Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

750 nam Thien Truong Nam Dinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (768.52 KB, 34 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>- Họ và tên: Trần Văn Át</b>


<b>- Năm sinh: 1969 Giới tính: Nam</b>
<b>- Nghề nghiệp: Giáo viên</b>


<b>- Đơn vị đang công tác: Trường tiểu học A Hải Trung – Hải Hậu – Nam Định</b>
<b>- Số điện thoại cá nhân: 01692909167</b>


<b>CUỘC THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ</b>



<b>“ 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG NAM ĐỊNH”</b>



<b>Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của Nhà</b>
<b>Trần; kể tên các đời vua Trần?</b>


<i>Đền Trần tại thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định</i>


<b>1.1. Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh </b>


Nhà Lý suy tàn từ thời vua Lý Cao Tơng (1175-1210), tuy rằng đã có những dấu hiệu
từ thời Lý Anh Tông. Đại Việt sử ký tồn thư nhận xét vua Cao Tơng chơi bời vơ độ, chính
sự hình pháp khơng rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ
đấy suy.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

giận hờn. Nay dân loạn nước nguy, chúa thượng thì rong chơi vơ độ, triều đình rối loạn,
lịng dân trái lìa, đó là triệu bại vong".


Điều này đã dẫn đến sự nổi dậy của dân chúng ở nhiều địa phương như tháng 10
năm 1184, các sách Tư Mơng (tỉnh Hịa Bình ngày nay?), tháng 7 năm 1192 người ở giáp
Cổ Hoằng (tỉnh Thanh Hóa ngày nay), tháng 7 năm 1198, người hương Cao Xá (tỉnh Nghệ
An ngày nay), tháng 9 năm 1203, người ở Đại Hồng giang (tỉnh Ninh Bình ngày nay) hay


năm 1207, người Man ở núi Tản Viên châu Quốc Oai (tỉnh Hà Tây ngày nay) nổi lên cướp
bóc, không thể ngăn được.


Tất cả những yếu tố trên đây đã làm cho nhà Hậu Lý suy sụp. Năm 1209, vua Cao
Tông nghe theo lời gian thần Phạm Du giết oan tướng Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh
Di là Quách Bốc đang trấn thủ Hoan châu mang quân ra đánh Thăng Long báo thù cho
chủ. Vua Cao Tông và thái tử Sảm bỏ chạy lạc mỗi người một nơi. Quách Bốc lập con nhỏ
của vua là Thậm lên ngôi.


Thái tử Sảm chạy đến nương nhờ gia tộc họ Trần ở duyên hải, nhờ sức họ Trần mang
quân về đánh dẹp Quách Bốc. Tuy loạn được dẹp nhưng từ đó quyền lực chi phối chính
trường của họ Trần bắt đầu được hình thành, bắt đầu từ Trần Tự Khánh và sau đó là vai trị
lớn của Trần Thủ Độ. Năm 1210, vua Cao Tông chết, thái tử Sảm lên thay, tức là Lý Huệ
Tơng. Triều chính hồn toàn trong tay họ Trần. Kết cục, cuối năm 1225, con gái thượng
hồng Huệ Tơng (bị ép truyền ngơi đầu năm) là Lý Chiêu Hồng đã bị ép nhường ngơi cho
chồng là Trần Cảnh. Nhà Hậu Lý chấm dứt, nhà Trần thay thế từ đó.


Năm 1226, một hoàng tử nhà Hậu Lý là Lý Long Tường (con vua Anh Tông) đi theo
đường biển chạy sang nước Cao Ly, được vua nước này thu nhận và trở thành Hoa Sơn
tướng quân nước Cao Ly. Sau này, Lý Long Tường trở thành ơng tổ của một dịng họ Lý
ngày nay tại Hàn Quốc .


Nhà Hậu Lý chấm dứt,kéo dài 216 năm với 9 đời vua.


Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có cơng sáng lập và là người thực tế nắm
quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226 đến 1264. Trần Thủ Độ
sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.


Sau khi Trần Tự Khánh chết (1223), Trần Thủ Độ thực sự là người thay thế nắm quyền trong triều. Đối
với nhà Lý, ơng tỏ ra cịn cứng rắn hơn Trần Tự Khánh.



Năm 1224, ông được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ. Vua Huệ Tông và vợ, tức chị họ ơng, là Trần Thị
Dung có 2 con gái, người em tên là Phật Kim, được phong là cơng chúa Chiêu Thánh. Ơng ép Huệ Tơng
bỏ ngơi lên làm thái thượng hồng để nhường ngơi cho Phật Kim, tức là Lý Chiêu Hồng, khi đó mới lên
7 tuổi.


Sau đó ơng đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông), mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu
Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hồng và nhường ngơi để chuyển ngai vàng sang họ Trần
vào cuối năm 1225. Nhà Trần thay nhà Lý bởi tay Trần Thủ Độ. Thượng hồng Huệ Tơng bị ép đi tu, truất
làm sư Huệ Quang.


Nhà Trần thành lập, ông được phong là Thống quốc thái sư, lo toan mọi việc cho triều đình nhà Trần.
Để củng cố quyền lực nhà Trần, ông đánh dẹp các sứ quân Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng bên ngoài, sắp xếp
quan lại trong triều. Năm 1232, nhân lúc tông thất nhà Lý về quê ngoại ở làng Hoa Lâm (nay là xã Mai
Lâm, huyện Gia Lâm, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên, ông đã làm bẫy sập chôn sống nhiều tôn thất nhà Lý,
bắt những người sống sót đổi sang họ Nguyễn và một số họ khác để trừ tuyệt hậu họa.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Vua Thái Tơng và hồng hậu Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hồng) lấy nhau đã lâu chưa có con. Năm 1236,
Trần Thủ Độ liền ép Thái Tông lấy chị dâu là công chúa Thuận Thiên - vợ Trần Liễu, chính là chị ruột của
Chiêu Thánh vì Thuận Thiên đã có mang sẵn với Trần Liễu được 3 tháng. Việc đó khiến Trần Liễu thù
hận cất quân nổi loạn và Trần Thái Tông toan bỏ đi tu. Nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần Thủ Độ,
Thái Tông quay trở lại ngơi vua, cịn Trần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục và được phong làm
An Sinh vương ở Kinh Môn (Hải Dương).


Tuy nhiên, người con của Trần Liễu mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con Trần Cảnh là Trần Quốc Khang
sinh ra năm 1236 cũng không được làm thái tử dù là con trưởng. Năm 1240, Thái Tông sinh được Trần
Hoảng, lập làm thái tử và sau trở thành vua Trần Thánh Tông.


<b>1.2. Thời gian tồn tại của Nhà Trần</b>



Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi
vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm
dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi
cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng thời gian tồn tại của Nhà Trần
<b>là 175 năm. Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với</b>
ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ cũng như triều Nguyên do những
viên tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường chỉ huy, cùng với nhiều cuộc chiến tranh
chinh phạt các quốc gia láng giềng như Ai Lao, Chiêm Thành. Dưới triều Trần, lực lượng
quân đội được chú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với
quân đội các nước lân bang, triều Trần cũng đã sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng, đặc
biệt là trong lĩnh vực quân sự.


<b>1.3.</b> <b>Kể tên các đời vua nhà Trần</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>Miếu hiệu Niên hiệu</b> <b>Tên</b> <b>Sinh-<sub>Mất</sub></b> <b>Trị vì</b> <b>Thụy hiệu</b> <b>Lăng</b>


Thái Tơng


Kiến Trung
(1226-1232)
Thiên Ứng
Chính Bình
(1232-1251)
Ngun Phong
(1251-1258)


Trần Cảnh 1218-<sub>1277</sub> 1226-<sub>1258</sub> Ngun<sub>Hồng đế</sub> HiếuChiêu Lăng


Thánh
Tơng



Thiệu Long
(1258-1272)


Bảo Phù


(1273-1278)


Trần Hoảng
1240-1291



1258-1278


Tun Hiếu Hồng


Đế Dụ Lăng


Nhân
Tơng


Thiệu Bảo
(1278-1285)
Trùng Hưng
(1285-1293)


Trần Khâm 1258-<sub>1308</sub> 1278-<sub>1293</sub> Duệ Hiếu Hồng<sub>Đế</sub> Đức Lăng


Anh Tơng Hưng Long Trần<sub>Thun</sub> 1276-<sub>1320</sub> 1293-<sub>1314</sub> Nhân Hiếu Hồng<sub>Đế</sub> Thái Lăng



Minh
Tơng


Đại Khánh
(1314-1323)
Khai Thái
(1324-1329)


Trần Mạnh 1300-<sub>1357</sub> 1314-<sub>1329</sub> Văn Triết Hồng<sub>Đế</sub> Mục Lăng


Hiến Tơng Khai Hựu Trần Vượng1319-<sub>1341</sub> 1329-<sub>1341</sub> ? Xương An<sub>Lăng</sub>


Dụ Tông


Thiệu Phong
(1341-1357)


Đại Trị


(1358-1369)


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Hôn Đức


Công Đại Định


Dương


Nhật Lễ ?-1370





1369-1370 tiếm ngôi bị giết
Nghệ


Tông Thiệu Khánh Trần Phủ



1321-1394



1370-1372


Anh Triết Hồng
Đế


Ngun
Lăng


Duệ Tơng Long Khánh Trần Kính
1337-1377




1373-1377 ? Hy Lăng


Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1361-<sub>1388</sub> 1377-<sub>1388</sub> phế làm Linh Đức<sub>Vương</sub> An Bài Sơn


Thuận


Tông Quang Thái Trần Ngung




1378-1399



1388-1398


ép nhường ngôi và
ép chết


Yên Sinh
Lăng


Thiếu Đế Kiến Tân Trần An 1396-? 1398-<sub>1400</sub>


bị Hồ Quý Ly cướp
ngôi


phế làm Bảo Ninh
Đại Vương


?


<b>Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò, vị thế của “Hành cung</b>
<b>Thiên Trường” trong quốc gia Đại Việt thế kỷ XIII-XIV?</b>




<b>2.1. Sự ra đời của phủ Thiên Trường:</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<b>nơi dành riêng cho nhà vua ngự mỗi khi về thăm, yết kiến Thượng hoàng. Chùa Phổ</b>
<b>Minh được xây dựng từ thời nhà Lý, được trùng tu lại cho tương xứng với quần thể</b>
<b>kiến trúc mới, có một thời từng là trung tâm Phật giáo ở nước ta. Chùa xây theo kiểu</b>
<b>nội công ngoại quốc. Tháp Phổ Minh được xây dựng vào đầu thế kỷ XII cao 14 tầng,</b>
<b>tầng trệt bằng đá xanh, hình một cỗ kiệu, 13 tầng trên xây bằng gạch đỏ, được nung</b>
<b>bằng cỏ, rắn chắc và bóng giống như sành sứ, rêu không bám được, chịu mưa nắng.</b>
<b>Tháp Phổ Minh là nơi đặt một phần xá lỵ của Đức vua - Phật hồng Trần Nhân</b>
<b>Tơng. Hành cung Thiên Trường từ đó xuất hiện những cơng trình kiến trúc có quy</b>
<b>mơ vương giả: Ở nội cung, có hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa; ngoại cung có các</b>
<b>cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, xung quanh xây dựng các phủ đệ, dành cho</b>
<b>các vương phi, quan lại, sắc dịch thuộc bộ máy giúp việc Thượng hoàng.</b>


<b> 2.2. Vai trò, vị thế của hành cung Thiên Trường:</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

thôn Độc Lập. Phủ Thiên Trường nằm ở ngã ba sơng Vỵ Hồng, Ninh Giang. Cận kề
Thiên Trường; về giao thơng đường bộ thì nằm cạnh đường Thiên lý (đường cái quan từ
phủ Thiên Trường lên Thăng Long); về đường thủy từ đây có thể theo đường sông Ninh
Giang vào sông Châu Giang ra sông Hồng lên kinh đơ Thăng Long, lại có thể theo sơng Vỵ
Hồng, sông Đáy vào sông Vân đến Trường Yên, theo sông Vĩnh vào cung Trùng Quang,
nơi Thượng hoàng ngự. Thiên Trường - Thăng Long là hai trung tâm quyền lực cùng quản
lý và điều hành đất nước. Chúng ta đều biết nhà Trần thiết lập thể chế chính trị “hai vua”,
sau khi nhường ngôi về nghỉ ngơi nhưng chỉ trên danh nghĩa, các Thượng hoàng vẫn tham
gia điều hành đất nước: “Gia pháp nhà Trần thì khác… con đã lớn thì cho nối ngơi chính,
cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hồng, cùng trơng coi chính sự … mọi việc đều
do Thượng hồng định đoạt cả... Vua nối ngơi khơng khác gì Hồng Thái tử” (Đại Việt sử
ký tồn thư). Theo PGS.TS Vũ Văn Quân (Phó chủ nhiệm khoa Lịch sử trường Đại học
KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội), Thiên Trường còn là nơi đào tạo quan lại cho
triều đình. Để trở thành người đứng đầu kinh thành phải qua ba bước thử thách trong thực
tiễn cả về năng lực và tư cách: đứng đầu một lộ địa phương bình thường, tiếp đó đứng đầu
phủ Thiên Trường, rồi về làm Thẩm hình viện (cơ quan triều đình trung ương). Tất cả các


vị trí này đều phải hồn thành xuất sắc thì mới được bổ nhiệm người đứng đầu kinh thành
Thăng Long. Việc học hành, thi cử ở đất Thiên Trường vì thế cũng đặc biệt phát triển.
Năm 1281 nhà Trần lập nhà học ở phủ Thiên Trường “định rõ 7 năm 1 khóa, đặt ra Tam
khôi, điều lệ mỗi ngày một nghiêm ngặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, cơng danh do
đó mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều” (Lịch triều hiến chương
loại chí - Phan Huy Chú). Nhà Trần đã mở 10 khoa thi Thái học sinh để chọn nhân tài.
Truyền thống đất học của Thiên Trường chỉ đứng sau đất Đế đô Thăng Long. Hành cung
Thiên Trường là sự khởi đầu cho sự đi lên vững vàng của một vùng đất trù phú giàu tiềm
năng cận sông, giáp biển. Sự xuất hiện của hành cung Thiên Trường cùng với những chính
sách của vương triều Trần về khẩn hoang, lấn biển, xây dựng điền trang, thái ấp đã có tác
động kích thích kinh tế nơng nghiệp, ngành nghề thủ công nghiệp địa phương phát triển.
Bên cạnh đó, sự tập trung một số lượng lớn thợ thủ công tài hoa, cùng với thuận lợi về giao
thông thủy bộ kích thích các hoạt động giao thương bn bán trao đổi hàng hóa phát triển
tạo tiền đề hình thành và phát triển đô thị Nam Định sau này. Sự ra đời của hành cung
Thiên Trường không chỉ làm thay đổi diện mạo của một vùng quê thanh bình ven sơng
Vĩnh mà cịn đặt nền tảng cho sự ra đời của đơ thị Vỵ Hồng thế kỷ XVIII-XIX và đô thị
Nam Định thời cận hiện đại. Các nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay cũng khẳng định rằng
việc xây dựng hành cung Thiên Trường với quy mô, vị thế về chính trị, lịch sử, kinh tế,
văn hóa cịn thể hiện tầm nhìn chiến lược hướng biển của nhà Trần.


<b> Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược</b>
<b>Nguyên – Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?</b>


<i> 3.1. Những hiểu biết về ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của quân dân</i>
<b>Đại Việt:</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<b>thời gian của cuộc kháng chiến bắt đầu từ năm</b> <b>1258đến năm</b> <b>1288, nhưng thời gian chiến sự chính</b>
<b>thức chỉ tổng cộng bao gồm khoảng gần 9</b> <b>tháng, chia làm 3 đợt. Trước, giữa và sau các đợt chiến sự</b>
<b>là thời gian tiến hành tích cực các hoạt động</b> <b>ngoại giao. Kết quả, Đại Việt bảo vệ được nền độc lập</b>
<b>của mình, nhưng trên danh nghĩa phải chịu làm một xứ phụ thuộc vào đế quốc Mông Cổ. Thắng lợi</b>


<b>quân sự của phía Đại Việt gắn liền với tên tuổi của Hưng Đạo Đại vương</b> <b>Trần Quốc Tuấn.Lịch sử</b>
<b>Việt Nam</b> <b>xem cuộc kháng chiến này là một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc.</b>


<b>Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300) sinh năm Nhâm Thìn. Ơng là danh tướng nhà Trần, anh hùng dân</b>
<b>tộc, người có cơng rất lớn trong ba lần kháng chiến chống Ngun Mơng. Đồng thời ơng cịn là một nhà nghiên cứu</b>
<b>quân sự với các bộ binh pháp Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp bí truyền.</b>


<b>*Lần thứ nhất:</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng Long, hai vua Trần lại dẫn quân phản công, đánh thắng
quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là quận Ba Đình, Hà Nội). Qn Mơng Cổ
lập tức bỏ thành Thăng Long rút lui về nước, cũng bằng con đường dọc theo sông Hồng.
Trên đường rút lui, quân Mông Cổ đã bị lực lượng các dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc
do Hà Bổng chỉ huy tập kích.


Tồn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, với chỉ khoảng
3-4 trận đánh lớn. Sau thất bại tại Đại Việt, quân Mông Cổ phải tìm đường khác để tấn
cơng Tống từ phía Nam.


<b>* Lần thứ 2:</b>


27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh chinh phạt Đại Việt. Cuộc chiến
lần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm
Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch). Lần này, quân Nguyên
chuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn. Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến
xuống, cịn có thủy qn từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

Việt tại vùng Nghệ An-Thanh Hóa. Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng
Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa.



Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực. Trong khi đó, quân Đại Việt đã
nhanh chóng chấn chỉnh đội ngũ. Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa, Đại Việt phản cơng. Dọc
theo sơng Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên),
bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long.


Cánh qn phía Bắc của qn Ngun trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sơng Cầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh
Bình. Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh. Cánh quân phía Nam bị tiêu diệt hồn tồn tại
Tây Kết (Khối Châu).


<b>* Lần thứ 3:</b>


Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngũ, bổ sung lực
lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba. Cuộc chiến
lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm
1288. Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng
Đông (theo đường biển) vào Đại Việt.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long,
nhưng lại bị đói giống như hai lần trước.


Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quân Nguyên từ
đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân. Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải
Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn cơng vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy qn Ngun.


Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động
rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn. Cánh thủy quân của Nguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn
tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển. Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã
bị quân Đại Việt tấn công dữ dội.


<b>Chấm dứt chiến tranh</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đồn kết
nội bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hồng tộc nhà Trần có những người phản bội
theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đơng đảo dân
chúng.


Cịn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh
xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hồng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý
nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngồi lịng u nước - và bảo vệ quyền lợi dịng tộc
- số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm dòng họ cai trị nào có nhiều
nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai:<b> Trần Quốc</b>
<b>Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn</b>
trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc
<b>Toản....</b>


Chiến thắng của nhà Trần có được nhờ vào sự sáng suốt của các tướng lĩnh trong chiến
thuật, đứng đầu là Trần Hưng Đạo. Trong khi tác chiến, các tướng lĩnh nhà Trần chủ động
tránh lực lượng hùng hậu người Mông mà đánh vào các đạo quân người Hán bị cưỡng bức
theo quân Mông sang Đại Việt. Tâm lý của những người mất nước và phải chịu sự quản
thúc của người Mông khiến các đạo quân này nhanh chóng tan rã, sức kháng cự thấp. Một
cánh quân tan rã có tác động tâm lý lớn tới các đạo quân còn lại trên tồn mặt trận.


Mơng-Ngun đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người Mơng bại trận
lúc đó như Ai Cập q xa xơi, Nhật Bản và Nam Dương đều có biển cả ngăn cách và
qn Mơng cũng khơng có sở trường đánh thủy quân, lại gặp bão to (<b>Thần phong) nên</b>
mới bị thua trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Đông Á, chung
đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm
được. Một đế quốc đã nằm trùm cả đại lục Á - Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở
phía nam. Tổng cộng 3 đợt xuất quân, Mông-Nguyên huy động hơn 60 vạn lượt quân,
trong khi dân số Đại Việt khi ấy chưa đầy 4 triệu. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ


địch và vị trí địa lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại
của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông-Nguyên của nhà Trần.


Theo giáo sư Đào Duy Anh thì có 3 nhược điểm khiến quân Mông Nguyên thất bại ở Đại
Việt:


1. Người Mông Cổ đi đánh xa, chỉ mong cướp bóc ni qn, nếu khơng được thì dễ
bị khốn vì thiếu lương.


2. Qn Mông Nguyên là người phương bắc, không hợp thuỷ thổ.


3. Đại đa số quân lính là người Trung Hoa bị chinh phục, tinh thần chiến đấu khơng có,
gặp khó khăn là chán nản.


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

<b>Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống</b>
<b>Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ,</b>
<b>quân, dân Nam Định?</b>


<b>4.1. KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-4954)</b>


<b>Đấu tranh giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng cách</b>
<b>mạng (9-1945 đến 12-1946).</b>


Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền mới đã được thiết lập, nhân dân ta đã được
giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Nhưng nằm trong tình hình
chung của cả nước, sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, Đảng bộ và nhân dân
Nam Định cũng phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp. Thù trong giặc ngồi đe dọa,
tình hình đất nước ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc.


Về kinh tế, mọi ngành sản xuất đều sút kém, đình đốn. Sản xuất nơng nghiệp suy giảm,


ruộng đất hoang hóa nhiều. Hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ phát triển. Về tài
chính, ngân quỹ, kho bạc nói chung khơng cịn gì. Giữa lúc đó, các thế lực đế quốc núp
dưới danh nghĩa quân Đồng minh để tước vũ khí quân đội Nhật cũng tràn vào từ hai đầu
đất nước. Thực chất là chúng muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ.


Về phía chủ quan, Đảng bộ Nam Định còn thiếu kinh nghiệm trong cơng tác lãnh đạo
chính quyền. Các tổ chức quần chúng, lực lượng vũ trang địa phương, tổ chức đảng ở cơ sở
nhất là ở xã cịn ít, trang bị nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của phong trào
cách mạng trong giai đoạn mới.


Thuận lợi cơ bản nhất đối với chính quyền cách mạng non trẻ là được sự ủng hộ mạnh mẽ
của quần chúng. Trong mọi hoàn cảnh, các tầng lớp nhân dân Nam Định nói riêng và cả
nước nói chung ln vững tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh, sẵn sàng đem tính
mạng và của cải để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ mới.


Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải
làm ngay. Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, khẳng
định “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng.
Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hồn thành, vì nước chưa được hồn tồn độc
lập”.


Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh là
dồn toàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước sự tiến công thâm
độc của những kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

người Mặt trận Việt Minh giới thiệu. Ngày 20-1-1946, cử tri Nam Định nô nức đi bầu cử
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã vào ngày
18-3-1946.



Ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định, Chiều ngày 10-1-1946, Chủ
tịch đã nói chuyện với thân mật với đại biểu các tâng lớp nhân dân, đại biểu các tôn giáo và
cán bộ các ngành, các giới trong tỉnh. Bảy giờ sáng ngày 11-1-1946, trước hơn một vạn
cán bộ, bộ đội và nhân dân Bác ân cần nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, thương yêu
nhau, chăm lo, mọi mặt cơng tác, ủng hộ Chính phủ. Đây là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí
Minh về thăm Nam Định. Những lời chỉ bảo ân cần của Người đã để lại ấn tượng sâu sắc
và cổ vũ Đảng bộ, nhân dân Nam Định đoàn kết, phấn đấu, khắc phục những khó khăn trở
ngại, tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới của cách mạng.


Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, những khó khăn bước đầu đã
dần được khắc phục, đời sống nhân dân ổn định, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng
cố, giữ vững; quân và dân Nam Định có điều kiện bước vào cuộc kháng chiến lâu dài,
chống thực dân Pháp xâm lược.


<b>Chiến đấu giam chân địch trong thành phố, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.</b>


Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời
<i>kêu gọi toàn q́c kháng chiến. Cũng trong tháng 12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị</i>
<i>toàn dân kháng chiến, vạch ra những nét lớn về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện,</i>
lâu dài và tự lực cánh sinh.


24h ngày 19-12-1946, cả thành phố Nam Định rền vang tiếng súng mở đầu cuộc kháng
chiến chống xâm lược. Cuộc chiến đấu của ta nhằm kiềm chế, tiêu hao sinh lực địch trong
thành phố diễn ra dài ngày và mỗi lúc một ác liệt hơn. Ta và địch đánh lấn, giành nhau
từng căn nhà, góc phố từng nhà máy, xí nghiệp. Trong cuộc chiến đấu khơng cân sức ấy đã
xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, quyết tâm giết giặc lập
công. Điển hình là Đồn Bạch Hạc - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đồn 69), Triệu
Hàn - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đồn 69), Phạm Sơn - cơng nhân vận chuyển, tự
vệ Nhà máy sợi mới tình nguyện vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 75, nữ chiến sĩ cứu thương
Nguyễn Thị Ca ... Trong trận cuối cùng địch đánh giải vây thành phố (10-3-1947) có bốn


anh em ruột cùng chiến hào đã anh dũng hi sinh khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng là Tạ
Quang Khải, Tạ Hồng Quang, Tạ Quang Thuấn, Tạ Quang Đức.


Ngày 6-1-1947, quân dân Nam Định đánh thắng cuộc hành quân chi viện quy mô lớn của
địch, chiến thắng to lớn này đã được Hồ Chủ Tịch thay mặt Quốc hội và Chính phủ điện
khen ngợi và quyết định tặng Trung đoàn 34 danh hiệu Trung đoàn tất thắng. Hội nghị
quân sự toàn quốc (họp từ ngày 12 đến ngày 16 – 1 -1947) đã khen ngợi chiến công của
nhân dân Nam Định và nêu gương anh dũng chống thuỷ, lục, không quân địch.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

và lính Âu - Phi, bắt sống sáu tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cùng với Hà
Nội, và một số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân dân Nam Định
đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần cùng cả
nước có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu
dài. Qua chiến đấu ác liệt, lực lượng kháng chiến tại Nam Định vẫn được bảo toàn và ngày
càng trưởng thành.


<b>Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới </b>
<b>10-1949)</b>


Sau khi chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếp tục xua quân sang Đông
Dương. Mục tiêu của chúng trong thời gian này là chiếm lấy những đường giao thơng
chính, lập vành đai bảo vệ thành phố, thị xã, trên cơ sở đó đánh nống ra tiêu diệt lực lượng
kháng chiến và nhanh chóng kết thúc chiến tranh.


Ở Nam Định, thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng theo chiến thuật vết dầu loang, địch
đã mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thành phố để khủng bố nhân dân, phá cơ sở, gây
tâm lý cầu an; dụ dỗ, thúc ép dân hồi cư và đẩy lực lượng ta ra ngoài. Từ tháng 4 đến tháng
6-1947, chúng đã đóng thêm một số vị trí ngồi thành phố như Đò Quan, Vạn Diệp (Nam
Phong, Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (Mỹ Hà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) thuộc
huyện Mỹ Lộc và Xuân Mai (Bình Lục, Hà Nam). Cũng trong thời gian này, địch còn tổ


chức một số trận đánh ra vùng tự do để khủng bố tinh thần nhân dân, cướp bóc lương thực,
thực phẩm và để vây quét lực lượng của ta, nhưng đều bị đánh trả đích đáng như các trận
chợ Dần (Vụ Bản) ngày 31-3-1947, trận Lê Xá (Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc), Núi Ngăm (huyện Vụ
Bản) ngày 2-5-1947, trận Đại Đê (Vụ Bản) ngày 1-6-1947, trận Quang Sán (Mỹ Lộc) tháng
7-1947…


Vừa cơ động chiến đấu, các đơn vị bộ đội vừa đưa một bộ phận lực lượng về các địa
phương hỗ trợ, phát triển chiến tranh du kích. Năm 1947, bộ đội chủ lực đánh 75 trận, bộ
đội địa phương đánh 24 trận, dân quân, du kích đánh 40 trận.Tiêu biểu cho thành tích chiến
đấu là đội du kích Mai Mỹ (Thành Mỹ) đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh biểu dương.


Nhân dân các vùng bị địch uy hiếp tổ chức triệt phá cầu, đường, đắp ụ ngăn cơ giới của
địch thực hiện khẩu hiệu vườn không, nhà trống khi địch tới. Việc rào làng kháng chiến
chống địch càn quét cũng được tiến hành ở nhiều địa phương. Đến tháng 10-1949, toàn
tỉnh đã xây dựng được 90 làng chiến đấu. Đến tháng 9-1949, du kích tồn tỉnh có hơn
45.000 người; cuối năm 1949, đã có 20 trung đội du kích. Phong trào tịng quân giết giặc
cứu nước sôi nổi khắp các địa phương. Năm 1949, có gần 9.000 người ghi tên tịng qn,
bộ đội địa phương đến tháng 3-1948 từ một Đại đội Đề Thám đã xây dựng thêm tiểu đoàn
Duyên Hải.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

ứng yêu cầu lớn của kháng chiến. Công nghiệp và thủ công nghiệp cũng được đẩy mạnh
như các nghề kéo sợi, dệt vải, dệt lụa ở Vụ Bản, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, nghề làm giấy,
thuỷ tinh, thuộc da, đúc gang, đồng, làm ngòi bút ở Ý Yên, Hải Hậu, Trực Ninh… Trong
khói lửa chiến tranh, phong trào bình dân học vụ tiếp tục phát triển mạnh. Đến tháng
10-1949, tồn tỉnh đã có 250.908 người thốt nạn mù chữ. Tồn tỉnh có 341 trường tiểu học
với 16.789 học sinh. Ngồi trường trung học Nguyễn Khuyến đã có thêm sáu trường tư
thục. Năm 1948, tỉnh đã thành lập các ban y tế xã, tám trạm cứu thương, 30 nhà hộ sinh,
duy trì tốt hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân và bộ đội, năm 1948 đã chữa cho 1.740
người bệnh.



Những kết quả trên đã làm cho đời sống kinh tế văn hoá, xã hội của nhân dân trong tỉnh
được cải thiện từng bước trong quá trình kháng chiến kiến quốc, động viên mọi người hăng
hái sản xuất và phục vụ chiến đấu.


<b>Từng bước phát triển lực lượng, chống địch mở rộng chiếm đóng, giải phóng quê</b>
<b>hương (10-1949 – 7-1954).</b>


Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với những thắng lợi của quân, dân Lào,
Camphuchia trên chiến trường Đông Dương năm 1949 đã đẩy quân Pháp vào thế sa lầy, đế
quốc Mỹ lợi dụng can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương.


Ngày 18-10-1949, quân Pháp cho 6 tàu chiến, 2 canơ chở hai tiểu đồn theo sơng Hồng đổ
qn lên Hạc Châu, Liêu Đông (Xuân Trường) đánh chiếm Hành Thiện, Bùi Chu (nơi có
tồ giám mục). Chúng cấu kết với bọn cầm đầu phản động đội lốt đạo Thiên Chúa để bọn
này tiếp tay đắc lực cho chúng. Từ tháng 10-1949 đến đầu năm 1952, nhân dân sáu huyện
phía nam Nam Định bước vào thời kỳ “Hai năm, bốn tháng” đầy đau thương và uất hận.
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Liên khu 3, Tỉnh uỷ Nam
Định đã chỉ đạo các địa phương nghiêm túc rút kinh nghiệm, sửa chữa sai lầm, khuyết
điểm, đề ra các phương án củng cố, xây dựng lực lượng và tác chiến phù hợp với yêu cầu,
nhiệm vụ mới.Các Đảng bộ kịp thời uốn nắn nhgững nhận thức không đúng đắn, cử cán bộ
trở về cơ sở bán đất, xây dựng lại phong trào, từng bước vạch rõ âm mưu lợi dụng tôn giáo,
chia rẽ lương-giáo của kẻ thù; củng cố, phát triển lực lượng vũ trang địa phương, dân qn,
du kích, làm nịng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc.


Cuối tháng 4-1951, theo chủ trương của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh mở Hội nghị tổng kết
chiến dịch Hoàng Hoa Thám và quyết định mở chiến dịch Quang Trung (tức chiến dịch Hà
– Nam – Ninh) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá một mảng nguỵ
quân nguỵ quyền, tạo điều kiện cho việc phục hồi cơ sở, phát triển chiến tranh du kích và
bảo vệ tài sản, tính mạng, mùa màng của nhân dân. Đêm 28 rạng 29-5-1951, Đại đoàn 308
cùng bộ đội địa phương, dân quân, du kích nổ súng tiến công cứ điểm Đại Phong và Non


Nước (Thị xã Ninh Bình) mở màn chiến dịch.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

cơ, đặt lên hàng đầu là công tác khuếch trương thắng lợi sâu rộng trong quần chúng cùng
với việc phá rã ngụy quyền của địch. Bằng sự kiên trì, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quân
dân ta đã từng bước chiến đấu giành giật với địch từng vùng đất, làm thất bại âm mưu chia
rẽ lương - giáo của kẻ thù, giành lại thế chủ động.


Ngày 23-2-1952, địch bỏ Hồ Bình rút chạy. Cùng với thất bại ở Hồ Bình, việc bình định
của địch trong năm 1951 bị phá vỡ. Từ giữa năm 1952, ngoài việc thường xuyên tổ chức
càn quét cỡ đại đội, tiểu đồn, địch cịn tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, dài
ngày với cường độ vô cùng ác liệt trên địa bàn Nam Định.


Mặc dù lực lượng không cân sức, quân và dân trong tỉnh vẫn kiên cường chiến đấu để bảo
vệ khu du kích làm cho địch tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, như
trận tập kích Trại huấn luyện Vạn Bảo ở thành phố Nam Định ngày 28-4-1953, diệt gọn
một tiểu đồn, bắt 500 tên địch. Trận tập kích địch ở Đỗ Xá (Nam Trực) tháng 7-1953 tiêu
diệt 160 tên trong đó có tên thiếu tướng Ginlơ chỉ huy cuộc càn.


Như vậy trước cuộc chiến đông - xuân 1953 - 1954, quân dân Nam Định đã tạo được thế
và lực mới cho cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Theo thống kê
chưa đầy đủ, thời gian này quân dân Nam Định đã đánh địch gần 1.600 trận, tiêu diệt 9.000
tên địch, phá huỷ 76 xe cơ giới, bắn cháy 2 máy bay, 8 tàu chiến, thu gần 1.000 súng và
nhiều quân trang, quân dụng khác.


Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, đêm ngày 25-5-1954, tại Nam Định, bộ đội chủ lực đã phối
hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt hồn tồn vị trí Thức Khố (Giao Thuỷ) bắt 650 tên,
thu tồn bộ vũ khí, qn trang, quân dụng. Ngày 4-6-1954, quân ta tiếp tục tiến công vị trí
Đơng Biên (Hải Hậu). Sau 12 giờ chiến đấu, ta đã giành thắng lợi, tiêu diệt một số tên, bắt
sống 500 tên. Trong vòng nửa đầu năm 1954, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Nam
Định đã đánh trên 1.600 trận (du kích đánh 800 trận), diệt và làm bị thương trên 3.000 tên,


thu hàng trăm súng các loại, phá huỷ gần 100 xe cơ giới.


Trong khi Hội nghị Giơnevơ chưa kết thúc, thì trung tuần tháng 6-1954 địch đã rục rịch rút
khỏi Nam Định. Và đến 9 giờ ngày 1-7-1954, thực dân Pháp đã rút toàn bộ các vị trí cịn
lại ở Ngơ Đồng, Hành Thiện, Bùi Chu, Lạc Quần, Cổ Lễ và cuối cùng là thành phố Nam
Định.


Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cịn non trẻ và kháng chiến trường kỳ chống thực dân
Pháp xâm lược của dân tộc nói chung và nhân dân Nam Định nói riêng đã giành thắng lợi
vẻ vang. Với nhũng thành công đã đạt được, những kinh nghiệm và cả thử thách tôi luyện
trong chiến tranh cách mạng, Đảng bộ và quân, dân Nam Định càng thêm vững tin cùng cả
nước bước vào một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

Ngày 21-7-1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương. Miền
Bắc hồn tồn giải phóng, bước vào thời kỳ q độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sau nhiều năm bị địch chiếm đóng, đến
ngày 1-7-1954, địa bàn Nam Định hồn tồn sạch bóng qn thù. Chiến tranh kết thúc,
nhưng để lại cho nhân dân Nam Định những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, văn hố
- xã hội.


Để ổn định giá cả, phục vụ đời sống nhân dân, chính quyền cách mạng ở Nam Định đã
thực hiện các biện pháp kinh tế tích cực như bãi bỏ các loại thuế, đảm phụ quốc phòng, an
ninh… Tại thành phố Nam Định, ngày 3-7-1954, Uỷ ban quân quản được thành lập, đã
cơng bố 8 chính sách và 10 điều kỷ luật đối với vùng mới giải phóng. Nhờ tinh thần chủ
động, tích cực của các cấp, các ngành và tinh thần hăng hái của cán bộ, nhân dân trong
tỉnh, khơng khí lao động sản xuất ở các địa phương được đẩy mạnh, đời sống của nhân dân
từ thành thị đến nông thôn sớm được ổn định.


Nhờ những biện pháp kiên quyết, kịp thời, cuộc đấu tranh chống dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào
di cư vào Nam đã đạt được kết quả khá tốt: các trại tập trung di cư lập ra trái phép đã bị


giải tán. Từ tháng 8-1954 đến tháng 5-1955, ta đã tuyên truyền, vận động hàng trăm gia
đình và hơn 3.000 người tự nguyện rút đơn, trả giấy thông hành, yên tâm ở lại quê hương.
Song song với việc tiếp quản vùng mới giải phóng, chống địch cưỡng ép đồng bào di cư,
Đảng bộ Nam Định đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ lớn là cải cách
ruộng đất và phục hồi phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội.


Tuy nhiên, trong cải cách ruộng đất đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng. Khi phát hiện
sai lầm, Đảng đã kịp thời có chính sách sửa sai, nhưng cũng phải tới tháng10 -1957, nhiệm
vụ sửa chữa mới cơ bản hoàn thành. Đây là một kinh nghiệm xương máu đối với Đảng bộ
và nhân dân Nam Định.


<b>Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp tư bản</b>
<b>tư doanh (1958-1960)</b>


Ngày 13-8-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về dự hội nghị sản xuất nông nghiệp của tỉnh được
tổ chức tại xã Yên Tiến huyện Ý Yên, là nơi thí điểm đầu tiên xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp ở Nam Định. Người chỉ thị cho cán bộ và nhân dân địa phương phải quyết tâm thực
hiện vụ mùa thắng lợi, tránh chủ quan, tích cực chăm bón, phịng trừ sâu bệnh cho lúa.
Ngày 15-9-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại về kiểm tra tình hình chống hạn ở Nam Định.
Người căn dặn cán bộ, nhân dân trong tỉnh phải quyết tâm chống hạn. Mọi người phải đoàn
kết, giúp đỡ nhau chiến thắng thiên tai, đẩy mạnh sản xuất, ngày càng làm ra nhiều của cải,
vật chất, đem lại hạnh phúc cho mọi nhà, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Nam Định cũng như ở nhiều địa phương khác đã mắc
phải một số sai lầm. Nhiều nơi cán bộ tỏ ra nóng vội, duy ý chí, chạy theo thành tích nên
đã khơng tơn trọng đầy đủ cả ba nguyên tắc cơ bản của tập thể hố nơng nghiệp xã hội chủ
nghĩa là: tự nguyện, cùng có lợi và từ thấp đến cao.


Đối với cơng nghiệp và thủ công nghiệp, sau ba năm khôi phục kinh tế (1955-1957), công
nghiệp quốc doanh mới được phục hồi và phát triển. Từ cuối năm 1958, Nam Định triển


khai cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp. Trong quá trình này, phong trào thi đua
hồn thành vượt mức kế hoạch nhà nước được liên tục phát động. Đặc biệt, năm 1960,
phong trào phát triển mạnh, liên tục và mang tính tập thể đậm nét, quan tâm tới vấn đề cải
tiến kỹ thuật, áp dụng thao tác tiên tiến vào sản xuất. Nổi bật nhất là Nhà máy Dệt Nam
Định, trong ba năm (1958 - 1960), công nhân đã phát huy được 485 sáng kiến, góp phần
quan trọng làm cho giá trị sản lượng của nhà máy bình quân hàng năm tăng 23%. Nhiều
đơn vị và cá nhân đạt danh hiệu tiên tiến, chiến sĩ thi đua. Bốn công nhân được tuyên
dương là Anh hùng lao động.


Đến cuối năm 1960, Nam Định hoàn thành kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát
triển kinh tế, văn hoá - xã hội. Thắng lợi đó đã đem lại những chuyển biến to lớn trong đời
sống kinh tế, chính trị của nhân dân trong tỉnh.


<b>Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ</b>
<b>nghĩa xã hội ở địa phương (1961-1965)</b>


Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5
năm lần thứ nhất. Từ ngày 15 đến 21-5-1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V được
tiến hành, ngày 21-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, chỉ đạo đại hội và Người đã
đến thăm Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định, thăm bệnh viện tỉnh, gặp gỡ, nói chuyện với
hơn năm vạn nhân dân, cán bộ dự mít tinh chào mừng thành công của Đại hội.


Cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nông nghiệp được quan tâm đầu tư xây dựng. Năng suất lúa
từ 3,5 tấn/ha (năm 1960) tăng lên 3,9 tấn/ha năm 1965. Số hợp tác xã đạt 5 tấn/ha ngày
càng nhiều.


Sản xuất công nghiệp phát triển với giá trị tổng sản lượng hàng năm tăng 6%, những lĩnh
vực được chú trọng phát triển trong thời kỳ này là điện lực, vật liệu xây dựng, chế biến
nông sản, dược liệu và đặc biệt là ngành cơ khí…



Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đang thực hiện có kết quả thì bị gián đoạn bởi cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Tuy chỉ thực hiện được 4 năm, nhưng với những
thành tựu đạt được, Nam Định bước đầu đã khắc phục được tình trạng nghèo nàn, lạc hậu,
cải thiện một bước đời sống của nhân dân, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Thất bại trong chiến lược Chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ phải trực tiếp đưa quân vào
miền Nam thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, đồng thời leo thang mở rộng chiến
tranh ra miền Bắc bằng không quân và hải quân.


Thực hiện Quyết định số 103-QĐ/TVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 21-4-1965
và Nghị quyết số 111-NQ/TW về việc hợp nhất hai tỉnh Nam Định và Hà Nam; ngày
4-6-1965, Ban chấp hành Đảng bộ hai tỉnh họp liên tịch. Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách
của toàn Đảng bộ lúc này là đoàn kết toàn quân, toàn dân Nam Hà thực hiện thắng lợi nghị
quyết của Trung ương Đảng trong thời kỳ mới.


Quân dân Nam Hà phối hợp với trung đoàn 250 pháo cao xạ, đã chiến đấu dũng cảm để
bảo vệ người, tài sản, huyết mạch giao thông chi viện cho tiền tuyến đồng thời duy trì, giữ
vững sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự, bắn rơi 42 máy bay Mỹ. Đơn vị tự vệ thành phố và
trung đoàn 250 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Tự vệ khu phố 4,
khu phố 6, Nhà máy Liên hợp Dệt và Chi cục xăng dầu được tặng thưởng Huân chương
chiến công hạng ba. Ngày 10-7-1965, quân và dân Nam Hà long trọng mít tinh đón nhận
cờ thưởng ln lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Qua gần bốn năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, tính đến ngày
8-11-1968, các lực lượng vũ trang Nam Hà đã bắn rơi 86 máy bay phản lực Mỹ (dân quân,
tự vệ bắn rơi 10 chiếc), góp phần bắn chìm một tàu biệt kích, bắn cháy một tàu chiến và
một tàu biệt kích khác, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển quê hương.


Ngày 1-11-1968, Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom và mọi hành động chiến tranh khác
chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, chấp nhận ngồi vào đàm phán ở Hội nghị Pari.


Từ năm 1969, quân và dân Nam Định đã tranh thủ thời gian hồ bình, từng bước khắc phục
khó khăn, gian khổ, khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, bảo đảm an tồn cho
các tuyến giao thông vận tải, đẩy mạnh mọi mặt sản xuất.


Ngày 16-4-1972, Mỹ lại cho một lực lượng lớn máy bay, có cả B52, ồ ạt đánh phá Hải
Phịng và Thủ đơ Hà Nội. Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ kéo dài
188 ngày đêm, không quân Mỹ đã đánh phá 633 trận vào 893 mục tiêu khác nhau, số máy
bay tham gia đánh phá thành phố Nam Định lên tới 1.345 lượt chiếc.


Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này, lực lượng vũ trang trong tỉnh bắn rơi 28
máy bay, hai tàu chiến. Riêng lực lượng vũ trang địa phương lập công lớn, hiệu suất chiến
đấu cao gấp hai lần trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

Bị thất bại nặng nề, đầu năm 1973 đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt
chiến tranh và lập lại hồ bình ở Việt Nam, qn đội Mỹ và đồng minh của Mỹ phải rút
khỏi Việt Nam. Nhưng ở miền Nam, chúng vẫn ngoan cố thực hiện chiến lược Việt Nam
<i>hoá chiến tranh, tăng cường củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền, tiếp tục chia cắt lâu dài đất</i>
nước ta.


Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế
quốc Mỹ, quân và dân Nam Hà đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đồn kết thống nhất ý
chí và hành động, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, sản xuất và chiến đấu giỏi góp phần
bảo vệ vững chắc quê hương và miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ngày 30-4-1975, miền Nam
hồn tồn giải phóng. Trong niềm vui chung của cả nước, quân dân Nam Hà rất phán khởi
tự hào vì đã tích cực góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc.


<b>4.3. Thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định:</b>


<i><b>*</b></i><b>Bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986-1991)</b>



Bước vào công cuộc đổi mới, tình hình chung ở tỉnh có nhiều khó khăn, phức tạp. Dưới
ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, mục tiêu
chủ yếu trong kế hoạch 5 năm 1986 – 1990 của tỉnh được xác định từng bước ổn định tình
hình kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó phát triển sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, nâng
cao chất lượng sản phẩm trong công nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp, hàng hố xuất khẩu.
Nhờ phát triển kinh tế nông nghiệp một cách đồng đều nên địa phương không những giải
quyết được cơ bản vấn đề lương thực đủ ăn mà nhiều hộ nông dân đã có lương thực dự trữ.
Đời sống nhân dân bước đầu được ổn định. Nhiều gia đình ở các huyện Nghĩa Hưng, Xuân
Thuỷ đã nhận đấu thầu các vùng khai thác tôm, nuôi cua biển, trồng rau câu xuất khẩu đạt
hiệu quả kinh tế cao.


Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ cơng nghiệp trong q trình chuyển đổi cơ chế bao cấp
sang hạch tốn kinh doanh có nhiều khó khăn bỡ ngỡ, nhưng đã có sự chuyển biến mới.
Một số mặt hàng mới như đay xe, tôm và thịt đông lạnh xuất khẩu, may mặc, điện tử …
chiếm lĩnh thị trường, từng bước làm thay đổi mặt hàng công nghiệp quốc doanh địa
phương. Trong 5 năm 1986-1990, giá trị công nghiệp địa phương tăng bình quân 1,4%
năm. Riêng năm 1990 tăng 7,2% so với năm 1985.


Nhìn chung, thời kỳ này cơng nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa tạo được hướng đi cụ
thể và có phần sa sút nghiêm trọng, sản xuất chủ yếu là gia công.


Thương nghiệp tư nhân dần phát triển, chiếm lĩnh phần lớn khâu bán lẻ, một phần bán
buôn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có cố gắng lớn, duy trì và phát triển các ngành học, cấp học,
chú ý chất lượng giáo dục. Nam Định là một trong bốn tỉnh được công nhận phổ cập giáo
dục tiểu học và là đơn vị tiên tiến xuất sắc của ngành giáo dục tồn quốc.


Về y tế, đã triển khai các chương trình chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, dịch vụ y tế phát
triển, cải thiện một bước điều kiện khám, chữa bệnh cho nhân dân.



Hai năm 1991-1992, thực hiện Chỉ thị 11 của Ban Bí thư trung ương Đảng (khố VI) và
<i>Nghị định 46 của Chính phủ, bộ máy hành chính sự nghiệp trong tỉnh được sắp xếp lại theo</i>
hướng gọn nhẹ, giảm trung gian.


Những thành tựu bước đầu thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại sự khởi sắc mới trên
các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở địa phương. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư có sự chuyển
biến theo hướng tập trung vào ba chương trình kinh tế, đã thu được kết quả. Đây là những
tiền đề hết sức quan trọng tạo đà cho nhân dân trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn 1992-1996.


Phát huy thắng lợi bước đầu, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội (1992-1996).


Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII, tỉnh Hà Nam Ninh, được tách thành hai tỉnh
Nam Hà và Ninh Bình từ ngày 1-4-1992. Nam Định nằm trong tỉnh Nam Hà.


Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, năm
1992, UBND Tỉnh đã ra Quyết định thực hiện giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
nơng dân.. Đảng bộ, chính quyền các cấp, cũng đặc biệt coi trọng chỉ đạo đưa tiến bộ khoa
học mới các khâu trọng yếu nhằm tạo ra năng suất cao. Do đó, sản xuất lúa của tỉnh đã
từng bước tiếp cận thị trường và trở thành sản phẩm hàng hố, khơng những đáp ứng nhu
cầu địa phương mà còn trở thành nguồn hàng xuất khẩu.


Thời kỳ này, chăn nuôi cũng chuyển mạnh sang hướng sản xuất hàng hố với giống ngoại
và chăn ni kết hợp theo phương pháp truyền thống từng bước mở rộng trong dân. Nghề
nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, nuôi tôm, cá nước ngọt và nước lợ được mở rộng. Nghề
làm muối cũng được duy trì và phát triển, có năm sản lượng đạt tới 100.000 tấn.


Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp đã vượt qua khó khăn. Từ năm 1993, sản xuất
đã tăng dần. Giá trị tổng sản lượng cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp bình qn năm


1991-1995 tăng 5%, đã có 18 trong số 19 ngành cơng nghiệp có mức sản xuất khá, sản phẩm chủ
yếu tăng trên 70%. Bước đầu, hình thành những khu vực kinh tế trọng điểm, từng bước đổi
mới thiết bị công nghệ dệt may… Những kết quả trên tuy mới là bước đầu nhưng đã góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh.
Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, tỉnh đã khai thác và huy động các nguồn vốn để
tập trung cho xây dựng, đổi mới máy móc trang thiết bị kỹ thuật, ưu tiên đầu tư cho thuỷ
lợi, các cơng trình cơng nghiệp, cơng trình phúc lợi xã hội. Tỉnh mở rộng mạng lưới điện
110 và 220KV. Hệ thống bưu chính, viễn thơng, mạng lưới điện thoại phát triển rộng khắp.
Cơng tác xuất khẩu có đà phát triển mới, giá trị xuất khẩu tăng từ ba đến sáu lần. Lĩnh vực
quản lý tài chính, ngân hàng từng bước được đổi mới. Thương nghiệp quốc doanh từng
bước được tổ chức sắp xếp lại, vẫn giữ vai trò chi phối thị trường với các mặt hàng thiết
yếu. Các hình thức thương nghiệp tư nhân phát triển mạnh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

thực hiện tốt. Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất
lượng, giữ vững và phát huy được truyền thống hiếu học, dạy tốt, học tốt.


Các chương trình chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, thanh toán các bệnh phong, lao, mắt
hột được thực hiện, đã sản xuất một số lượng lớn thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân
trong tỉnh. Các hoạt động văn hố, thể thao, văn học, nghệ thuật, báo chí, phát thanh
truyền hình đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Cơng tác quốc phịng, an ninh
được các cấp uỷ đảng, chính quyền chú trọng, thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức
quốc phòng cho các cấp, các ngành và toàn dân.


Bốn năm tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng,
tuy thuận lợi là cơ bản nhưng cũng bộc lộ nhiều khó khăn yếu kém. Tuy nhiên, nhìn chung
tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đang có bước chuyển động. Những thành tựu đạt được
trong bốn năm (1992-1996) đã tạo ra thế và lực để quân dân toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh sự
nghiệp cách mạng trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX.


Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố, hiện


đại hố (1997-2000).


Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá X, Nam Hà tách thành hai tỉnh Nam Định
và Hà Nam. Sau 32 năm phát triển với tư cách là một bộ phận trong cơ cấu tỉnh hợp nhất,
ngày 1-1-1997, Nam Định được tái lập là một sự kiện quan trọng trong tiến trình phát triển
của tỉnh.


Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp trở thành
một nhiệm vụ cấp bách nhằm đảm bảo yêu cầu HTX là chủ thể kinh tế ở nông thôn, hộ xã
viên tự chủ trong sản xuất; đồng thời tách chức năng sản xuất - kinh doanh với quản lý nhà
nước ở nông thôn, giữa HTX nông nghiệp và Uỷ ban nhân dân xã.


Bước vào thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại đại hố nơng nghiệp, nơng thơn, tỉnh xác định
mục tiêu trọng điểm để đầu tư đẩy mạnh hơn nữa việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, tăng cường đầu tư cho thuỷ lợi, thực hiện kiên cố hoá kênh mương …nhằm thúc
đẩy sản xuất một cách cơ bản, vững chắc hơn. Với những nỗ lực từ năm 1997 đến năm
200, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã vươn lên giành kết quả tồn diện. Sản xuất lương
thực ln đạt những đỉnh cao mới về năng suất và tổng sản lượng, năm sau lại phá kỷ lục
của năm trước. Nam Định trở thành một trong những tỉnh có năng suất lúa vụ chiêm xuân
đứng đầu cả nước. Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp từng bước được chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị sản phẩm. Cùng với sản xuất lương thực, chăn nuôi
tiếp tục phát triển tạo ra sản phẩm hàng hố và chăn ni gia cầm có qui mơ lớn theo mơ
hình VAC. Giá trị sản xuất nơng nghiệp bình qn trên 1 ha canh tác đạt khoảng 28 triệu
đồng. đời sống nơng dân có bước cải thiện rõ. Đây là một trong những thành tựu kinh tế
nổi bật của Nam Định từ sau khi tái lập tỉnh.


Tỉnh có đề án phát triển kinh tế vùng biển tồn diện trên các lĩnh vực ni trồng, đánh bắt
xa bờ, chế biến hải sản, phát triển du lịch, dịch vụ biển…Tuy mới là những kết quả ban
đầu, nhưng trên thực tế, kinh tế biển đã được khẳng định và đang mở ra một hướng mới về
phát triển kinh tế của Nam Định trong những năm tới.



</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

Sau khi tổ chức, sắp xếp lại sản xuất, từ năm 1999, tỉnh chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch. Nam Định là tỉnh có tốc độ cổ phần hóa nhanh.
Nhiều doanh nghiệp đã khắc phục được khó khăn ,do đó, giá trị sán xuất công nghiệp trên
địa bàn ngày một tăng. Công nghiệp dệt may với sự hỗ trợ của trung ương và cố gắng của
địa phương đã dần được ổn định và có bước phát triển. Trong lĩnh vực công nghiệp, doanh
nghiệp tư nhân phát triển năng động và tăng nhanh giá trị tổng sản lượng.


Từ năm 1997, tỉnh đã tập trung xây dựng đề án qui hoạch, sắp xếp lại khu vực sản xuất tiểu
thủ công nghiệp, đồng thời khuyến khích tạo điều kiện cho làng nghề phát triển sản xuất
kinh doanh. Hoạt động sản xuất - kinh doanh và đời sống nhân dân ở các làng nghề, phố
nghề được cải thiện rõ nét, tiêu biểu là làng La Xuyên, Tống Xá (huyện Ý Yên); Xuân
Tiến, Xuân Bắc (huyện Xuân Trường); Nam Giang, Hồng Quang (huyện Nam Trực); Trực
Chính, Trực Đơng (huyện Trực Ninh) và thành phố Nam Định.


Kết hợp phát huy nội lực với mở rộng liên kết tạo nguồn cho đầu tư phát triển, vốn đầu tư
cho xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh te - xã hội đạt khá, chiếm khoảng 35% tổng nguồn vốn
đầu tư. Các cơng trình đường giao thơng, hệ thống cấp thốt nước, vệ sinh mơi trường, cây
xanh, cơng viên, nhà ở, các cơng trình văn hố, lịch sử của thành phố được xây dựng và
hoàn thành như tượng đài Trần Hưng Đạo, Nhà văn hoá 3-2, tu sửa đền Trần, công viên
Tức Mặc, Cột Cờ… Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm cả quốc lộ trên địa bàn tỉnh và
tỉnh lộ, các trục giao thông nông thôn đều được nâng cấp cải tạo, xây dựng. Năm 2000,
tỉnh hoàn thành xây dựng cầu Lạc Quần phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội. Cầu cáp
treo qua sơng Đào cũng hồn thành, dự án xây dựng quốc lộ 10 qua tỉnh, cầu Tân Đệ đã
được xây dựng kiên cố và hiện đại. Với những thành tích nổi bật về giao thơng, Nam Định
được Chính phủ tặng cờ ln lưu tồn quốc về giao thơng nơng thơn. Thành phố Nam Định
có đề án mở rộng quy hoạch và được Chính phủ quyết định nâng cấp thành đơ thị loại II.
Sự phát triển của mạng lưới bưu chính, viễn thông đã tạo sự năng động trong sản xuất kinh
doanh và giao lưu xã hội cả trong nước và quốc tế, đồng thời cũng là tiền đề cho sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thế kỷ XXI.



Hệ thống ngân hàng, kho bạc đi vào đổi mới phương thức hoạt động tạo được nguồn vốn
đảm bảo phục vụ doanh nghiệp cà cho nhân dân vay để phát triển sản xuất. Tổng giá trị
mức lưu chuyển hàng hoá trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 3.400 tỷ đồng trong năm 2000.
Lĩnh vực xuất khẩu đang mở rộng. Hoạt động du lịch đã xây dựng đề án phát triển và mở
tuyến lữ hành du lịch đền Trần, Phủ Dầy, Hải Thịnh, Quất Lâm thu hút được nhiều khách
tham quan từ nhiều miền trong nước.


Sự nghiệp giáo dục – đào tạo bám sát nhu cầu thực tiễn xã hội, phát triển cả về quy mô và
chất lượng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học được cải tạo nâng cấp, khơng cịn
tình trạng học ca ba. Nhiều năm liền là tỉnh dẫn đầu cả nước về phát triển sự nghiệp giáo
dục – đào tạo.


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

rộng. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng được nâng cao, củng cố và tăng cường lòng tin của
nhân dân đối với Đảng.


Bước sang thế kỷ XXI, cùng với cả nước, Nam Định đang ra sức đẩy mạnh sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu. nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Trong hành trang đi tới tương lai, lịch sử đấu tranh gìn giữ và
xây dựng quê hương là một trong những di sản vô giá mà người dân Nam Định luôn trân
trọng và phát huy.


<b>Câu 5</b><i><b>:</b></i><b> Thành phố Nam Định được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án</b>
<b>tổng thể phát triển thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội</b>
<b>của vùng Nam đồng bằng sông Hồng năm nào? tiềm năng và điều kiện để Thành phố</b>
<b>Nam Định phát triển?</b>


5.1. Quyết định của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể phát triển
thành phố Nam Định trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của Vùng Nam đồng
bằng sơng Hồng ngày 19 tháng 06 năm 2006.



Theo đó, phạm vi điều chỉnh Quy hoạch chung bao gồm: Toàn bộ ranh giới hành chính
thành phố Nam Định hiện hữu; huyện Mỹ Lộc; 3 xã của huyện Vụ Bản gồm Đại An,
Thành Lợi và Tân Thành; 5 xã của huyện Nam Trực gồm Nam Mỹ, Nam Toàn, Hồng
Quang, Điền Xá và Nghĩa An. Tổng diện tích nghiên cứu khoảng 18.445 ha.


Theo điều chỉnh Quy hoạch, đến năm 2015 dân số toàn thành phố khoảng 480.000 người
và tăng lên 570.000 người vào năm 2025.


<b> Quan điểm và mục tiêu phát triển: </b>
<i>a) Quan điểm phát triển:</i>


- Phát triển thành phố Nam Định để đảm bảo vị trí, vai trị của Thành phố đối với Vùng
Nam đồng bằng sơng Hồng ngày càng tăng lên, có đóng góp ngày càng nhiều vào tăng
trưởng kinh tế của Vùng.


- Phát triển thành phố Nam Định với tầm nhìn dài hạn, hướng tới văn minh, hiện đại và giữ
gìn được bản sắc riêng biệt của Thành phố. Gắn phát triển kinh tế với chỉnh trang, mở rộng
đô thị và phát triển kết cấu hạ tầng.


- Xây dựng thành phố Nam Định mang lại lợi ích khơng chỉ cho người dân Thành phố và
tỉnh Nam Định mà cho cả Vùng Nam đồng bằng sông Hồng.


- Phát triển dựa vào nội lực và lợi thế của Thành phố, nhất là lợi thế về vị trí địa lý và
nguồn nhân lực, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương đối với các cơng trình có tính chất
vùng và thu hút đầu tư từ bên ngoài.


- Phát triển kinh tế gắn với các lĩnh vực xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố, cho
Tỉnh và Vùng.



- Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; là địa bàn trọng yếu giữ vững an
ninh, quốc phòng cho cả Vùng và Thủ đô Hà Nội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

- Mục tiêu tổng quát: xây dựng thành phố Nam Định phát triển, hiện đại nhưng vẫn có bản
sắc riêng, có vai trò ngày càng lớn, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định và của
Vùng Nam đồng bằng sông Hồng cùng phát triển.


- Một số mục tiêu cụ thể:


+ Mục tiêu về kinh tế: phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP của Thành phố giai đoạn 2005
-2010 đạt bình quân 14%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,8%/năm, giai đoạn 2016 - 2020
đạt 13,6%/ năm (cao gấp 1,3 - 1,4 lần so với mức tăng bình quân chung của Vùng Nam
đồng bằng sông Hồng và tỉnh Nam Định).


Đưa tỷ trọng GDP của Thành phố trong Vùng Nam đồng bằng sông Hồng từ 8,35% năm
2004 lên 10,2% vào năm 2010, đạt 12,2% vào năm 2015 và 14,4% vào năm 2020.


Đưa tỷ trọng đóng góp của Thành phố vào tăng trưởng kinh tế của Vùng Nam đồng bằng
sông Hồng đạt 12,5% giai đoạn 2005 - 2010, khoảng 15,5% giai đoạn 2010 - 2015 và
18,2% giai đoạn 2016 - 2020.


+ Mục tiêu về phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng: phát triển mở rộng gắn kết với vùng phụ
cận; các khu đô thị cũ được cải tạo, chỉnh trang; các khu đô thị mới được xây dựng hiện
đại, có kết cấu hạ tầng đồng bộ. Kiến trúc đơ thị có bản sắc riêng của Vùng. Xây dựng
mạng lưới kết cấu hạ tầng của Thành phố đạt các tiêu chí của đơ thị loại II và tiến tới đạt
các tiêu chí của đơ thị loại I, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của đô thị trung tâm Vùng.
+ Mục tiêu xã hội: mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng toàn diện các lĩnh vực giáo dục
- đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, thể thao của Thành phố, đáp ứng yêu cầu của Thành
phố loại I. Gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống vào phát triển kinh tế
-xã hội của Tỉnh và của Vùng.



+ Mục tiêu về an ninh, quốc phòng: là khu vực phòng thủ vững chắc, góp phần giữ vững
an ninh, quốc phịng cho cả Vùng.


+ Mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái: xây dựng Thành phố xanh, sạch, đẹp; bảo vệ cảnh
quan theo hướng truyền thống, hiện đại.


<b> Các khâu đột phá chủ yếu:</b>
<i>a) Trong lĩnh vực công nghiệp:</i>


- Xây dựng, mở rộng nhà máy chế biến hoa quả, nước giải khát, chế biến thịt, chế biến
thuỷ hải sản xuất khẩu để thu hút nguồn nguyên liệu trong Tỉnh và Vùng, thúc đẩy các
ngành nông - lâm - ngư nghiệp của Vùng phát triển.


- Phát triển ngành cơ khí đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải thuỷ, lắp ráp ôtô, xe
máy, cơ khí nơng nghiệp, cơ khí sản xuất hàng tiêu dùng, cơ khí dệt.


- Nâng cấp, mở rộng, hiện đại hố các nhà máy dệt, may.


- Xây dựng ngành cơng nghiệp điện tử để từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của
Tỉnh và Vùng.


<i>b) Trong lĩnh vực dịch vụ:</i>


- Thực hiện dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hoá thời Trần; xây dựng các
khách sạn đạt tiêu chuẩn cao cấp, các khu vui chơi giải trí để phát triển Thành phố thành
Trung tâm du lịch - văn hoá của Vùng.


- Xây dựng Trung tâm thương mại - hội chợ - triển lãm quy mô Vùng, mạng lưới chợ đầu
mối, siêu thị thúc đẩy thương mại phát triển.



</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng quy mô Vùng: Bệnh viện đa khoa 700 giường, Bệnh viện
phụ sản, các trường đại học, cao đẳng, trung tâm đào tạo nghề, khu liên hợp thể thao đào
tạo và tập huấn vận động viên quốc gia.


<b>5.3. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực:</b>
<i>a) Công nghiệp, khu - cụm công nghiệp: </i>


- Coi trọng đầu tư phát triển các ngành nghề có hàm lượng khoa học - cơng nghệ cao, có
giá trị gia tăng lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.


- Kết hợp giữa đầu tư đổi mới thiết bị, cơng nghệ các cơ sở hiện có và xây dựng mới các cơ
sở có lợi thế về nguyên liệu, lao động và các ngành công nghệ cao. Hướng mạnh vào xuất
khẩu và thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn.


- Xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đầu tư cơ sở hạ tầng để đón nhận đầu
tư trong nước và nước ngoài; di dời các cơ sở sản xuất nằm xen lẫn trong các khu dân cư.
- Phát triển các ngành công nghiệp cụ thể sau:


+ Phát triển ngành cơ khí, điện, điện tử trở thành ngành cơng nghiệp mũi nhọn; trong đó,
chú trọng phát triển cơ khí nơng nghiệp, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, lắp ráp và sản
xuất phụ tùng ôtô, xe máy, sản xuất phụ tùng thiết bị dệt may, cơ khí mỹ nghệ xuất khẩu...
+ Cơng nghiệp cơng nghệ cao: đầu tư phát triển các ngành công nghiệp điện tử - tin học,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học; xây dựng trung tâm công nghệ thông tin quy
mô Vùng.


+ Công nghiệp dệt may: phát triển các doanh nghiệp trọng điểm như: Công ty dệt Nam
Định, Công ty dệt lụa Nam Định, Công ty cổ phần dệt may Nam Sơn, Công ty cổ phần
may Nam Định, Công ty cổ phần may Sông Hồng, Công ty cổ phần may Nam Hà,... Tạo
điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho ngành dệt may thay đổi thiết bị, công nghệ


hiện đại; tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất dân doanh.


+ Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: phát triển mạnh công nghiệp chế biến
lương thực, thực phẩm, đồ uống. Hình thành các doanh nghiệp trọng điểm. Đầu tư xây
dựng mới, mở rộng, đổi mới công nghệ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.


+ Công nghiệp vật liệu xây dựng: các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng được đầu tư
thiết bị hiện đại; đồng thời, nghiên cứu sản xuất một số loại vật liệu mới.


+ Một số ngành công nghiệp khác: duy trì các cơ sở sản xuất hiện có; khuyến khích các cơ
sở dân doanh phát triển sản xuất bao bì, giấy, các chất tẩy rửa, chế biến các sản phẩm từ
gỗ, tre nứa... Phát triển công nghiệp sản xuất dược phẩm, nhất là đông dược.


+ Xây dựng các khu công nghiệp Hòa Xá, Mỹ Trung, Thành An, Bảo Minh, Hồng Tiến và
các khu - cụm công nghiệp tập trung khác.


<i>b) Thương mại, dịch vụ, du lịch:</i>


Phát triển các cơ sở thương mại, dịch vụ. Xây dựng các trung tâm thương mại, hội chợ
-triển lãm, siêu thị; xây dựng, nâng cấp mạng lưới chợ...


- Phát triển các loại hình dịch vụ như: vận tải, bưu chính - viễn thơng, tài chính, ngân hàng,
kiểm tốn, bảo hiểm...


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

Vùng, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế, các trung tâm triển lãm, giới
thiệu sản phẩm.


<i>c) Giáo dục - đào tạo:</i>


- Phấn đấu xây dựng hệ thống đào tạo đạt chuẩn theo quy định, trong đó ở mỗi bậc học có


ít nhất một trường tiêu biểu chất lượng cao. Ưu tiên đầu tư xây dựng một số cơ sở đào tạo
đa ngành nghề đặc trưng như chế biến nông - thủy sản, nghề thủ công, mỹ nghệ xuất khẩu.
- Sắp xếp quy hoạch lại hệ thống đào tạo trên địa bàn Thành phố một cách hợp lý, đảm bảo
đáp ứng đủ về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên đạt chuẩn, đồng bộ, có chất lượng cao.
- Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.


- Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường đại học hiện có. Nâng cấp, thành lập mới một
số cơ sở đào tạo khác, phù hợp quy hoạch chung.


<i>d) Khoa học - công nghệ: </i>


Đầu tư nguồn lực cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề. Hình thành trung tâm ứng dụng công
nghệ sinh học; tổ chức lại các trung tâm sự nghiệp.


<i>đ) Y tế và chăm sóc sức khỏe: </i>


Xây dựng bệnh viện đa khoa cấp Vùng quy mô 700 giường; xây dựng trung tâm y tế dự
phịng đủ năng lực để giám sát, phân tích và thông báo dịch bệnh kịp thời trong cả Vùng;
hỗ trợ kỹ thuật trong y tế dự phòng cho các tỉnh trong Vùng. Phát triển Trung tâm sức khỏe
lao động và môi trường của Tỉnh; xây dựng trung tâm kiểm soát và phòng chống
HIV/AIDS. Xây dựng mới, nâng cấp và sắp xếp lại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa.
Nghiên cứu thành lập trường Cao đẳng kỹ thuật y - dược. Xây dựng cơ sở vật chất của
Trung tâm y tế Thành phố; củng cố y tế xã, phường, phấn đấu các trạm y tế đều đạt chuẩn
quốc gia.


<i>e) Văn hóa - thơng tin: </i>


Coi trọng việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Gắn việc tơn tạo, nâng cấp các
khu di tích lịch sử, văn hóa và tổ chức lễ hội phát triển du lịch. Tập trung xây dựng một số


cơng trình văn hóa có quy mơ lớn, có khả năng phục vụ cho cả Vùng như: Khu di tích lịch
sử thời Trần, Bảo tàng tổng hợp; các khu vui chơi giải trí, trung tâm điện ảnh sinh viên.
Xây dựng trung tâm phát thanh và truyền hình cấp Vùng tại thành phố Nam Định.


<i>g) Thể dục - thể thao: </i>


Xây dựng thành phố Nam Định trở thành Trung tâm huấn luyện, đào tạo vận động viên tài
năng trẻ và tổ chức thi đấu của Vùng. Có đầy đủ điều kiện tổ chức các cuộc thi đấu thể
dục, thể thao trong nước và quốc tế, các đại hội thể dục - thể thao, các hoạt động văn hóa
quần chúng. Kết hợp giữa phát triển thể dục - thể thao quần chúng với phong trào thể thao
thành tích cao. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành thể dục - thể thao như: Khu liên
hợp thể thao tài năng trẻ, Trung tâm huấn luyện quốc gia, Khu liên hợp thể thao quy mô
vùng, Trung tâm y tế thể dục - thể thao.


<i>h) Nông nghiệp - ngư nghiệp: </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

vùng trũng. Ưu tiên đầu tư sản xuất giống thủy sản nước ngọt; xây dựng các cơ sở đào tạo
nghề, cơ sở chế biến, dịch vụ, thương mại thủy sản. Kết hợp phát triển nông nghiệp - ngư
nghiệp với du lịch sinh thái, gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái.


<b> Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:</b>
<i>a) Mạng lưới giao thông: </i>


Phát triển đồng bộ hệ thống giao thông vận tải tạo thành mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn,
liên kết được các phương thức vận tải, đảm bảo giao thơng thơng suốt, nhanh chóng an
tồn và thuận lợi trên phạm vi Thành phố, toàn Tỉnh và khu vực Nam đồng bằng sông
Hồng bao gồm các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy.


<i>b) Bưu chính - viễn thơng: </i>



Phát triển mạng lưới bưu chính - viễn thơng theo hướng hiện đại và đa dạng hóa các loại
hình dịch vụ bưu chính - viễn thơng. Nâng số máy điện thoại bình quân lên 25 máy/100
dân vào năm 2010 và lên 35 máy/100 dân vào năm 2020. Xây mới các bưu cục và điểm
cung cấp dịch vụ bưu chính - viễn thông cho các phường mới thành lập, các khu công
nghiệp tập trung và các khu dân cư lớn.


<i>c) Cấp điện: </i>


Tiếp tục tiến hành cải tạo lưới điện 6 KV và 35 KV thành lưới điện 22 KV; ngầm hóa lưới
điện hạ thế khu vực trung tâm Thành phố khi có điều kiện; cải tạo các trạm biến áp hiện có
thành trạm 22/04 KV...


<i>d) Cấp nước: </i>


Nâng cơng suất Nhà máy nước Nam Định lên 75.000 m3<sub>/ngày đêm; trong giai đoạn tiếp</sub>


theo xây thêm một số nhà máy nước mới với công suất 35.000 m3<sub>/ngày đêm để đến năm</sub>


2010 có trên 80% và đến năm 2020 có trên 90% dân số được dùng nước máy; cải tạo và
lắp đặt mới hệ thống đường ống dẫn nước thô, đường ống truyền dẫn và phân phối nước
sạch.


<i>đ) Thoát nước và vệ sinh mơi trường: </i>


- Hồn chỉnh mạng lưới thốt nước Thành phố; xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác
thải.


- Xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống công viên, cây xanh.


- Xây dựng mới lò hỏa táng tại nghĩa trang Cánh Phượng; quy hoạch xây dựng mới các


nghĩa trang nhân dân.


- Xây dựng thành phố Nam Định theo hướng xanh, sạch, đẹp; bảo vệ cảnh quan kết hợp hài
hoà giữa truyền thống, hiện đại.


<i>e) Thủy lợi: </i>


Củng cố đê, kè, cống; cứng hóa mặt đê Nam Phong; tiếp tục kiên cố hóa kênh mương; xây
dựng các trạm bơm phục vụ tưới tiêu.


<b>Định hướng tổ chức không gian Thành phố:</b>
<i>a) Phân khu chức năng: </i>


Dự kiến đến năm 2020, Thành phố được chia thành 4 khu chức năng, bao gồm:


- Khu vực trung tâm (là khu các phố cũ): là nơi đặt trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa
của Tỉnh và Thành phố.


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

Chùa Tháp, Khu liên hợp thể dục - thể thao, khu các trường đại học - trung học chuyên
nghiệp và nghiên cứu khoa học, các bệnh viện...


- Khu phát triển mở rộng về phía Tây và Tây Nam: bố trí các khu công nghiệp tập trung,
kho bãi, là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt.


- Khu phát triển mở rộng về phía Nam sơng Đào: cải tạo, xây dựng các khu dân cư, làng
xóm cũ thành một quần thể làng sinh thái. Trồng hoa, cây cảnh với xây dựng mơ hình làng
sinh thái. Vùng đất phía Tây gần sơng Đào dự phịng để phát triển cơng nghiệp.


<i>b) Định hướng phát triển không gian theo các giai đoạn:</i>



- Giai đoạn I: tập trung phát triển 7 khu đô thị mới đã được phê duyệt và chỉnh trang, cải
tạo các khu đô thị cũ.


- Giai đoạn II: phát triển đơ thị về phía Nam sông Đào.


- Giai đoạn III: tiếp tục mở rộng phát triển đơ thị về phía Nam sơng Đào và phía Tây - Tây
Nam Thành phố.


<i>c) Định hướng phát triển kiến trúc: </i>


- Xây dựng thành phố Nam Định mang đậm bản sắc Vùng Nam đồng bằng sơng Hồng: gìn
giữ các phố cũ, các khu đô thị mới xây dựng theo kiểu đô thị vườn. Xây dựng các cửa ô
vào Thành phố.


- Xây dựng Thành phố với đặc điểm kiến trúc thể hiện nền văn minh lúa nước, kết hợp các
cơng trình tiêu biểu (điểm nhấn) như Trung tâm thương mại, Bảo tàng tổng hợp...


<b> Bước đi và các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư:</b>
<i>a) Bước đi trong quy hoạch phát triển Thành phố:</i>


- Giai đoạn I (1 - 2 năm) - Giai đoạn chuẩn bị: tiến hành lập quy hoạch xây dựng, quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch chi tiết các khu chức năng. Thực hiện công tác tổ chức bộ
máy quản lý của Thành phố. Xây dựng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao, thu hút đầu tư. Phối hợp với các Bộ, ngành đưa các cơng trình có quy mô
Vùng vào quy hoạch, kế hoạch đầu tư của các ngành.


- Giai đoạn II (3 - 5 năm) - Tạo các tiền đề cơ bản: xây dựng cơ sở vật chất, các cơng trình
có quy mơ Vùng, mạng lưới kết cấu hạ tầng. Thu hút mạnh đầu tư vào các khu công nghiệp
trên địa bàn Thành phố.



- Giai đoạn III (8 - 10 năm) - Giai đoạn phát triển: hồn thiện các cơng trình có quy mơ
Vùng; phát huy hiệu quả các cơng trình trên địa bàn Thành phố.


<i>b) Các chương trình ưu tiên nghiên cứu đầu tư: </i>
- Phát triển kết cấu hạ tầng.


- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Phát triển dịch vụ.


- Phát triển nguồn nhân lực và các lĩnh vực văn hóa - xã hội.
- Phát triển nông nghiệp - ngư nghiệp.


<b>5.2. Những tiềm năng và thế mạnh của thành phố Nam Định để đáp ứng vai trị là</b>
<b>đơ thị trung tâm vùng Nam đồng bằng sơng Hồng.</b>


<b>*Vị trí</b>


Thành phố Nam Định có bề dầy truyền thống văn hóa, lịch sử, nằm ở phía Bắc của tỉnh
Nam Định, trên tọa độ 240<b><sub> 24’ đến 20</sub></b>0<b><sub> 27’ vĩ độ Bắc và từ 106</sub></b>0<sub>07’ đến 106</sub>0<sub>12’ kinh độ</sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

giáp huyện Mỹ Lộc, phía Nam giáp huyện Nam Trực, phía Đơng giáp tỉnh Thái Bình, phía
Tây giáp huyện Vụ Bản.


Nằm ở vị trí trung tâm của vùng Nam đồng bằng sông Hồng, bao gồm các
tỉnh:Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình. Thành phố Nam Định có vị trí quan trọng
và thuận lợi của vùng tam giác phát triển kinh tế Bắc bộ, nơi tiếp giáp với nhiều đầu mối
giao thơng trong và ngồi tỉnh; cách Thủ đơ Hà Nội 90km về phía Tây Bắc, cách cảng Hải
Phịng 80km về phía Đơng Bắc và nằm giữa các thành phố tỉnh lỵ như: Thái Bình (19km),
Ninh Bình (28km), Phủ Lý (30km). Ngồi ra, thành phố Nam Định cũng nằm trong vùng
ảnh hưởng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và Duyên hải Bắc bộ. Do đó, thành


phố Nam Định đóng vị thế quan trọng trong trục hành lang phát triển kinh tế ven biển dọc
theo vùng Duyên Hải Bắc bộ. Các định hướng về phát triển hạ tầng kỹ thuật quốc gia, đặc
biệt là giao thơng có liên quan đến Nam Định cũng góp phần khẳng vị thế và vai trò của
thành phố Nam Định đối với chùm đơ thị động lực phía Nam đồng bằng sơng Hồng.


<b> *Địa hình</b>


Thành phố Nam Định tương đối bằng phẳng, trên địa bàn thành phố khơng có ngọn núi
nào. Thành phố có hai con sơng lớn chảy qua là sông Hồng và sông Nam Định. Trong đó
sơng Nam Định (sơng Đào) nối từ sơng Hồng chảy qua giữa lịng thành phố đến sơng
Đáy làm cho thành phố là một trong những nút giao thông quan trọng về đường thuỷ cũng
như có vị trí quan trọng trong việc phát triển thành phố trong tương lai. Như vậy thực
ra Nam Định cũng là một thành phố ở ngã ba sông.


<b> *Giao thông</b>


Giao thông qua thành phố Nam Định tương đối thuận tiện: quốc lộ 10 từ Hải Phịng, Thái
Bình đi Ninh Bình chạy qua và Quốc lộ 21A nối Nam Định với Quốc lộ 1Avà đường Hồ
Chí Minh, quốc lộ 38 từ Hải Dương, Hưng n, Hà Nam xuống Nam Định, Ninh Bình.
Ngồi ra cịn có các tuyến QL21B đi các huyện Trực Ninh, Hải Hậu, Giao Thuỷ, Xuân
Trường và bãi biển Quất Lâm, Tỉnh lộ 55 (TL490) đi Nghĩa Hưng và bãi biển Thịnh Long.
Thành phố Nam Định cịn có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua. Ga Nam Định là một
trong những ga lớn trên tuyến đường sắt, thuận tiện cho hành khách đi đến các thành phố
lớn trong cả nước như Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và đi các thành phố miền
Bắc như Lào Cai, Thái Nguyên, Lạng Sơn... Thành phố Nam Định nằm bên hữu ngạn sông
Hồng, thuận tiện cho giao thông đường thủy và thuộc tỉnh có 72 km bờ biển.


* Các điều kiện khác


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

hướng chung là: “ Phát huy sức mạnh tổng hợp, khắc phục khó khăn, huy động tốt các


nguồn lực, tranh thủ mọi khả năng về hợp tác đầu tư trong và ngoài nước, tạo sức bật phát
triển mạnh mẽ về kinh tế, nâng cao mức sống, văn hố, trình độ văn minh đơ thị. Chủ động
hội nhập vào các quá trình tăng trưởng của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, xây
dựng thành phố từng bước văn minh, hiện đại với cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ - an
ninh. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và
các đồn thể nhân dân, xây dựng Thành Nam xứng đáng là trung tâm chính trị kinh tế
-văn hoá – KHKT của tỉnh Nam Định”.


<i><b>Câu 6</b></i><b>: Cảm nghĩ của bạn về truyền thống lịch sử - văn hoá của Nam Định và việc</b>
<b>phát huy các giá trị đó để góp phần xây dựng tỉnh Nam Định giầu đẹp, văn minh? </b>
Đây là thành phố lâu đời có lịch sử gần 750 năm. Ngay từ thời Nhà Trần đã xây dựng Nam
Định thành phủ Thiên Trường dọc bờ hữu sơng Hồng, có 7 phường phố. Năm 1262, Trần
Thánh Tông đổi hươngTức Mạc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ Thiên Trường, sau đó
phủ được nâng thành lộ. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà Lê gọi là thừa tuyên Thiên
<b>Trường. Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tơng, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên</b>
Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam. Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ
thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân (Nam Trực), Giao Thủy,Mỹ Lộc, Thượng
Nguyên. Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định. Ngày nay là các huyện Giao
Thuỷ, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định.


Dưới thời Nguyễn, Nam Định là một thành phố lớn cùng Hà Nội và kinh đô Huế. Thời đó
Nam Định cịn có trường thi Hương, thi hội, có cả Văn Miếu như Hà Nội.


Thành phố Nam Định được công nhận thành phố dưới thời Pháp thuộc ngày 17-10-1921,
đã gần 100 năm, còn sớm hơn cả Vinh, Mỹ Tho, Quy Nhơn, Cần Thơ, hay thậm chí
là Huế (1929). So với các thành phố Hải Phịng, Hạ Long, Thái Bình, Ninh Bình, Móng
Cái, ng Bí của vùng dun hải Bắc Bộ thì thành phố Nam Định hiện có diện tích tự
nhiên nhỏ nhất do vùng nông thôn ngoại thành rất hẹp. Với dân số đơng tập trung trên diện
tích hẹp nên có mật độ cao nhất trong các thành phố cả nước, hiện đã hơn 7000
người/km2). Về quy mô dân số nội thành so với các thành phố ở miền Bắc chỉ đứng sau Hà


Nội và Hải Phòng (đã hơn 30 vạn dân đạt 17.221 người/ 1 km2 vào năm 2011). Từng có
liên hiệp nhà máy dệt lớn nhất Đơng Dương nên Nam Định còn được gọi là "Thành phố
Dệt". Đây là thành phố có nhiều tên gọi chính và văn học: Thiên Trường, Vị Hoàng, trấn
Sơn Nam Hạ, Thành Nam, Non Côi sông Vị, thành phố Hoa Gạo, thành phố Dệt, thành
phố bên sông Đào, Nam Định...


Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành cơng, Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 Nam Định là thành phố
đặt dưới quyền cấp kỳ (Bắc Bộ). Từ 1945 đến 1956 Nam Định là thành phố trực thuộc
Trung ương.


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

<b> Không phải ngẫu nhiên người Nam Định dù ở đâu, làm gì cũng đều tự hào mình là người</b>
của quê hương triều Trần, một vương triều đã đạt tới đỉnh cao của hệ tư tưởng Đại Việt. Tư
tưởng Đại Việt không những đánh bại tư tưởng của đế chế phong kiến phương Bắc mà còn
là nền tảng để hình thành cốt cách người Nam Định và truyền thống văn hiến của Nam
Định. Từ nhận thức mối quan hệ "vua - tôi", thực chất là mối quan hệ giữa Tổ quốc với
trăm họ, người Nam Định luôn xác định lợi ích, trách nhiệm giữa từng cá nhân với Tổ
quốc là mối quan hệ đặc biệt mang tính sống cịn trong bất cứ thời điểm dựng nước, giữ
nước nào. Bên cạnh đó, các cặp quan hệ phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng), thủ
-túc (bạn bè), mẫu - tử (mẹ - con), huynh - đệ (anh em) luôn luôn bền chặt. Từ những cơ sở
tư tưởng vừa có tính huyết tộc (gia đình) để rồi nâng lên tính xã hội (Tổ quốc), khơng thời
kỳ nào, Nam Định lại khơng có anh hùng, hào kiệt, khơng có những tấm gương sáng chói
tận trung với nước, tận hiếu với dân, từ vua, quan quý tộc cho đến tầng lớp bình dân.


Trong thế kỷ XX, những thế hệ con em Nam Định được thừa hưởng nền tảng văn hố mà
cha ơng xưa đã đổ bao mồ hôi, máu và nước mắt tạo dựng nên. Song trước tình hình mới,
người Nam Định đã nhanh chóng nhận ra rằng: con đường cứu nước, cứu dân không thể
thành cơng bởi những nhà Nho u nước thương nịi, không thể bằng giáo dài, gươm sắc,
không thể bằng các bài thơ đầy cảm khái, mà phải bằng phương pháp cứu nước hữu hiệu,
phù hợp với xu thế lịch sử. Chính vì vậy, khi học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác


-Lênin do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào Việt Nam nói chung và Nam Định nói
riêng, các thế hệ con em Nam Định thấy rằng: đó là con đường thực sự cách mạng, thực sự
cần thiết để giải phóng dân tộc, bảo vệ giống nịi, bảo vệ giang sơn, bảo vệ những giá trị
tinh hoa của tiền nhân. Do đó, qua gần một thế kỷ đấu tranh gìn giữ độc lập dân tộc, Nam
Định đã có biết bao anh hùng liệt sĩ tô thắm trang sử vẻ vang, góp phần làm sáng hơn cốt
cách, tâm hồn con người Nam Định. Mỗi người dân Nam Định luôn xác định trách nhiệm
đầy vinh quang trước Tổ quốc, làng xóm, gia đình và bản thân. Điều đó góp phần kiến giải
cho truyền thống văn hoá lâu đời của vùng đất đậm đặc những dấu ấn văn hoá. Những dấu
ấn đó đã, đang và sẽ mãi mãi có một vị thế xứng đáng trong kho tàng di sản văn hoá Việt
Nam.


Thật là vinh dự và tự hào vì mình là người Nam Định sống trong mảnh đất cha ông ta xưa
để lại giàu truyền thống dựng nước và giữ nước. Chúng ta mang trong mình dịng máu
“Lạc Hồng”; từ khi được tìm hiểu lại lịch sử Thiên Trường lịng tơi rất xúc động nghẹn
ngào như đang sống lại như trở lại thời hào khí năm xưa cha ơng ta là các bậc vua chúa,
quan tướng, nho sĩ, các bậc hiền tài hay những thảo dân trung thành với quốc gia Đại Việt.
Thiên Trường đã đi vào lịch sử của dân tộc ta ghi nhận những năm tháng hào hùng những
mốc son chói lọi từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước.


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34></div>

<!--links-->
<a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' /><a href=' />

<a href=' /> Hoàn thiện pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
  • 89
  • 751
  • 2
  • Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

    Tải bản đầy đủ ngay
    ×