Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích hom, loại và nồng độ chất điều hòa sinh trưởng tới kết quả giâm hom phi lao (casuarina equisetifolia fost)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (709.25 KB, 53 trang )

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phi Lao (Casuarina equisetifolia Fost) được dẫn giống vào Việt Nam từ
đầu những năm 1986. Là lồi cây mọc nhanh, sinh trưởng mạnh và rễ thích ứng
với nhiều dạng sinh thái khác nhau. Chống chịu được với khơ hạn, gió bão, và
chịu vùi lấp. Vì vậy nó được trồng phổ biến ở ven biển miền Trung và nhiều
tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là ở các cồn cát ven.
Phi Lao rất thích hợp với khí hậu nhiệt đới mưa mùa ở nước ta đặc biệt là
những vùng có mưa nhiều, ấm áp và ven biển. Ở Việt Nam, phi lao là loài cây
tiên phong trong trồng rừng trên đồi cát di động.
Với chiều dài bờ biển nên tới hàng nghìn cây số, hàng năm luợng cát bay
theo gió bão vào đất liền đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất
mùa màng và cuộc sống của người dân. Trồng rừng phòng hộ là biện pháp hữu
hiệu nhằm hạn chế tác hại đó. Trong khi đó gắn liền với trồng rừng phịng hộ
ven biển lại là cơng tác chuẩn bị về giống, vì vậy việc sản xuất cây con trong
thời gian nhanh, số lượng lớn, cây con vừa đảm bảo được chất lượng vừa rẻ lại
là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu.
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm
canh, khơng có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì khơng thể đưa
năng suất rừng lên cao. Nếu chỉ tiến hành nhân giống từ hạt thì năng suất, chất
lượng rừng trồng thường khơng ổn định. Các tính trạng của cây bố, mẹ chưa
chắc duy trì được nguyên vẹn cho cây con do hiện tượng phân ly tính trạng.
Giâm hom là phương pháp sản xuất cây con đã được áp dụng phổ biến hiện
nay. Trong quá trình giâm hom cần tìm ra được quy trình sản xuất giống tốt
nhất nhằm tạo ra được loại giống có năng xuất và chất lượng ổn định, đáp ứng
được mục tiêu đã đề ra . Trên tinh thần đó tơi hi vọng đóng góp một phần nhỏ
vào việc hồn thiện quy trình kỹ thuật giâm hom Phi lao nói riêng cũng như
1


chương trình cải thiện giống lồi cây này nói chung bằng việc thực hiện đề tài:


“Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước hom, loại và nồng độ chất điều
hồ sinh trưởng tới kết quả giâm hom loài Phi lao (Casuarina equisetifolia
Fost)”.

2


PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu về phát triển gây trồng
2.1.1. Đặc điểm sinh học - sinh thái
Phí lao là lồi cây thân gỗ, sống lâu năm, lá thường xanh, ra hoa kết quả
vào đầu mùa hè, khi chín quả rụng vào mùa đơng, là lồi cây đa mục đích.
Trồng Phi lao có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao như: làm nguyên liệu trong
công nghiệp chế biến, gỗ trụ mỏ, chất đốt……đặc biệt Phi lao là lồi cây có
khả năng thích ứng tốt với những điều kiện khắc nghiệt của những vùng đất cát
ven biển, do vậy trồng Phi lao có tác dụng lớn trong cơng tác phịng hộ, bảo vệ
mùa màng, cải thiện mơi trường sống……
Cây Phi lao có phạm vi thích ứng rộng về mặt khí hậu, từ khu vực xích
đạo mưa nhiều và khơng có mùa khơ cho đến khu vực khí hậu gió mùa có
lượng mưa thấp và mùa khơ kéo dài. Ở những khu vực này Phi lao thường sống
gần biển, thích hợp nhất với cát pha như, tốt, sâu ẩm, thốt nước tốt và có độ
pH từ 6,5 - 7.
Phi lao sinh trưởng nhanh, sau khi trồng 1 năm tuổi có the đạt chiều cao
từ 2 - 3m, đường kính 3 - 4cm, 4 tuổi cao từ 11 - 12m, đường kính 12 - 15cm.
Ở độ tuổi 25 thì cây ngừng sinh trưởng và ở độ tuổi 30 - 35 thì cây già cỗi.
Cây Phi lao sinh trưởng quanh năm nhưng vào mùa mưa sinh trưởng
nhanh hơn. Phi lao tái sinh chồi rất khoẻ, trên thân có nhiều rễ bất định do đó
thân cây bị vùi lấp tới đâu thì có ra rễ đến đó.
2.1.2. Nghiên cứu gây trồng trên thế giới

Phi lao là đối tượng nghiên cứu từ lâu của các nhà khoa học trên thế giới.
Cho tới nay đã có nhiều hội nghị quốc tế về cây Phi lao như: hội nghị tại
Canberra (Ôxtrâylia) tổ chức năm 1981, hội nghị Cairo(Ai cập) tổ chức năm
1990, gần đây là hội nghị được tổ chức tại Đà Nẵng (Việt Nam) năm
3


1996....Những điều đó đã chứng tỏ tầm quan trọng của cây Phi lao trong đời
sống xã hội.
Ở Châu á, Khi người Pháp dẫn giống Phi lao vào vùng duyên hải Việt
Nam, đồng thời họ cũng dẫn những giống tương tự vào vùng duyên hải “Quảng
Châu Loan” - một lô giới của Pháp ở Đông Bắc bán đảo Lôi Châu - nay là
Thành phố Trạm Giang - Trung Quốc.
Trước và sau năm năm 1960 để thực hiện chương trình trồng rừng chắn
cát ven biển, Trung Quốc tiếp tục dẫn giống Phi lao từ Việt Nam cho cả Lưỡng
Quãng và Hải Nam. Sau nhiều thập kỷ, người Trung Quốc nhận thấy hậu thế
của các giống này đã thoái hoá mạnh. Các chuyên gia về Phi lao của Trung
Quốc cũng nhận ra hiện tượng thoái hoá tương tự khi thăm các vùng trồng Phi
lao ở duyên hải miền Trung của Việt Nam.
Cách đây trên 20 năm, chương trình cải thiện giống Phi lao đã được đặt
ra, trong đó hướng đi chính là tuyển chọn cây ưu trội theo định hướng mọc
nhanh, cao sản, tính chống chịu cao, rồi nhân vơ tính để khảo nghiệm và phổ
cập.
Cải thiện giống ở Trung Quốc thường gắn liền với kỹ thuật nhân nhanh
bằng mô, hom, ghép. Tại Trung Quốc, lực lượng tham gia vào công tác tuyển
chọn giống các dịng lai vơ tính và nhân giống bằng mô, hom rất đông đảo, bao
gồm nhiều trường Đại học và Trung học thuộc nhiều ngành khác nhau. Lực
lượng này vốn cần cù lại được trang bị nhiều thông tin nên hoạt động rất hiệu
quả và tạo ra nhiều giống, dòng kỹ thuật mới mà đại diện là các dòng Phi lao
601 và 701, được nhập vào Việt Nam từ năm 1994.

2.1.3. Nghiên cứu gây trồng trong nước
Ở Việt Nam, từ lâu cây Phi lao đã thực sự gắn liền với đời sống kinh tế
xã hội của người dân ven biển, các sản phẩm từ cây Phi lao có giá trị nhiều mặt,
vì thế mà Phi lao trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học Lâm
nghiệp, các Viện, các trường, các cơ quan đơn vị trong và ngoài ngành Lâm

4


nghiệp. Với Phi lao đã được tiến hành giâm hom ở Viện khoa học Lâm Nghiệp
Việt Nam. Theo Viện khoa học Lâm Nghiệp việc nhân giống bằng hom Phi lao
có thể đạt tỷ lệ ra rễ hơn 90%. Tạp chí Lâm nghiệp, tháng 11 năm 1992 “Bước
đầu nghiên cứu giâm hom Phi lao trên giá thể cát” của PGS - TS Dương Mộng
Hùng - Trường Đại học Lâm nghiệp. Ngoài ra cịn có một số nghiên cứu của
các Trường, các Viện, các cơ sở sản xuất giống......nhưng chỉ dừng lại ở báo
cáo khoa học chứ chưa được khảo nghiệm trên diện rộng.
Cây Phi lao du nhập vào nước ta từ lâu, nhưng qua nhiều năm giống đã
bị thoái hoá mạnh, có một số cơng trình chọn giống, khảo nghiệm xuất xứ cho
cây Phi lao như “Bước đầu khảo nghiệm xuất xứ cây Phi lao tại 4 tỉnh: Thanh
Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng, Ninh Thuận” của Trung tâm nghiên cứu giống cây
rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp.
Theo báo cáo của Công ty giống và phục vụ trồng rừng Trung ương thì
chất lượng cây giống phục vụ trồng rừng rất kém, giống tốt chỉ đáp ứng được
khoảng 20% yêu cầu, 80% cịn lại phải dùng giống xơ bồ khơng rõ lý lịch, hạt
giống chưa được kiểm nghiệm, buôn bán lộn xộn, giá cả bất hợp lý...dẫn đến
chất lượng rừng trồng thấp.
Sau thời gian trồng khảo nghiệm ở nước ta từ năm 1995 đến nay, qua
theo dõi ở hầu hết các tỉnh như: Ninh Bình, Thanh Hố, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Nam, Bình Thuận, Bạc Liêu...có trồng dịng Phi lao này thì tỷ lệ cây
sống và sinh trưởng của chúng đều rất tốt, chưa thấy xuất hiện dịch bệnh. Từ

kết quả khảo nghiệm theo biên bản ngày 13/06/1998 của Hội đồng khoa học công nghệ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thơn có Quyết định số
1722/QĐ/BNN - KHCN về việc đưa dòng Phi lao TT2.6 vào trồng thử nghiệm
trên diện rộng ở các điều kiện lập địa khác nhau.
2.2. Nghiên cứu về giâm hom Phi Lao
Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là phương pháp dùng một
phần lá, một đoạn thân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới, gọi là
cây hom.
5


Cây hom có đặc tính di truyền cuả cây mẹ. Nhân giống bằng hom là
phương pháp có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân
giống cây rừng, cây cảnh, cây ăn quả.
Phi lao (Casuarina equiseti folia Fost) là đối tượng nghiên cứu từ lâu của
các nhà khoa học trên thế giới. Ngay từ năm 1981 Kondas (Ấn độ) đã thực hiện
giâm hom bằng cách dùng SeradixB, đạt tỷ lệ thành cây từ 42 - 90%. Năm
1990 Pupl sunil cũng nghiên cứu khả năng ra rễ của Phi lao, theo tác giả thì
IBA là chất có hiệu quả trong kích thích ra rễ, ở nồng độ 100ppm trong thời
gian xử lý là 3 giờ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
Ở nước ta, Phi lao đã được tiến hành giâm hom ở viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam và trường Đại học Lâm nghiệp. Theo viện Khoa học Lâm
nghiệp nhân giống bằng hom Phi lao có thể đạt tỷ lệ ra rễ hơn 90%. Theo Lê
Đình Khả - Phí Quang Điện thì ở giai đoạn tuổi non hom giâm Phi lao có thể ra
rễ 100%, cịn ở chồi vượt cây mẹ 20 tuổi cũng có thể ra rễ tới 65%. Theo kết
quả nghiên cứu của Duơng Mộng Hùng cùng cộng sự thì Phi lao có thể được
nhân giống bằng phương pháp giâm hom, hai loại auxin IBA và IAA đều có tác
dụng kích thích hom ra rễ ở nồng độ thích hợp. IBA có tác dụng kích thích hom
ra rễ hơn IAA. Trong các nồng độ thí nghiệm IBA ở 0,2% dưới dạng bột có tác
dụng tốt nhất.
2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến kết quả giâm hom

Vấn đề quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ, cịn thân cây sẽ
được hình thành từ chồi bên hoặc chồi bất định. Khả năng tạo thành cây con từ
hom phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận cây lấy làm giống,
ảnh hưởng của mơi trường bên ngồi, mùa vụ …. Như vậy sự hình thành bộ rễ
của cây con chịu sự tác động của 2 nhóm nhân tố chính đó là: Nhóm các nhân
tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh.
2.2.1. Các nhân tố nội sinh
+ Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định
6


Rễ bất định là rễ được sinh ra từ bất kỳ bộ phận nào của thân cây ngoài hệ
rễ. Rễ bất định gồm 2 loại: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn
gốc tự nhiên trong thân và cành cây nó sẽ được hình thành khi gặp điều kiện
môi trường thuận lợi. Rễ mới sinh khơng có nguồn gốc sẵn trong cây mà chỉ
được hình thành khi cắt hom và là sản phẩm của phản ứng vết cắt. Rễ của hom
giâm chính là rễ bất định, sự hình thành rễ bất định được chia làm 3 giai đoạn:
- Các tế bào bị thương ở vết cắt chết đi và hình thành một lớp tế bào bị
thối trên bề mặt, vết thương được bọc lại bằng một lớp bần, mạch gỗ được đậy
lại bằng keo. Lớp bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát nước.
- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ đó bắt đầu phân chia sau khi bị
cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mơ mềm (callus).
- Các tế bào lân cận của tượng tầng và libe bắt đầu hình thành rễ bất định.
Trong nhiều trường hợp, nếu hom được đặt trong mơi trường thích hợp
trước khi ra rễ, phần vết cắt của hom sẽ hình thành một lớp mơ sẹo. Song với
một số lồi cây, giữa việc hình thành mơ sẹo và hình thành rễ bất định không
liên quan với nhau.
Thời gian xuất hiện rễ của hom giâm ở các lồi khác nhau có biến động
khá rõ. Có loại chỉ ra rễ sau 15 - 20 ngày như Hoa hồng, Phi lao. Có lồi phải
mất vài tháng mới ra rễ như Chè, Sến, Trà my…..Cấu trúc của hom là nhân tố

quan trọng ảnh hưởng tới sự ra rễ. Các hom có vịng cương mơ (nằm giữa phần
libe và vỏ) liên tục khó ra rễ hơn ở các loại hom có vịng cương mơ khơng liên
tục, vì rễ muốn qua vỏ phải xuyên qua lớp cương mô (thơng thường lớp này rất
cứng).
Mức độ hố gỗ của hom cũng là nhân tố ảnh hưởng tới khả năng ra rễ
của hom. Hom hoá gỗ nhiều hay phần gỗ chiếm nhiều thì sự ra rễ kém đi. Như
vậy về cấu trúc giãi phẫu, nên chọn loại hom có cấu tạo sơ cấp, có phần gỗ

7


chiếm từ 1/3 - 2/5 đường kính hom, trong hom khơng có vịng cương mơ thì
hom đó thích hợp cho hom giâm.
Hiện tượng có cực cũng khá phổ biến trong hom giâm. Hom cành, hom
thân hình thành chồi sinh trưởng ở phần ngọn, cịn rễ hình thành ở phần cuối
hom (phần gốc). Hom rễ thì ngược lại, chồi lại hình thành ở phần gốc, rễ ở
phần ngọn của hom, hom lá thì rễ và chồi sinh ra từ cùng một vị trí, cho nên
phải chú ý đến vấn đề trên để trong giâm hom có phương pháp cắm hom cho
phù hợp.
a. Chất điều hoà sinh trưởng
Chất điều hoà sinh trưởng là nhóm các chất có hoạt động sinh lý mạnh.
Nó bao gồm các hooc môn thực vật tự nhiên và những chất điều hoà sinh
trưởng được tổng hợp nhân tạo có thể điều chỉnh các hoạt động sinh lý của thực
vật. Hàm lượng và loại chất điều hoà sinh trưởng có ảnh hưởng tới sự ra rễ của
hom giâm. Có thể chia các chất điều hoà sinh trưởng theo các nhóm sau đây:
Auxin, Xitokinin, Gibberellin(GA), Abxixis axit(ABA), Etylen(C2H4)...Trong
đó mỗi nhóm lại có tác dụng đặc trưng riêng. Có nhóm kích thích sự hình thành
chồi như Xitokinin, có nhóm lại kìm hãm sự sinh trưởng của cây như Abxixis
axit. Auxin là chất có tác dụng kích thích sự ra rễ mạnh, khi xâm nhập vào tế
bào làm cho tính thấm của ngun sinh chất tăng lên, q trình hơ hấp, trao đổi

chất cũng tăng lên, kích thích sự hoạt động mạnh của tượng tầng ...Do vậy nó
thúc đẩy q trình ra rễ của hom giâm. Auxin trong tự nhiên được tổng hợp từ
đỉnh sinh trưởng của thực vật, sau đó theo libe và tượng tầng xuống dưới. Vì
vậy vào thời kỳ đỉnh sinh trưởng hoạt động mạnh hơn thì hàm lượng Auxin
xuất hiện nhiều hơn. Tác động của Auxin đến sự ra rễ phụ thuộc chặt chẽ vào
nồng độ có trong tế bào. Khi nồng độ tăng cao thì Auxin lại kìm hãm sự ra rễ
của thực vật. Theo P.B. Cat-S-Cu-Tốp (giáo trình sinh lý thực vật) thì nồng độ
Auxin thay đổi có tác dụng đến sự ra rễ.

8


Ngồi ra tính chất của Auxin cịn phụ thuộc vào nồng độ các chất đưa từ
ngoài vào và hàm lượng các chất có sẵn trong cây, nó khơng chỉ làm tăng q
trình ra rễ mà cịn ảnh hưởng tới chất lượng rễ, tăng tỷ lệ ra rễ. Auxin bao gồm
rất nhiều loại, song hiện nay đang sử dụng rộng rãi nhất là IBA, NAA, IAA,
ABT1...
b. Tác dụng của chồi và lá
Theo một số kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Chồi và lá cũng có ảnh
hưởng tới sự hình thành rễ bất định. Ngay từ năm 1882, nhà sinh lý học người
Đức Sack chứng minh cho thấy có những chất kích thích ra rễ được điều chế từ
lá và được vận chuyển xuống phần dưới của hom. Theo nghiên cứu của Went
(1993) cho thấy nếu tách chồi khỏi hom giâm thì sự ra rễ sẽ bị ngừng lại. Sự
tồn tại của lá trên hom có tác dụng tốt đến sự ra rễ vì lá trên hom là nơi xảy ra
sự quang hợp để tạo thành hyđrat cacbon hỗ trợ cho hom ra rễ, đồng thời cùng
chồi tham gia tổng hợp Auxin, do đó ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm.
c. Nhân tố đồng tác dụng (Co-factor)
Bằng kỹ thuật xét nghiệm sinh học, năm 1962 Hess đã phân lập được
nhiều Co-factor từ hom. Các chất này được tổng hợp tự nhiên trong cây có tác
dụng cùng với Auxin đến sự kích thích ra rễ của hom. Fodl và Hartmant đã

phân lập được một số chất kích thích ra rễ nội sinh ở đáy hom lồi Đào, chất
này có tác dụng kích thích sự ba rễ và chỉ xuất hiện khi hom cân chồi và được
hử lý bằng Auxin. Hartmant cho thấy, chất kích thích nội sinh là một phức hợp
cao phân tử và có thể là sản phẩm của sự tác dụng bởi Auxin với chất được sinh
ra từ chồi.
d. Chất kìm hãm ra rễ nội sinh
Chất kìm hãm ra rễ là nguyên nhân chính cản trở sự ra rễ của một số lồi
hom. Ở Australia đã tìm thấy trên mơ già lồi Bạch đàn (Eucalyptus grandis)

9


chất kìm hãm sự ra rễ. Cịn trên mơ non của lồi Bạch đàn đó lại khơng tìm
thấy chất này. Như vậy trong giâm hom, các chất kích thích sinh trưởng có sự
tác động lớn đến sự hình thành rễ, tuy nhiên hoạt tính của các chất này lại phụ
thuộc vào nồng độ và sự tương tác thành phần giữa các chất với nhau.
e. Nhân tố tuổi cây mẹ
Tuổi cây mẹ cũng có ảnh hưởng tới khả năng ra rễ của hom giâm. Các
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cây mẹ càng trẻ (mọc từ hạt) khả năng ra rễ
tốt hơn cây trưởng thành. Thí nghiệm giâm hom ở thông Caribe cho thấy hom
ra rễ tốt khi lấy ở cây mẹ dưới 4 tuổi. Ở bạch đàn trắng (E. camandulensis)
hom ra rễ tốt khi lấy hom cây mẹ 1 tuổi. Còn theo kết quả nghiên cứu của
T.S.Dương Mộng Hùng về lồi sến (Madhuca pasquieri) thì nếu lấy hom ở cây
sến 2 tuổi thì hom có thể ra rễ, cịn nếu lấy ở cây già (gần 40 tuổi) hoặc chồi
của nó thì khơng thấy xuất hiện rễ.
f. Ảnh hưởng của vị trí lấy hom và loại hom
Nếu hom được lấy từ các vị trí khác nhau thì tỷ lệ ra rễ cũng khác nhau.
Theo nghiên cứu của Lê Anh Tuấn (Luận văn tốt nghiệp - 1993) cho thấy hom
đầu cành chỉ đạt 26,7% còn hom chồi gốc tỷ lệ ra rễ đạt tới 66.8%. Ngồi ra vị
trí lấy hom trên cây mẹ cũng ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng rễ trên hom.

Ngay trên 1 cành nếu vị trí lấy hom khác nhau thì khả năng ra rễ cũng
khác nhau, hom chồi đỉnh luôn tốt hơn hom chồi nách. Thông thường khi chọn
hom, người ta không chọn hom quá già hay quá non mà chọn hom bánh tẻ.
g. Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Ở một
số loài cây gỗ cứng, rụng lá có thể lấy hom trong mùa ngừng sinh trưởng, tốt
nhất là vào đầu mùa xuân, đồng thời lúc này nhiệt độ và độ ẩm cũng rất thuận

10


lợi cho hom ra rễ. Cịn ở những lồi cây gỗ mềm, thường xanh có thể lấy hom
trong mùa sinh trưởng.
h. Điều kiện sinh lý của cây mẹ
Hom được lấy từ cây mẹ sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh, được chăm
sóc đầy đủ sẽ có khả năng ra rễ tốt hơn những hom được lấy từ những cây mẹ
có những đặc điểm đối lập với chúng.
2.2.2. Nhóm các nhân tố ngoại sinh
Ngoài các nhân tố nội sinh, các nhân tố ngoại sinh cũng ảnh hưởng rất
lớn tới khả năng ra rễ của hom. Vì các quá trình sinh lý và sinh thái bên trong
đều chỉ hoạt động trong một điều kiện môi trường nhất định. Sự tồn tại, ra rễ,
phát triển của hom phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện bên ngồi. Có thể chia
các nhân tố ngoại sinh thành 2 nhóm chính như sau:
a. Nhóm các biện pháp xử lý hom
Việc xử lý hom bao gồm sử dụng chất kích thích ra rễ và thuốc phịng
chống nấm đã mang lại hiệu quả rất rõ trong quá trình giâm hom. Nếu hom
được xử lý chất kích thích ra rễ một cách hợp lý sẽ làm tăng tỷ lệ ra rễ của hom
giâm, rút ngắn được thời gian ra rễ của hom so với những hom đối chứng
không xử lý thuốc. Chất kích thích ra rễ có rất nhiều loại như: IAA, NAA, IBA,
ABT1..., nhưng hiện nay thông dụng nhất vẫn là IBA vì chất này có tác dụng

kích thích ra rễ rất tốt. Tuy nhiên mỗi loại Auxin có thể phù hợp với mỗi loại
hom nhất định, ở khoảng nồng độ nhất định, vì vậy khi giâm hom nên chọn
đúng loại chất và nồng độ phù hợp sẽ rất có ý nghĩa. Ngồi việc xử lý Auxin
nên kết hợp tổng hợp với các biện pháp xử lý khác như: Xử lý chất chống nấm,
bón phân vi lượng….sẽ đem lại hiệu quả cao hơn so với xử lý một chất đơn lẻ.
b. Nhóm các nhân tố điều kiện mơi trường
+ Độ ẩm:
11


Độ ẩm của đất và độ ẩm khơng khí là nhân tố quan trọng đối với các
phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Đặc biệt khi giâm hom thì nhân tố này
quyết định đến khả năng sống và ra rễ của hom. Mặt khác, lá của các hom giâm
là nhân tố cấn thiết thúc đẩy quá trình ra rễ, nhưng đồng thời cũng là nhân tố
chính của q trình thốt hơi nước. Vì vậy khi hom đã bị tách ra khỏi cây mẹ
thì chúng vẫn cần nước cho các quá trình sinh lý bên trong và thoát hơi nước
qua lá. Nếu lượng nước hom hút vào và bay hơi không cân bằng thì hom sẽ bị
héo và chết, cho nên trong giâm hom cần đặt hom ở những nơi có độ ẩm khơng
khí cao, tối thiểu phải đạt 80% độ ẩm bão hồ. Thơng thường người ta duy trì
độ ẩm khơng khí bằng cách phun sương và đặt hom trong nhà kính hoặc luống
phủ P.E (polyetylen).
+ Nhiệt độ:
Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến sự phân chia tế bào và các
q trình sinh hố trong cây dẫn đến sự hình thành và phát triển bộ rễ của hom
giâm. Tuỳ theo lồi cây mà khả năng thích ứng với các mức nhiệt độ khác
nhau. Nhìn chung nhiệt độ cao trong giới hạn nhất định giúp cho chồi và rễ
phát triển tốt hơn nhưng ngược lại làm cho quá trình thốt hơi nước xảy ra
nhanh hơn. Cịn khi nhiệt độ quá thấp sẽ kìm hãm sự hình thành và phát triển
của chồi và rễ bất định. Theo nghiên cứu với đa số các lồi cây thì khoảng nhiệt
độ thích hợp cho sự ra rễ từ 21- 270C.

+ Ánh sáng:
Ánh sáng là nguồn năng lượng cung cấp cho quá trình quang hợp để tạo
ra các hydrat cacbon, một sản phẩm rất cần thiết cho quá trình hình thành rễ ở
hom. Ánh sáng còn liên quan đến các nhan tố khác như: Nhiệt độ; sự thoát hơi
nước của cây và một số phản ứng sinh hố trong cây. Nói chung ánh sáng mạnh
trong giâm hom có hại, người ta hạn chế ánh sáng trực xạ chiếu vào hom và

12


thường sử dụng ánh sáng tán xạ. Với hom của hầu hết các lồi khác nhau, việc
che nắng thích hợp đều mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, cũng không nên đặt
hom nơi quá tối dẫn đến hom khó ra rễ hoặc q trình ra rễ chậm lại.
Tóm lại: Trong giâm hom khả năng ra rễ, sự tồn tại và phát triển của hom
chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhân tố, các nhân tố này có liên quan chặt chẽ với
nhau và cùng tác dụng tổng hợp lên hom. Vì vậy khi tiến hành giam hom cần
chú ý bố trí, xắp xếp các nhân tố này sao cho phù hợp nhất để đảm bảo sự
thành công trong công tác giâm hom.

13


PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1.1. Vị trí địa lý - Địa hình
Vườn ươm giống Lâm Nghiệp Hàm Rồng thuộc cơng ty giống Lâm
Nghiệp Thanh Hố nằm ở phía đơng bắc phường Hàm Rồng – Thành phố
Thanh Hố, cách trung tâm thành phố Thanh Hố 5km về phía bắc. Được giới
hạn trong phạm vi hẹp với tổng diện tích là 10.800 m2, với địa hình tương đối

bằng phẳng, giao thông đi lại thuận lợi, rất thuận lợi cho việc gieo ươm, chăm
sóc cây giống, vận chuyển xuất cây giống. Vị trí địa lý cụ thể như sau:
- Phía bắc cách cầu Hồng Long 70m.
- Phía nam giáp cánh đồng phường Nam Ngạn.
- Phía đơng giáp Sơng Mã.
- Phía tây giáp khu tập thể dân cư cơng trình đơ thị.
3.2. Khí hậu khu vực nghiên cứu
3.2.1. Đặc điẻm khí hậu thời tiết
Vườn ươm Lâm Nghiệp Hàm Rồng thuộc vùng khí hậu chung của khí
hậu Thanh Hố, hàng năm có 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
+ Độ ẩm trung bình 80%.
+ Nhiệt độ trung bình 240C.
+ Lượng mưa trung bình trong năm 1.600 – 2.300 ml.

14


Lượng mưa trung bình tập trung vào tháng 6 đến tháng 10 thường gây lũ
lụt ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất cây con, tạo điều kiện cho nguồn bệnh
phát sinh, phát triển gây thiệt hại lớn đến việc gieo cấy ươm cây Lâm Nghiệp.
Vể mùa khô lượng mưa rất thấp nên thường có hạn kéo dài làm ảnh
hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây giống, làm ảnh hưởng đến
năng xuất cây trồng sau này.
Chế độ gió: Khu vực vườn ươm giống Lâm Nghiệp Hàm Rồng – Thanh
Hố chịu rất nhiều hướng gió chính như: Gió đơng bắc, gió tây nam.
+ Gió mùa Đơng Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, có lúc sức
gió thổi rất mạnh làm ảnh hưỏng đến q trình sinh trưỏng phát triển của cây
giống. Về mùa đông nhiệt độ thường xuống thấp do ảnh hưởng của gió mùa

đơng bắc nên trong tháng 1 và tháng 2 thường xuất hiện sương muối gây ảnh
hưỏng đến việc gieo ươm cây con.
+ Gió thổi từ tháng 4 đến tháng 8: Đây là loai gió khơ nóng nên độ ẩm
trong giai đoạn này giảm, đôi khi thường xuất hiện bão lớn từ tháng 7 đến
tháng 9 gây khó khăn và thiệt hại đến sản xuất.

15


Tình hình diễn biến của các yếu tố khí hậu thời tiết trung bình qua các
tháng trong năm:
Biểu 01: Diễn biến khí hậu năm 2008

Tháng

Nhiệt
độ
TB(0C)

Tổng nhiệt

1

( C)

Biên độ
ngày đêm

Lượng mưa
(mm)


Độ ẩm
tương đối

Tổng giờ
nắng (giờ)

16.9

520

5.1

25

86

79

2

17.4

490

4.6

28

89


49

3

19.8

610

4.5

41

90

60

4

23.3

698

5.2

60

90

115


5

27.3

848

6.8

138

86

212

6

28.8

850

6.9

195

82

199

7


29.2

905

7.3

191

80

231

8

27.8

875

6.5

289

86

189

9

27.0


808

6.1

410

86

176

10

24.5

756

5.9

277

85

164

11

21.5

639


6.2

71

85

130

12

18.4

567

6.2

28

84

135

TB

24

8560

6.1


1750

86

1740

0

3.2.2. Đặc điểm thuỷ văn
Vườn ươm Lâm Nghiệp Hàm Rồng có diện tích ao là 800m2, mực nước
duy trì hàng năm thường xuyên ở độ sâu là 2m, có một giếng khoan, 2 bể chứa
nước, mỗi bể có diện tích chứa nước là 25m3, có thể cung cấp đủ nước tưới cho
diện tích gieo ươm của vườn, có hệ thống cống, rảnh thốt nước tốt.
3.2.2.1. Đặc điểm về đất
Tổng diện tích đất vườn là 10.800m2 trong đó:

16


- Đất xây dựng: DT = 1.200m2.
- Đất canh tác: DT = 8.800m2.
- Đất ao hồ: DT = 800m2.
Đất ở vườn ươm Hàm Rồng là đất Feralit màu vàng, phát triển trên đá
mẹ sa thạch. Vườn ươm Hàm Rồng nằm dưới chân đồi Mắt Rồng, nên ở đây
chủ yếu là đất bồi tụ.
3.2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
+ Điều kiên dân sinh kinh tế:
Với diện tích là 10.800m2 và được thiết kế xây dựng trên khu đất bồi ven
Sông Mã. Vườn là đơn vị sản xuất kinh doanh theo chế độ tự hạch tốn, có

nhiệm vụ sản xuất giống cây Lâm Nghiệp phục vụ cho nhu cầu trồng rừng, lục
hố đơ thị, vườn gieo ươm các lồi cây bóng mát một số cây quý hiếm và cây
ăn quả.
+ Tình hình sản xuất kinh doanh của Lâm Nghiệp:
Vườn ươm Lâm Nghiệp Hàm Rồng là đơn vị sản xuất kinh doanh, vườn
ươm có nhiệm vụ sản xuất Lâm Nghiệp, nhiệm vụ lục hố đơ thị, trồng các loại
cây q hiếm và cây ăn quả, cây bóng mát vói quy mơ sản xuất 1,2 - 1,5 triệu
cây con/năm.
Để đáp ứng nguồn giống đảm bảo các chương trình trồng rừng từ ngày
thành lập đến nay vườn đã cung cấp hàng triệu giống cây Lâm Nghiệp như:
Thơng, lát, lim……cho các chương trình trồng rừng theo các dự án: PAM,
327,661 trong và ngoài tỉnh.
Hiện tại Khu vườn ươm đang được bố trí xây dựng một nhà ni cấy mơ
có quy mơ. Nhằm cung cấp và sản xuất giống phục vụ cho công tác trồng rừng
trong và ngồi tỉnh. Đó cũng là một lợi thế của Vườn ươm nhằm cải tiến
phương pháp và cách thức sản xuất giống thông thường, nâng cao hiệu quả

17


kinh tế và hệ số nhân giống theo chủ trương của Cơng Ty Cp Giống Lâm
Nghiệp
Nhận xét chung:
Qua q trình tìm hiểu cơ bản tơi thấy ở đây có rất nhiều thuận lợi giúp
cho việc sản xuất cây giống: Trước hết là vườn gần trung tâm văn hoá - kinh tế
- chính trị thuận lợi cho việc giao thơng qua lại cung cấp vận chuyển cây con,
thu nhập hạt giống, các dụng cụ vật tư phục vụ cho công tác gieo ươm dễ dàng,
có điều kiện đưa tiến độ KHKT vào thực tiễn sản xuất, trao đổi kinh nghiệm
sản xuất với các cơ sở Lâm nghiệp lân cận.
Hơn nữa đội ngũ cán bộ công nhân viên lành nghề trong vườn có trình

độ cao, có kinh nghiệm lâu năm, nên vườn có điều kiện mở mang nghiên cứu
các đề tài khoa học.
Do diện tích vườn ươm cịn nhỏ ngồi những thuận lợi cịn có nhiều khó
khăn: về việc thực hiện chế độ luân canh cây con dễ bị sâu bệnh, việc bố trí thí
nghiệm cho sinh viên cịn nhiều hạn chế, dụng cụ cịn thiếu, vườn ươm chưa có
tường rào kiên cố xung quanh nên cơng tác bảo vệ cịn gặp nhiều khó khăn và
do điều kiện cơng việc của nghề nghiệp cây trồng phụ thuộc nhiều vào thời tiết,
khí hậu, phụ thuộc vào khách hàng, sản phẩm làm ra có tiêu thụ được thì mới
có thu nhập cho người lao động. Vì vậy mà đời sống của cơng nhân trong vườn
cịn gặp nhiều khó khăn.

18


Biểu 02: Nhiệt độ, độ ẩm trung bình tuần trong thời gian giâm hom.
Tuần

Nhiệt độ (0C)

Độ ẩm (%)

1
2
3
4
5
6
7

19.2

22.6
26.3
29.5
33.2
31.6
31.4

91.1
88.5
89.3
83.6
82.4
85.8
81.0

Độ ẩm
92
90
88
86
84
82
80
78
76
74

Độ ẩm (%)

1


2

3

4

5

6

7

Tuần

Biểu: Diễn biến độ ẩm trong thời gian giâm hom
Nhiệt độ
35
30
25
20

Nhiệt độ (0C)

15
10
5
0
1


2

3

4

5

6

7

Tuần

Biểu: Diễn biến nhiệt độ trong thời gian giâm hom

19


PHẦN IV
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu trước mắt: Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố đến ra rễ
của hom Phi Lao.
- Mục tiêu lâu dài: Xác định được phương pháp nhân giống sinh dưỡng
bằng giâm hom cho Phi lao nhằm góp phần xây dựng quy trình chọn giống và
nhân giống cho lồi, tiến tới nâng cao năng suất và chất lượng cho rừng trồng
Phi lao.
4.2. Nội dung nghiên cứu

- Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến ra rễ của hom.
- Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà sinh trưởng đến ra rễ của hom.
- Ảnh hưởng của chiều dài hom đến ra rễ của hom.
- Ảnh hưởng của loại hom đến ra rễ của hom.
4.3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng mà chúng tơi tiến hành nghiên cứu là dịng Phi lao TT2.6 đây
là giống mọc nhanh, sinh trưởng tốt trên nhiều dạng lập địa khác nhau và trên
vùng nhiệt đới ẩm, bán ẩm.
4.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp
4.4.1.1. Vật liệu giâm hom
- Vườn cây lấy hom: Cây được chọn lấy hom là cây trồng từ hom của
cây mẹ trải qua chọn lọc và khảo nghiệm của dòng Phi lao vơ tính giống TT2.6

20


tại vườn giống của Trung tâm sản xuất giống Hàm Rồng - CTY. CP Giống
Lâm Nghiệp Thanh Hoá.
Vườn hom được chăm sóc và bảo vệ cẩn thận, khơng sâu bệnh. Không bị
người và gia súc phá hoại. Luôn tưới nước đầy đủ cho cây, thường xuyên làm
cỏ vun tưới gốc cho cây để đảm bảo cay cho hom chất lượng hom tốt nhất.
4.4.1.2. Chọn hom
Chọn hom là công việc hết sức quan trọng, nó có tính chất quyết định tới
sự thành bại của công tác giâm hom. Hom được chọn phải đồng đều nhau và
theo tiêu chuẩn đã đề ra: Cắt hom với chiều dài hơn chiều dài quy định rồi sau
đó mới cắt hom theo quy định, được lấy từ cây mẹ sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh,
hom chưa hoá gỗ hồn tồn, chưa có chồi bên. Hom lấy về phải sử dụng ln.
Hom mà tơi sử dụng trong thí nghiệm này là loại hom cành và hom ngọn, hom
ngọn có hai loại là được cắt ngọn và khơng cắt ngọn. Hom được cắt phải đồng

đều nhau, dài từ 7 - 15 cm.
4.4.1.3. Xử lý hom
Hom được lấy về phải xử lý ngay, không để lâu để tránh hiện tượng mất
nước của hom. Hom được lấy phải lành lặn, không dập xước, cắt dài 7cm,
10cm, 15cm và mỗi hom với số lượng là 60 hom. Hom cắt xong phải được rửa
sạch bằng nước sạch để tránh nguồn gây bệnh. Đặc biệt là hom phải được cắt
bằng kéo, dao sắc tránh làm dập nơi vết cắt. Sau đó ngâm trong dung dịch
Benlat 0,5% trong 10 phút, vớt ra, để ráo rồi xử lý bằng các chất điều hòa sinh
trưởng trong thời gian 30 phút, với nồng độ và liều lượng như trong phương
pháp ngoại ngoại nghiệp.
4.4.1.4. Giá thể cắm hom
Giá thể cắm hom là hỗn hợp cát và đất, cát được phơi khô, đất sàng trộn
đều với tỷ lệ 1:1. Giá thể được xử lý bằng Benlat 20/00, phun đều trên mặt
21


luống, ta xử lý nấm khoảng 24h trước khi cắm hom. Ta cắm gộp khoảng 5 - 10
- 15 hom thành một cụm rồi cắm trực tiếp xuống giá thểt.
4.4.1.5. Chăm sóc hom
Hom được chăm sóc trong lồng Polyetylen, hàng ngày tuân thủ theo
nguyên tắc không để độ ẩm xuống dưới mức yêu cầu của hom. Độ ẩm luôn
luôn được bảo đảm ở mức cao, ánh sáng trong lồng Polyetylen là ánh sáng tán
xạ cho nên ở giai đoạn đầu hom cần ánh sáng, tăng dần về sau. Khi mở nilon để
tưới phải phủ kín cẩn thận. Tránh khơng làm hở ảnh hưởng tới kết quả giâm
hom.
4.4.2. Bố trí thí nghiệm
+ Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất điều hòa sinh
trưởng đến ra rễ của hom.
- Công thức 1: Hom giâm được xử lý bằng IBA với nồng độ 500ppm.

- Công thức 2: Hom giâm được xử lý bằng IAA với nồng độ 500ppm.
- Công thức 3: Hom giâm được xử lý bằng NAA với nồng độ 500ppm.
Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ IBA đến ra rễ của hom.
- Công thức 4: Hom giâm được xử lý bằng IBA với nồng độ 300ppm.
- Công thức 5: Hom giâm được xử lý bằng IBA với nồng độ 500ppm.
- Công thức 6: Hom giâm được xử lý bằng IBA với nồng độ 700ppm.
Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dài hom đến ra rễ của
hom:
- Công thức 7: Hom có độ dài 7 cm, được xử lý IBA nồng độ 500ppm.
- Cơng thức 8: Hom có độ dài 10cm, được xử lý IBA nồng độ 500ppm.

22


- Cơng thức 9: Hom có độ dài 15cm, được xử lý IBA nồng độ 500ppm.
Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom đến ra rễ của hom.
- Cơng thức 10: Hom cành có chiều dài 10cm được xử lý bằng IBA nồng
độ 500ppm.
- Công thức 11: Hom ngọn có chiều dài 10cm được xử lý bằng IBA nồng
độ 500ppm.
- Cơng thức 12: Hom sát ngọn có chiều dài 10cm được xử lý bằng IBA
nồng độ 500ppm.
- Công thức 13: Hom giâm khơng được xử lý chất kích thích ra rễ, dùng
làm cơng thức đối chứng.
Các các cơng thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ
với 2 lần lặp. Mỗi cơng thức thí nghiệm có 30 hom.
Lần lặp

Cơng thức thí nghiệm


I

1

6

9

4

5

13

10

2

3

11

7

12

8

II


8

12

10

6

2

3

7

11

5

9

4

1

13

4.4.3. Thu thập số liệu
* Các chỉ tiểu theo dõi:
- Tỷ lệ hom sống (%): Được theo dõi định kỳ hàng tuần kết quả được ghi
vào mẫu biểu 03.

Biểu 03: Biểu theo dõi tỷ lệ hom sống của các nhân tố thí nghiệm

ng
thứ
c

Nhân
tố
TN

Số
hom
TN

7 ngày
Hom %
sống

14 ngày
Hom %
sống

Tỷ lệ hom sống sau các ngày (%)
21 ngày
28 ngày
35 ngày
Hom % Hom % Hom %
sống
sống
sống


23

42 ngày
Hom %
sống

49 ngày
Hom %
sống


- Tỷ lệ hom ra rễ, sống lượng rễ, chiều dài rễ được theo dõi vào cuối đợt
thí nghiệm. Riêng chiều dài rễ được đo ở 3 rễ có chiều dài lớn nhất. Kết quả
được ghi vào biểu 04:
Biểu 04: Biểu theo dõi các chỉ tiêu về rễ
Công
thức

Nhân
tố TN

Số hom
TN

Số
lượng

Hom ra rễ
Số rễ

Chiều
dài rễ
(cm)

Hom không ra rễ
Số
Ra mô Không ra
lượng
sẹo
mô sẹo

4.4.4. Xử lý số liệu
Số liệu 2 lần lặp ở mỗi cơng thức được thu thập riêng sau đó sẽ kiểm tra
sự thuần nhất về tỷ lệ ra rễ của 2 lần lặp, ở mỗi cơng thức thí nghiệm bằng tiêu
chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn. Nếu kết quả kiểm tra là thuần nhất thì
q trình tính tốn sẽ tiến hành với dung lượng mẫu quan sát là 60, (tổng dung
lượng quan sát 2 lần lặp).
Các số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê toán học
+ Tỷ lệ hom sống =
(Tỷ lệ hom ra rễ và rễ được tính tương tự tỷ lệ hom sống)
+ Số trung bình mẫu được tính theo cơng thức:

+ Sai tiêu chuẩn:

S=±

24


+ Chỉ số ra rễ: Chỉ số ra rễ là tích số của số rễ trung bình/ hom với chiều

dài rễ bình quân.
Kiểm tra thống kê ảnh hưởng của nhân tố thí nghiệm đến các chỉ tiêu
nghiên cứu:
- Số hom sống, số hom ra rễ, việc kiểm tra thuần nhất các mẫu về chất
theo tiêu chuẩn

Nếu

được tính theo cơng thức:



tra bảng với bậc tự do k = (a-1)(b-1) thì giả thuyết H0

được chấp nhận. Nghĩa là nhân tố thí nghiệm có ảnh hưởng như nhau đến chỉ
tiêu nghiên cứu.
Nếu

>

tra bảng với bậc tự (a-1)(b-1) thì giả thuyết H0 bị bác

bỏ. Nghĩa là nhân tố thí nghiệm có ảnh hưởng rõ rệt đến chỉ tiêu nghiên cứu.
Khi kiểm tra tìm cơng thức tốt nhất bằng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu
chuẩn cho 2 mẫu (2 cơng thức có chỉ tiêu nghiên cứu cao nhất).
Tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn:
U=

Nếu │U│≤ 1.96 thì giả thuyết H0 được chấp nhận. Nghĩa là 2 cơng thức
thí nghiệm có ảnh hưởng như nhau đến chỉ tiêu nghiên cứu.

Nếu │U│> 1.96 thì giả thuyết H0 bị bác bỏ. Khi đó cơng thức thí nghiệm
nào có chỉ tiêu nghiên cứu cao nhất là cơng thức có ảnh hưởng tốt nhất.

25


×