Cảm nghĩ về chuyến đi thực tế
tại Hải Dương và Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông
Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. ắc Ninh là tỉnh nổi tiếng với
dân ca quan họ. Bắc Ninh là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa. Hiện nay trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì.
Trong đó có những lễ hội lớn như: hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền
Bà Chúa Kho. Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần
cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng
trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ
dân gian... nổi bật là những làn điệu dân ca quan họ
1. Chùa Dâu
Chùa Dâu cịn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân hay Cổ Châu, tọa lạc ngay
trung tâm của khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và phong phú bậc nhất của
quê hương Kinh Bắc. Nơi đây là thủ phủ của quận Giao Chỉ (Giao Châu), trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta, bao
gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, đền
đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, gốm cổ, phố chợ sầm uất của đô thị Luy lâu,...
là chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ trước và sau Công nguyên.
Chùa Dâu là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, từ Ấn Độ sang
và từ phương Bắc xuống, chủ yếu bằng đường thủy theo dịng sơng Dâu. Vào
buổi đầu Cơng Ngun, các tăng sỹ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu-đà-la đã tới đây
truyền bá đạo Phật đầu tiên. Cuối thế kỷ VI, nhà sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung
Quốc đến chùa này và lập nên một phái thiền ở Việt Nam. Chùa Dâu trở thành
trung tâm của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng Việt Nam, Ấn
Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo
tăng ni.
1
Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa của thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18).
Cũng giống như nhiều ngôi chùa cổ Việt Nam, chùa được xây dựng theo kiểu
“nội cơng ngoại quốc”. bốn dãy nhà liên thơng hình chữ nhất bao quanh ba ngơi
nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Tiền đường của chùa Dâu
đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương; gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long,
hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam Châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi.
Thượng Điện để tượng bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp vũ), hai bên tượng bà
Dâu là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ với khuôn mặt sống động trong tư thế của
một điệu múa cổ xưa, phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là
một khối đá. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở
phần hậu điện phía sau chùa chính. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị phá hủy, nên
tượng bà Đậu (Pháp Vũ) được đưa về thờ ở chùa Dâu. Ngồi ra, trong chùa cịn
có rất nhiều pho tượng như: tượng tổ sư Tỳ- ni-đa-lưu- chi, 18 vị La Hán,…
Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ
lớn ngày xưa, được nung thủ cơng tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian
đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m
nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng
đá khắc chữ "Hịa Phong tháp". Chân tháp vng, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới
có 4 cửa vịm. Trong tháp, treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một
chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc.
Trước tháp, bên phải có tấm bia vng dựng năm 1738, bên trái có tượng một
con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Tượng này là dấu vết duy nhất cịn sót lại từ
thời nhà Hán.
Có câu thơ lưu truyền dân gian:.
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trơng thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù ai bn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
2
2. Chùa Bút Tháp
Nằm trên địa phận xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, từ lâu
chùa Bút Tháp, hay còn gọi là Ninh Phúc Tự, đã rất nổi tiếng bởi sự độc đáo về
nghệ thuật kiến trúc, lịch sử lâu đời, cũng như phong cảnh hữu tình thơ mộng.
Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh
Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng ngun năm 1297) đã trụ
trì ở đây. Ơng cho dựng ngọn tháp đácao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn
tháp này nay khơng cịn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ
trì là Hịa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung
Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hịa thượng viên
tịch và được vua Lê phong là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền
Sư". Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học
trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái
hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diệu Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy
chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu
Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng
tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo
kiểu "Nội Công Ngoại Quốc". Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp
hiện nay chính là ngơi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.
Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình
dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo
Nghiêm. Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây
vào năm 1992-1996. Đây là ngơi chùa có kiến trúc quy mơ hồn chỉnh nhất cịn
lại ở Việt Nam.
Đây là một trong khơng nhiều ngơi chùa cổ, có quy mơ kiến trúc lớn
của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục
hài hịa giữa kiến trúc với mơi trường thiên nhiên. Tồn bộ kiến trúc chính của
chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối
với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã.
3
Quần thể kiến trúc cịn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Cũng như nhiều
ngơi chùa cổ phía Bắc khác, chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc. Quần
thể kiến trúc chùa Bút Tháp như một ốc đảo dài điểm xuyết cây xanh, nổi bật
trên một cánh đồng sóng lúa mênh mơng với bố cục hài hịa gọn gàng và rất sinh
độnggiữa kiến trúc với môi trường thiên nhiên. Chùa quay theo hướng Nam,
một hướng truyền thống của người Việt, đối với đạo Phật hướng Nam là hướng
của trí tuệ, của bát nhã.Chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiên hương Thượng điện tạo thành chữ "cơng". Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên
trong với các pho tượng. Các đơn nguyên kiến trúc được bố trí cân xứng, chặt
chẽ ở khu vực trung tâm, những người xây dựng chùa đã xử lý rất tốt về tỷ lệ, độ
giãn cách, độ cao của tầng nền và nhịp điệu cao thấp của các cơng trình. Ngồi
cùng là tam quan, tiếp đó là gác chuông hai tầng tám mái nằm giữa hai dãy hành
lang (mỗi dãy dài 26 gian) là 7 tòa nhà nối tiếp nhau: Nhà Tiền Đường, nhà
Thiên Hương, nhà Thượng điện, nhà Tích Thiện Am, nhà Trung, phủ thờ, hậu
đường (tổng chiều dài hơn 100m), trong đó có tháp đá Tơn Đức năm tầng, cao
10m là nơi đặt xá lị Thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa. Bên
trái chùa có nhà thờ tổ Chuyết Chuyết và ngơi thápđá tám mặt, năm tầng cao
13m là nơi táng xá lị của Thiền sư Chuyết Chuyết. Ngồi ra, cịn có tháp Ly
Chân, tháp Tâm Hoa, thấp hơn, song tất cả cũng được dựng bằng đá, được trạm
trổ tinh xảo và điều đặc biệt là các ngọn tháp ở đây đều được ghép đá lại với
nhau chứ khơng dùng chất kết dính (vôi, vữa, xi măng).
Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá
rất phổ biến. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến
trúc và ở các đồ thờ. Đặc biệt, phía ngồi Thượng điện có lan can bằng đá xanh
bao quanh có 26 bức chạm khắc đá, chạm khắc các hình động vật, điểm xuyết
thêm mây, trời, hoa, lá... , trên lan can cầu đá nối với Tịa Thích Thiện Am có 12
bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng
các bức trạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng
đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên
4
đại. Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo
và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung
về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.
Phủ thờ nằm sau Phật điện là ngơi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý.
Hai pho tượng này là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (nhà Lê) đầu
đội vương miện nhưng khốc áo tu hành, và cơng chúa Ngọc Dun. Cả hai pho
tượng đều ngồi theo dáng toạ thiền.
- Tượng Phật Quan âm nghìn mắt nghìn tay
Tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay hết sức điêu luyện, do Trương
Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Tượng cao 3,7 m,
ngang 2,1m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 200 cm, tượng có 11
đầu, 42 tay lớn và 958 tay dài ngắn khác nhau. Tính từ đài sen lên, tượng cao
235 cm. Đầu rồng đội tòa sen cao 30 cm, bệ tượng cao 54 cm. Đây được coi là
một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật
làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngơn ngữ tạo hình hàm súc. Tượng được
đặt trên toà sen Rồng đội với dáng hành đạo, thư thái, đôi mắt quảng đại như
bao quát cả không gian vũ trụ, đằng sau là vầng hào quang toả sáng, bên dưới là
các hình trang trí sóng nước sống động như một thuỷ cung. Trên bệ tượng có
khắc dịng chữ Hán: Nam Đông Giao, ThọNam - Trương tiên sinh - phụng khắc
(tạm hiểu: Nam Đông Giao là địa chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên
sinh là bậc trí giả, phụng khắc là phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ).
Tượng Quan Âm hai tay chắp trước ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay
đan chéo biểu tượng cho dáng hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ
sườn, vai, lưng, trên người; những tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng
vào tâm (ngay sau gáy Phật). Ðiều kỳ lạ là mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt
mi dài, đen láy, độc đáo hơn nữa là nhịp điệu mỗi cánh tay khơng giống nhau.
Nhìn tổng thể tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay như những vịng hào quang
toả ra từ tâm điểm.Tháp Báo Nghiêm
- Tháp Báo Nghiêm
5
Tháp Bảo nghiêm cũng là một trong những kiến trúc tiêu biểu của chùa.
Năm 1876, khi vua Tự Đức đi qua đây thấy có cây tháp khổng lồ nên đã gọi là
Bút Tháp. Đó chính là Tháp Bảo Nghiêm thờ Hồ thượng Chuyết Chuyết, trơng
tháp giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao
13,05 m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng
hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả
chng nhỏ. Lịng tháp có một khoang trịn đường kính 2,29 m. Ngồi kỹ thuật
xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng
cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của tồ tháp này có mười ba bức chạm đá
lấy đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu
khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.Đền Đô
3. Đền Lý Bát Đế
Đền Đơ (hay cịn gọi là đền Lý Bát Đế hoặc Cổ Pháp điện) thuộc xóm
Thượng, làng (xã) Đình Bảng (nay là phường Đình Bảng), thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh. Đền nằm cách thủ đô Hà Nội gần 20 km về phía Bắc, thuộc địa phận
hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) là một quần
thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Đền Đô đã được
Nhà nước Việt Nam cơng nhận là di tích lịch sử - văn hóa theo Quyết định số
154 của Bộ Văn hóa-Thơng tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày
25/01/1991.
Đền Lý Bát Đế được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh
Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tơng khi vị hồng đế này về q làm giỗ cha. Sau này,
đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ
hai niên hiệu Hồng Định của vua Lê Kính Tơng (tức năm 1602), khắc văn bia
ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.[1]
Đền Lý Bát Đế rộng 31.250 m², với trên 20 hạng mục cơng trình, chia
thành 2 khu vực: nội thành và ngoại thành. Tất cả đều được xây dựng công phu,
đắp vẽ chạm khắc tinh xảo.
6
Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Cổng vào
nội thành gọi là Ngũ Long Mơn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con
rồng. Trung tâm của Khu nội thành và cũng là trung tâm đền là chính điện.
Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vng) 8 mái 3 gian rộng đến 70
m². Tiếp đến nhà Tiền tế 7 gian rộng 220 m². Tại đây có điện thờ vua Lý Thái
Tổ. Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại "Chiếu dời đô" của vua Lý
Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía
bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng "Nam quốc sơn hà Nam đế cư...".
Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi đặt ngai thờ, bài vị và
tượng của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba
gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Thần Tông và Lý Cao Tông; ba
gian bên trái lần lượt thờ Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, và Lý Huệ Tơng.
Trong nội thành cịn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8
mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc
biệt, phía Đơng đền có nhà bia, nơi đặt "Cổ Pháp Điện Tạo Bi" (bia đền Cổ
Pháp). Tấm bia đá này cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm, được khắc dựng
năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự
kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền và ghi công đức của các vị vua triều Lý.
Khu ngoại thất đền Lý Bát Đế gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Đây là
nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu diễn rối nước. Hồ này thông với
ao Cả trên và ao Cả dưới và sông Tiêu Tương xưa. Thủy đình ở phía Bắc hồ
rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Thủy đình đền Lý Bát
Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên
giấy bạc "năm đồng vàng" và là hình in trên đồng tiền xu 1000 hiện nay. Nhà
văn chỉ ba gian chồng diêm rộng 100 m² nằm bên trái khu nội thành thờTô Hiến
Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có cơng lớn giúp nhà Lý. Nhà võ
chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng
Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ đã có cơng lớn giúp nhà
7
Lý. Ngồi ra, ở khu vực ngoại thành cịn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và
đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hồng, cịn gọi là đền Rồng), v.v...
Lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch nhằm
kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1009), ban
"Chiếu dời đô". Đây là ngày hội lớn thu hút nhiều khách hành hương thể hiện
lịng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý. Đó cũng là lễ
hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình
Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế
trọng điểm Bắc bộ. Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt",
vùng văn hố và văn hiến tâm linh chính của cả nước. Theo dòng lịch sử đã để
lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích được xếp hạng
cấp quốc gia và nhiều di tích được xếp hạng đặc biệt như Côn Sơn, Kiếp Bạc.
Khu di tích Cơn Sơn - Kiếp Bạc là một trong 48 di tích quốc gia đặc
biệt quan trọng của Việt Nam. Quần thể di tích này thuộc địa bàn thị xã Chí
Linh tỉnh Hải Dương. Nơi đây gồm quần thể các di tích lịch sử liên quan đến
những chiến cơng lẫy lừng trong ba lần quân dân thời Trần đánh thắng quân
xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm củanghĩa
quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi gắn liền với thân thế,
sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộcNguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cùng với
nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền
Quang… Điểm nhấn của khu di tích này là chùa Cơn Sơn và đền Kiếp Bạc
Ngày 18/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 920/QĐTTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn Khu di tích lịch sử - văn hóa Cơn
Sơn – Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Trong dịp Lễ hội mùa thu năm 2012, Khu Di tích lịch sử - văn hóa Cơn Sơn Kiếp Bạc đã được cơng nhận là di tích quốc gia đặc biệt.
8
Chùa Côn Sơn tên chữ là "Thiên Tư Phúc Tự", nghĩa là chùa được trời ban
cho phước lành. Chùa kiến trúc theo kiểu chữ công, gồm Tiền đường, Thiêu
lương, Thượng điện là nơi thờ Phật, trong đó có những tượng Phật từ thời Lê
cao tới 3 mét. Tiếp đến nhà Tổ là nơi thờ các vị tổ có cơng tu nghiệp đối với
chùa: Điều ngư Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Thiền sư Pháp Loa và Thiền
sư Huyền Quang. Đường vào Tam quan lát gạch, chạy dài dưới hàng thông trăm
năm phong trần xen lẫn những tán vải thiều xum xuê xanh thẫm. Tam quan được
tôn tạo năm 1995, kiểu cổ, có 2 tầng 8 mái với các hoạ tiết hoa lá, mây tản cách
điệu của nền nghệ thuật kiến trúc thời Lê. Sân chùa có 4 nhà bia.
Chùa nằm dưới chân núi Côn Sơn. Tương truyền nơi đây là nơi hun gỗ làm
than và đã từng diễn ra trận hoả công hun giặc, dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ
Lĩnh ở thế kỷ X. Nên ngồi tên gọi Cơn Sơn, núi cịn có tên là Kỳ Lân hay núi
Hun. Chùa "Thiên Tư Phúc Tự" trong dân gian quen gọi theo tên núi là chùa
Cơn Sơn hay cịn gọi là Chùa Hun.
Thiền sư Huyền Quang vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm - một thiền
phái mang màu sắc dân tộc Việt Nam đã về tu ở chùa Côn Sơn. Tại Côn Sơn
Huyền Quang cho lập đài Cửu phẩm liên hoa, biên tập kinh sách, làm giảng chủ
thuyết pháp phát triển đạo phái không ngừng. Ngày 22 tháng giêng năm Giáp
Tuất (1334) Thiền sư Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn. Vua Trần Minh
Tông đã cấp cho ruộng để thờ và cho xây tháp tổ sau chùa, đặc phong Tự Tháp
"Huyền Quang tơn giả".
Chùa Cơn Sơn có từ thời Trần (truyền thuyết cho rằng Chùa có từ thời
Đinh), năm Khai Hựu nguyên niên (1329), được Pháp Loa tôn tạo với quy mô
lớn. Dấu vết của lần trùng tu này còn hiện diện đến nay. Nguyễn Trãi từng làm
Đề cử chùa Côn Sơn. Chùa Côn Sơn xưa nay là danh lam cổ tích của đất nước,
hiện cịn nhiều dấu tích và cổ vật có giá trị.
Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng
Bạc). Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc tạo.
Vào thế kỷ 13, đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Ðạo, người
9
anh hùng dân tộc, người chỉ huy quân sự tối cao trong cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Nguyên Mông.
Ðền thờ Trần Hưng Đạo được dựng vào đầu thế kỷ 14, trên một khu đất ở
trung tâm thung lũng Kiếp Bạc. Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng:
tượng Trần Hưng Ðạo, phu nhân, 2 con gái, Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Ðẩu
và 4 bài vị thờ 4 con trai. Hàng năm, hội đền được tổ chức vào ngày mất của
Trần Hưng Ðạo (ngày 20 tháng 8 âm lịch).
10