Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn của jorge luis borges

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (837.2 KB, 79 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đề tài:

YẾU TỐ HUYỀN ẢO TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
JORGE LUIS BORGES
Người hướng dẫn:
Th.s Phạm Thị Thu Hương
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Thanh Minh

Đà Nẵng, tháng 5/2013
1


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhìn lại văn chương kì ảo thế kỉ XIX, có thể thấy các nhà văn như Hofmann,
Maupassant, E.Alen Poe…thường khơi dậy cảm hứng sáng tạo từ một “thế giới bên
kia”, thế giới khác với thực tại của con người. Đi cùng niềm cảm hứng đó, họ đã
sáng tạo ra nhiều tác phẩm xoay quanh những đề tài như ma quỉ, linh hồn và sự hiện
diện người không phải người, thú không hẳn thú, khiến tác phẩm đem đến cảm giác
hoang mang rùng rợn cho người đọc. Thế nhưng trong văn chương thế kỉ XX, tính
chất ma quỷ, thần linh đã được giảm thiểu đi. Thay vào đó văn chương đề cập đến
thế giới đa bội, thế giới trong đó cái thực - ảo lẫn lộn chồng chéo lên nhau. Tác
phẩm gợi cảm thức hoài nghi về bản thể con người, bối rối trước khúc biến tấu vô


tận của không – thời gian và sự lôi cuốn mơ hồ của ranh giới thực - ảo.
Jorge Luis Borges là một đại diện xuất sắc của nền văn chương huyền ảo Mỹ
Latinh. Ông đã sử dụng nghệ thuật tự sự như một thứ trị chơi của ngơn ngữ nhằm
khám phá và kiến tạo ra một hiện thực mới. Truyện ngắn của Borges được xem là
đỉnh cao của thể loại sáng tác huyền ảo. Đó là nơi thể nghiệm những ý tưởng và kỹ
thuật mới lạ, thể hiện tính mập mờ, đa nghĩa nhằm che giấu bí mật hiện sinh của
con người, tạo nên tính biện giải kép, nảy sinh những khả năng đọc khác nhau.
Thiếu vắng một logic hình thức và một kết luận rõ ràng, truyện ngắn kích thích
những tầm thẩm mỹ mới, những nhận thức mới về hiện thực, cùng với khả năng mở
ra những chiều kích hiện sinh là những thể nghiệm mới của nghệ thuật tự sự: cấu
trúc cốt truyện phân mảnh, người kể chuyện lướt qua một cách thản nhiên những
điều kì lạ, tình tiết lấp lửng mơ hồ, khơng – thời gian huyễn hoặc…Kết cấu khéo léo
vượt ra khỏi những ràng buộc cũ đã khiến truyện ngắn Borges trở thành một hành
tinh siêu hình mới đầy chất trí tuệ và tính nhân văn.
Bởi sức hấp dẫn lạ kỳ trong những sáng tạo độc đáo của J.L.Borges, chúng
tôi quyết định chọn đề tài Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn của Jorge Luis Borges
để nghiên cứu. Nếu thành công, đề tài hi vọng sẽ góp thêm một cách giải mã một

2


thế giới nghệ thuật đầy huyễn hoặc và ma mị của một bậc thầy văn chương nhân
loại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
J.L.Borges đã trở thành một trong những nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng
của thế kỷ XX. Tuy những sáng tác của ông vẫn chưa được đưa vào chương trình
giảng dạy các cấp, sự nghiệp cũng khơng có những ánh hào quang rực rỡ vây quanh
như một số tác giả cùng thời nhưng Borges vẫn được đánh giá là nhà thơ - nhà văn
tài năng, là người có công lớn trong việc mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Mỹ Latinh. Tên tuổi và tài năng của ông đã, đang và sẽ thu hút được sự quan tâm

của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học khơng chỉ ở riêng Châu
Mỹ Latinh mà cịn ở nhiều nước khác trên thế giới.
J.L.Borges đến với Việt Nam chưa được bao lâu nhưng đã luôn nhận được sự
quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu, phê bình, lý luận văn học nổi tiếng.
Chúng tơi xin điểm qua một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu về Jorge Luis
Borges và truyện ngắn của ông:
Đầu tiên phải kể đến dịch giả Nguyễn Trung Đức trong cơng trình Tuyển tập
Jorge Luis Borges, Nxb Đà Nẵng, (2001), đã có cơng tuyển chọn và dịch tất cả các
tác phẩm của Borges, đồng thời giới thiệu những nét nổi bật trong cuộc đời và sự
nghiệp của nhà văn độc đáo này. Dịch giả đánh giá: “Jorge Luis Borges vốn là
người có kiến văn sâu rộng, một kiến văn thông kim bát cổ, một kiến văn ôm trùm
từ Tây sang Đông. Đồng thời là người được trời phú cho trí tưởng tượng tuyệt vời.
Jorge Luis Borges đã để lại một cơng trình văn học căn bản trong đó ơng chỉ chơi
hai khái niệm then chốt: Thời gian và khơng gian, sự hịa trộn giữa thời – không
gian thực với thời – không gian ảo, tạo nên một thực thể văn học phong phú, đa
dạng có sức hấp dẫn và do đó nó là hình bóng chân thực của cuộc sống thực tế Mỹ
Latinh…J.L.Borges người mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được cả loài
người hâm mộ” [11; tr.9]. Chủ đề trong các tác phẩm của J.L.Borges thường xoay
quanh những hình ảnh kì ảo như gương soi, mê cung, tịa lâu đài với nhiều bậc
thang… “Ơng ví thực tại là một mê cung lộ, thời gian và sự vĩnh hằng, trò chơi

3


những chiếc gương – đã trở thành tài sản văn học thế giới và uy tín lớn của ơng đã
giúp nhiều cho việc cả thế giới thừa nhận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh”
[11; tr.12].
Tác giả Lê Huy Bắc trong cuốn Truyện ngắn Châu Mỹ, Nxb văn học (2000),
cũng đánh giá J.L. Borges là một nhà văn tiên phong cho chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo: “Nếu whashington Irving, Poe, Ambrose Bierce… là những bậc thầy về truyện

ngắn kinh dị thì Marquez, J.L.Borges… lại là những cây bút mang phong cách của
khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực kì ảo” [3; tr.3].
Cũng là tác giả Lê Huy Bắc trong bài viết Jorge Luis Borges: Bậc thầy hiện
thực huyền ảo Mỹ Latinh đăng trên tạp chí Văn học nước ngồi, số 131 – 2009, đã
khẳng định một lần nữa đóng góp to lớn của Borges cho nền văn học thế giới: “Nhà
thơ, nhà lý luận phê bình, người sáng tác truyện ngắn vĩ đại người Argentina Jorge
Luis Borges (1899-1986) là một trong những nhà văn gây ảnh hưởng bậc nhất thế
kỷ XX. Tác phẩm của ông được viết với một nguồn cảm hứng vơ tận kết hợp với
một trí tuệ un thâm và một cái nhìn xuyên thấu vào chiều sâu của tồn tại, của
nhân tính, (… ) con người đã mang lại cho độc giả thời hiện đại một cảm xúc khó
tả, một cách cắt nghĩa thế giới dị biệt, một phức cảm mênh mang theo thời gian”[7;
tr.48].
Còn khi đánh giá về J.L.Borges trong chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez, (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009), Lê Huy
Bắc tiếp tục gọi J.L.Borges là “một trong những nhà văn gây ảnh hưởng bậc nhất
thế kỉ XX”. Bài biết về Borges còn đề cập đến những vấn đề cơ bản, cốt lõi trong
các truyện ngắn của Borges, chẳng hạn như chủ đề mê lộ. Nghệ thuật kể chuyện của
Borges được phát triển trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với bốn thủ pháp cơ bản
và “nhiều hình ảnh biểu tượng mà Borges ưa thích của ơng như mê lộ, gương soi,
cấu trúc cân xứng, trạng thái số nhiều và bội phồn, tính tuần hồn của hiện
thực,…đã góp phần hữu hiệu trong việc lột tả tính phi thực trong mọi cấu trúc nhân
sinh” [6; tr.54]. Thế giới nghệ thuật của Borges là thế giới mà ở đó nhà văn viết về
“nỗi cô đơn, thống khổ. Nỗi thống khổ có nguyên nhân từ việc số phận bi đát của

4


con người không thể làm cho nguôi ngoai bởi nỗi ám ảnh về sự chuyển dịch thời
gian không ngừng, bởi việc không thể nào hủy bỏ được ý niệm cá nhân về bản thể
”[6; tr.55].

Bài viết Cuộc phưu lưu qua những lằn ranh của yếu tố kì ảo của Nguyễn
Thành Trung đăng trên website: www.hcmup.edu.vn thì quan tâm đến vấn đề yếu tố
kì ảo đã vượt thốt ra khỏi những ranh giới quốc gia và xâm lấn vào các nền văn
hóa như thế nào. Để làm rõ vấn đề này, tác giả đã khảo sát motip giấc mơ trong
truyện ngắn của Borges và Nhật Chiêu để thấy được sự xâm lấn yếu tố kì ảo từ
mảnh đất châu Mĩ Latinh vào Việt Nam.
Bài viết Thực và phi thực trong truyện ngắn Công viên những lối đi rẽ hai
ngã của Jorges Luis Borges và cuộc nổi loạn của người da đỏ của Donald
Barthelme

của

Đào

Ngọc

Chương

đăng

trên

website:

http://

www.Vănhoanghean.com.vn thì đề cập khá chi tiết đến ranh giới mong manh giữa
thực và phi thực trong hai truyện ngắn của hai tác giả nổi tiếng khu vực Châu Mỹ,
trong cái nhìn đối sánh. Ranh giới đó được xây dựng trên nền tảng độ lệch giữa sự
thật lịch sử với những gì được nhân vật người kể chuyện kể lại: “sự thật lịch sử

khúc xạ này hàm chứa trong nó cái nhìn về biên giới giữa thực với phi thực trong
cảm thức thế giới về thế giới”[28]. Đồng thời, các sự kiện, chi tiết xảy ra ngẫu
nhiên, tình cờ, đứt gãy như giấc mơ cũng là yếu tố khiến biên giới giữa thực và phi
thực càng trở nên mỏng manh hơn.
Cuối cùng phải kể đến luận văn Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn Mỹ
Latinh khảo sát qua hai tác giả J.L.Borges và G.Marquez” của Lê Ngọc Phương
đăng trên website: . Đây là một cơng trình
nghiên cứu về đặc trưng và biểu hiện các yếu tố huyền ảo trong trong truyện ngắn
Mỹ Latinh. Khảo sát sự thể hiện yếu tố huyền ảo trên diện rộng là truyện ngắn của
hai tác giả J.L.Borges và G.Marquez nên luận văn chỉ mới có cái nhìn bao qt và
đối sánh chứ chưa đi sâu phân tích rõ biểu hiện cụ thể của yếu tố huyền ảo trong
truyện ngắn của riêng Borges. Điều này, chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ trong đề tài của
mình ở những chỗ mà luận văn trên chưa đề cập đến.

5


Nhìn chung, các cơng trình nói trên đã đề cập và phân tích những nét chính
về tác giả Jorge Luis Borges như cuộc đời, sự nghiệp, truyện ngắn và đặc điểm
truyện ngắn Borges. Song chúng tôi nhận thấy vẫn chưa có cơng trình nào thật sự
nghiên cứu sâu về yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn của Borges. Đây vẫn còn là
“miền đất hứa” cho những ai muốn đào sâu khám phá. Chính vì lẽ đó, chúng tơi
quyết định chọn nghiên cứu đề tài: Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn Jorge Luis
Borges.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những biểu hiện của Yếu tố huyền
ảo trong tập truyện ngắn của Jorge Luis Borges trên các phương diện cảm hứng,
biểu tượng, nhân vật, nghệ thuật trần thuật.
Phạm vi nghiên cứu: Văn bản mà chúng tôi sử dụng là Tuyển tập Jorge Luis
Borges (2001), gồm 35 truyện, Nhà xuất bản Đà Nẵng do Nguyễn Trung Đức tuyển

và dịch.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tơi đã sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: đây là phương pháp chủ yếu, được sử
dụng để tìm hiểu, phân tích những đặc điểm trong truyện ngắn của Jorge Luis
Borges, từ đó tìm ra những biểu hiện yếu tố huyền ảo, cuối cùng tổng hợp kết quả
của những phân tích này để rút ra kết luận.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: bởi vì bản thân phong cách nghệ thuật
cũng là một hệ thống có cấu trúc, các yếu tố trong nó phải được xác định trong mối
liên hệ, tương quan của chúng trong hệ thống - cấu trúc nhất định. Cho nên, khi
phân tích chúng tơi ln đặt yếu tố huyền ảo trong hệ thống chỉnh thể truyện ngắn
J.L.Borges.
- Phương pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm văn học: vận dụng kiến thức
tổng hợp từ cuộc đời tác giả, quá trình sáng tác, những chuyện đời tư, quan niệm

6


nghệ thuật…của nhà văn đề đánh giá chính xác vai trò của yếu tố huyền ảo đối với
truyện ngắn J.L.Borges.
5. Cấu trúc của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận của chúng tơi
bao gồm ba chương:
Chương 1: Jorge Luis Borges và văn học huyền ảo Mỹ Latinh
Chương 2: Màu sắc huyền ảo trong truyện ngắn của Jorge Luis Borges
Chương 3: Yếu tố huyền ảo trong truyê ̣n ngắ n Jorge Luis Borges - Nhìn từ
phương diện nghệ thuật

7



NỘI DUNG
Chương 1: Jorge Luis Borges và văn học huyền ảo Mỹ Latinh
1.1. Yếu tố huyền ảo trong sáng tác văn học
1.1.1. Về khái niệm cái huyền ảo
Văn học mang yếu tố siêu nhiên, phi thực vốn xuất hiện từ lâu trong lịch sử
với các thể loại dân gian như thần thoại, cổ tích… Thế kỉ XIX được xem như là thời
kì hồng kim của văn học kì ảo với những tên tuổi như E.A.Poe, Maupassant,
Hoffmann, Banlzac… Văn học hiện thực huyền ảo thế kỉ XX thực chất là sự kế thừa
và rẽ nhánh từ dòng văn học hư cấu nói trên. Nhằm nhấn mạnh đặc trưng của chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo trong q trình xử lí và sáng tạo nghệ thuật của Borges,
trong khóa luận, chúng tơi sử dụng thuật ngữ “cái huyền ảo” (magic) để gọi tên các
yếu tố hoang đường, kì lạ trong truyện ngắn của ông, thay vì “cái kì ảo” (fantasy)
khá phổ biến trước đây.
Xuất hiện lâu dài trong lịch sử, văn chương có yếu tố hoang đường, kì ảo là
cuộc nối kết giữa mộng và thực. Loại văn chương này hòa giải những giấc mơ
khơng tưởng với hiện thực đời sống. Đó cũng là cuộc hịa giải những ý tưởng duy lí
với hình tượng lung linh của nghệ thuật. Qua đó, nhà văn muốn tìm kiếm ngơn ngữ
của mộng tưởng để xây dựng thế giới tâm linh. Đến với văn chương có yếu tố
hoang đường, kì ảo, người ta phải nắm trong tay hai khái niệm: thực tại và hư ảo.
Nhưng cả hai đều không đứng yên mà tan chảy và trộn lẫn vào nhau.
Liên quan đến thuật ngữ để chỉ mảng văn học này, thế giới thường dùng
những cụm từ như “myth”(cái thần thoại), “supernature”(cái siêu nhiên), “unnature”
(cái phi thường), “fantasy” (cái kì ảo), “magic” (cái ma thuật / huyền ảo). Ở nước ta,
các nhà nghiên cứu còn sử dụng những khái niệm như thần kì, huyễn tưởng, huyễn
ảo. Sở dĩ có sự phân chia đó là để tránh sự rối rắm của thuật ngữ, nhưng vẫn gọi
chung là văn học kì ảo (PGS.TS Lê Huy Bắc gọi chung là văn học huyễn ảo).
Nhìn chung, các thuật ngữ này đều có sự giao thoa về hàm nghĩa nội tại.
Chúng được dùng để chỉ cái khơng tồn tại, khơng có thực. Dẫu vậy, giữa chúng vẫn

có sự khác biệt đáng kể. Cái thần thoại (myth) được hiểu là những yếu tố siêu nhiên

8


hoang đường trong truyện thần thoại, thể hiện cảm quan trước thiên nhiên thời
nguyên thủy. Trong khi đó thuật ngữ “kì ảo” được dịch trực tiếp từ danh từ
“fantasy”, tính từ “fantastic” nhằm chỉ sự tưởng tượng kì lạ, kì quái và những điều
chỉ xuất hiện trong tâm trí. Theo Lê Nguyên Long, về mặt từ nguyên học, chữ
“fantastic” xuất hiện trong tiếng Anh trung cổ thế kỉ XIV, thế nhưng nó chỉ được sử
dụng như một thuật ngữ văn học từ những năm 20 của thế kỉ XIX khi một dịch giả
dịch tập truyện của nhà văn Đức nổi tiếng Hoffmann sang tiếng pháp với tiêu đề
Những truyện kể kì ảo. Từ đó thuật ngữ “kì ảo” được các nhà nghiên cứu sử dụng
khi phân tích những hiện tượng độc đáo của thế kỉ XIX như E.A.Poe, Maupassant,
Balzac…
Ngoài cái kì ảo (fantasy), thuật ngữ cái huyền ảo (magic) cũng là thuật ngữ
sử dụng thường xuyên trong văn học hiện đại. “Magic” cịn được dịch là ma thuật,
thần kì, thần diệu. Trong văn học thế kỉ XX thuật ngữ “magic” gắn liền với cụm từ
“magic realism” trong tiếng Anh nhằm chỉ một trào lưu, một phương thức sáng tác
khởi phát từ châu Mỹ Latinh. Từ “magic” trong cụm từ này nhằm thể hiện khuynh
hướng tìm về tính chất kì diệu nguyên thủy. Mỹ Latinh vốn là mảnh đất của những
nền văn hóa u thích những vấn đề tâm linh như bói tốn, giấc mơ, lời tiên tri…
Đặc trưng bản địa này được chuyển tải vào trong sáng tác được tạo nên một trào lưu
mới trong văn học thế giới gọi tên là “magic realism”.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “magic realism” được dịch theo nhiều cách khác
nhau. Năm 1968, Lê Huy Oanh dịch là “chủ nghĩa hiện thực thần kì” trong bài viết
Nhà văn Miguel Angel Asturias, đăng trên tạp chí Văn học số 109. Năm 1974, ở
miền Bắc, Nguyễn Trung Nam là người đầu tiên dịch thuật ngữ “magic realism”
thành chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong một bài viết đăng trên tạp chí Văn học với
tựa đề: Một khuynh hướng tiến bộ trong tiểu thuyết hiện thực tiến bộ ngày nay ở Mỹ

Latinh: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo [16; tr.35]. Từ đó, tình hình nghiên cứu văn
học khu vực này trở nên rộn ràng và thuật ngữ này phổ biến hơn.
Nhận thấy việc thống nhất cách dịch tên chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
(magic reslism) ở trên, khi nghiên cứu truyện ngắn của Borges – bậc thầy của chủ

9


nghĩa hiện thực huyền ảo, chúng tôi đã lựa chọn thuật ngữ “yếu tố huyền ảo”
(magic) trong mối tương quan với “yếu tố hiện thực” (reality) thể hiện rõ trong trào
lưu sáng tác hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh.
Một lí do khác để lựa chọn thuật ngữ “yếu tố huyền ảo” chứ khơng phải “yếu
tố kì ảo” là do chúng tơi đồng tình với quan niệm của PGS.TS Lê Huy Bắc khi ông
phân chia văn học huyễn ảo (khái niệm văn học huyễn ảo được Lê Huy Bắc sử dụng
để gọi tên chung tất cả các thể loại văn học có yếu tố siêu nhiên, kì lạ, hoang
đường) thành ba giai đoạn:
Giai đoạn một: cái huyễn tưởng (Myth) - Thời cổ - trung đại. Thời này người
ta xem những yếu tố siêu nhiên, kì quái, hoang đường,…như những cái tất nhiên.
Họ khơng hề hồi nghi về tính xác thực của nó mà sẵn sàng chấp nhận xem đấy như
là một hiện thực tất yếu của đời sống. Họ tin vào những câu chuyện mà họ tưởng
tượng ra. Việc ông tiên, ông bụt xuất hiện để giúp đỡ một ai đó là điều bình thường,
chẳng có gì đáng sợ hãi hay nghi ngờ gì cả.
Giai đoạn hai: cái kì ảo (fantastic) - Thời cận – hiện đại. Đây là lúc tư duy lí
trí thắng thế trí tưởng tượng, con người lúc này khơng cịn tin tưởng vào những
chuyện ma quỷ thần thánh nữa. Những sáng tác văn học lúc này luôn cố thuyết phục
người đọc rằng câu chuyện mình kể là có thật và cái kì ảo ln tồn tại với mục đích
gây nỗi hoang mang, sợ hãi cho người đọc.
Giai đoạn thứ ba: cái huyền ảo (Magic) - Thời hiện đại – hậu hiện đại. Đây là
giai đoạn nhân loại hoài nghi cả sự tồn tại của Chúa lẫn thánh thần, ma quỷ…Cái
huyền ảo xuất hiện ở giai đoạn này ln mang tính đối thoại (mà bản chất là bộc lộ

sự bất tin). Người ta thường nhắc đến yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Kafka,
Garcia Marquez… - những nhà văn thuộc khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo (magic realism). Về hình thức cái huyền ảo trong thời hiện đại – hậu hiện đại
được các nhà văn này sử dụng theo kiểu gần như cái huyễn tưởng ở thời cổ đại. Có
nghĩa họ điềm nhiên đặt nhân vật, sự kiện hoang đường nào đó trong tác phẩm của
mình mà khơng cần phải giải thích, chứng mình rằng đó là có thực. Cái huyền ảo vì

10


thế trở thành sự giải thiêng huyễn ảo, tương ứng với quan niệm về cái chết của
Chúa lẫn lí trí của thời kì này.
Cách phân chia thành nhiều thuật ngữ “huyễn ảo”, “huyễn tưởng”, “kì ảo”,
huyền ảo” có vẻ rối rắm. Nhưng cũng như PGS.TS Lê Huy Bắc, chúng tôi cho rằng
cái huyền ảo trong văn học thế kỉ XX không giống như trước đây. Phương thức
sáng tạo phức tạp hơn, cảm giác khơi gợi nhiều chiều hơn. Đặc biệt đối với văn học
Mỹ Latinh yếu tố huyền ảo còn được sáng tác dựa trên những chuyển biến mới của
bối cảnh thế kỉ XX và bối cảnh riêng của châu lục.
Có thể thấy văn học huyền ảo thời hiện đại và hậu hiện đại đã kế thừa và đổi
mới văn học kì ảo thời kì trước trên một số phương diện. Nếu lấy trung tâm của sự
so sánh đối chiếu là mức độ chênh lệch khoảng cách so với thực tại thì có thể kì ảo
gần với thực tại hơn huyền ảo. Cái kì ảo ở giai đoạn văn học kì ảo mang tính chất
của ma quỷ, siêu nhiên, thần bí…khơng phải là ta. Cịn cái huyền ảo trong giai đoạn
văn học huyền ảo cũng nói đến ma quỷ, thần bí,…nhưng mơ hồ, huyền ảo, vừa là ta
vừa khơng phải là ta.
1.1.2. Vai trò của yếu tố huyền ảo trong văn học
Có thể nói trí tưởng tượng là chất men đem lại hiệu quả cho những sáng tác
văn học. Nó cũng được xem như một biện pháp nghệ thuật thể hiện sức sáng tạo dồi
dào của người nghệ sĩ trong việc tiếp cận và chiếm lĩnh hiện thực. Bằng cách “dùng
một hình thức khơng có thực để phản ánh cái có thực”, nhà văn đã tạo nên một thế

giới hồn toàn mới mẻ, sinh động và khác lạ. Thế giới ấy đã lơi cuốn trí tưởng
tượng của con người vơ cùng mạnh mẽ, thu hút niềm say mê và trải nghiệm cuộc
sống của con người. Như vậy, một khi nghệ thuật hư cấu được thừa nhận như một
nguyên lí tất yếu của sáng tác thì khơng thể khơng nói tới sản phẩm của tư duy hết
sức độc đáo của nó đó chính là yếu tố huyền ảo. Chính yếu tố huyền ảo này tạo nên
sức hấp dẫn độc đáo cho tác phẩm và có khả năng làm nên diện mạo tinh thần và vẻ
đẹp riêng cho tác phẩm.
Yếu tố huyền ảo còn là một phạm trù của tư duy nghệ thuật và sản phẩm của
trí tưởng tượng. Nó tồn tại trên trục thực – hư và được tạo ra bởi sự kết hợp chuyển

11


giao giữa cái bình thường và cái siêu nhiên, giữa cái logic và phi logic. Huyền ảo
mang tính chất mơ hồ, được thể hiện dưới hình thức siêu nhiên, hư ảo, khác lạ, phi
thường và độc đáo…và có khả năng gây ra một hiệu ứng thẩm mĩ trong lòng người
đọc. Ngồi ra, khơng chỉ là tấm gương phản chiếu thế giới và con người, nó cịn là
phương tiện để nhà văn khám phá hiện thực và thể hiện tư tưởng thẩm mĩ, gửi gắm
những ngụ ý sâu xa trong thế giới thực tại, vừa là công cụ để thể hiện tư tưởng nhà
văn.
Trước đây, người dân nguyên thủy nhìn thấy trời đất mn vật biến hóa khác
thường mà mọi hiện tượng đó vượt ra ngồi sự hiểu biết của con người nên họ tự
tạo ra nhiều thuyết để giải thích. Họ xem những yếu tố siêu nhiên kì quái, hoang
đường,…như những cái tất nhiên và khơng hề hồi nghi về tính xác thực của nó mà
sẵn sàng chấp nhận xem đấy như là một hiện thực tất yếu của cuộc sống. Cái huyễn
tưởng vì thế tồn tại như một tất yếu trong các thể loại truyện cổ tích, truyện thần
thoại…của các dân tộc. “Đó là tồn bộ những truyện hoang đường, tưởng tượng về
các vị thần hoặc những con người những lồi vật mang tính chất thần kì siêu nhiên
do người nguyên thủy sáng tạo ra để phản ánh và lí giải các hiện tượng trong thế
giới tự nhiên và xã hội theo quan điểm vạn vật có linh hồn (hay thế giới thần linh)”

(6; tr.299). Thần thoại là sản phẩm của trí tưởng tượng và các yếu tố hoang đường,
kì ảo đã tạo thành sự tích hợp trọn vẹn và nổi bật, để từ đó dựng lên thế giới thần
thoại rộng lớn, lung linh màu sắc mở ra một lối đi vào bản chất bên trong sự vật,
hiện tượng một cách độc đáo.
Đến thế kỷ XIX, nhận thức con người đã cao hơn họ bắt đầu biết lí giải các
hiện tượng tự nhiên có tính khoa học hơn. Họ khơng cịn tin vào những chuyện ma
quỷ thần thánh nữa nhưng trong các câu chuyện của họ luôn đề cập, ẩn chứa những
câu chuyện hoang đường gây ra nỗi hoang mang sợ hãi cho người đọc. Điển hình
cho giai đoạn này là các nhà văn thuộc khuynh hướng kì ảo như E.Alen.Poe,
Banzac, Maupassant…Họ thể hiện cái kì ảo (fantastic) dưới hình thức thần linh, ma
quỉ, khác lạ phi thường, siêu nhiên tồn tại trong thực tế nghệ thuật đặc thù. Cái kì ảo
tạo ra sự đứt gãy tạo nên sự do dự, phân vân trong lịng đọc giả. “Nó là quãng lặng,

12


là sự ngắt mạch (suspension), là sự xâm nhập của cái siêu nhiên trong cuộc sống đời
thường, là sự xâm lấn của yếu tố phi logic trong thế giới logic. Từ đó nó trở thành
một lăng kinh thẩm xét con người và cuộc đời, trở thành một phương tiện nghệ
thuật được sử dụng rộng rãi” [23]. “Cái kì ảo” như một thủ pháp nghệ thuật độc đáo
có chức năng “lạ hóa” làm nảy sinh thái độ tiếp nhận, lưu giữ ấn tượng và cuốn hút
độc giả.
Văn học huyền ảo thế kỷ XX đã có sự kế thừa và đổi mới văn học kì ảo thời
kì trước. Các nhà văn vẫn tiếp tục thể hiện các sự việc, hiện tượng bí ẩn, một sự tồn
tại khơng giải thích được. Todorov trong cơng trình Dẫn luận về văn chương kì ảo
đã phát hiện ra các tác phẩm kì ảo được sáng tác dựa trên cơng thức “sự bí ẩn” +
“cái có thực” tạo cảm giác mơ hồ, lưỡng lự nơi người đọc. Đồng thời Todorov cũng
chỉ ra một biểu hiện mới của văn học kì ảo. Đó là trường hợp của F.Kafka với
truyện vừa Hóa thân. Nhân vật chính Grego Sama Từ một thanh niên làm nhân viên
tiếp thị của một hàng vải biến thành một con côn trùng vỏ cứng với nhiều cái chân

bé xíu tua tủa mọc ra hai bên mình. Nhân vật của Kafka đã trở thành cái huyền ảo
(magic). “Thế giới trong tác phẩm của Kafka tuân theo một logic mộng mị nếu
khơng là ác mộng thì chẳng liên quan đến hiện thực nữa…Những tác phẩm của
Kafka thuộc về cái thần diệu và cái lạ lùng đồng thời, chúng là sự trùng hợp của hai
thể loại bề ngoài bất tương dung”[9; tr.206]. Sự pha trộn giữa cái kì ảo với cái lạ cái
thần kì đã chứng tỏ văn chương thế kỷ XX đã có những bước tiến xa hơn trong tư
duy và thủ pháp nghệ thuật. Sự sáng tạo mới đó của Kafka được Marquez kế thừa
hiệu quả trong việc sáng tạo ra những hình tượng lãng mạn và thần diệu. Bản thân
nhân vật trở thành cái ảo. Cụ già có đơi cánh khổng lồ, Trăm năm cơ đơn…là những
trường hợp nhân vật khó xác định: người hay ma quỉ, người hay thần thánh?
Như thế, cái huyền ảo trong văn học huyền ảo đã phát huy rõ vai trò trong
cách tân nghệ thuật, tạo một bước đột phá mới trong tư duy sáng tác văn học. Cái
huyền ảo của thế kỷ XX lận vào trong thể hiện qua nhiều thủ pháp mới lạ: lối kể
chuyện mập mờ nước đôi, đưa người đọc từ thế giới thực tại dần dần bước sang thế
giới phi thực. Không thời gian gây cảm giác không rõ ràng giữa thực và ảo tưởng.

13


Việc phớt lờ các quy luật logic khiến cái bí ẩn chập chờn không thể phân định.
Ngôn ngữ theo xu hướng trừu tượng hóa, biểu tượng hóa, giải phóng cảm giác riêng
tư và vô thức con người. Cái huyền ảo lúc này khơng cịn là nỗi lo âu do xã hội tạo
ra mà xuất phát từ chính bản thể của con người từ sự hữu hạn của vũ trụ. Vì thế, các
tác phẩm thường kén độc giả bởi những giá trị thẩm mĩ được lồng trong chất triết
học, trong sự nghiệm sinh siêu hình từ đó thách thức tầm nhận thức của độc giả.
Đồng thời thách thức chính cả người viết những nhà văn lớn của thế kỷ XX như
Kafka, Kawabata, Italo Calvino, Murakami, Marquez…đều thử sức với mảnh đất kì
bí, huyễn hoặc này.
1.1.3. Văn học Mỹ Latinh – mơi trường phát triển của chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo

Đầu thế kỷ XX, trên tồn thế giới nói chung và ở Tân lục địa Mỹ Latinh nói
riêng, diễn ra những cuộc đấu tranh khủng khiếp của lồi người. Cuộc cách mạng
Mêxicơ (1910 – 1917) đã dẫn đến những thay đổi về tầm nhận thức về thực tại xã
hội. Dường như con người khơng cịn tin vào “bảng giá trị cũ”, thậm chí cả những
định chế tơn giáo, xã hội. Chiến tranh phần nào ảnh hưởng đến trật tự cuộc sống,
thay đổi tư tưởng và thúc đẩy sự chuyển biến ở tất cả các lĩnh vực, các mối quan hệ
ở vùng đất Mỹ Latinh, biến châu Mỹ Latinh thành vùng đất có môi trường phát triển
tuyệt vời cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Hòa chung dòng chảy mãnh liệt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
chống lại chế độ độc tài, rồi cách mạng dân chủ, cách mạng xã hội chủ nghĩa thì
cuộc cách mạng văn học nghệ thuật cũng bắt đầu có những bước chuyển mình. Các
nhà văn khơng cịn bằng lòng với những quy tắc sáng tác truyền thống nữa, mà họ
đi tìm những hình thức mới mẻ nhằm biểu đạt cho được những cảm thức, nhãn quan
của thời đại mới. Đáp ứng với yêu cầu của thời đại, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ra
đời, ngay lập tức đặt mình vào vị trí quan trọng nhất của văn học thế giới lúc bấy
giờ. Sự thay đổi về chất trong văn học đã đạt được những thành tựu đáng kể về đề
tài, phương pháp, kĩ thuật, phong cách. Các tác phẩm “đi vào nền văn học hiện đại
như một cơn bão”, nó đem lại vẻ tươi mới, sức sống mãnh liệt” và “sự giàu có

14


không lặp lại”, đánh dấu nền văn học Mỹ Latinh đã trở thành dòng chủ lưu của văn
học Tây bán cầu.
Bên cạnh đó, đầu thế kỉ XX, Mỹ Latinh cịn đối mặt với những mặt trái của
hiện thực. Gần bốn thế kỉ bị phụ thuộc Mỹ Latinh rơi vào sự cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, kinh tế và sự bất ổn về chính trị. Sự áp bức ngày càng khốc liệt của
mẫu quốc đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa dân tộc. Từ giữa thế kỉ XIX các quốc gia
Mỹ Latinh lần lượt được giải phóng khỏi ách thống trị thực dân. Trở thành một
quốc gia độc lập nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn còn đọng lại. Mỹ Latinh đối

mặt với các chính sách ngoại giao hà khắc của Bắc Mỹ và đế quốc châu Âu. Nghèo
khó và bạo loạn khiến khu vực này trở thành một trong những “điểm nóng” của
tồn cầu về tỉ lệ nợ, dân số, tệ nạn. Đến thế kỷ XX, lục địa này còn diễn ra những
cuộc chiến và cuộc đảo chính quân sự. Những toan tính cải cách, những chính sách
diệt chủng các nhóm sắc tộc đe dọa cuộc sống thường nhật. Chính sự phức tạp về
đời sống, kinh tế, quân sự đã làm cho q trình hiện đại hóa khu vực này diễn ra
chậm chạp. Hiện thực Mỹ Latinh cần sự thông cảm thấu hiểu và văn học là nơi phản
ánh kinh nghiệm của một châu lục thuộc thế giới thứ ba, phản ứng lại sự áp đặt từ
bên ngoài. Văn học huyền ảo Mỹ Latinh chính là sự phản ánh nỗi bất an bản thể của
thời đại, đồng thời nỗi lo ngại của hiện thực chậm tiến. Thực tại cuộc sống đi vào
sáng tác dưới những lớp nghĩa khác nhau. Các tác phẩm như Cụ già có đơi cánh
khổng lồ, Trăm năm cô đơn của Marquez hay Thầy thuốc nông thôn, Hóa thân của
Kafka…một sự chồng chéo nhiều mặt đối lập giữa đô thị và nông thôn, ngoại lai và
bản địa, phương Tây và châu Mỹ Latinh. Văn chương còn là nơi thể hiện cảm thức
chung của những con người, những quốc gia có cùng số phận.
Ngồi ra, điều kiện để chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phát triển ở Tân Lục địa
còn là bởi chế độ độc tài rất phổ biến ở châu Mỹ Latinh trong thế kỉ XX. Trong tình
trạng khơng có tự do ngơn luận làm cho nhà văn không không thể không sử dụng
thủ pháp vừa hiện thực vừa kì ảo để thuận tiện nói về hiện thực: “là cái gì nhưng
khơng phải là cái gì, dường như tồn tại mà không tồn tại, là sự thật nhưng cũng
hoang tưởng”.

15


Mỹ Latinh là một mơ hình được nhân ra từ bán đảo, bản sắc riêng của châu
lục là một câu hỏi lớn khiến các nhà văn như những kẻ lữ hành ngối tìm những
bước chân xưa cũ. Bàn về bản sắc châu lục và mối quan hệ của nó với sự phát triển
của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chính nhà văn xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo, Gabriel Garcia Marquez đã từng nói: “Ở châu Mỹ Latinh, những tình

huống thần diệu là một bộ phận của đời sống ngày nay …Tơi tự coi mình là nhà văn
hiện thực, có thế thơi”. Quả thực, văn học huyền ảo trở thành cuộc chơi giúp Mỹ
Latinh trở về với quá khứ huy hồng đã bị hủy diệt, khơi phục lại q khứ và khơi
phục lại lịng tự trọng và sự tự tin. Hơn nữa chính trong sự đói khổ và bất mãn, con
người có xu hướng ẩn vào thế giới tưởng tượng để tìm kiếm sự an ủi. Tưởng tượng
để mơ mộng ra quá khứ, lưu giữ những hoài niệm. Tưởng tượng để tạo ra một thực
tại chống lại thực tại. Aztec, Inca, Maya vốn là những bộ tộc có khả năng trực cảm
và tâm linh rất mạnh. Huyền thoại của con người bước ra từ cây ngô xuất hiện tại
đây. Những lời tiên tri những điệu múa gọi hồn…cũng có mặt tại đây. Châu Mỹ
Latinh đã có nền văn hóa cổ Indian vơ cùng phong phú và phức tạp với hơn một
ngàn ngôn ngữ khác nhau và những bộ tộc phát triển nhất đã có chữ viết đồ họa
hoặc “buộc giây”. Nơi đây chứa đựng những kho tàng đồ sộ, những huyền thoại
sáng chế, những truyền thuyết dân gian, vở kịch ca tụng anh hùng, những phong tục
tạp quán độc đáo có một khơng hai…vẫn lưu truyền trong đời sống hiện đại, tạo ra
nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các nhà văn hiện thực huyền ảo. Các nhà văn cũng
trí tưởng tượng phong phú, nhiệt huyết mang ước vọng dùng ngơn từ thay đổi cái
nhìn về sự thật, về cuộc đời.
Từ tất cả những nguyên do trên, Mỹ Latinh trở thành môi trường tuyệt vời
cho sự ra đời và phát triển của trào lưu văn học hiện thực huyền ảo thế kỉ XX. Nó
xuất hiện từ những năm 1930 và thật sự bùng nổ vào những năm 1960. Đến những
năm 1980, khái niệm chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đã trở thành nhãn hiệu vững
chắc cho một hình thức văn xuôi hư cấu, nổi bật với các nhà văn tiên phong như
J.L.Borges, M.A.Asturias, A.Carpentier, Juan Rulffo…Với bút pháp biến hóa kì
diệu, những tác giả này đã làm nên cuộc cách mạng văn chương ở châu lục này. Từ

16


sự mở đầu thành công của thế hệ tiên phong là một loạt nhà văn tiếp tục khai thác
miền văn chương huyền ảo như Gabriel Garcia Marquez, Carlos Fuentes, Manuel

Puig…
Tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có khả năng gây sốc cho độc giả
bởi những câu chuyện mang bản chất quái lạ, tạo sự hoài nghi về truyền thống văn
hóa duy lí của phương Tây. Đồng thời chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thách thức
thuyết châu Âu trung tâm bằng cách biểu lộ kinh nghiệm của thế giới thứ ba và
khắc họa truyền thống văn hóa bản địa. Nó như một phương tiện nghệ thuật nhằm
biểu đạt nội dung hiện thực một cách sâu sắc. Nó rất trừu tượng, kì dị, huyền
ảo…tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc biệt như một lực hấp cuốn hút trí tưởng
tượng của độc giả, làm cho độc giả có cảm giác như lạc vào một mê cung đầy huyền
diệu và bí ẩn. Nhưng khi trở về thực tại, nó sẽ được nhận thức và thẩm định hiện
thực sâu sắc hơn. Hai nhà nghiên cứu về văn học Mỹ Latinh John Peck và Martin
Coyle nhấn mạnh truyền thống tư duy và thói quen của người dân Mỹ Latinh luôn
xem cái hoang đường như cái thường nhật của cư dân bản địa.
Quả thực, văn học Mỹ Latinh đã gặt hái được nhiều thành công với sự ra đời
của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Các nhà văn mang trong mình khát vọng khám
phá hiện thực, đặc biệt là J.L.Borges, nhà văn kiệt xuất người Argentia đã sử dụng
những yếu tố huyền ảo nhằm mở ra những bình diện mới trong bản năng và tâm
linh con người. Ông đã mở ra cho người đọc một “hiện thực trùng phức” ở đất nước
mình. Hiện thực vừa cổ xưa vừa hiện đại, hiện thực vừa huyền bí vừa rõ ràng, một
hiện thực thứ ba mang đến cho tác phẩm nhiều trải nghiệm về đất nước Argentina
và Tân lục địa Mỹ Latinh.
1.2. Jorge Luis Borges – nhà văn thiên tài và những bi kịch
1.2.1. Jorge Luis Borges – Nhà văn đầy tài năng…
Ngay từ khi mới bắt đầu cầm bút, Jorge Luis Borges đã thể hiện mình không
chỉ là cây bút tài năng mà con là một nhà văn thơng kim bác cổ. Ơng được mệnh
danh là một trong những nhà văn lớn nhất của thế kỷ XX.

17



Borges sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, thủ đơ Argentina,
trong một gia đình tư sản có nhiều tướng lĩnh nổi tiếng trong lịch sử Argentina. Bố
ông, luật sư Jorge Guillermo Borges, là một triết gia theo chủ nghĩa bất khả tri thừa
hưởng từ họ ngoại Haslam, một dịng họ có nguồn gốc ở vùng Staffordshire, Anh
quốc. Chính vì vậy, trong ngơi nhà của cậu bé Borges có cả một thư viện tồn sách
tiếng Anh. Người bố của Borges cũng từng in tiểu thuyết và viết thêm ba cuốn sách
nữa nhưng không công bố. Và rất không may, khi đang ở độ tuổi sung sức, ông đã
bị mù lịa vì bệnh tật... Cùng với bố, bà nội đã dạy cho nhà văn tương lai này tiếng
Anh, nên cậu bé Jorge Luis ngay từ nhỏ đã rất thông thạo thứ tiếng này. Năm lên
tám, Borges đã dịch chuyện cổ tích của Oscar Wilde một cách xuất sắc, được tạp
chí Sur đăng tải. Sau này, Borges cịn dịch cả Virginia Woolf, dịch một số trích
đoạn từ William Faulkner, truyện ngắn của Rudyard Kipling, một số chương từ
"Đám giỗ Finnegans" của James Joyce…
Ngay từ thời thơ ấu, cuộc đời của Borges đã nhuốm đầy màu sắc của sự cô
đơn, buồn thảm. Với phong cách ăn mặc kì quái học theo người bố, ông phải
thường xuyên chịu đựng những lời chế giễu, cơng kích từ bạn bè. Ơng sống một
cuộc đời khép kín trong một căn phịng nhỏ thuộc ngơi nhà riêng của mình. Ơng
khơng có bạn bè cùng trang lứa, suốt ngày phải cùng em gái tưởng tượng ra những
trò chơi ma quỷ. Đặc biệt, ơng chỉ thích người đã chết và ln tưởng tượng rằng
mình đã chết. Chính tính cách kì quái này đã phần nào ảnh hưởng đến lối viết văn
của ơng sau này.
Năm 1914, gia đình Borges chuyển sang châu Âu cư trú. Mùa thu năm đó,
chàng thiếu niên Jorge Luis bắt đầu vào học ở Trường Cao đẳng Geneva. Năm
1919, gia đình ơng chuyển sang Tây Ban Nha và ở Madrid, ông làm quen với các
nhà thơ thuộc phong trào bảo hoàng cực đoan. Ngày 31/12/1919 trên tạp chí Hy Lạp
xuất hiện bài thơ đầu tiên của Jorge Luis mà trong đó, tác giả “dồn hết sức để trở
thành Walt Whitman” (nhà thơ Mỹ nổi tiếng). Chẳng bao lâu sau, Borges gia nhập
nhóm Ultraism mà có thời được định nghĩa như một thứ chủ nghĩa tiền phong, thể
hiện sự phản kháng chính phủ của tầng lớp tiểu tư sản, chống lại sự sa đọa thị dân


18


và sự hạn chế của xã hội tư sản. Tuy nhiên, bản thân Borges lại khơng viết được tác
phẩm gì đáng kể theo tinh thần của Ultraism.
Năm 1921, Borges trở về tổ quốc với tư cách là một nhà thơ và thông qua tờ
Proa, do ông sáng lập, du nhập trường phái bảo hồng cực đoan vào Buenos Aires.
Ơng trở thành người truyền bá chủ chốt của khuynh hướng thơ ca mới. Thuộc về
giai đoạn sáng tác này là tập thơ Nhiệt hứng của Buenos Aires (1925) và tập tiểu
luận Những tra cứu (1925). Nhưng dần dần nhiệt huyết tuổi trẻ đã dần mai một đi
cùng năm tháng ông từ bỏ trào lưu bảo hoàng cực đoan để lăn xả vào một cuộc tìm
kiếm mới cho sáng tác văn học của mình.
Kể từ năm 1929, Borges đã định hình rõ nét một phong cách văn xi độc
đáo. Ơng chọn lối viết ngắn hàm súc, sử dụng nhiều yếu tố siêu nhiên, huyền ảo rút
từ văn học cổ. Borges đã viết và in được 7 cuốn sách, lập ra ba tạp chí và cộng tác
với khoảng 12 ấn phẩm khác. Tới cuối những năm 20 của thế kỷ trước, ông bắt đầu
viết truyện ngắn. Năm 1935 ông cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay Sáu vấn đề của
ngài Isidro Parodi. Đến năm 1937, Borges lần đầu tiên vào làm trong thư viện như
một nhân viên thường xuyên và tại đó ông đã phải chịu “9 năm cực kỳ bất hạnh”:
lương ít, việc ít, chủ yếu chỉ ngồi đọc sách trong một khơng khí chung vơ cùng
nhàm chán. Borges đã sống như một con mọt sách và viết được hàng loạt những
kiệt tác cho tương lai, mặc dù lúc mới xuất hiện, ít ai đánh giá được chân giá trị của
chúng. Những tác phẩm đầu tay của Borges xuất bản vào những năm 30 – 40, đã bị
thất bại và chịu sự hờ hững của cơng chúng.
Khơng nản chí, Borges đã kiên trì đi theo con đường riêng của mình. Năm
1944, tập truyện ngắn Những hư cấu đã dần khẳng định tài năng, trí tuệ, chiều sâu
của sự uyên bác, khả năng am hiểu văn học trong tư duy nghệ thuật của Borges.
Năm năm sau, tập Aleph (1949) ra đời càng củng cố thêm uy tín của một bậc thầy
truyện ngắn. Cùng với sáng tác truyện, Borges cho in nhiều tập nghiên cứu phê bình
như Ngơn ngữ Argentina (1928), Văn học cổ điển Đức (1952), Những tra cứu khác

(1952)…Những tập sách này ngày càng khẳng định hơn vốn tri thức uyên bác của
nhà văn. Người ta gọi Borges là nghệ sĩ – triết gia (the Artist and the Thinker).

19


1.2.2. …nhưng vinh quang muộn màng
Năm 1955, Borges gặp phải một bất hạnh lớn trong cuộc đời của mình, giống
như bố, ơng bị mù hồn tồn. Phải chăng bóng tối đã đến với ông như lời dự báo từ
trước? Với ơng, “sự mù lịa khơng phải là đau khổ vì nó là một q trình q chậm
chạp. Ngược lại, nếu có người đột ngột bị mù thì có thể họ nghĩ đến cả sự tự vẫn.
Nhưng nếu bắt đầu mất khả năng nhìn từ khi chào đời thì khác… Ví dụ tơi biết cha
tơi chết vì mù, bà nội tơi chết vì mù, cố nội tơi chết vì mù, tơi hiểu rằng cái sự mù
này là số phận của tôi”[22.tr.10]. Số phận đã cướp đi ánh sáng trong cuộc đời của
Borges nhưng khơng vì thế mà ơng từ bỏ sự nghiệp văn chương. Ơng đã kiên trì
đứng lên, tiếp xúc với thời sự văn chương và tiếp tục viết thông qua các thư kí riêng
của mình. Các tập Sách cát (1955), Kẻ hành sự (1960) cho thấy độ hoàn hảo của
nghệ thuật ở mức độ cịn cao hơn thời kì trước. Borges thật sự đã trở thành một nhà
văn nổi tiếng thế giới và từ những năm 60, ông đã được đánh giá như một trưởng
lão làng văn.
Năm 1961, Borges được trao tặng giải quốc tế của các nhà xuất bản đã nâng
cao uy tín quốc tế cho ơng. Những tác phẩm sau này của Borges, dù là văn như
Thông thi của Brodie (1979), sách về những người tưởng tượng (1979); các tập thơ
như Hoa hồng thâm uyên (1975), lời giải (1982)…đã cho thấy khả năng cách tân
nâng cao các thể loại văn học văn học của ông. Các chủ đề quen thuộc của ơng – ví
thực tại là một mê cung, thời gian và sự vĩnh hằng, trò chơi những chiếc gương – đã
trở thành tài sản văn học thế giới và uy tín lớn của ơng giúp nhiều cho việc cả thế
giới thừa nhận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Borges mất ngày
14/6/1986 tại Ganeva (Thụy Sĩ) vì căn bệnh ung thư gan và được mai táng
tại Geneva. Trước đó, năm 1982, trong bài giảng nhan đề Sự mù lòa, Borges tuyên

bố: “Nếu chúng ta cho bóng tối có thể là phúc lộc của trời, thì ai có thể tự mình
sống hơn người khiếm thị và ai có thể hiểu về bản thân mình hơn người khiếm thị”.
Đến đây, có thể khẳng định, Borges là nhà văn kinh điển của thế kỉ XX. Gần
như cả đời ông đã dồn mọi tâm lực vào sáng tác, không vợ con, trong cảnh mù lòa.

20


Các tác phẩm của Borges đã trở thành niềm đam mê của giới tinh hoa trí thức từ
những năm 50 của thế kỷ trước cho tới tận bây giờ.
1.3. Jorge Luis Borges trong dòng chảy văn học huyền ảo Mỹ Latinh và
thế giới
Jorge Luis Borges là tác giả có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Mỹ
Latinh cũng như lịch sử văn học thế giới. Ngay khi mới bước vào văn đàn, các nhà
văn cùng thời đã thật sự đánh giá cao tài năng của Borges: “Ông là người có kiến
văn sâu rộng, một kiến văn thơng kim bác cổ, một kiến văn ôm trùm từ Tây sang
Đông, đồng thời là người được trời phú cho trí tưởng tượng tuyệt vời”[10. tr.2].
Hay: “Tác phẩm của ông được viết với một nguồn cảm hứng vô tận kết hợp với một
trí tuệ un thâm và một cái nhìn xun thấu vào chiều sâu của sự tồn tại, của nhân
tính,…con người đã mang lại cho độc giả thời hiện đại một cảm xúc khó tả, một
cách cắt nghĩa thế giới dị biệt, một phức cảm mênh mang thời gian” [6.tr.48].
Nổi tiếng với tư cách là nhà thông thái trong lĩnh vực văn chương, Borges để
lại dấu ấn sâu đậm trong thế giới ngơn ngữ Tây Ban Nha nói riêng và nhiều ngơn
ngữ khác trên thế giới nói chung. Ơng chịu ảnh hưởng nhiều từ Miguel de
Cervantes, Rudyard Kipling, Franz Kafka…, từ thuyết hiện tượng luận của Husserl,
Heiderger và chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Sartre, Albert Camus. Những tư
tưởng này này đã mở ra cho Borges chân trời mới trong việc nhận thức và tái hiện
thế giới. Ngay từ khi bắt đầu sáng tác, Borges đã có những thành cơng nhất định về
thể tài truyện ngắn, thơ, tiểu luận. Những sáng tác của ông đều là những nền tảng
vững chắc cho sự phát triển của các thể loại ấy sau này.

Borges được xem là người có vị trí mở đường và đặt những viên gạch tiếp
theo cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh và thế giới.
Borges sử dụng lối viết pha hư cấu, ông xem thế giới như một trò chơi mê lộ. Bản
chất của mê lộ là sự xảy lập bất tận của những khn dạng, mẫu hình… Nó gợi tính
chất trị chơi, sự may rủi và bất ổn. Thế giới trong tác phẩm của ông luôn vận động
trong sự đấu tranh quyết liệt nhưng thống nhất và luôn đương đầu với một thế lực
khác cao hơn. Sự đấu tranh để tồn tại, để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn và phần

21


nào đó thể hiện cái nhìn bi đát của con người trên hành trình khơng ngừng nghỉ để
tồn tại. Đây cũng là điều thường trực trong tư duy thẩm mĩ của Borges. Sau thành
công của Borges trên văn đàn, hàng loạt các tác phẩm vận dụng lối viết theo khuynh
hướng hiện thực huyền ảo ra đời. Ông được xem là một trong những tác giả mở đầu
cho truyện ngắn huyền ảo ở Mỹ Latinh và trên thế giới. Dẫu sáng tác không nhiều
nhưng những truyện ngắn của Borges đã đạt được sự thành công trên nhiều mặt.
Tác phẩm của ông là cả một thế giới đầy màu sắc huyền bí ln thơi thúc người
đọc tìm tịi, khám phá.
Thượng đế khơng cho J.L.Borges đôi mắt nguyên vẹn nhưng lại cho ông
một trí tưởng tượng siêu phàm và một lối viết uyên bác. J.L.Borges thật sự đã để
lại một cơng trình văn học trong đó có sự hịa trộn giữa thực và ảo tạo nên một
thực thể văn học phong phú, đa dạng có sức hấp dẫn, lại thấp thống hình bóng
chân thực của cuộc sống thực tế Mỹ Latinh. Những sáng tác của Borges chính là
những viên gạch đặt nền móng vững chắc cho nhiều khuynh hướng sáng tạo về
sau, chứ không chỉ riêng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.

22



Chương 2: Màu sắc huyền ảo trong truyện ngắn của Jorge Luis Borge
2.1. Truyện ngắn Jorge Luis Borges – bờ khác của thực tại
Trong văn học, cảm hứng sáng tác luôn được khơi dậy bằng những sự vật,
hiện tượng nào đó ở ngồi thực tế. Cảm hứng thường được ví như một cuộc hội ngộ
giữa nội tâm con người với ngoại cảnh. Và khi đứng trước cảnh vật của thực tại đó,
nhà văn cảm thấy dao động và chống ngợp bởi một tình cảm cuồng nhiệt, một thứ
cảm giác huyền bí chống lấy tâm hồn. Cảm hứng đến từ sự kích thích bên ngồi,
nhưng cảm hứng cịn là sự nung nấu, sự ám ảnh sâu xa, sự chuẩn bị từ lâu trong
lịng nhà văn. Khi một nhà văn có cảm hứng để sáng tác thì cảm hứng đó có thể làm
nên tư tưởng hay phong cách viết của anh ta. Hiểu một cách khái quát hơn, cảm
hứng là một trạng thái hưng phấn, do những ấn tượng từ thực tại khách quan tác
động tạo ra chất men sáng tạo, sai khiến nhà văn phóng ra năng lượng từ thế giới
nội tâm.
J.L.Borges là nhà viết truyện ngắn vĩ đại người Argentina và cũng là một
trong những nhà văn gây ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ XX. Truyện ngắn là nơi để ông
thể nghiệm những ý tưởng và triết lý độc đáo về cái huyền ảo. Truyện ngắn của
Borges luôn tràn đầy một sự tưởng tượng phóng túng, siêu hình và siêu tưởng, một
cảm hứng bắt nguồn từ “bờ khác của thực tại” (chữ dùng của Octavio Paz). Bờ khác
ấy là bờ bến dẫn đến những thế giới đã từng hoặc chưa bao giờ tồn tại, là bờ bến
neo giữ những huyền thoại cổ xưa hoặc những gọi mời từ phía bên kia của ý thức
con người – miền tiềm thức và vơ thức. Cho nên, cảm hứng sáng tác chính là
phương diện trước nhất thể hiện yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn Borges.
2.1.1. Cảm hứng từ những thế giới khác
Hơn ai hết, Borges luôn tin vào cảm hứng. “Dĩ nhiên là niềm cảm hứng ấy
có thể bộc lộ ra những hình thức khác nhau [10. tr.13]. Cảm hứng của Borges luôn
luôn đứng ở hai thái cực thực và ảo. Đứng từ thế giới ảo để nói đến thế giới thực và
ngược lại thế giới thực được phản chiếu qua một thế giới ảo. Tưởng chừng hai thế
giới ấy luôn tồn tại những thế đối nghịch nhau nhưng lại rất thống nhất.

23



Truyện ngắn của Borges trước hết dựa trên nguồn cảm hứng khởi ngun từ
những thế giới khơng có có thực. Truyện ngắn Tlon, Uqbar, Orbis Tertius là một
hành tinh kì diệu do Borges sáng tạo ra, một niềm mơ ước của riêng Borges muốn
đào thoát ra khỏi thế giới thực vốn được xây dựng trên nền móng vững chắc của
triết học duy vật, mọi thứ đều dựa trên lí trí và óc phán xét. Hành tinh ấy chưa có
một tên gọi cụ thể và một vị trí địa lí xác định: “Tại các trang cuối của tập 46 chúng
tôi thấy có một bài nói về Upsala; tại các trang đầu tập 47 chúng tơi thấy một bài
nói về Ural – Altaic Languages (các ngôn ngữ Uran – Antai) nhưng không hề có
một từ nào nói về Uqbar (…) những chỉ dẫn tỉ mỉ có tính bản đồ trong bộ sách
Erdkunde của Ritter lại hồn tồn khơng biết đến cái tên Uqbar” [11; tr.183]. Ở đấy
bàng bạc hơi thở huyền thoại, cũng có hồng đế, biển, khống sản, những lồi chim
và loài cá và các dân tộc thuộc hành tinh này duy tâm một cách bẩm sinh: “ngôn
ngữ của họ và những dị biệt của ngôn ngữ ấy – tôn giáo, văn chương, triết học – đều
tin cậy chủ nghĩa duy tâm. Đối với họ thế giới không phải là một tập hợp các đồ vật
trong không gian mà chỉ là một chuỗi khác biệt của những hành động độc lập” [11;
tr.190]. Sự kì dị của hành tinh này cịn nằm ở chỗ nó khơng phải được tạo ra bởi các
nhà duy tâm, từ sự ngạc nhiên thảng thốt của con người mà đó là một thế giới hỗn
mang đơn thuần, một đặc quyền của loài người. Tlon là một thế giới và các quy luật
mật thiết chỉ huy nó đã được định ra ngay cả trong hình thức được tiên đốn. Việc
các nhà nghiên cứu mãi kiếm tìm những vết tích cịn đọng lại qua lời kể của Bioy và
từ bộ từ điển bách khoa, những tuyển tập, bản tóm tắt, bản dịch phỏng, bản đồ…sẽ
là một việc hoàn toàn vơ ích. Họ mãi khơng tìm thấy nó. Bởi thực chất những gì
diễn ra ở hành tinh ấy là khơng tồn tại, trong lịch sử chưa hề diễn ra và nó là một
thế giới xa lạ với thực tại.
Borges khơng những sáng chế ra hành tinh Tlon, Uqbar mà còn tưởng tượng ra
một thế giới không tồn tại của những người bất tử. Truyện ngắn Người bất tử là một
cuộc hành trình tìm kiếm một vùng đất mà nơi đó con người có thể bất tử. Thành
phố có trước cả sự xuất hiện của con người với cái vẻ cổ kính rất đáng sợ: “Một tịa

nhà có hình thù khác thường với độ cao thấp khác nhau bao quanh sân; những mái

24


vòm, những chiếc cột khác nhau đều thuộc vào tòa nhà ấy (…). Ta cảm thấy rằng
nó có trước cả con người, trước cả trái đất” [11. tr.169]. Sự huyền bí của thành phố
cịn nằm ở chỗ nó dường như vượt ra khỏi sự trôi chảy của thời gian tuyến tính (q
khứ - hiện tại – tương lai) mà nó nằm mập mờ đâu đó giữa vịng ln chuyển tuần
hồn bất tận không đầu không cuối của vũ trụ, nơi mà tương lai cũng là một dạng
đồng hiện trở lại của quá khứ, bởi nó vừa cổ xưa hơn sự tồn tại của loài người, vừa
là tương lai của loài người “thành phố này (ta nghĩ) là rất đáng sợ hơn là sự tồn tại
và trường tồn của nó, dù rằng ở ngay trung tâm một hoang mạc bí mật, nó lây
nhiễm quá khứ và tương lai và bằng một hình thức nào đó nó hứa hẹn với các vì
tinh tú. Trong lúc nó tồn tại thì trên thế gian này khơng một ai sẽ có thể là người
sáng giá hay hạnh phúc” [11; tr.170]. Bằng trí tưởng tượng phong phú của mình,
Borges đã xây dựng nên những vùng đất huyền bí, xa lạ, khác thường.
J.L.Borges rất yêu mến truyện cổ phương Đông hay truyện thần thoại Hi Lạp
cổ đại. Đó chính là nguồn cảm hứng để ơng xây dựng nên trong tác phẩm những thế
giới cổ đại với những con người chưa từng biết đến văn minh. Bản thông báo của
Brodie là một câu chuyện kể về cuộc sống man mọi của bộ tộc Yahoo. Họ sống an
lạc dưới sự trị vì của một ơng vua tàn tật. Ngơn ngữ rắc rối của họ khơng có câu, từ
ngữ bị thiếu hụt các chữ cái với chu kì thời gian tuần hồn và vơ tận. Những người
Yahoo sống theo bầy đàn và lăn lộn trong bùn để gọi nhau. Khi ăn họ thường ẩn
mình đi hay nhắm mắt lại cịn những việc khác họ trơ trẽn làm trước mặt người
khác. Họ ăn sống nuốt tươi xác chết của các thầy pháp và các đức vua để làm tăng
phẩm hạnh của mình. Truyện ngắn của Borges cũng đầy rẫy vùng đất kì lạ của
những con người – vượn, tạo nên một khơng khí đậm đặc chất huyền ảo; hay thế
giới của những chủng tộc sống bên bờ Vịnh Ả-rập và các hang động ở Etiope, đất
nước của những người Troglodita ăn lơng ở lỗ, vốn ăn sống nuốt tươi các lồi rắn

rết và khơng có sự trao đổi ngơn từ. Đất nước những người Gamanta vốn sống cộng
đồng và nuôi sư tử. Đất nước những người Augila vốn chỉ thần phục bọn rợ
Tacta…Hình ảnh thế giới của các bộ lạc cổ đại lần lượt được hiện lên thấm đầy chất
huyền ảo trong mỗi tác phẩm của Borges.

25


×