc cảm thán, cấu trúc khẳng định, cấu trúc
phủ định.
- Nhóm các biện pháp tu từ cú pháp dựa trên sự chuyển đổi ý nghĩa của
phương thức liên hệ ngữ pháp giữa các thành tố của các câu hoặc giữa các
câu. Đó là biện pháp tu từ: Tách biệt, liên kết tù từ.
Bùi Trọng Ngoãn, trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt ”,
ngồi tham khảo “Phong cách học tiếng Việt” (1993), đã kể thêm giá trị tu
từ của một số kiểu câu. Theo quan điểm của Bùi Trọng Ngỗn, tu từ cú pháp
gồm có những phương tiện và biệp pháp tu từ sau:
- Về phương tiện tu từ cú pháp gồm những phương tiện tu từ cú pháp
sau:
+ Phương tiện tu từ cú pháp hình thành từ phương thức thu gọn cấu trúc
gồm: câu đặc biệt và câu dưới bậc.
+ Phương tiện tu từ cú pháp hình thành từ phương thức thu gọn cấu trúc
gồm có: đề ngữ, giải ngữ, tình thái ngữ.
+ Một số câu có giá trị tu từ nổi bật: câu có tác dụng khẳng định, một số
kiểu câu có tác dụng phủ định
Biện pháp tư từ gồm: im lặng, câu hỏi tu từ, phép điệp ngữ, đảo ngữ, sử
dụng “thì”, “là”, “mà”.
Trong những quan điểm trên, chúng tôi thống nhất chọn quan điểm của
Bùi Trọng Ngỗn làm cơ sở lí luận xun suốt cho quá trình nghiên cứu đề tài
tu từ cú pháp trong ngôn ngữ các nhân vật của tiểu thuyết “Sống mịn”.
Ngồi ra, trong q trình nghiên cứu, chúng tơi sẽ lựa chọn một số khái niệm,
quan điểm của các nhà nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận của đề
tài.
1.2 Miêu tả các loại tu từ cú pháp
1.2.1. Thu gọn cấu trúc cơ bản
1.2.1.1. Câu đơn đặc biệt
“Câu đơn đặc biệt là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (Có thể
thêm trung tâm cú pháp phụ), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm
cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ” [3,
tr.152].
Việc phân chia kiểu câu đặc biệt có nhiều luồng ý kiến khác nhau. Dựa
vào quan điểm của Diệp Quan Ban chúng tơi trình bày ba kiểu câu đặc biệt:
Câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ, câu đặc biệt thán từ.
a. Câu đặc biệt danh từ
“Câu đặc biệt danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ hoặc cụm
danh từ” [3, tr.154].
Ví dụ: Bom tạ (Nguyễn Đình Thi)
Câu đặt biệt danh từ thường được dùng trong những trường hợp sau:
- Miêu tả sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của vật, hiện tượng, nêu hồn
cảnh khơng gian, thời gian, xác nhận sự hiện diện của một cảm xúc...nhằm
đưa người đọc vào cương vị chứng kiến.
- Nêu sự hiện diện của các hiện tượng thiên nhiên mà trong nhiều trường
hợp được dùng làm cái hoàn cảnh nền cho sự kiện khác nêu trong những câu
xung quanh.
- Dùng làm câu cảm thán đế xác nhận một hiện trạng tâm lí, để nói lên
thái độ đánh giá hay tâm trạng hiện hữu liên quan đến sự vật, hiện tượng được
gọi tên bằng danh từ trong câu.
- Dùng làm lời gọi.
- Dùng làm biển đề tên các cơ quan, địa điểm v v.
- Dùng nêu tên thời gian, miền đất, cảnh vật...trong nhật kí, phóng sự [3,
tr.155].
b. Câu đơn đặc biệt vị từ
“Câu đơn đặc biệt vị từ có trung tâm cú pháp chính chính là động từ, tính
từ hay cụm động từ” [3, tr.155].
Câu đặc biệt vị từ được dùng với các ý nghĩa khái quát sau:
- Chỉ sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của sự kiện.
Ví dụ: Cháy nhà
- Chỉ sự tồn tại khái quát (khi vị từ là những từ chuyên dụng với ý nghĩa
tồn tại như từ có, cịn…).
Ví dụ:
Cịn bạc, cịn tiền, cịn đệ tử
Hết tiền, hết bạc, hết ông tôi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Chỉ sự tồn tại định vị. Câu đặc biệt - vị từ chỉ sự tồn tại định vị là câu
có khn hình chung: “Giới ngữ chỉ không gian + Vị từ + danh từ”.
Ví dụ: Trên đồng có hai con trâu.
- Chỉ sự xuất hiện và tiêu biến. Câu đặc biệt vị từ chun dụng chỉ xuất
hiện và tiêu biến có khn hình: “Trạng ngữ khơng gian / thời gian + vị từ +
danh từ”.
Ví dụ: Bỗng xuất hiện một bóng người.
c. Câu đặc biệt thán từ
Theo Diệp Quan Ban, “câu cảm thán là một phát ngôn đặc biệt. Thán từ
và các quán ngữ cảm thán có thể tự chúng làm thành câu cảm thán với tư cách
là một phát ngôn đặc biêt, tức là phát ngôn không được thành hai phần đề thuyết và khơng chứa nghĩa biểu hiện” [2, tr.234].
Ví dụ: Ô hay (Bà cứ tưởng con đùa.) [2, tr.234].
1.2.1.2. Câu tỉnh lược
“Trong một chuỗi lời nói hay một đoạn văn khi dựa vào tổ chức và ngữ
nghĩa của câu trước để lược bớt thành phần câu sau nó theo một mục đích ngữ
dụng nào đó ta có phép tỉnh lược” [11, tr.51]. Theo Bùi Trọng Ngỗn, phép
tỉnh lược có quan hệ trực tiếp đến các phương tiện tu từ. Nó là một cách thức
tu từ có tác dụng nhấn mạnh thơng tin và tăng cường tính biểu cảm.
a. Câu tỉnh lược thành phần chủ ngữ
Tỉnh lược chủ ngữ là trường hợp chủ thể, đối tượng giao tiếp và cái được
nói đến nằm trong cảnh huống bị lược bỏ nhưng có thể khơi phục được nhờ
vào ngữ cảnh.
Ví dụ: Hơm nay tha hồ các cháu vui chơi cho thoa chí, ngày mai mong
các cháu ra sức học tập. Ø Phải siêng năng tập thể thao cho mình mẩy được
nở nang. (Hồ Chí Minh - Nhân dịp tết trung thu cùng các trẻ em Việt Nam)
b. Câu tỉnh lược thành phần vị ngữ
Trong câu, thành phần vị ngữ bị lược bỏ nhằm mục đích nhấn mạnh sự
vật, sự việc, hiện tượng được đề cập.
Ví dụ: Quyên mị thắt lưng Ngạn lấy bi đơng. Cơ lắc nhẹ (Ø)
(Anh Đức)
1.2.1.3. Im lặng
“Phép im lặng, phép lặng hay phép ẩn ngữ là phương thức biểu đạt bằng
cách bỏ trống để người đọc, người nghe tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời”
[11, tr.51]. Theo Bùi Trọng Ngoãn, phép im lặng thường được thể hiện bằng
dấu ba chấm - dấu châm lửng (…). Tuy nhiên, dấu ba chấm trong văn bản có
3 khả năng:
Khả năng 1: Dấu ba chấm thay cho trường hợp v.v (v.v nghĩa là tức là
còn rất nhiều trường hợp là tương tự).
Ví dụ: Để làm một bài văn nghị luận xã hội, học sinh cần phải huy động
nhiều phương pháp: Phương pháp phân tích, chứng minh, giải thích, bình
luận…
Khả năng 2: Dấu ba chấm “nói bằng khơng nói, viết bằng khơng viết” để
người đọc tự suy lấy (Nếu nói ra khiến lời lẽ trở nên trơ trẽn, xúc phạm hoặc
vì mục đích tế nhị).
Ví dụ:
Chợt nghe tin nhà...
Ra thế...
Lượm ơi!
(Tố Hữu)
Khả năng 3: Dấu ba chấm nhằm diễn tả sự trải dài và kéo rộng của đối
tượng.
Ví dụ:
Anh đi đâu về đâu
Cánh buồm nâu…Cánh buồm nâu…Cánh buồm…
(Nguyễn Bính)
1.2.1.4. Câu dưới bậc
Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hịa, trong cuốn “Phong cách học tiếng
Việt”, đã tách các thành phần câu, nâng các thành phần đó thành những
“câu”, “ngữ trực thuộc” và khẳng định “câu dưới bậc” là một biện pháp tu từ.
Tách câu là một biện pháp tu từ học với dụng ý tu từ rõ rệt, nhằm miêu tả nhịp
điệu diễn biến của hình tượng, hoặc miêu tả nhịp điệu của cảm xúc, nhấn
mạnh thơng tin.
Ví dụ như: “Bà ấy mệt quá. Không lê được một bước. Không kêu được
một tiếng. Cơ chừng tiếc của. Cơ chừng hết sức. Cơ chừng hết hơi….”
(Nguyễn Công Hoan)
1.2.2. Mở rộng cấu trúc cơ bản của câu
1.2.2.1. Câu có thành phần phụ là giải ngữ
“Giải ngữ của câu thường đứng giữa hoặc đứng sau nịng cốt câu cũng
có kiểu thường đứng trước nịng cốt câu (đó là kiểu mang ý nghĩa liệt kê,giải
ngữ được dùng để làm sáng tỏ thêm một phương diện nào đó liên quan gián
tiếp đến câu làm cho người ta hiểu câu nói đúng hơn, rõ hơn). Trực tiếp nó
cáo tác dụng bổ sung các chi tiết, bình phẩm việc nói trong câu làm rõ xuất
xứ, thái độ, cách thức, thứ tự v.v” [3, tr.173].
Ví dụ:
Cơ bé nhà bên (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hơm gặp tơi vẫn cười khúc khích
Mắt đen trịn (thương thương q đi thơi)…
(Giang Nam)
1.2.2.2. Câu có thành phần phụ là đề ngữ
“Đề ngữ là chức năng cú pháp rất thông dụng trong câu tiếng Việt. Đề
ngữ thường đứng trước chủ ngữ; đơi khi nó cũng đứng sau chủ ngữ, trước vị
tố, và trong trường hợp này nó được gọi là đề ngữ thứ. Đề ngữ có thể nhận
tiếng “về”, tiếng “đối với” vào trước nó, vì nó chỉ đối tượng của sự nói năng,
sự cảm nghĩ” [2, tr.156].
Ví dụ 1: Giàu, tôi cũng giàu rồi. Sang tôi cũng sang rồi.
(Nguyễn Cơng Hoan)
1.2.2.3. Phép điệp ngữ
Theo Bùi Trọng Ngỗn “phép điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp lại có nghệ
thuật một từ, một ngữ hay một kiểu cấu trúc cú pháp trong nhiều câu liên tiếp
nhằm nhấn mạnh một nội dung, tăng cường tính nhạc tính và sức biểu cảm.”
[11, tr.52]. Phép điệp được chia thành 2 loại sau:
a. Điệp từ ngữ
Yếu tố điệp có thể nằm ở mọi vị trí (đầu câu, giữa hay cuối câu), yếu tố
điệp có thể là chủ ngữ, hay vị ngữ.
Ví dụ: Trong bài ca dao “Anh đi anh nhơ quê nhà”, điệp từ “nhớ” dàn
trải trên từng câu thơ gợi lên một nỗi nhớ thường trực trong lòng người ra đi:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dâm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tác nước bên đường hôm nao.
b. Điệp cấu trúc (lặp cú pháp)
Lặp cú pháp là lặp lại cấu trúc cú pháp của câu đi trước nó. Ở đây cũng
có thể có “lặp hồn tồn” và “lặp một phần”.
Ví dụ: Sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho tơi! Sẽ có một ngày
từng con đường nhỏ trả lời cho tôi!
(Nhớ mùa thu Hà Nội - Vũ Thanh)
1.2.2.4. Sử dụng “thì”, “là”, “mà”
Sử dụng “thì”, “là”, “mà” trong câu được xem là một biện pháp tu từ.
“Thì”, “là”, “mà”, có những chức năng như có thể phân tách hoặc liên kết các
thành phần của một câu, hai câu hay là tiền giả định với một câu” [9, tr.238].
- “Thì”: Từ này có chức năng ngăn cách phần chủ ngữ và vị ngữ. Tùy
vào ngữ cảnh mà nhấn mạnh nét nghĩa tất yếu hoặc tương phản. Nhưng nhìn
chung “thì” thường dùng trong lối kể lể, liệt kể sự vật.
Ví dụ 1: Mùa hè thì nóng mùa đơng thì lạnh. [dẫn theo 11, tr.53].
Ví dụ 2: Con tơi đứa thì đi học, đứa thì đi làm…[dẫn theo 9, tr.239].
- “Là” : Dùng làm một dấu hiệu ngắt câu hoặc thành phần câu. Mức độ,
sắc thái bắt buộc của “là” nhẹ hơn “thì”.
Ví dụ: Hứa là phải làm. [dẫn theo 9, tr.239]
- “Mà” : Có chức năng của kết từ, nó là từ nhằm nhấn mạnh chủ ngữ
hoặc vị ngữ. Tùy theo ngữ cảnh, nội dung của câu, “mà” có thể thể hiện sự
khẳng định, ngạc nhiên hoặc mỉa mai…
Ví dụ:
Người mà đến thế thì thơi
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi
(Nguyễn Du)
- Hiệu quả tu từ: Việc dùng “thì”, “là”, “mà” là biện pháp để gia tăng
ngữ điệu, nhấn mạnh một nét nghĩa bắt buộc, tương phản…Từ đó thể hiện
hàm ý khẳng định, hoặc phủ nhận, trách móc, mỉa mai của người nói.
1.2.2.5. Liệt kê
“Liệt kê là sắp xếp nối tiếp những đơn vị cú pháp cùng loại (Cụm từ
cũng như thành phần câu)” [7, tr.227]. Theo Đinh Trọng Lạc, trong nghệ
thuật liệt kê có chức năng tu từ khá đa dạng:
- Liệt kê được sử dụng như là một phương tiện bình giá chủ quan các sự
vật hiện tượng.
- Liệt kê được sử dụng với giá trị biểu cảm lớn và gây được ấn ấn tượng
sâu sắc trong lòng người đọc.
1.2.3. Đảo ngữ
Về phép đảo ngữ, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” tác giả
Đinh Trọng Lạc đã trình bày cụ thề về phép tu từ này.
“Phép đảo ngữ là hiện tượng vi phạm có chủ đích trật tự chuẩn mực của
các đơn vị lời nói nhằm mục đích tách ra một thành tố nghĩa - cảm xúc nào
đó. Chức năng tu từ của đảo ngữ là làm thay đổi tiết tấu câu, gợi màu sắc biểu
cảm - cảm xúc, gây ấn tượng mạnh” [8, tr.85].
Theo quan điểm của Bùi Trọng Ngoãn, trái với cú pháp thuận ( Với câu
đơn: Trạng ngữ, C - V - B; với câu ghép: Nếu…thì; Tuy…nhưng) thì gọi là
đảo ngữ. đảo ngữ có những kiểu tiêu biểu sau:
- Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ khiến tiêu điểm của thành phần vị ngữ
được nhấn mạnh.
Ví dụ: Tiến lên chiến sĩ ! Tiến lên đồng bào!
(Hồ Chí Minh - Liên Xơ vĩ đại)
- Đảo bổ ngữ của động từ ra trước câu làm cho sự vật, hiện tượng nổi bật
hẳn lên và gây cảm giác về một cái gì quan trọng trong cảm xúc.
Ví dụ:
“Cái hình ảnh ngu dại của tơi ngày trước, hơm nào tơi cũng thấy ở
trong tịa báo hai buổi.”
(Nguyễn Công Hoan)
- Đảo bổ ngữ của câu lên trước trạng ngữ thường mang sắc thái nhấn
mạnh, bao trùm, mở rộng khơng gian nghệ thuật
Ví dụ: “Hốt hoảng, chị Dậu bồng cả hai con đứng dậy”
(Ngô Tất Tố)
1.2.4. Câu hỏi tu từ
“Dùng câu hỏi tu từ để mang lại sức nặng cho lời khẳng định, để thay đổi
mạch văn hoặc để bày tỏ một băn khoăn, một nỗi niềm, để gây sự liên
tưởng…cũng là một biện pháp tu từ thường gặp” [1, tr.317].
Trong giao tiếp, chúng tôi nhận thấy tùy theo từng ngữ cảnh cụ thể, câu
hỏi tu từ có thể thực hiện các hành vi gián tiếp khác, bên cạnh sự khẳng định
hay phủ định, như: Bác bỏ, khuyên nhủ, đánh giá, từ chối, chấp nhận, phân
trần, giải thích, tranh luận.
Ví dụ: Để ngợi ca vẻ đẹp và ý chí, nghị lực kiên cường của cô gái trước
sức mạnh của kẻ thù nhà thơ Tố Hữu đã dùng liên tiếp những câu hỏi sau:
Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay khơng có tuổi?
Mái tóc em đây hay là mây là suối?
Đơi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông?
(Tố Hữu)
Như vậy, về phượng tiện và biện pháp tu từ cú pháp gồm có các phương
tiện sau: Câu đặc biệt; câu dưới bậc; giải ngữ; đề ngữ; đảo ngữ; một số kiểu
câu có giá trị tu từ; im lặng; điệp ngữ; liệt kê; câu hỏi tu từ; sử dụng “thì”,
“là”, “mà”. Nhưng để tập trung nghiện cứu sâu hơn về đề tài tu từ cú pháp
trong ngôn ngữ các nhân vật trong tiểu thuyết “Sống mịn”, ở chương II,
chúng tơi chỉ lựa chọn khảo sát những phương tiện và biện tu từ cú pháp mà
chúng tơi cho rằng chúng có vai trị quan trọng trong việc làm nổi bật cá tính
của nhân vật và phong cách của Nam Cao. Đó là những phương tiện và biện
pháp tu từ sau: Câu đặc biệt; câu tỉnh lược; phép im lặng; giải ngữ; đề ngữ; sử
dụng “thì”, “là”, “mà”; điệp ngữ; đảo ngữ; liệt kê;câu hỏi tu từ.
1.3. Nam Cao và tiểu thuyết “Sống mòn”
1.3.1. Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc
Tham khảo cuốn “Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao” của Trần Đăng Suyền
và tổng hợp nguồn tư liệu về Nam cao, và bằng những hiểu biết của mình,
chúng tơi khẳng định rằng Nam Cao (1917 - 1951) là một trong những cây
bút văn xuôi xuất sắc của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Ông là một
trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu với những tác phẩm được xếp vào
hàng kiệt tác của văn học Việt Nam.
Hành trình nghệ thuật của Nam Cao được chia làm hai giai đoạn: Trước
và sau cách mạng. Ở mỗi giai đoạn, Nam Cao đều để lại những tác phẩm xuất
sắc.
Trước Cách mạng tháng Tám, sáng tác của ơng tập trung ở hai đề tài
chính: Đề tài người nơng dân nghèo và đề tài trí thức nghèo. Với đề tài người
nông dân, Nam Cao đi sâu phản ánh và lí giải tình trạng người lao động nghèo
khổ bị đẩy vào con đường tha hóa. Nam Cao đã không ngần ngại lột trần sự
thật khổ đau, bi kịch đói nghèo của người nơng dân dưới ách thống trị của bọn
cường hào, ác bá. Bằng những truyện như: “Trẻ con khơng được ăn thịt chó”,
“Mua danh”, “Tư cách mõ”, “Điếu văn”, “Một đám cưới”, “Dì Hảo”, “Lang
Rận”, “Nửa Đêm”, “Chí Phèo”,“Lão Hạc”, đã phản ánh chân thực số phận
người nông dân và bức tranh của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng
Tám. Thế nhưng, viết về những con người rơi vào con đường khốn cùng, bị
tha hóa về nhân cách, Nam Cao khơng bơi nhọ họ. Trái lại, ngay trong những
áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, Nam Cao vẫn giữ vững lòng tin của
ông về vẻ đẹp tâm hồn và bản chất lương thiện của họ. Điển hình những nhân
vật cùng tên trong hai tác phẩm: “Lão Hạc” và “Chí Phèo”.
Nếu ở đề tài về người nông dân, Nam Cao thường phản ánh những bi
kịch của sự bần cùng hoá, lưu manh hố thì với đề tài người trí thức tiểu tư
sản, Nam Cao lại xoáy sâu vào bi kịch bị vỡ mộng, bi kịch “sống mịn” của
những trí thức nghèo. Ở đề tài này, chúng ta có thể kể tên những tác phẩm
như: “Những truyện không muốn viết”, “Trăng Sáng”, “Đời Thừa” “Sống
mòn”… Trong các tác phẩm này, nhân vật trung tâm là những nhà văn nghèo,
sinh viên nghèo thất nghiệp, những giáo khổ trường tư, công chức nghèo. Họ
là những con người có nhân cách, có tài năng, khát khao được sống có ít
nhưng lại bị hồn cảnh và nỗi lo cơm áo đè nén, vùi dập. Thế nhưng, họ những người trí thức nghèo, bên cạnh những cái đáng giận, đáng trách đều có
những phần rất đáng thương, đáng quý bởi cuối cùng họ vẫn kịp thức tỉnh để
trở về với con người trung thực.
Tuy ở cả hai đề tài này, Nam Cao chưa nhìn thấy ánh sáng Cách mạng
để hướng con người đến sự đổi thay. Nhưng ở hai đề tài trên, Nam Cao đã
ngầm phản ánh một xã hội nhiều bất công, tồn tại nhiều sự “vô lí” bóp nghẹt
quyền sống và ước mơ của con người.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một nhà văn sớm đi theo cách
mạng. Nam Cao đã dùng ngòi bút của mình phục vụ kháng chiến, phục vụ
nhân dân. Những tác phẩm nổi bật ở giai đoạn này như: “Đôi mắt”, “Nhật kí ở
rừng”, “Truyện biên giới”.
1.3.2. Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Bước vào địa hạt văn chương với sự đam mê, và ý thức cách tân, sáng
tạo, Nam Cao đã từng bước trưởng thành và dần có được những tác phẩm mới
về nội dung tư tưởng, độc đáo về mặt nghệ thuật. Tất cả những cái độc đáo,
riêng biệt lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững nhất qn đã làm nên phong
cách nghệ thuật của Nam Cao.
“Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất
tương đối ổn đỉnh của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện
nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác
phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [15, tr.256].
Phong cách nghệ thuật của Nam Cao thể hiện trên nhiều phương diện,
nổi bật phải kể những điểm độc đáo, mới mẻ trong cách khai thác đề tài. Ở đề
tài người nông dân và đề tài người trí thức Nam Cao thường đi vào “cái hàng
ngày” nhưng mang tính phổ biến. Đọc các tác phẩm của Nam Cao, người đọc
không chỉ khám phá nội dụng hiện diện ở bề mặt văn bản mà còn đi sâu vào
những đúc kết có tính chất triết lí khái qt. Chẳng hạn, qua một bữa ăn, cách
ăn của bà cụ trong truyện ngắn “Một bữa no”, nhà văn đã phác họa chân thực
về tình cảnh đói nghèo của người nơng dân Việt Nam trước Cách mạng.
Chính cái đói có nguy cơ làm mất đi giá trị của con người.
Đi sâu miêu tả tâm lí để xây dựng hình tượng nhân vật thơng qua sử
dụng hình thức đối thoại và độc thoại nội tâm là đặc điểm tiếp theo trong
phong cách nghệ thuật của Nam Cao. Nam Cao không chú trọng xây dựng
những biến cố lớn mà tập trung khái tác tâm lí nhân vật. Nhà văn thường để
cho nhân vật tự bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng của mình, một mình tự nói với
mình, sử dụng rộng rãi biện pháp độc thoại nội tâm, độc thoại bên trong.
Cũng vì vậy, kết cấu của tác phẩm cũng xoay quanh trục tâm lí của nhân vật.
Ngơn ngữ trong những sáng tác của Nam Cao sâu sắc, giàu tính triết lí
nhưng cũng giản dị và gần gũi với ngôn ngữ đời thường. Đơn cử như tiểu
thuyết “Sống mòn”, người đọc vừa thấy được chất đời thường trong ngôn ngữ
đối thoại của nhân vật nhưng cũng nhận thấy được sự khéo léo của Nam Cao
khi chuyển tải những suy ngẫm, triết lí về cuộc đời và con người ở ngôn ngữ
độc thoại. Bên cạnh đó, “Nam Cao đã tạo được một ngơn ngữ ít nhiều phức
điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngơn ngữ bên ngồi và
ngơn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí cả
những sự đan xen và nhịe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy” [dẫn theo 5,
tr.216]. Bởi lẽ, Nam Cao khơng chỉ phản ánh cuộc sống, tính cách nhân vật
qua ngơn ngữ đối thoại mà cịn chú trọng đi sâu khai tác đời sống nội tâm của
nhân vật, vì vậy ngơn ngữ tác giả khơng lấn át đi ngôn ngữ nhân vật. Mặt
khác, thông qua ngôn ngữ nhân vật Nam Cao cịn khéo léo gửi gắm những
tun ngơn nghệ thuật của mình. Hộ (Đời thừa), Điền (Giăng sáng) là những
nhân vật thể hiện rất rõ quan điểm nghệ thuật của ông.
Tác phẩm của Nam Cao lôi cuốn độc giả một phần nhờ vào chất trữ tình
thấm đậm qua từng trang viết của ông. Những trang văn của Nam Cao bắt
nguồn từ sự cảm thông với những nỗi khổ khơn cùng của con người. Có lẽ
trong tiềm thức của mình, Nam Cao ln mong mỏi, khát khao về một cuộc
sống giàu tình người, con người có tư cách, phẩm giá.
Sự phát triển của văn học là không ngừng, thế nhưng trong q trình
phát triển ấy, người đọc vẫn khơng lãng quên những sáng tác của Nam Cao.
Mỗi nhà văn mang cho mình một phong cách sáng tác riêng, bằng tài năng và
tâm huyết với nghề, Nam Cao viết văn khơng chỉ như là nghề để kiếm sống
mà cịn là cách để mình sống trong lịng người đọc.
1.3.3. Tiểu thuyết “Sống mịn”
Viết về đề tài người trí thức, tiểu thuyết “Sống mòn” là một trong số
những tác phẩm xuất sắc Nam Cao. Với “Sống mòn”, Nam Cao đã phác họa
một cách chân thực, rõ nét tấn bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước
Cách mạng tháng Tám. Bi kịch này thể hiện qua những suy tư, dằn vặt của
Thứ - nhân vật đại diện cho tầng lớp trí thức nghèo.