Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Bien doi khi hau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (195.89 KB, 10 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

1.

<b>Trái đất nóng lên: chúng ta phải làm gì? </b>



Trước đây, chỉ có các nhà khoa học và những tổ chức bảo vệ môi trường ra sức kêu gọi mọi
người quan tâm, còn đại đa số đều hết sức thờ ơ và nghĩ rằng hậu quả của sự thay đổi khí hậu
vẫn cịn ở xa lắm. Nhưng đến bây giờ, ngay cả những người ít quan tâm đến môi trường cũng
không thể không thừa nhận những hậu quả ngày càng nghiêm trọng do trái đất nóng lên. Dự báo
đến cuối thế kỷ này, mực nước biển sẽ dâng cao 5-6 m khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ, liệu
con cháu đời sau sẽ sống ra sao và chúng ta phải làm gì để cứu trái đất?


<b>Băng cực tan chảy, nước biển dâng cao.</b>


Khí thải, nhất là CO2, có thể làm thủng tầng ôzôn của khí quyển, làm nhiệt độ bề mặt trái đất
tăng lên. Cuối thời kỳ băng hà, nồng độ khí thải CO2 trong khơng khí chỉ có 180 ppm nhưng qua
nửa thế kỷ, con số này đã lên đến 380 ppm. Căn cứ vào số liệu của Cơ quan Hàng khơng vũ trụ
Mỹ (NASA) thì năm 2005 là năm nóng nhất trong lịch sử 100 năm trở lại đây.


Châu Bắc cực và châu Nam cực là hai khu vực nhạy cảm nhất đối với hiện tượng trái đất nóng
lên, những núi băng, tảng băng khơng ngừng tan chảy. Theo số liệu khí tượng trong vịng 30
năm gần đây của Trạm khảo sát Nam cực Anh thì tốc độ nóng lên của Nam cực cao gấp 4 lần
trái đất. Từ năm 2002 cho đến nay, băng tan ở Nam cực khiến cho mực nước biển tăng mỗi năm
khoảng 0,4 mm. Tình hình ở Bắc cực còn tồi tệ hơn. Tốc độ băng tan của đảo Greenland trong 5
năm gần đây tăng gấp 2 lần. Theo ước tính, nếu cả băng đảo Greenland tan chảy thì nước biển
sẽ dâng cao lên 7m. Khi ấy, cả đất nước Bănglađet sẽ chìm ngập dưới biển.


Băng tan ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa mặt trời với trái đất. Băng ở hai vùng Nam cực và
Bắc cực đủ để phản xạ lại 90% năng lượng bức xạ mặt trời. Đại dương thì có tác dụng ngược
lại, hấp thu 90% năng lượng bức xạ mặt trời. Nếu như băng ở hai cực này khơng cịn tồn tại thì
khơng biết nhiệt độ của trái đất sẽ tăng nhanh như thế nào.


Hiện tượng “tuần hoàn ngược” trên trái đất xảy ra ở những vùng băng đảo. Tại khu vực vĩ độ cao
như Alaska và Siberia có rất nhiều băng đảo trong khi băng đảo lại chứa nhiều khoáng chất. Nếu


như băng ở những băng đảo tan chảy sẽ phóng thích ra Hyđrơ cacbua và CO2 - khí thải gây hiệu
ứng nhà kính. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu khí tượng Mỹ, tất cả băng đảo trên trái đất chứa
khoảng 200-800 tỷ tấn CO2 (hiện nay, lượng CO2 tồn cầu đã phóng thải chưa q 0,7 tỷ tấn).
Trái đất nóng lên cịn đem đến một hậu quả khủng khiếp: Đại dương càng ngày càng nóng,
nhưng nhiệt độ lục địa càng ngày càng thấp đi. Các chuyên gia cho rằng, trong mùa đông năm
2005 cả châu âu bị những đợt lạnh tấn công, rất nhiều nơi nhiệt độ hạ thấp dưới -20 độ F, gây tử
vong hàng trăm người là một biểu hiện của hiện tượng này.


Vậy trái đất nóng lên tại sao lại khiến nhiệt độ của lục địa thấp xuống? Chính do trái đất nóng lên
làm tăng nhiệt độ nước biển, băng hà tan chảy khiến lượng nước ngọt đổ vào biển. Hơn nữa,
nhiệt độ mặt nước biển tăng cao, độ mặn lại bị giảm, có thể sẽ làm cho hải lưu ở Bắc Đại Tây
Dương chảy chậm, thậm chí hồn toàn bị ngừng chảy. Như vậy, nước ở miền nhiệt đới của xích
đạo khơng thể đổ về khu vực Bắc Đại Tây Dương và làm cho nhiệt độ ở Đông Bắc Mỹ và Tây âu
lạnh đi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

tuyết đã tan hết. Những khu vực bị khô hạn lại rất rộng, nhiệt độ cao làm cho nước dưới lịng đất
nóng lên làm nước bay hơi nhanh, lại càng khô hạn, đồng thời hiện tượng El Nino ở Thái Bình
Dương xảy ra liên tiếp khiến cho Đơng á và châu Phi ngày càng trở nên khô hạn. Theo báo cáo
của Viện Nghiên cứu khí tượng Mỹ, hiện tượng khô hạn hiện nay xảy ra nhiều gấp 2 lần so với
thập kỷ 70 của thế kỷ trước.


<b>Đời sống của động thực vật trên trái đất sẽ ra sao?</b>


Những năm gần đây, ở Mỹ, ôxtrâylia, Inđônêxia…, hiện tượng cháy rừng ngày càng lan rộng,
gây ra hiệu ứng “tuần hồn ngược” khi phóng thích một lượng khí thải CO2, cộng thêm hiệu ứng
nhà kính càng làm cho nhiệt độ tăng cao, khiến cho khả năng cháy rừng càng lớn. Cây hút khí
CO2, nhả ơxy nên cháy rừng khơng chỉ làm cho diện tích rừng bị thu hẹp mà cịn làm mơi trường
bị đe doạ.


Tại đại lục Bắc Mỹ, rất nhiều thực vật đang bị ảnh hưởng bởi trái đất nóng lên. Lồi Manzanita


bất tử ở miền Tây Bắc Mỹ đang dần dần khô héo, xương rồng cũng chuyển sang màu vàng úa.
Mùa đông năm 2005 ấm áp lạ thường ở Canada và miền Tây nước Mỹ, khiến cho các loại sâu
hại sinh trưởng mạnh, hàng triệu hecta rừng đã bị chúng phá hoại. Động vật cũng đang đứng
trước những thảm hoạ. Đến nay, các tổ chức bảo vệ môi trường đã có hàng loạt danh sách các
lồi động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Ví dụ như ở rừng nhiệt đới vốn có hơn 110
lồi cóc màu các loại, nhưng chỉ sau hơn 30 năm, số cóc rừng này đã bị tuyệt chủng 2/3. Diện
tích băng ở Bắc cực bắt đầu thu hẹp, gấu Bắc cực khơng cịn nơi trú ngụ, buộc phải liều di cư
đến gần con người. Đời sống, tập tính của hải cẩu cũng bị thay đổi, do băng ở bờ biển Bắc Mỹ
q mỏng nên năm 2006 có hàng nghìn con hải cẩu phải sinh sản ở lục địa.


Tổ chức Y tế thế giới cho rằng, khí hậu tồn cầu tuy mới chỉ hơi nhích lên nhưng cũng đã đủ để
ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Mỗi năm, con số tử vong đã lên đến 15 vạn người.
Tháng 8/2003, thời tiết nóng đã làm 2 vạn người ở các nước châu âu tử vong (theo ước tính của
tổ chức này thì đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên gấp đơi). Trái đất nóng lên làm ơ nhiễm
khơng khí. Nhiệt độ tăng khiến cho khí hơi thối cũng bốc lên. Có rất nhiều nghiên cứu cho biết,
chất khí này sẽ làm gia tăng lượng người mắc bệnh tim, phổi. Ngoài ra, hàm lượng khí CO2 tăng
sẽ kích thích tăng trưởng của những lồi cây có hoa. Do đó, các bệnh liên quan đến hô hấp và dị
ứng cũng sẽ phát triển. Số lượng cơn trùng có hại cũng tăng, mỗi năm tồn cầu có ít nhất 300
triệu loại virus gây bệnh xuất hiện, gây tử vong cho hơn 1 triệu người.


<b>Quốc đảo đối mặt với sự “thơn tính”</b>


Gần đây, các nhà khoa học ơxtrâylia cảnh báo, trái đất nóng lên sẽ làm mực nước biển tăng, 3
đảo quốc là Tuvalu, Kiribati, Maldives không bao lâu sẽ bị nước biển xâm nhập. Hơn 1 vạn dân ở
Tuvalu chỉ còn 26 km2, nơi cao nhất ở đây cũng chỉ cao hơn mực mặt nước biển 4,5 m. Cứ
khoảng 2-3 tháng lại có một đợt triều cường, mỗi lần như thế, quốc đảo này lại bị nước biển xâm
nhập 30% diện tích, rất nhiều nhà bị nước biển ngập đến sân. Tuvalu đã sớm phải ký hiệp định
di dân với New Zealand, mỗi năm di dân sang đó 80 người. Niue của Nam Thái Bình Dương
cũng mong muốn giúp đỡ nhân dân Tuvalu, nhưng nếu tốc độ trái đất nóng lên nhanh như thế
này thì Niue cũng sẽ chịu chung số phận như Tuvalu.



<b>Diệu kế cứu trái đất</b>


Ngoài việc đốc thúc các quốc gia, tổ chức quốc tế áp dụng các biện pháp thiết thực làm giảm
thiểu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, các nhà khoa học đang tìm mọi cách để cứu trái đất.
Cho dù rất khó khả thi nhưng ít nhiều cũng mở ra được một cách nhìn mới:


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Các nhà khoa học Anh gần đây đã tìm ra một cách giải quyết cho vấn đề trái đất nóng lên, đó là
chơn CO2 gây hiệu ứng nhà kính xuống đáy đại dương. Họ tin rằng mỗi năm có thể giấu được
hàng triệu tấn CO2 xuống đáy Bắc Hải. Họ đã chọn mỏ dầu Millet của Cơng ty dầu khí Anh làm
nơi thử nghiệm đầu tiên. Họ sử dụng kỹ thuật hố lỏng CO2, thơng qua đường dẫn dầu (khơng
cịn sử dụng) bơm CO2 về mỏ dầu Millet. Bằng cách này, mỗi năm mỏ Millet có thể tiếp nhận
được 5 triệu tấn CO2 hoá lỏng và thời gian lưu trữ có thể lên đến 1 vạn năm.


<b>Màng che bầu trời</b>


Năm 2004, các nhà khoa học còn đưa ra một ý tưởng kinh ngạc - một màng chắn trị giá khoảng
1 tỷ bảng Anh sẽ được thiết kế nhằm ngăn chặn triệt để bức xạ ánh sáng mặt trời, làm giảm
nhiệt độ cho trái đất. Sáng kiến này bắt nguồn từ việc núi lửa ở Indonexia hoạt động năm 1814.
Lần ấy, trong quá trình phun trào, núi lửa đã phóng vào khí quyển một lượng lớn vật chất hỗn
hợp khiến cho nhiệt độ ở khu vực này giảm 30% so với trước đây. Song kế hoạch này vẫn nằm
trong giai đoạn giả tưởng, với điều kiện kỹ thuật hiện nay thì trong tương lai gần khó có thể thực
hiện được.


<b>Bổ sung sắt cho đại dương</b>


Một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Hải dương học ở bang California (Mỹ) cho rằng việc bổ
sung sắt là một biện pháp “nhốt” CO2 trong đại dương. Trong quá trình quang hợp, thực vật nổi
hấp thụ cacbon trong lớp nước mặt, tạo ra sự nở hoa của tảo - nguồn thức ăn cho các động vật.
Cacbon trong thực vật nổi được thải ra cùng với chất thải từ chính nguồn động vật này và lắng


đọng xuống đáy biển - đây được xem là quá trình “bơm sinh học”. Bổ sung chất sắt cho đại
dương nghĩa là tăng khả năng loại bỏ cacbon trong tầng nước mặt - là nơi trao đổi trực tiếp
cacbon với khí quyển và vận chuyển cacbon xuống tầng sâu hơn. Tuy nhiên, một số nhà khoa
học cảnh báo, biện pháp này có thể phá vỡ mơi trường sinh thái.


Đến nay, câu hỏi: Trái đất nóng lên, chúng ta phải làm gì? vẫn đang là thách thức lớn với các
nhà khoa học.


1.


<b>Thay đổi khí hậu thử thách an ninh quốc gia</b>



Hội đồng tình báo quốc gia (National Intelligence Council – NIC) vừa mới hoàn thành một bản
đánh giá mới về vấn đề thay đổi khí hậu có thể đe dọa nền an ninh Hoa Kì như thế nào trong
vịng 20 năm tới khi nó gây nhiều biến động chính trị, các phịng trào tị nạn lớn, khủng bố hay bất
đồng về nguồn nước cũng như các nguồn tài nguyên khác giữa một số quốc gia.


Ủy ban tình báo thượng viện được trình báo tường tận vào thứ tư ngày 25 tháng 6 về các vấn đề
chính.


Dù bản đánh giá được coi là tài liệu mật nhưng một vài phân tích được sử dụng làm tài liệu mở,
trong đó có rất nhiều nghiên cứu do Trung tâm Mạng lưới thông tin và Khoa học trái đất (CIESIN)
thuộc đại học Columbia thực hiện. Theo nhiệm vụ NIC đề ra, CIESIN phải xếp thứ bậc các quốc
gia dựa trên 3 nguy cơ thời tiết: mực nước biển tăng, tình trạng khan hiếm nước tăng và khả
năng bị tổn hại nói chung dựa trên biến đổi nhiệt độ được lên kế hoạch so với khả năng thích
nghi của các quốc gia.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

với những nguy cơ như mực nước biển tăng lên, bù lại họ có nền kinh tế và chính phủ mạnh do
đó họ cũng khơng coi đây là nguy cơ lớn.



Tuy nhiên các nước khác phải chịu đựng nguy cơ bị tác động do biến đổi khí hậu dự đốn và tỉ lệ
thích nghi thấp bắt nguồn từ năng lực của các cơ quan tổ chức địa phương cũng như lịch sử hay
xảy ra biến động và các mối bất hịa. Những nguy cơ này có xu hướng tập trung tại các vùng
phía nam kém phát triển về kinh tế. Các quốc gia có tình trạng nguy hiểm cao hơn trong danh
sách của CIESIN có thể khớp hoặc không khớp với danh sách của NIC là Nam Phi, Nepan,
Ma-rốc, Băng-la-đet, Tuy-ni-zi, Pa-ra-guay, Yêmen, Xu-đăng và Bờ Biển Ngà.


Lượng mưa không đều hay các hiện tượng liên quan đến nhiệt độ khác có thể góp phần gây nên
các biến động nguy hiểm do mùa màng thất thu hay một số vấn đề tại các quốc gia. Nhóm quốc
gia này bao gồm Xu-Đăng, Iran, Irắc, Cô-oet, Công-gô, Êtiôpia và Jooc-dan. (Ảnh: iStockphoto/
Tobias Helbig)


Dân số lớn nhất phải chung sống với nguy cơ mực nước biển tăng lên là ở Trung Quốc,


Philippin, Ai Cập và Indonexia. Chỉ tính riêng Trung Quốc và Philippin đã có 64 triệu người sống
ở vùng có độ cao thấp (cao hơn mực nước biển 1m). Tại Ai Cập – quốc gia nhận được hỗ trợ
quân sự của Hoa Kì trong khoảng thời gian dài đồng thời là nước có xung đột nội bộ thường
xuyên, 37% dân cư sống dưới mực nước biển 10m tại châu thổ sông Nin màu mỡ. Ở các quốc
gia khác, lượng mưa không đều hay các hiện tượng liên quan đến nhiệt độ khác có thể góp phần
gây nên các biến động nguy hiểm do mùa màng thất thu hay một số vấn đề khác. Nhóm quốc gia
này bao gồm Xu-Đăng, Iran, Irắc, Cô-oet, Công-gô, Êtiôpia và Jooc-dan theo nghiên cứu của
CIESIN.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

trọng thêm áp lực nội bộ quốc gia đồng thời làm phát sinh xích mích giữa các địa phương trong
quá trình cạnh tranh hoặc bất đồng về tài nguyên cũng như trách nhiệm di dân”.


Bản đánh giá do NIC thực hiện năm ngoái theo yêu cầu của Cơ quan tình báo Thượng viện thể
hiện phần nào nhận thức của các cơ quan quân sự rằng vấn đề biến đổi khí hậu cần tính tốn
cẩn trọng. Một bản báo cáo năm 2007 do Trung tâm phân tích hải qn u cầu phải có đánh giá
tồn diện về vấn đề. Luật bảo vệ quốc gia năm 2008 (National Defense Authorization Act) ủy


thác cho Lầu năm góc “xác định khả năng đối phó của quân đội Hoa Kì với các hậu quả của biến
đổi khí hậu”, đặc biệt là phải luôn luôn sẵn sàng trước bất cứ thảm họa tự nhiên nào do khí hậu
khắc nghiệt gây ra. Theo InsideDefense.com, bộ trưởng Bộ quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã
thơng qua Chiến lược quốc phịng quốc gia chưa ban hành tập trung vào các vấn đề khí hậu và
mơi trường.


Richard Engle – chun viên tình báo quốc gia đảm trách khoa học và cơng nghệ thuộc Văn
phịng giám đốc tình báo quốc gia – trong một bài phát biểu gần đây có đưa ra nhận xét về bản
báo cáo như sau: “Chúng tơi muốn đạt được các chính sách khả thi cho cộng đồng chính sách.
Do đó chúng tơi cần phải cụ thể”. Bản đánh giá ban đầu dự kiến được cơng bố rộng rãi nhưng lại
được xếp vào nhóm tài liệu mật do lo ngại rằng nó sẽ làm trỗi dậy sự thù địch từ các chính phủ
cách mạng (theo nguồn tin thân cận).


Thomas Fingar, chủ tịch NIC, sẽ công bố rộng rãi một vài phần bản báo cáo dài 58 trang với tiêu
đề “National Security Implications of Global Climate Change Through 2030” (tạm dịch là “Biến đổi
khí hậu toàn cầu ảnh hưởng tới an ninh quốc gia cho đến năm 2030”) trong phiên tòa ngày thứ 4.
Kết quả quan trọng thể hiện quan điểm đồng tình của trên 16 cơ quan tình báo Hoa Kì.


Cùng với CIESIN, các nguồn tin khác đóng góp trong bản báo cáo bao gồm Chương trình biến
đổi khí hậu Hoa Kì, Trung tâm Phân tích hải quân, Ban hội thẩm biến đổi khí hậu liên chính phủ,
tập đồn Rand và đại học bang Arizona.


Levy: “Các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm tới việc tìm hiểu liệu biến đổi khí hậu có
khiến các cuộc khủng hoảng như cuộc xung đột tại Darfur xảy ra thường xuyên hơn hay khơng,
và liệu các viễn cảnh bạo lực khác có nảy sinh hay không. Khoa học nghiên cứu tác động của khí
hậu khơng những mang đến cho chúng ta câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi đặt ra mà ít nhất hiện
chúng ta cũng nhìn nhận nó một cách nghiêm túc”.


Các tài liệu của CIESIN sẽ được công bố kể từ thứ 2, ngày 30 tháng 6.



1.


<b>Biến đổi khí hậu làm mở rộng vành đai nhiệt đới</b>



Một cuộc nghiên cứu mới về khí hậu cho thấy trong 25 năm qua vành đai nhiệt đới của Trái đất
đã mở rộng thêm vài trăm km về phía hai cực của trái đất, khiến cho các khu vực cận nhiệt đới
càng trở nên khô hạn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Phương pháp chính xác định vành đai nhiệt đới là theo dõi các dịng gió xốy đánh dấu rìa của
vùng nhiệt đới. Các nhà khí tượng nhận thấy các dịng gió xoáy nhiễu loạn nhiệt đới đang hoạt
động trên diện rộng hơn so với hai thập niên trước, chứng tỏ vành đai nhiệt đới đã mở rộng.
Ngoài ra, các nhà khí tượng cịn xác định sự mở rộng của vành đai nhiệt đới thông qua việc
đánh giá lượng ozone trong khí quyển, độ sâu của tầng đối lưu, và mức độ khí hậu khơ hạn tại
những vùng cận nhiệt đới.


Các nhà khí tượng từ lâu đã dự đốn do tác động của của sự biến đổi khí hậu mà con người gây
ra, vành đai nhiệt đới có xu hướng mở rộng cho tới cuối thế kỷ 21, song đã phải bất ngờ trước
mức độ mở rộng hơn so với dự kiến của họ.


<i><b>Nguồn: ST</b></i>


<i><b> (Theo ScienceDaily</b></i>
1.

<b>10 thách thức mơi trường của nhân loại </b>



<b>Thay đổi khí hậu và sự gia tăng nhanh chóng tầng lớp trung lưu đang đặt một áp lực lớn </b>
<b>lên Trái Đất. Nếu lồi người khơng tìm được lối thốt thì hành tinh này sẽ thực sự rơi vào </b>
<b>khủng hoảng.</b>


<i><b>1. Tuyệt chủng</b></i>



Trên hình là một chú gấu panda đang “leo trèo” tại Trung tâm nghiên cứu và bảo vệ Gấu trúc
Trung Quốc, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Wolong.


Gấu trúc đã trở thành biểu tượng của sự thay đổi khí hậu mà Trái Đất phải đối mặt, hiện trên thế
giới chỉ còn khoảng 1.600 chú gấu panda “dễ thương”. Đây là hậu quả của sự xâm lược tới môi
trường sống của chúng do loài người thực hiện. Năm 2008, 16.928 lồi có nguy cơ tuyệt chủng
đã được liệt vào sách Đỏ của Ủy ban Bảo tồn Thế giới, tăng 11.046 lồi so với năm 2000.


<i><b>2. Sự nóng lên của trái đất</b></i>


Hình ảnh một người đàn ơng đổ mồ hơi khi đợt khơng khí nóng tràn về New York, tháng 10/2007.
Tháng 8/2003, 14.802 người dân Pháp đã chết do nắng nóng, trong khi số người chết ở tồn bộ
châu Âu là 52.000 người. Các thập kỷ ghi dấu sự gia tăng nhiệt độ của trái đất. Thống kê của các
nhà khoa học cho thấy, thập kỷ 1998 đến 2007 là nóng nhất. Báo cáo của Ban Hội thẩm Liên
Chính phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC) kết luận, lồi người góp 90% ngun nhân khiến nhiệt độ
trung bình của trái đất tăng cao.


<i><b>3. Băng tan</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

<i><b>4. Ô nhiễm nguồn nước</b></i>


Trên ảnh là xác của một con cá dọc bờ sông Thames, London, chết do 600.000 tấn rác thải đã
đổ xuống dịng sơng khi những cơn bão lớn tấn công hệ thống cống ngầm Victoria.


Thiếu các nguồn nước sạch và vệ sinh là mối đe dọa chính đến sức khỏe con người. Mỗi ngày
trên thế giới có 5.000 trẻ em chết do bệnh tiêu chảy, nguyên nhân bắt nguồn từ hệ thống vệ sinh
kém chất lượng. Một trong những dịng sơng ô nhiễm nhất thế giới là Citarum, ở Indonesia, bị ô
nhiễm do hóa chất từ các nhà máy và chất thải của con người. Một lớp rác phủ kín bề mặt sông
đã không dành một kẽ hở nào cho nước.



<i><b>5. Ơ nhiễm khơng khí</b></i>


Bắc Kinh “mờ ảo” dưới làn khói bụi, ảnh chụp tháng 5/2008.


Ơ nhiễm khơng khí khiến phổi con người dễ bị tổn thương. Một xếp hạng mới đây liệt Bắc Kinh ở
vị trí thứ hai, sau New Delhi về mức độ ơ nhiễm khơng khí. Năm 2008, khơng khí ở thủ đơ Trung
Quốc rất tệ hại, khiến ban tổ chức Olympic rất lo lắng về sức khỏe của các vận động viên. Thành
phố phải ban hành những điều luật giao thông nghiêm ngặt và di chuyển các nhà máy khỏi trung
tâm thành phố. Nửa cuối năm 2008, các nhà khoa học phát hiện mức độ khơng khí tồn cầu
được coi là sạch nhất nhất kể từ năm 2000, nguyên nhân được lý giải là do nền kinh tế thế giới
lâm vào khủng hoảng, khiến nhu cầu về năng lượng khí đốt giảm đáng kể.


<i><b>6. Khô hạn</b></i>


Những ngư dân Bulgari “đi dạo” trên dịng sơng Danube, khi con sơng này ở mức nước thấp
nhất trong vịng 120 năm qua.


Khơ hạn là một trong những kiểu thảm họa cổ xưa nhất. Australia đã phải hứng chịu nhiều đợt
hạn hán nghiêm trọng trong năm 2006, 2007 và 2009. Liên Hiệp Quốc dự đoán những mảnh đất
màu mỡ mà Ukraine bị mất hàng năm là do hạn hán, phá rừng và thời tiết bất thường.


<i><b>7. Lốc xoáy</b></i>


Cơn lốc Nargis tràn qua Burma tháng 5/2008, khiến 138.000 người thiệt mạng và để lại lượng
rác thải lớn cho khu vực vốn thiếu nước trầm trọng này.


Kết quả tàn phá của những cơn bão và lốc xốy gần đây là những bằng chứng khơng thể chối
cãi của nhận định, trong 50 năm trở lại đây những cơn bão ngày càng mãnh liệt hơn. Tuy nhiên,
tin tốt là, các nhà khoa học chưa khẳng định, sự ấm nóng tồn cầu tác động đến cơn bão.
Nhưng đó khơng phải là lời an ủi dành cho hàng nghìn nạn nhân của bão và lụt lội hàng năm.



<i><b>8. Đơ thị hóa</b></i>


Hai phụ nữ vui vẻ mua sắm tại Thâm Quyến.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<i><b>9. Rác thải</b></i>


Người dân Ấn Độ đi thu gom rác thải.


Số lượng rác thải của một quốc gia đang có xu hướng gia tăng cùng tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế. Tuy nhiên, điều đó khơng có nghĩa là các quốc gia giàu có hơn sẽ ln giải quyết tốt vấn
đề rác thải của mình. Ví dụ, người dân Ấn Độ không ném rác thải đi mà bán chúng cho những
người chuyên thu mua. Cho đến nay, rất nhiều sản phẩm hiện đại vẫn không được tái sử dụng
và điều này dẫn đến tình trạng gia tăng số lượng các bãi rác khổng lồ. Một số trong đó được
kiểm soát bằng các luật lệ và tiêu chuẩn nghiêm ngặt, thế nhưng hầu hết chúng bị lãng quên.


<i><b>10. Tốc độ phát triển chậm chạp của năng lượng thay thế</b></i>


Năng lượng gió ngồi khơi là một nguồn năng lượng thay thế quan trọng.


Các nông trại chạy bằng năng lượng gió ở Đan Mạch đã đóng góp một phần cho nguồn năng
lượng của các nước châu Âu. Đan Mạch từng phải hứng chịu tổn thất về kinh tế bởi lệnh cấm
vận dầu mỏ năm 1973. Các dạng năng lượng thay thế trên thế giới có thể dựa trên năng lượng
mặt trời, khí hydro và năng lượng địa nhiệt. Tuy phải mất nhiều thời gian để các ngành công
nghiệp này “trưởng thành”, nhưng nếu đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và
hạn chế sự ấm nóng tồn cầu, thì thế giới hy vọng chứng kiến nhiều thay đổi tích cực.


<i><b>(theo FP)</b></i>


1.

<b>Trái đất nóng lên rất nhanh trong 10 năm tới </b>




</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Thế giới đang chứng kiến sự suy giảm tạm thời của nhiệt độ do mặt trời


bước vào giai đoạn yếu trong chu kỳ hoạt động của nó. Ảnh:

<i>abc.net.au</i>

.


Sau mùa hè nóng kỷ lục vào năm 1998, thế giới trải qua một giai đoạn mà


trong đó nhiệt độ giảm đáng kể. Thực tế đó được những người khơng tin


vào biến đổi khí hậu sử dụng để nói rằng khí nhà kính khơng làm nhiệt độ


tăng lên.



Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ


(NASA) cho thấy, nhiệt độ toàn cầu giảm do mặt trời đang bước vào giai


đoạn hoạt động yếu trong chu kỳ của nó. Trong giai đoạn này, trái đất


nhận được ít ánh sáng hơn so với trước kia. Ngoài ra, hiện tượng thời tiết


El Nino cũng khiến khí hậu trên Thái Bình Dương trở nên lạnh hơn.



Nhưng kể từ năm nay trở đi, hoạt động của mặt trời sẽ mạnh mẽ trở lại và


hiện tượng El Nino sẽ gây ra bão, nắng nóng ở khắp nơi. Đó là tun bố


của Viện nghiên cứu khơng gian Goddard (cơ quan trực thuộc NASA) và


Trung tâm nghiên cứu của hải quân Mỹ.



</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

về dài hạn thì đó là xu hướng khơng thể tránh khỏi trong bối cảnh các loại


khí thải khơng được cắt giảm. Jone cho rằng trong khoảng 10 năm sau


năm 2011, nhiệt độ trái đất sẽ tăng cao hơn năm 1998.



“Khả năng đó lên tới 50%. Nếu sau năm 2011 mà nhiệt độ giảm xuống


thấp hơn mức của năm 1998 thì đó là điều bất thường. Những tác động


của con người lớn đến nỗi chảng có hiện tượng tự nhiên nào, kể cả El


Nino, có thể ngăn cản xu hướng nóng lên của địa cầu”, ơng nói.



<b>Minh Long (theo </b>

<i>Telegraph</i>




/>


sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&sqi=2&ved=0CCYQFjAA&url=http%3A%2F
%2Fwww2.hcmuaf.edu.vn%2Fdata%2Fquoctuan%2FBien%2520doi%2520khi


%2520hau.pdf&ei=oMKQT7LGK4LYigfOveyPBA&usg=AFQjCNEp3T2MTtjGUkJr8EJ8NZ3FVA4t
_g&sig2=mWkMM_26jn2uH2eaBHJ94A


/>


sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&sqi=2&ved=0CCUQFjAA&url=http%3A%2F


%2Fwww.mcdvietnam.org%2FUploaded%2Fadmins%2F360%2520do%2FClimate%2520change
%2FTai%2520lieu%2FKich%2520ban%2520Bien%2520doi%2520khi


</div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×