ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
LÊ THỊ KIM
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
QUA TẬP MÙA HOA CẢI BÊN SƠNG
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/ 2014
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
QUA TẬP MÙA HOA CẢI BÊN SƠNG
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn:
TS. Ngơ Minh Hiền
Người thực hiện:
LÊ THỊ KIM
(Khóa 2010 - 2014)
Đà Nẵng, tháng 5/ 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Ngô Minh Hiền. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung
thực của nội dung khoa học trong cơng trình này.
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Kim
TRANG GHI ƠN
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới TS. Ngơ Minh Hiền đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn tơi hồn thành khóa luận này. Xin chân thành cảm ơn
thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong ban quản lý Thư viện trường
Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình ủng hộ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất cho chúng tơi trong suốt q trình nghiên cứu.
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Kim
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
5. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 7
Chương I. NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG DÒNG CHẢY
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI............................................. 9
1.1. Những đổi mới căn bản tư duy truyện ngắn Việt Nam sau đổi mới .......... 9
1.1.1. Đổi mới trong quan niệm và tư duy nghệ thuật ...................................... 9
1.1.2. Đổi mới trong đề tài và chủ đề .............................................................. 11
1.1.3. Đổi mới trong phương thức biểu hiện ................................................... 14
1.2. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Quang Thiều ........ 17
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều ................................. 17
1.2.2. Những thành công nổi bật trong hành trình sáng tạo
của Nguyễn Quang Thiều................................................................................ 21
Chương II. HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI
TRONG MÙA HOA CẢI BÊN SƠNG ......................................................... 24
2.1. Khn mặt cuộc sống ............................................................................... 24
2.1.1. Trong màn đêm của hận thù, hủ tục ...................................................... 24
2.1.2. Từ ánh sáng của tình yêu, tình người .................................................... 28
2.2. Chân dung con người nông thôn Việt Nam đương đại ............................ 30
2.2.1. Những con người trở về từ chiến tranh ................................................. 30
2.2.2. Con người với bi kịch của những lời nguyền truyền kiếp .................... 36
2.2.3. Những tâm hồn đầy ắp ước mong, khát vọng ....................................... 38
Chương III. CÁC PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT
TRONG MÙA HOA CẢI BÊN SÔNG ......................................................... 42
3.1. Hệ thống biểu tượng nghệ thuật ............................................................... 42
3.1.1. Lớp biểu tượng gột rửa.......................................................................... 43
3.1.2. Lớp biểu tượng hướng thượng .............................................................. 46
3.2. Không gian và thời gian nghệ thuật ......................................................... 49
3.2.1. Không gian hiện thực đan xen không gian tâm tưởng, huyền thoại ..... 49
3.2.2. Thời gian hiện tại đan xen thời gian hoài niệm, phi thực ..................... 53
3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu ........................................................................... 55
3.3.1. Ngôn ngữ giàu chất thơ ......................................................................... 55
3.3.2. Giọng điệu đa thanh .............................................................................. 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 64
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mặc dù những biến đổi về chính trị khơng phải bao giờ cũng ngay lập
tức cuốn nền văn học đi theo, nhưng công cuộc thống nhất đất nước, đặc biệt
là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI – năm 1986 đã thực sự mang lại bước
chuyển mình đáng kể cho văn học - nghệ thuật. Với phương châm “nói thẳng,
nói thật”, các nhà văn được thoả sức khẳng định ý thức cá nhân mà không
chịu bất cứ một sự kiểm duyệt nào. Họ cống hiến cho nền văn học những
“đứa con tinh thần” sáng tạo bằng những con đường tìm tịi và thể nghiệm
mới. Từ sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người, các nhà
văn nhận ra mục đích của văn học khơng cịn là phương tiện tun truyền đấu
tranh Cách mạng. Văn học thực sự phải phản ánh được những vỉa sâu của đời
sống tâm hồn, những ngóc ngách của hiện thực cuộc sống. Lí thuyết tiếp nhận
phổ biến khái niệm “đồng sáng tạo” và nghệ thuật tự sự cũng “sang trang”
trước diện mạo mới của một nền văn học. Nền văn học nước nhà đã đem lại
sức thu hút cho độc giả ở nhiều thành tựu đáng ghi nhận cả về số lượng nhà
văn và độ kết tinh nghệ thuật. Trong đó, thể loại truyện ngắn đã trở thành một
điển hình cho ý thức cách tân. Với dung lượng ngắn nhưng lại chứa đựng
nhiều vấn đề mang tầm vĩ mô, truyện ngắn đã chạm đến những vấn đề đời tư,
thế sự, ghi lại được những suy tư, chiêm nghiệm trước những “tấn trò đời”.
Truyện ngắn đã thực sự khẳng định vị trí trụ cột của mình trên văn đàn với rất
nhiều cây bút độc đáo như: Nguyễn Huy Thiệp, Hoà Vang, Y Ban, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh,… Trong số đó, Nguyễn
Quang Thiều cũng là một cái tên đáng được nói tới.
Với quan niệm “sáng tạo là giải phóng mình chứ không bao giờ là sự
nghiệp”, Nguyễn Quang Thiều đã thoả sức phóng bút với tất cả niềm đam mê
2
của một nhà văn yêu nghề và chọn nghề văn để trải lịng với đời, với người.
Khơng giáo điều, chao chát, Nguyễn Quang Thiều luôn tinh tế và thâm trầm
khi lí giải những vấn đề của hiện thực. Nhà văn phát hiện và quan tâm sâu sắc
tới những điều bình dị trong cuộc sống. Bởi vậy, văn của ông mang nét đẹp
của sự bình dị, gần gũi nhưng lúc nào cũng chạm đến được tâm hồn độc giả
bởi sự mê đắm và thống thiết. Đặc biệt, với Mùa hoa cải bên sơng, 37 truyện
ngắn đủ cho ta thấy cái nhìn bao quát về sáng tác văn xuôi của Nguyễn Quang
Thiều. Nghiên cứu về nhà văn, có nhiều xu hướng cả trong và ngoài nước,
song trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chỉ chọn vấn đề Đặc
điểm truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều qua tập Mùa hoa cải bên sơng để
nghiên cứu với nguyện vọng góp phần định hướng tiếp nhận cho độc giả.
Điều đó cũng là thao tác nền cho sự tơn vinh cá tính sáng tạo, đồng thời
khẳng định những đóng góp của nhà văn trong việc đổi mới tư duy truyện
ngắn Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Từ khi cầm bút cho đến nay, Nguyễn Quang Thiều đã khẳng định được
cá tính sáng tạo của mình trên văn đàn với 10 tập thơ, 16 tập văn xuôi và 3 tập
sách dịch. Giữ một cương vị nhiều người mơ ước trong giới văn nghệ sĩ và
trong lịng độc giả, nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn ln khơng ngừng khám
phá và sáng tạo. Chính điều này đã làm cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn
Quang Thiều vận động khơng ngừng và kéo theo đó là khơng ít ý kiến nhận
xét, đánh giá và phê bình về nhà văn trên nhiều phương diện.
Lê Dục Tú trong bài viết Đội ngũ nhà văn viết truyện ngắn đương đại,
đã điểm qua một số gương mặt truyện ngắn tiêu biểu sau đổi mới với những
đột phá thực sự trong bút pháp, trong đó có tên Nguyễn Quang Thiều. Tác giả
nhận định: “Các gương mặt truyện ngắn của thế hệ tiếp theo xuất hiện ngay
3
từ thời kỳ đầu của văn học đổi mới đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm
của độc giả bởi những đột phá trong bút pháp. Đó là Nguyễn Huy Thiệp, Tạ
Duy Anh, Bảo Ninh, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Quang Thiều,... Truyện ngắn
của các cây bút này là tiếng nói của một thế hệ nhà văn đã thật sự có những
chuyển hướng trong tư duy với những khám phá mới về hiện thực và con
người”[51]. Lê Dục Tú cũng phân tích một số nguyên nhân dẫn tới sự cách
tân nghệ thuật ở những nghệ sĩ này: đó là sự giao lưu văn hóa tồn cầu, sự
bùng nổ của cơng nghệ thông tin và đặc biệt là bản lĩnh sáng tạo đặt họ trước
nhu cầu “viết khác đi” cho dù có thể thành cơng hay thất bại.
Đơng La cũng bày tỏ sự hiểu biết tường tận về sáng tác của Nguyễn
Quang Thiều: “Nếu thơ Nguyễn Quang Thiều có nhiều dấu ấn sáng tạo về
hình thức thì văn xi Nguyễn Quang Thiều lại rất giản dị”[21]. Theo tác giả:
“giản dị là việc đạt được hiệu quả thẩm mĩ một cách tự nhiên mà không cần
đến những xảo thuật, những uốn éo, đỏm dáng”[21]. Sự giản dị trong văn
Nguyễn Quang Thiều không chỉ được các nhà phê bình văn học trong nước
phát hiện mà những tác giả nước ngoài cũng cùng chung nhận định trên.
Jean-Luc Douin – Le Monde, một nhà phê bình người Pháp sau khi tiếp nhận
hai tập truyện ngắn La fille du fleuve và La petite marchande de vermicelles
của Nguyễn Quang Thiều do Nhà xuất bản L’Aube, Pháp ấn hành cũng nhận
thấy: “Thế mạnh của nhà văn trẻ Việt Nam này (Nguyễn Quang Thiều) tập
trung trong sự giản dị nhưng đẹp ngời ngợi của câu chữ và vấn đề được đặt
ra! Đẹp và thống thiết!” [29]. Đây chính là những gợi ý trực tiếp cho chúng
tơi trong q trình tiến hành nghiên cứu đề tài.
Trong Luận văn thạc sĩ Chất thơ của truyện ngắn Nguyễn Quang
Thiều, Trương Thị Thường đã khẳng định truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
mang chất thơ đậm nét: “Và chất thơ của truyện ngắn được chắt lọc từ cảm
xúc chân thực, hồn nhiên, trong sáng, dung dịu của con người cầm bút, xuất
4
phát từ những rung động thật sự của nhà văn”[48, tr.64]. Tác giả cũng đi sâu
vào phân tích những mặt biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn
Quang Thiều gồm 3 mảng: những kí ức về làng quê êm đềm, xây dựng nhân
vật mang màu sắc cổ tích và cái nhìn về hiện thực chiến tranh. Đây là một
nguồn tài liệu quan trọng song dưới góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau, tác giả
Trương Thị Thường mới chỉ dừng lại ở việc làm sáng tỏ chất thơ chứ chưa đi
sâu vào phân tích những đặc điểm khác làm nên phong cách truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều. Hơn nữa, tác giả cũng chỉ mới tập trung phân tích các
“dấu hiệu” của chất thơ chứ chưa tìm hiểu cặn kẽ cách thức làm nên đặc trưng
đó. Bởi vậy, khơng chỉ dừng lại ở một khía cạnh, chúng tơi chọn phân tích các
đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều giúp người đọc có một cái
nhìn khái qt về sáng tác cúa tác giả này.
Trịnh Thị Thảo khi đi sâu nghiên cứu sáng tác của nhà văn dưới phương
diện cấu trúc đã phát hiện được những nét nổi bật về tổ chức cốt truyện, cấu
trúc hệ thống nhân vật, nguyên tắc trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Thiều. Đồng thời, tác giả cũng phát hiện được những “cái khác” không pha tạp
của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều chính là độ thâm trầm, sâu lắng của một
giọng văn nhẹ nhàng và truyền cảm: “Lặng lẽ, không ồn ào, không khoa
trương, Nguyễn Quang Thiều đã đi vào lòng độc giả bằng những truyện ngắn
nhẹ nhàng, ngắn gọn và tạo được ấn tượng”[41, tr.70]. Nhìn nhận vấn đề dưới
lí thuyết tự sự học và thi pháp học, Trịnh Thị Thảo đã cống hiến cho độc giả
một cơng trình nghiên cứu hết sức có cơ sở. Song do hướng nghiên cứu là Cấu
trúc truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều nên cơng trình chỉ chú trọng đi sâu
vào phương diện nghệ thuật, ít chú trọng vào phương diện nội dung của sáng
tác Nguyễn Quang Thiều. Thiết nghĩ đây là một mảng quan trọng góp phần
làm nên đặc điểm truyện ngắn của nhà văn. Bởi vậy, tiếp nhận tài liệu này,
giúp chúng tơi có thêm động lực để đi sâu nghiên cứu những đặc điểm nội
5
dung cũng như nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều.
Nhìn chung, những nhận định, bài viết, luận văn, luận án đã tập trung
nghiên cứu và thể nghiệm về truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều ở những
mức độ khác nhau. Song những cơng trình đã cơng bố mới chỉ dừng lại ở việc
đề cập đến một phương diện nào đó, thậm chí là điểm qua như lấy một cái tên
để minh chứng cho một mệnh đề. Chưa có cơng trình nào thực sự bao quát
một cách toàn diện những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của sáng tác
Nguyễn Quang Thiều ở thể loại quan trọng là truyện ngắn. Bởi vậy, dựa trên
những gợi ý có được, chúng tơi tiếp tục đi sâu khám phá những đặc điểm của
truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều qua tập Mùa hoa cải bên sơng.
2.2. Những cơng trình nghiên cứu về tập truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông
Tập truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông được Nxb Hội Nhà văn phát
hành năm 2012. Ngay sau khi vừa được xuất bản, tập truyện ngắn đã thu hút
sự chú ý của nhiều độc giả quan tâm đến sáng tác của Nguyễn Quang Thiều.
Bích Vân trong lời giới thiệu tập truyện ngắn này nhận định: “37 truyện
ngắn trong tập truyện “Mùa hoa cải bên sông” của Nguyễn Quang Thiều đặt
trong bối cảnh làng quê với những cái kết có hậu hay gợi mở: hạnh phúc sẽ
đến với những ai phấn đấu vượt qua nỗi đau và những mất mát”[54].
Đông La trong bài viết Văn Nguyễn Quang Thiều – những khúc bi ca
về tình yêu bất tử, in trong cuốn Bóng tối của ánh sáng đã phát hiện được sức
thu hút của truyện ngắn Mùa hoa cải bên sơng chính là việc tác giả đã xây
dựng được bức tranh “hồ trộn tài tình hai gam màu đối nghịch nhau. Một
mảng là tình u trong sáng… cịn mảng đối nghịch là lịng thù hận u tối, trơ
lì, chai sạn, là sự trừng phạt tàn khốc khiến lòng ta tiếc nuối, đau đớn, xót
xa”[21]. Theo đó, tác phẩm khơng chỉ dừng lại ở sự thích thú mà đã đạt một
cấp độ cao hơn, đó là chiều sâu triết lí, khiến người đọc phải suy ngẫm trước
những nghịch lí của cuộc đời.
6
Bên cạnh đó, Đơng La cịn phát hiện trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Thiều luôn tồn tại một môtip thường trực “môtip con người làm khổ con
người”. Đây cũng là quan niệm của chính nhà văn đã được ơng chia sẻ trong
bài viết Chỉ có con người làm khổ con người [43]. Tác giả cho rằng: chính
quan niệm này đã chi phối sáng tác của Nguyễn Quang Thiều và biểu hiện
trong rất nhiều truyện ngắn được in trong tập Mùa hoa cải bên sông như: Mùa
hoa cải bên sông, Đứa con của hai dịng họ, Gió dại, Tiếng gọi lúc hồng
hơn, Người đàn bà tóc trắng, Bầu trời của người cha, Chạy trốn khỏi vầng
trăng,…. Đông La cũng khẳng định: “Mùa hoa cải bên sơng và Hai người
đàn bà xóm Trại là hai trụ cột chính làm nên ngơi nhà văn xuôi của Nguyễn
Quang Thiều” [21].
Trong Luận văn thạc sĩ Từ cổ mẫu đến hệ hình nhân vật gây ám ảnh
trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Trần Thị Tươi đã khẳng định: “truyện
ngắn Nguyễn Quang Thiều có sự xuất hiện dày đặc của hệ cổ mẫu Nước”[53].
Và khơng gian dịng sông mang nhiều tầng ý nghĩa, đã chứa đựng ý đồ nghệ
thuật của nhà văn. Trong đó, với Mùa hoa cải bên sông, Nguyễn Quang Thiều
đã đưa ta đến “một dịng sơng lấp lánh ý nghĩa và sơng là chốn bình n và
cũng là dịng nước thanh tẩy: “Hãy để nước sơng đêm cuốn đi mọi bẩn thỉu
của mặt đất”[53].
Có thể nhận thấy, các nghiên cứu về Nguyễn Quang Thiều và tập Mùa
hoa cải bên sơng cịn mang tính đơn lẻ, mang tính gợi mở, chung chung, chưa
được cấu trúc lại thành hệ thống. Vì vậy, vấn đề Đặc điểm truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều qua tập Mùa hoa cải bên sơng vẫn là một đề tài tương
đối mới, có khả năng giúp người nghiên cứu tìm hiều, đánh giá một cách có
hệ thống những đặc điểm trên phương diện nội dung và nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều.
7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề về nội dung và nghệ thuật làm nên Đặc điểm truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều qua tập Mùa hoa cải bên sông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
37 truyện ngắn in trong tập Mùa hoa cải bên sông của Nguyễn Quang
Thiều (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, năm 2012).
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp hệ thống – cấu trúc:
Cấu trúc toàn bộ truyện ngắn trong tập Mùa hoa cải bên sông thành một
hệ thống phù hợp với yêu cầu nghiên cứu. Từ đó, chỉ ra được những đặc điểm
nổi bật về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều thể
hiện trong tập Mùa hoa cải bên sơng.
4.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Xem xét, lí giải, đánh giá các phạm trù về nội dung và nghệ thuật làm
nên đặc điểm của truyện ngắn như: Hệ thống biểu tượng nghệ thuật, không
gian, thời gian, ngơn ngữ, giọng điệu… Từ đó, tổng hợp, khái quát lại những
đặc điểm chính trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều thể hiện trong tập
truyện Mùa hoa cải bên sông.
4.3. Phương pháp so sánh – đối chiếu:
So sánh để tìm ra những nét phong cách riêng của truyện ngắn Nguyễn
Quang Thiều so với các nhà văn cùng thời để thấy được những sáng tạo của
tác giả trong nghệ thuật viết truyện ngắn.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
8
Chương 1: Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam
sau đổi mới.
Chương 2: Hiện thực cuộc sống và con người trong Mùa hoa cải bên
sông.
Chương 3: Các phương thức nghệ thuật trong Mùa hoa cải bên sông.
9
Chương I
NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG DÒNG CHẢY
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI
1.1. Những đổi mới căn bản tư duy truyện ngắn Việt Nam sau đổi mới
1.1.1. Đổi mới trong quan niệm và tư duy nghệ thuật
Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt sau năm 1986 đã thực sự đổi mới
một cách tồn diện trong đó đổi mới về quan niệm và tư duy nghệ thuật được
xem như là bước đổi mới có tính chất nền chi phối những yếu tố khác của văn
học. Nằm trong một thể thống nhất, thể loại truyện ngắn cũng có những bước
thay đổi trong tư duy đáng ghi nhận. Đó là sự đổi mới trong quan niệm nghệ
thuật về hiện thực, về con người, về nhà văn, về công chúng và về chức năng
của văn học.
Hiện thực dần được soi chiếu dưới cái nhìn đa chiều đầy tính nhân bản.
Phản ánh đúng bản chất của hiện thực được đặt lên hàng đầu và được xem là
trọng trách tiên quyết của nhà văn. Phản ánh đúng hiện thực cũng khơng có
nghĩa là nói đúng logic thông thường với một lối miêu tả trắng trợn, mà hiện
thực chỉ như một phương tiện để bày tỏ quan niệm, diễn tả tư tưởng của nhà
văn. Người ta nhận ra rằng, văn học trước đây đã thực sự “ngây thơ” khi nhìn
nhận hiện thực một chiều trên quan điểm chính trị, tư tưởng của thời đại. Và
nếu tiếp tục áp đặt cái “tư duy đám đơng” đó vào cuộc sống hiện đại thì có
phần kệch cỡm và lố bịch. Bởi vậy, văn học không chỉ phản ánh đúng hiện
thực mà cịn có xu hướng “nhận thức lại” hiện thực. Bằng thủ pháp giả cố
tích, giả huyền thoại, giả lịch sử các nhà văn đã cho độc giả một cái nhìn “giải
thiêng” hiện thực. “Người đọc dù thích hay khơng thích cũng một lần được
đánh thức bằng một kinh nghiệm trái với kinh nghiệm quen thuộc của mình”
[2, tr.172]. Những trang viết của Nguyễn Huy Thiệp, Hoà Vang, Phạm Thị
10
Hoài, Hồ Anh Thái, Y Ban,… mới ra đời đã thực sự làm người đọc “sock”
bởi sự đối thoại gay gắt với tư duy dân gian.
Song song với sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực là sự đổi mới
trong quan niệm về con người. Con người không chỉ được nhìn nhận trong
nhiều mối quan hệ mà từ sự “khảo thí” đó, con người được đánh giá là một
sinh thể đầy bí ẩn, khơng đơn giản, xi chiều. Nó cần được “bóc tách” trên
nhiều phương diện từ con người ý thức đến con người vô thức, con người với
khuôn mặt xã hội và con người bản thể dưới chiều sâu tâm lí. Nói như
Nguyễn Văn Long: “Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở
nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình
cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm
thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát”
[23, tr.16]. Điều đó làm cho con người có một sức hút kì lạ với những vùng
mờ ẩn chìm, khuất lấp. Thế giới nhân vật được “đời thường hố”, đạt tính
chân xác thực sự. Khơng chỉ thế, văn học lấy con người làm trung tâm quy
chiếu lại lịch sử, quan tâm đến con người cá nhân, con người lưỡng diện, đa
phân, đa trị. Nhân vật đơi lúc có những đột biến về tính cách, tâm lí nằm
ngồi cả sự kiểm sốt của chính nhà văn. Minh chứng cho nó là cả một đội
ngũ nhà văn đạt độ kết tinh nghệ thuật như: Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị
Vàng Anh, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo,….
Không chỉ thế, quan niệm về công chúng cũng khơng cịn một chiều,
thụ động như trước đây. Trong mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và người
tiếp nhận văn học thực sự đã có sự thay đổi về chất. Độc giả được dân chủ
hố, bình đẳng hồn toàn và trở thành người đối thoại với tư duy của nhà văn.
Điều này kéo theo chức năng của văn học cũng dần bị thay đổi. Chức năng
giáo dục, ý hướng giáo huấn trở nên lỗi thời, thay vào đó văn học chỉ mang
tính giải trí và chia sẻ kinh nghiệm tiếp nhận hiện thực. Quan niệm đồng sáng
11
tạo đã đặt ngang hàng độc giả với chủ thể sáng tạo. Điều này đã trực tiếp
khẳng định văn học là một hoạt động sáng tạo và nhận thức chứ khơng phải
mơ phỏng và tun truyền như trước đây.
Có thể nói, đổi mới tồn diện về quan niệm và tư duy nghệ thuật truyện
ngắn sau 1975 đã là bước chuyển đột phá có tính chất quyết định với những
bước tiến của văn học nước nhà. Tư duy được cởi trói là bước lột xác đầu tiên
trên hành trình “đổi hình hoán cốt” của văn học. Đặc biệt trong truyện ngắn,
những đổi mới về quan niệm nói trên được hiện thực hoá đến mức tối đa.
1.1.2. Đổi mới trong đề tài và chủ đề
Đổi mới trong quan niệm và tư duy nghệ thuật đã kéo theo sự thay đổi
trên nhiều phương diện, đầu tiên phải kể đến là sự thay đổi trong đề tài và chủ
đề. Đổi mới trong đề tài và chủ đề không chỉ đơn thuần là sáng tạo ra những
đề tài mới, mà từ chất liệu cũ, các nhà văn đã nhìn nhận dưới quan điểm mang
tính đa diện, đa chiều. Hiện thực được soi chiếu dưới nhiều góc cạnh cho nên
giảm được sự chủ quan đánh giá theo góc nhìn cá thể.
Trước hết là đề tài chiến tranh. Nếu trước năm 1975, đại đa số nhà văn
sáng tác phục vụ cách mạng nên nhìn chiến tranh chỉ ở bề nổi. Thì sau 1975,
chiến tranh khơng chỉ dừng lại ở niềm vui sum họp, ở những thắng lợi vẻ
vang với cảm hứng ngợi ca. Nhìn lại hiện thực chiến tranh với lòng tri ân và
một khát vọng thành thực, cho nên chiến tranh được các nhà văn khai thác ở
điểm nhấn là nỗi đau, là mất mát. Hàng loạt sáng tác viết về nỗi đau chiến
tranh được ồ ạt xuất bản và kèm theo đó là sự hưởng ứng của đông đảo quần
chúng bạn đọc. Từ những truyện ngắn gây những “bất ngờ đầu tiên” (Chữ của
Nguyễn Thị Bình) như: Hai người trở lại trung đồn (Thái Bá Lợi), đến các
truyện ngắn tạo nên những cú sock trực diện như Gặp lại anh hùng Núp của
Nguyễn Khắc Trường, Lời hứa của thời gian của Nguyễn Quang Thiều, Họ
đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến, Tướng về hưu của Nguyễn Huy
12
Thiệp,… người đọc chứng kiến một sự đổi khác trong tư duy nghệ thuật khi
phản ánh hiện thực chiến tranh. Hình tượng người lính khơng cịn hùng tráng
như ngày xưa, mà trở về với gương mặt cuộc đời họ trở nên gượng gạo, cơ
đơn, “lạc lồi”. Người lính trở về với thời bình nhưng trở thành những con
chiên hồi vọng quá khứ, bị ám ảnh, bị vỡ vụn tâm hồn, trở thành những con
bệnh thần kinh. Bên cạnh đó, số phận của những người mẹ, người vợ, người
con của những chiến sĩ nằm lại nơi chiến trường cũng được khắc hoạ chân
thực và đầy ám ảnh trong Hương hoa gạo của Dương Hướng, Khi xưa chị đẹp
nhất làng của Tạ Duy Anh, Trinh nguyên của Hàn Nguyệt, Mười ba bến nước
của Sương Nguyệt Minh, Xóm gái hoang của Nguyễn Quang Lập, Hai người
đàn bà xóm trại của Nguyễn Quang Thiều,.... Không khi nào số phận của con
người sau chiến tranh được khắc hoạ chân thực như văn học giai đoạn này.
Các tác phẩm nổi lên trên văn đàn đã tạo những cơn dư chấn khiến người đọc
đi từ xôn xao, sửng sốt, ngạt thở và cuối cùng bàng hoàng nhận ra đó mới
chính là bản chất của hiện thực. Các nhà văn, nhà thơ trước nay ngợi ca chiến
tranh bây giờ nhìn lại họ tự cho mình như những người có tội với một niềm
ăn năn, sám hối. Khuynh hướng “nhận thức lại” chiến tranh, “viết lại chiến
tranh” trên lập trường cá nhân trở thành một nhiệm vụ bức thiết của văn
chương nghệ thuật.
Văn học giai đoạn này còn tập trung hơn nữa vào đề tài đời tư – thế sự.
Nếu trước 1975, đây là một đề tài bị hạn chế thì sau 1975, đặc biệt từ cuối
những năm 1980, đề tài này được khai thác đến mức triệt để với các phương
diện: tình u, tình dục, hơn nhân, gia đình, phái tính, tâm linh, vơ thức,....
Thị hiếu thẫm mĩ và tâm lí tiếp nhận chuyển sang một trang mới. Độc giả
nhận ra “các tác phẩm viết theo cảm hứng sử thi phần nhiều nhợt nhạt và
không đem lại được cái mới mà bạn đọc chờ đợi” [2, tr.125]. Con người
khơng cịn được nhìn nhận dưới lập trường tư tưởng của thời đại mà được
13
khám phá theo góc độ cá thể với những khía cạnh đời tư – thế sự. Những số
phận, những ẩn ức của con người được nâng lên, bày ra để đánh giá lại một
cách cơng bình. Trong đó, những vấn đề nhạy cảm như vấn đề tính dục, giới
tính, nữ quyền cũng được văn học xem là một đề tài nóng. Con người đời tư
được các nhà văn nhìn nhận dưới lăng kính nhân bản, bởi quan niệm hiện đại.
Như một quy luật của tâm lí, con người khi đứng trước guồng quay của hiện
thực cảm thấy mệt mỏi, họ đi tìm chính bản thể; tìm đến với thế giới tâm linh,
với vơ thức, giấc mơ như đi tìm ngun cớ lí giải hiện thực. Văn học thực sự
thành cơng khi giải mã được những đổ vỡ trong tâm hồn, đạt độ thâm trầm và
chiều sâu triết lí nhân sinh. Rủ bõ con người xã hội mang tính duy lí để đi sâu
vào khám phá đời sống nội tâm là bước chuyển mình tất yếu đề tồn tại của
văn học. Những truyện ngắn của các cây bút nữ như: Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu,
Đoàn Lê, Nguyễn Ngọc Tư, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh,… đã thực sự tạo
được tiếng vang bởi đã chạm đến những vấn đề đời tư, khai thác được chiều
sâu số phận và nội tâm của con người.
Như vậy, trong mười năm đầu sau 1975, văn học nước nhà vẫn “trượt
dài theo quán tính cũ”, chất sử thi nhạt dần song vẫn chưa dứt hắn. Chỉ đến
sau năm 1986, chất sử thi đã thực sự nhường chỗ cho chất triết luận, cho cảm
hứng đời tư - thế sự. Độc giả đạt ngưỡng tiếp nhận cao hơn, giới phê bình văn
học ráo riết bình phẩm và đưa ra những phản hồi kịch liệt. Đặt biệt năm 1987,
nhà văn Nguyễn Minh Châu trong một bài tiểu luận đã khẳng định: “Hãy đọc
lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” [56] buộc văn chương phải
thay đổi một cách toàn diện về đề tài và chủ đề. Điều đó đã phản ánh thái độ,
lập trường tư tưởng của con người ở những thời đại khác nhau. Hơn nữa, đó
cũng là minh chứng cho sự sâu sát cuộc sống của văn học.
14
1.1.3. Đổi mới trong phương thức biểu hiện
Không chỉ tiếp cận hiện thực dưới những góc độ mới mà các nhà văn
viết truyện ngắn sau năm 1986 còn mang ý thức cách tân hình thức thường
trực. Ngồi xúc cảm thẩm mĩ, nhà văn còn chú trọng vào kĩ thuật tự sự để tạo
nên sự đột phá trong lối viết. Sự đột phá này biểu hiện một cách toàn diện trên
tất cả các mặt: ngơi kể, điểm nhìn, nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian,
thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…
Tổ chức điểm nhìn là một yếu tố hết sức quan trọng của kết cấu văn
bản nghệ thuật. Bởi vậy, để thể hiện quan điểm của cá nhân về thế giới cần
chọn cho mình một điểm quan sát phù hợp. Người kể chuyện trong truyện
ngắn sau năm 1986 khơng cịn đứng cao hơn bạn đọc, khơng cố cắt nghĩa thế
giới dưới cái nhìn tồn tri. Người kể chuyện cơng khai thể hiện sự hạn chế
trong điểm nhìn chủ quan đánh giá của mình. Người kể chuyện “vừa kể vừa
hoang mang về điều đang kể, lúc thì nhầm lẫn, lúc thì bối rối, phân bua”[2,
tr.215] với những cách “thả rơi”, không phán xét: “Tôi cũng không biết câu
chuyện kết thúc ra sao”, hay “nghe đồn rằng”, “xin hiến quý vị ba đoạn kết
sau đây, tuỳ bạn lựa chọn” (Vàng lửa – Nguyễn Huy Thiệp). Gần đây, trong
văn chương cịn tồn tại xu hướng trao điểm nhìn cho “nhân vật dị biệt”.
Những nhân vật có quốc tịch ngoại lai, nhân vật bị chứng thần kinh phân liệt,
bị dị tật, bị xã hội đẩy đến “bước đường cùng” của nhân tính như Phrăng
trong Vàng lửa, Tốn trong Khơng có vua của Nguyễn Huy Thiệp,… được giữ
trọng trách “người tuyên ngôn” cho những quan điểm của tác giả. Trần thuật
từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ, trần thuật “nhập vai” đã thể hiện sự mở
rộng biên độ quan sát từ nhiều góc nhìn của người kể chuyện. Mà kết quả
cuối cùng vẫn là cho độc giả một cách hình dung mới về thế giới, tránh được
sự đơn điệu trong cách tiếp cận tác phẩm.
15
Sự phối trộn nhiều góc nhìn ở các nhân vật khác nhau cũng góp phần
địi hỏi nhà văn cần tạo ra một thế giới nhân vật phong phú. Không chỉ dừng
lại ở một vài kiểu người quen thuộc, văn học giai đoạn này mở rộng “biên độ
khảo sát” ở một thế giới nhân vật hết sức đa dạng với các thủ pháp xây dựng
nhân vật hồn tồn mới lạ. Tính cách nhân vật khơng cịn được phân tuyến
theo hai thái cực tốt/ xấu, thiện/ác, sang/ hèn thống nhất xuyên suốt tác phẩm
mà vô cùng đa dạng và phức tạp. Trong mỗi con người luôn tồn tại hai mảng
đối nghịch tốt xấu lẫn lộn, lúc cái này lấn át cái kia. Nhân vật trong tác phẩm
cũng khơng cịn được miêu tả một cách tỉ mỉ, sinh động và đầy đủ thông tin.
Bút pháp “tẩy trắng nhân vật” trở thành một bước ngoặt lớn trong nghệ thuật
xây dựng nhân vật trong truyện ngắn giai đoạn này.
Phải nói rằng, sau năm 1986, ngơn ngữ truyện ngắn khơng cịn câu nệ,
hoa mĩ mà ngơn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, ngơn ngữ mạng, ngơn
ngữ tính dục, tiếng nước ngồi đã xuất hiện cơng khai như một dấu hiệu của
thời đại “mở cửa”. Và người ta nhận ra rằng, cách nói chân thật phù hợp với
đời sống đương đại hơn là cố đánh bóng hiện thực một cách lố bịch và giả
tạo. Bởi vậy, ngôn ngữ hiện đại đi vào văn chương như một “mode” dùng từ
mà không cần ai “cấp chứng minh thư”. Sự gia tăng tính khẩu ngữ cũng là
một cách “lạ hố” ngơn ngữ văn chương, thể hiện một tư duy nghệ thuật mới,
xích lại gần với tư duy của đời sống hiện thực. Từ ngôn ngữ đời thường nhân
vật được cá tính hố đến mức cao độ và hình mẫu đời thực bước vào văn học
chân thực đến từng centimet.
Không chỉ thế, ngôn ngữ truyện ngắn giai đoạn sau năm 1986 cịn là
thứ ngơn ngữ đa thanh, phối trộn giữa ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, độc
thoại nội tâm, ngôn ngữ giấc mơ, lời câm... Và nhờ vậy, nhà văn để nhân vật
tự bộc lộ tính cách chứ khơng bày ra một “form” định sẵn để cho nhân vật
bước chân vào. Những truyện ngắn của Hoà Vang, Phan Thị Vàng Anh, Lê
16
Minh Phong, Nguyễn Huy Thiệp,… đôi lúc những cuộc đối thoại của nhân
vật đã trở thành những cuộc tranh luận gay gắt về quan điểm sống. Hơn nữa,
ngôn ngữ truyện ngắn giai đoạn này còn mang những đặc trưng khác với ngơn
ngữ tiểu thuyết biểu hiện ở tính ngắn gọn, hàm súc, đa tầng nghĩa và nhiều
nghĩa hàm ẩn. Điều này không chỉ đáp ứng thị hiếu của độc giả trong thời đại
bùng nổ thông tin mà cách nén thông tin cho lời văn cũng tạo nên cho truyện
ngắn một đặc trưng khu biệt với tiểu thuyết.
Để phản ánh cuộc sống dưới cái nhìn đa chiều một cách chân thực nhất
nhà văn không chỉ biết tán dương những điều tốt đẹp. Bởi lẽ, hiện thực là một
mảng hỗn độn của nhiều gam màu đối nghịch. Nhà văn không thể phản ánh
nó với một sắc giọng đơn tuyến, hồn nhiên; khơng chỉ có ngợi ca, mà cịn
phải biết phê phán; khơng chỉ có hào sảng, vui tươi mà cịn phải hồi nghi, tự
vấn, dằn vặt, suy tư, triết lí. Đó là biểu hiện của sự đa thanh trong giọng điệu
của truyện ngắn sau đổi mới.
Đặc biệt, giai đoạn văn học này còn chứng kiến sự “nâng cấp” trong kĩ
thuật tổ chức văn bản mang dấu ấn hiện đại. Nhà văn đã xây dựng tác phẩm
của mình với nhiều kiểu kết cấu hết sức phức tạp: Kết cấu dòng ý thức; kết
cấu truyện lồng truyện, truyện liên hoàn; kết cấu lắp ghép – phân mảnh, đồng
hiện; kết cấu mở không đoạn kết; kết cấu mang tính liên văn bản,… Tất cả
biến tác phẩm văn học thành một “kết cấu vẫy gọi” (Chữ của Wolfgang Iser)
đòi hỏi một sự chủ động, “đồng sáng tạo” ở người tiếp nhận. Những kiểu kết
bỏ lửng không có kết thúc hoặc đưa ra nhiều kiểu kết thúc khác nhau cho
người đọc lựa chọn trong các truyện ngắn: Khơng có vua, Chăn trâu cắt cỏ,
Thương nhớ đồng q, Người con gái thủy thần, Vàng lửa,… của Nguyễn
Huy Thiệp; kiểu kết thúc đảo ngược so với tư duy dân gian trong Nhân sứ, Sự
tích những ngày đẹp trời của Hịa Vang, Những ngọn gió Hua Tát của
Nguyễn Huy Thiệp,… đã phát huy được trường liên tưởng, sáng tạo ở người
17
đọc. Kiểu kết cấu truyện liên hoàn, kết cấu lắp ghép – phân mảnh trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh: Mười ngày, Khi người ta trẻ, Si tình, Hoa muộn,…
đã tạo nên những mảnh ghép cụ thể về cuộc sống để từ đó người đọc tùy thích
chắp nối thành một “mã thẩm mĩ” riêng… Chính vì thế, truyện ngắn trong
giai đoạn này trở thành một tổ chức phức tạp và sinh động, mời gọi người tiếp
nhận tham gia vào mối quan hệ ngang hàng giữa nhà văn và bạn đọc.
Mười năm đầu sau giải phóng (1975 - 1986) văn học nước nhà mới chỉ
dừng ở ngưỡng rèn luyện tư duy, chuyển dần từ tư duy đám đông sang tư duy
cá thể, chuyển dần từ lối suy nghĩ máy móc sang sự đột phá và cá tính hố.
Từ sau năm 1986, sự khai vỡ trong ý thức cách tân nghệ thuật giờ đây đã
được hiện thực hố. Điều đó phản ánh sự tiến bộ, sự cởi mở và chối bỏ quán
tính cũ để bắt nhịp với cuộc sống đương đại của văn học. Chính cuộc lột xác
này đã giúp nền văn học nước nhà dần thu hẹp khoảng cách với văn chương
nhân loại.
1.2. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều
Để khơng hồ tan vào cuộc đời mỗi người cần tạo cho mình một hồn
cốt, một cá tính. Mỗi nhà văn để tạo lập một phong cách trước hết cần có một
quan niệm nghệ thuật nhất quán. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm
nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình
thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều
sâu nào đó”[12, tr.273]. Nó được thể hiện qua việc khắc hoạ hình tượng, tổ
chức quan hệ các nhân vật, giải quyết xung đột và xây dựng kết cấu của tác
phẩm. Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật chính là bước đầu nắm rõ cơ sở tìm
hiểu nội dung của tác phẩm văn học cụ thể và nghiên cứu sự phát triển, tiến
hoá của văn học. Bởi lẽ, “điều chủ yếu trong sự tiến hoá của nghệ thuật và của
18
xã hội nói chung là đổi mới cách tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới và con
người”[12, tr.274].
Là một người tài hoa, Nguyễn Quang Thiều đã ghi được dấu ấn riêng
của mình ở nhiều lĩnh vực: thơ, văn, dịch thuật,… Ơng ln ý thức: “sáng tạo
là giải phóng mình chứ khơng bao giờ là sự nghiệp”[43]. Điều này thoạt nhìn
có vẻ như vơ lí, bởi lẽ khi đã khơng thực sự căn cơ, sống chết với nghề thì
làm sao có được thành công như vậy. Song, thực tế khi mang quan niệm
“khác người” này vào văn học, Nguyễn Quang Thiều đã khơng tự ràng buộc
mình vào bất cứ danh vọng nào. Bởi vậy, ơng dễ dàng thoả sức phóng bút
trong những đề tài, những cảm nhận về cuộc sống từ những điều nhỏ nhặt.
Nguyễn Quang Thiều không mong viết nên một tác phẩm để đời, đạt giải
Nobel văn học như nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao, không ráo riết
trình làng những đứa con tinh thần thực hiện sứ mệnh giáo dục mà chỉ mong
tác phẩm của mình chạm được vào một nơi chốn nào đó trong thế giới nội
tâm của con người. Ơng quan niệm: “Nếu tơi viết để lớn tiếng, để dạy một bài
học đạo đức cho độc giả thì hỏi có bao nhiêu độc giả chấp nhận sự dạy dỗ ấy
và liệu tơi có đạo đức hơn bao nhiêu người”[43]. Chính bởi lẽ đó mà nghệ
thuật với ông đơn thuần là sự khám phá đời sống và chia sẻ với con người. Sự
tuyệt vọng và sám hối cần được chia sẻ và lòng tham, hận thù cần phải bị bài
trừ là đích đến của sáng tác Nguyễn Quang Thiều. Như triết gia Pháp Jacques
Maritain đã từng nói rằng: “sự sáng tạo nghệ thuật khơng cần phải dâng lễ vật
cho Nàng Thơ để cầu xin như Platon đã nói, cũng khơng cần phải dùng bất cứ
nguồn gốc ngoại tại nào để thuyết minh về sự linh cảm. Vì nguồn gốc của tính
sáng tạo nghệ thuật là tính trực giác, hay cũng gọi là trực giác thi ca”[49].
Một khi nhà văn hiểu rõ toàn bộ tác phẩm nghệ thuật đều do tính trực giác
sáng tạo sinh ra, mà cơ sở của tính trực giác sáng tạo là “tinh thần vơ thức”
chứ khơng phải bằng lí trí, bằng ý thức, bằng sự định sẵn chi li thì người nghệ
19
sĩ mới thoả sức phóng bút để viết nên những điều mình tâm đắc nhất. Nguyễn
Quang Thiều dường như hiểu được ngun lí đó của sáng tạo nghệ thuật. Bởi
vậy, trong trang viết của mình, ơng chưa bao giờ đặt nặng những toan tính,
mưu danh. Khi đã xác định sáng tạo xuất phát từ vơ thức, từ tâm hồn thì viết
để chia sẻ những cảm nghiệm trước cuộc sống của mình với độc giả cũng là
điều dễ hiểu.
Khơng chỉ thế, điều đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
còn là sự thống nhất giữa các thể loại nghệ thuật. Ơng khẳng định: “Khơng ít
văn nghệ sĩ thường nghĩ, có một cái gì đó giống như một sự xung đột hay sự
mâu thuẫn giữa các thể loại của nghệ thuật trong cùng một con người sáng tạo
ra nó. Đấy là một sai lầm. Bởi bản chất của mọi sáng tạo nghệ thuật là như
nhau”[43]. Điều này thể hiện rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
với sự giao thoa giữa thơ và truyện ngắn ở đề tài, chủ đề và nội dung tư
tưởng. Biểu hiện qua cái nhìn về cuộc sống, về chiến tranh, về con người, văn
và thơ Nguyễn Quang Thiều ln có những mảng song song tồn tại. Tiếp
nhận đề tài chiến tranh, ông thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của
những người ở lại, đặc biệt là nỗi đau của những người vợ, những người mẹ
với một cảm quan đầy nhân bản. Cảm quan này thể hiện cả trong tập thơ Sự
mất ngủ của lửa và những truyện ngắn viết về chiến tranh của ơng như: Hai
người đàn bà xóm Trại, Ngựa trắng, Gió dại, Tiếng đập cánh của chim thần,
Chiều hoa tầm xuân, Gương mặt thứ ba,…Bài thơ Những ví dụ gần như trùng
ý tưởng với truyện ngắn Hai người đàn bà xóm trại ở chỗ cùng viết về nỗi
đau của những người vợ liệt sĩ chờ chồng. Hay sông Đáy, làng Chùa, biển và
những biểu tượng thân thuộc trong cuộc sống hàng ngày ln là những hình
tượng trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều. Bỏ qua rào cản ngăn cách
khác biệt giữa các thể loại, Nguyễn Quang Thiều đã viết để giải toả tâm hồn
và bộc lộ những khao khát sáng tạo của bản ngã. Nhà nghiên cứu Phạm Khải