ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
----------
VÕ THỊ THANH XUÂN
Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa
phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn
huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong mơn
Lịch sử lớp 4, 5
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức và hội nhập tồn cầu hố đã và
đang đặt ra cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo một sứ mệnh vẻ vang cùng những
thách thức nặng nề. Trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và giáo dục truyền thống cách mạng; tình u q
hương, đất nước; lịng tự hào dân tộc cho học sinh - thế hệ chủ nhân tương lai của
đất nước.
Bậc Tiểu học là nền móng, là cơ sở ban đầu cho việc giáo dục toàn diện, góp
phần hình thành nhân cách học sinh. Cùng với các môn học như Tiếng Việt, Địa lý,
Đạo đức, Mỹ thuật… thì mơn Lịch sử cũng góp phần rất lớn vào việc bồi dưỡng
nhân cách, đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan, góp phần giáo dục tình u q
hương, đất nước cho học sinh, hình thành những phẩm chất của con người Việt
Nam. Việc giảng dạy môn Lịch sử không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn kiến
thức lịch sử dân tộc mà quan trọng hơn đó là việc giáo dục cho học sinh tình cảm
u mến, lịng tự hào đối với quê hương và trên cơ sở ý thức về cội nguồn sẽ nảy
sinh ý thức tự giác tham gia xây dựng quê hương đất nước. Đây cũng chính là mục
đích cuối cùng của sự nghiệp giáo dục nói chung.
Thế nhưng trong những năm gần đây, chất lượng học tập Lịch sử sa sút
nghiêm trọng. Vì vậy cần phải có biện pháp nâng cao chất lượng dạy học mơn Lịch
sử. Và một trong những hình thức dạy học vừa mang lại hiệu quả giáo dục vừa phát
huy tính tích cực của học sinh trong mơn Lịch sử là tổ chức dạy học Lịch sử địa
phương. Việc giảng dạy Lịch sử địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
phát triển toàn diện về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ. Giảng dạy Lịch sử địa
phương một cách hiệu quả sẽ không chỉ trang bị thêm kiến thức, rèn luyện thêm các
kĩ năng cho học sinh mà quan trọng hơn đó là việc giáo dục cho học sinh lòng tự
hào với những truyền thống của quê hương. Để từ đó các em biết trân trọng và cố
gắng học tập để mai sau xây dựng quê hương giàu đẹp.
Mỗi miền quê trên đất nước Việt Nam đều in dấu chân lịch sử, đều giàu
truyền thống đấu tranh cách mạng và huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh là một trong
những mảnh đất như thế. Con người nơi đây hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao
động, thủy chung tình nghĩa trong cuộc sống, không cam chịu làm nô lệ, kiên cường
bất khuất trong chiến đấu, suốt chiều dài lịch sử thời đại nào cũng có những anh
hùng hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm. Ngoài ra, Can Lộc cịn là nơi có rất
nhiều địa danh lịch sử đã đi vào huyền thoại như: Ngã ba Đồng Lộc, Chùa Hương
Tích, làng K130... Vì vậy, việc giáo dục truyền thống lịch sử cho học sinh Tiểu học
nơi đây để khơi dạy ở các em tình yêu quê hương và ý thức phấn đấu để xứng đáng
với mảnh đất mà mình đang sống là một điều vơ cùng quan trọng.
Ngồi ra, việc nghiên cứu đề tài này sẽ là tư liệu quý báu để chúng tôi học
tập, nghiên cứu, giảng dạy ở các trường Tiểu học.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có ai tập trung nghiên cứu về
vấn đề tổ chức dạy học lịch sử địa phương cho học sinh lớp 4, 5 trên địa bàn huyện
Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh. Thiết nghĩ đây là một hướng khai thác đề tài khá hay cần
được nhiều người chú ý đến. Vì thế chúng tơi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu
việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện
Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong môn Lịch sử lớp 4, 5”.
2. Mục đích nghiên cứu
Chúng tơi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: Qua việc nghiên cứu lý
luận và khảo sát thực tế việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh lớp
4, 5 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, đề xuất
những phương pháp tổ chức dạy học Lịch sử địa phương theo hướng tích cực, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện cho học sinh Tiểu học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở khoa học của việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho
hoc sinh Tiểu học.
- Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh lớp 4, 5 ở
một số trường Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất phương pháp tổ chức dạy học Lịch sử địa phương nhằm giúp học
sinh có được những hiểu biết về địa phương, nơi mình đang sống.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các bài Lịch sử địa phương được tổ chức dạy học cho học sinh lớp 4, 5 trên
địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
- Giáo viên giảng dạy các khối lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện
Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
- Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn trên địa bàn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, trong phạm vi môn Lịch sử và chỉ nghiên cứu chương trình Lịch sử
lớp 4, 5. Để từ đó đi sâu vào tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho
học sinh lứa tuổi lớp 4, 5.
5. Giả thuyết khoa học
Sau quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã thống kê, phân loại các phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học Lịch sử địa phương được tổ chức cho học sinh
Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó, chúng tôi đưa ra những
phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh có được những hiểu biết về địa phương
mình một cách sâu sắc.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái qt
hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc
dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục
vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp điều tra, thực nghiệm
Tiến hành dự giờ, kiểm tra học sinh bằng phiếu trắc nghiệm với hệ thống các
câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.
- Phương pháp thống kê, phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp điều tra bằng trò chuyện
Tiến hành trao đổi với nhà trường, giáo viên và học sinh để biết được những
phương pháp giáo viên sử dụng để dạy học Lịch sử địa phương, tác động của mỗi
phương pháp tới học sinh là như thế nào, hứng thú của các em khi được học về lịch
sử địa phương ra sao và những khó khăn nhà trường gặp phải khi tiến hành dạy
Lịch sử địa phương. Từ đó thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương
pháp điều tra bằng thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả điều tra
về tỉ lệ học sinh đạt điểm tốt, khá, trung bình sau khi làm phiếu trắc nghiệm. Để từ
đó thấy được hiệu quả của những phương pháp mà giáo viên sử dụng khi dạy Lịch
sử địa phương.
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
Phần mở đầu gồm có các tiểu mục sau:
- Lí do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Giả thuyết khoa học
- Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học
sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong môn Lịch sử lớp 4, 5
Chương 3: Khảo sát và thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Phụ lục: Các giáo án được soạn để tiến hành dự giờ, kiểm tra đánh giá học
sinh; một số hình ảnh được giáo viên sử dụng để dạy học Lịch sử địa phương cho
học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Khái niệm địa phương
Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “Địa phương”. “Địa phương là
những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước”.
Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia có những sắc
thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của
đất nước.
Khái niệm “Địa phương” có thể hiểu theo hai khía cạnh: cụ thể và trừu
tượng.
- Địa phương, hiểu theo nghĩa cụ thể, là những đơn vị chính của một quốc
gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, ấp,...
- Với nghĩa khái quát, trừu tượng, địa phương được hiểu là những vùng đất,
khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (khơng giống
địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác. Ví dụ: miền Bắc, miền
Nam, miền Trung, Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng
sông Cửu Long .v.v...
Nhưng cũng có ý kiến quan niệm theo cách đơn giản là: tất cả những gì
khơng phải của “Trung ương” hay “Quốc gia” đều được coi là địa phương. Như
vậy, thủ đô của một quốc gia hay từng khu vực của thủ đô cũng được xem là địa
phương.
1.1.1.2. Khái niệm lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương là lịch sử của các địa phương, như lịch sử các làng, xã,
huyện, tỉnh, vùng, miền,… nó cịn bao hàm cả lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến
đấu, các cơ quan, xí nghiệp,… Xét về phạm vi địa lí và lịch sử, các tổ chức và đơn
vị này đều thuộc về phạm vi địa phương, song về mặt chuyên môn, kĩ thuật có thể
xếp vào dạng lịch sử chuyên ngành.
Hiểu một cách đơn giản thì Lịch sử địa phương là những kiến thức cơ bản,
thiết thực về lịch sử của một địa phương cụ thể nơi các em sống. Đó là sơ lược lịch
sử hình thành và phát triển của địa phương theo dịng thời gian từ khi hình thành
qua những giai đoạn lịch sử khác nhau cho đến thời điểm hiện nay.
1.1.2. Khái quát đôi nét về huyện Can Lộc
1.1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Địa hình huyện Can lộc bị chia cắt bởi hệ thống sơng ngịi và đồi núi. Về cơ
bản, địa hình Can Lộc được chia thành ba kiểu đặc trưng:
- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao tuyệt đối trên 250 m và độ cao tương
đối trên 100 m, phân bố ở 2 xã Thiên Lộc và Thuần Thiện, là vùng phía Bắc của
huyện nằm ven dải Hồng Lĩnh, có địa hình dốc, đất đai thuộc dạng đá pha cát, có
khả năng sử dụng vào trồng cây cơng nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, cây hoa màu
và trồng rừng.
- Kiểu địa hình đồi: Có độ cao tuyệt đối từ 10 - 250m và độ cao tương đối
dưới 100m, phân bố ở các xã Thiên Lộc, Thuần Thiện, Đồng Lộc, Thượng Lộc, Gia
Hanh, Phú Lộc, Sơn Lộc, Mỹ Lộc, Thường Nga.
- Kiểu địa hình đồng bằng: Có độ cao tuyệt đối dưới 10 m, gồm 13 xã là
các xã: Quang Lộc, Xuân Lộc, Trung Lộc, Khánh Lộc, Vĩnh Lộc, Yên Lộc, Trường
Lộc, Song Lộc, Kim Lộc, Thanh Lộc, Vượng Lộc, Tiến Lộc, Tùng Lộc và 1 thị trấn
là thị trấn Nghèn. Đây là vùng tương đối bằng phẳng, có nhiều sơng, đất đai tương
đối màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa chính của huyện.
Khí hậu Can Lộc một mặt mang những đặc điểm chung của khu vực nhiệt
đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc. Mặt
khác, mang những đặc điểm riêng của tiểu vùng và được phân thành hai vùng rõ rệt
là mùa khô và mùa mưa.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm. Đây là mùa nắng gắt, có
gió Tây Nam thổi mạnh dẫn đến hiện tượng bốc hơi nước lớn, gây hạn hán nghiêm
trọng, đặc biệt từ tháng 5 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình vào mùa này từ 31 330C, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 39 - 400C, độ ẩm trung bình 70%, lượng
mưa chỉ chiếm 18 - 22% tổng lượng mưa cả năm.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, tập trung chủ yếu vào
tháng 9 đến tháng 11, nhiệt độ mùa này xuống thấp, có khi xuống 70C. Gió mùa
Đơng Bắc là hướng gió chính trong mùa này. Vào đầu mùa mưa thường xuất hiện
bão, cuối mùa mưa thường xuất hiện sương mù. Mùa này có lượng mưa lớn
(2000mm) nên thường gây ngập lụt. Trung bình mỗi năm, huyện Can Lộc có 1 - 2
cơn bão đổ bộ vào và chịu ảnh hưởng của 3 - 4 cơn bão.
Can Lộc có hệ thống sơng ngịi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là
chiều dài ngắn, lưu vực nhỏ, các sông chảy trên địa hình tương đối bằng phẳng.
Sơng lớn nhất là sơng Nghèn có chiều dài 50 km, diện tích lưu vực 556 km2. Ngồi
ra, Can Lộc có khá nhiều hệ thống hồ, đập: Đập Cù Lây (Thuần Thiện), hồ Khe
Lang (Thường Nga), hồ Vực Trống (Gia Hanh, Phú Lộc), hồ Trại Tiểu (Mỹ Lộc)…
cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng.
1.1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Thời vua Hùng dựng nước, nước Việt được chia làm 15 bộ, bộ Cửu Đức là
vùng đất Hà Tĩnh ngày nay, huyện Can Lộc nằm trong lãnh thổ bộ này.
Huyện đã hình thành từ xưa và đã từng mang nhiều tên gọi: huyện Phù Lĩnh
(thời thuộc Ngô - 271), huyện Việt Thường (thời thuộc Đường - 679), huyện Hà
Hoàng thuộc về đất Hoan Châu và thời nhà Trần, Can Lộc có tên là huyện Phi Lộc
thuộc Nghệ An phủ. Những địa danh ấy tương ứng với quy mô một huyện thời xưa,
tuy chưa có tài liệu xác nhận địa phận, địa giới một cách rõ ràng nhưng xét nội dung
ý nghĩa của những tên gọi ấy có liên quan đến địa lý, lịch sử của huyện này.
Thời Lê Sơ, huyện Thiên Lộc được thành lập gồm 27 xã. Tên huyện Thiên
Lộc cùng với địa giới huyện này được hoạch định rành mạch bắt đầu từ đó. Lúc đó,
huyện Thiên Lộc thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An. Đến thời nhà Nguyễn, năm
Tự Đức thứ 15 (1862), vua ra chỉ dụ: Ở đâu địa danh có chữ “Thiên” phải đổi chữ
khác để tỏ lịng tơn kính trời. Từ đó, huyện Thiên Lộc phải đổi thành huyện Can
Lộc. Năm 1984, một phần đất thuộc xã Đại Lộc và xã Thiên Lộc được cắt để thành
lập thị trấn Can Lộc, trực thuộc huyện. Năm 1992, hai xã Minh Lộc và Thuận Lộc
nguyên thuộc huyện Can Lộc được cắt để chuyển về thị xã Hồng Lĩnh. Năm 2007,
tám xã của Can Lộc ở gần biển được cắt về cho huyện Lộc Hà.
1.1.2.3. Danh nhân lịch sử
Can Lộc - mảnh đất “địa linh nhân kiệt” - đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc
hiền tài. Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân lịch sử, võ tướng, các nhà yêu
nước, danh nhân văn hóa và các học giả, khoa học.
a. Danh nhân lịch sử thời phong kiến:
- Ngô Phúc Vạn (1577 - 1652) quê ở làng Trảo Nha - huyện Thạch Hà - phủ
Hà Hoa - trấn Nghệ An (nay là xã Đại Lộc - huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh). Ông là
trọng thần nhà Hậu Lê. Ông xuất thân là con nhà tướng, kiêm tài văn võ. Ơng khơng
chỉ võ nghệ cao cường, thơng hiểu binh thư trận pháp mà thánh kinh hiền truyện,
thiên văn, địa lý, tốn số đều tinh thơng cả. Ngơ Phúc Vạn làm quan dưới triều Lê Trịnh, được phong đến chức Thái Bảo, tước Tào Quận Cơng, có nhiều cơng lao
đóng góp giữ n bờ cõi bảo vệ chính đường, khẩn hoang ruộng đất đem lại lợi ích
cho trăm họ trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở nước ta thế kỷ XVII. Ơng
mất năm Nhâm Thìn (1652) và được nhân dân lập đền thờ tại quê nhà.
- Hà Tôn Mục (1653 - 1707) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc. Ông là
một danh thần nổi tiếng triều Lê, có nhiều cơng trạng đối với đất nước. Ông đỗ tiến
sĩ năm 1688, lại đỗ đầu kỳ thi ứng chế, tức kỳ thi dành cho các tiến sĩ ở điện Vạn
Thọ với đầu bài do chính vua ra. Mấy năm sau, ông lại đỗ khoa Đông Các, khoa thi
đặc biệt chỉ dành cho những người đã đỗ Tiến sĩ và đang làm quan. Ông từng giữ
nhiều chức vụ quan trọng như: Lại khoa cấp sự trung (kiểm tra công việc quan lại,
tổ chức), Nội tán (dạy học cho con, cháu vua), Thủy sư, Biên tu quốc sử quán, Đốc
đồng (trấn giữ) hai xứ Tuyên - Hưng, Phủ dỗn phủ Phụng Thiên (đứng đầu kinh
đơ), Chánh sứ. Năm 1699, nhà Thanh xâm lấn Bảo Lạc (Cao Bằng), Hà Tôn Mục
và Nguyễn Hành đã đẩy lui được quân Thanh trong cuộc đấu tranh ngoại giao với
Sầm Trì Phượng. Năm 1703, ơng đi sứ sang Trung Quốc. Vì đã hồn thành xuất sắc
nhiệm vụ, giữ được hịa hiếu giữa hai nước, vua Khang Hy hết sức cảm phục, tặng
cho ông một bức đại tự do chính Khang Hy viết ba chữ “Nhược, xung, hiên”, khắc
gỗ và sơn son. Bức đại tự này hiện còn giữ tại đền thờ Hà Tơn Mục ở q ơng; ba
chữ đó có nghĩa là “khiêm nhường, trí tuệ, chí khí cao cả”. Hà Tơn Mục cũng là một
trong các tác giả của Đại Việt sử ký tục biên.
- Phan Kính (1715 - 1761) quê ở xã Song Lộc - huyện Can Lộc. Ông là
Lưỡng quốc Đình nguyên Thám hoa, Danh sĩ đời vua Lê Hiển Tông. Năm 1744,
ông thi Hội đỗ Tiến sĩ, thi Đình đứng thứ nhất và được vua phê chuẩn: Đình nguyên
Thám hoa. Ông được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Tuyên uý phó sứ ở
Nghệ An; Hiệp Đồng trấn Sơn Tây; Đốc Đồng Tuyên Quang. Vào khoảng những
năm 1759 - 1760, vua nhà Thanh biết tài của Phan Kính nên đã phong cho ơng là
“Lưỡng quốc Đình ngun Thám Hoa” ban tặng ông một áo gấm màu vàng (Cẩm
bào) và một bức trướng ghi dòng chữ: “Thiên triều đặc tứ, Bắc đầu dị nam, nhất
nhân nhi dĩ” (Thiên triều đặc ban, phía Nam bắc đầu, chỉ một người thôi).
- Nguyễn Huy Oánh (1722 - 1789) quê ở xã Trường Lộc - huyện Can Lộc.
Ông là nhà văn, nhà thơ và nhà văn hóa nổi tiếng đời Lê Hiển Tông. Năm 1748, ông
đỗ Thám hoa, làm đến Tả thị lang Bộ Lại và thăng Đơ ngự sử. Ơng từng được cử đi
sứ Trung Quốc, làm đến Thượng thư Bộ Cơng. Ngồi là bậc đại khoa và quan nhất
phẩm, Nguyễn Huy Oánh còn là một nhà giáo mẫu mực từng giữ chức “Tế tửu
Quốc Tử Giám”. Chúa Trịnh Sâm và vua Lê Dục Tơng khi cịn nhỏ từng là học trị
của ơng. Ơng thơng tuệ cả nho, y, lý, số và là tác giả hơn 40 cuốn sách có giá trị
trong kho tàng Hán Nôm của Việt Nam. Các tác phẩm chính của Nguyễn Huy Oánh
là: Phụng sử yên kinh tập, Bắc dư tập lãm, Sơ học chỉ nam, Phụng sự yên đài tổng
ca, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập.
- Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) quê ở xã Kim Lộc - huyện Can Lộc. Ông là
một danh sĩ đời Hậu Lê và Tây Sơn, là quân sư cho Nguyễn Huệ. Với cương vị
Viện trưởng Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp đã đề ra những cải cách về văn hóa,
giáo dục của nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII.
- Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790) quê ở xã Trường Lôc - huyện Can Lộc. Ông
là nhà thơ đời vua Lê Hiển Tơng. Ơng đậu Hương cống (cử nhân) năm 1759, đậu
Tiến sĩ năm 1770, làm quan dưới triều Hậu Lê. Năm 1789, ơng vào Phú Xn phị
tá vua Quang Trung. Ơng là nhà thơ, nhà văn hoá, là tác giả tập thơ nổi tiếng
“Truyện thơ Hoa Tiên”.
- Nguyễn Huy Hổ (1783 - 1841) quê ở Trường Lộc - huyện Can Lộc. Ông là
Danh nhân văn hóa Việt Nam. Tuy sinh ra trong một dòng tộc danh giá nhưng ngay
từ khi còn trẻ ông đã phải chịu hàng loạt biến cố trong cả hai gia tộc nội, ngoại. Lúc
này, nhà Lê bước vào thời kỳ suy vong, hàng loạt người thân nối nhau từ trần. Bên
nội cha ơng khơng cịn, bên ngoại kiêu binh phá nát cơ đồ. Dù là danh sỹ văn hay
chữ tốt nhưng gặp thời loạn lạc nên Nguyễn Huy Hổ sống ẩn dật ở quê nhà với tư
tưởng hồi Lê. Thừa hưởng tố chất của ơng nội là Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy
Hổ giỏi về y thuật, lý số và thiên văn. Năm ông chừng 40 tuổi, vua Minh Mạng mới
triệu ông vào làm thầy thuốc trong cung. Nhân việc ơng chỉ trích việc tính sai của
Tồn khâm thiên giám, sau nhà vua nghiệm ra lời ơng nói đúng vua ban cho ông
chức “Linh đài lang”.
b. Các võ tướng tiêu biểu trong lịch sử phong kiến
- Đặng Tất (? - 1409) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc. Ông là Danh
nhân lịch sử Việt Nam. Theo Đặng tộc đại tông phả, ông tổ 4 đời của Đặng Tất là
Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long, sau đó di dời vào Nghệ An
châu. Con trưởng của Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh đỗ thám hoa đời nhà Trần. Bá Tĩnh
chính là ơng nội của Đặng Tất. Con trưởng của Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực chính là
cha Đặng Tất. Đặng Tất sinh ra và lớn lên tại làng tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc,
Nghệ An châu (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông thi đậu
Thái học sinh thời nhà Trần và được bổ làm Tri phủ Hoá Châu (nay là vùng Hải
Lăng, Quảng trị). Sau đó, ơng lại chuyển đến huyện Thăng Bình, Quảng Nam.
- Đặng Dung (? - 1414) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc. Ông là Danh
nhân lịch sử Việt Nam. Đặng Dung là con Đặng Tất, một tướng tài thời Hậu Trần.
Năm sinh của ông không rõ, chỉ biết ông người làng Tả Thiên Lộc, huyện Can Lộc,
tỉnh Hà Tĩnh. Giận cha mình bị vua Giản Định giết oan (1408) vì lời gièm pha của
gian thần sau trận Bơ Cơ, ơng đem qn từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, tơn Trần Q
Khống lên ngơi vua, lấy hiệu là Trùng Quang và được giữ chức Đồng bình chương
sự. Ơng là tác giả bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng.
c. Các nhà cách mạng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Anh hùng lao
động:
- Nguyễn Hàng Chi (1886 - 1908) quê ở xã Phú Lộc - huyện Can Lộc. Ông là
thủ lĩnh phong trào Duy Tân chống Pháp, bị xử chém ở quê nhà Hà Tĩnh.
- Võ Liêm Sơn (1888 - 1949): quê ở xã Thiên Lộc - huyện Can Lộc. Ơng là
nhà giáo đồng thời là trí thức cách mạng nhiệt thành. Ơng là thầy giáo dạy Hồ Chí
Minh và Võ Nguyên Giáp ở trường Quốc học Huế.
- Ngô Đức Kế (1878 - 1929) quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn huyện Can Lộc. Ông là Danh nhân lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngô Ðức Kế là
một thành viên của phong trào Duy Tân, chống lại chế độ thuộc địa của Pháp tại
Việt Nam đầu thế kỷ 20. Năm 1901, ông đậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan mà
liên kết với Lê Văn Huân, Đặng Nguyên Cẩn để hoạt động trong phong trào Duy
Tân. Sau đó, ơng bị Pháp bắt và bị đày ra Côn Đảo. Sau ra tù, ông làm cho báo
“Hữu Thanh” ở Hà Nội và hoạt động văn hoá.
- La Thị Tám sinh tháng 10 năm 1949 tại xã Vĩnh Lộc - huyện Can Lộc, là
một nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
là nguyên mẫu nữ nhân vật trong bài hát “Người con gái sơng La” của nhạc sĩ Dỗn
Nho. Năm 1967, lúc vừa tròn 18 tuổi, La Thị Tám gia nhập đội Thanh niên xung
phong và được biên chế vào đơn vị chủ lực Đại đội 2 - Giao thông vận tải từ tháng
12 - 1967 đến tháng 8 - 1968, đóng tại xã Đồng Lộc. Bà được giao nhiệm vụ đứng
trên một quả đồi cao, phía trái của Ngã ba Đồng Lộc, vào những lúc máy bay Mỹ
ném bom để đếm số lượng bom kẻ thù trút xuống. Sau khi máy bay Mỹ vừa đi là La
Thị Tám chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho công binh đến phát nổ. Suốt 200 ngày
đêm ròng rã, bà đã đếm và cắm tiêu được một số lượng bom lớn: 1205 quả. Ngày
22/12/1969, bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ
trang nhân dân khi mới 20 tuổi. Sau chiến tranh, bà về quê hương và lập gia đình rồi
chuyển về làm việc ở Đảng uỷ cơ quan dân chính Đảng cấp tỉnh. Bà kết hôn với
một sĩ quan hải quân.
d. Các học giả, các nhà khoa học.
- Nguyễn Đình Tứ (1918 - 1991) quê ở xã Song Lộc - huyện Can Lộc. Ông
là một nhà vật lý hạt nhân, nhà lãnh đạo nền khoa học Việt Nam. Ơng ngun là Ủy
viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Trung ương
Đảng, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, nguyên Viện trưởng viện Năng lượng
nguyên tử quốc gia, nguyên Bộ trưởng bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phan Đình Diệu (sinh năm 1936) quê ở xã Trung Lộc - huyện Can Lộc.
Ông là Giáo sư toán học và là một trong những người được ghi nhận là có cơng đầu
trong kế hoạch đào tạo và phát triển ngành tin học tại Việt Nam. Ơng là chun gia
trong các lĩnh vực: tốn học kiến thiết, lơgic tốn, lý thuyết thuật tốn, ơtơmat, ngơn
ngữ hình thức, lý thuyết mật mã và an tồn thơng tin. Ông là viện trưởng đầu tiên
của viện Khoa học Tính tốn và Điều khiển (nay là viện Cơng nghệ Thông tin Việt
Nam), Chủ tịch sáng lập hội Tin học Việt Nam, Phó trưởng Ban thường trực Ban
chỉ đạo Chương trình Quốc gia về cơng nghệ thơng tin khóa I (1993 - 1997).
d. Các văn nhân và các nhà hoạt động văn hóa
- Xuân Diệu (1916 - 1985) quê ở Làng Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn –
huyện Can Lộc. Tên thật của ông là Ngô Xuân Diệu, là một nhà thơ Việt Nam. Ơng
sinh tại Gị Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại của
Xuân Diệu). Cha là ông Ngô Xuân Thọ (giáo viên), người làng Trảo Nha, huyện
Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông được mệnh danh là ơng hồng của thơ tình và là cây
đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam. Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ,
một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Xuân Diệu từng là
đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ơng cịn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện
Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hịa dân chủ Đức năm 1983. Ơng đã được truy tặng
giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
1.1.2.4. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh
Can Lộc như một bức tranh thu nhỏ của mảnh đất Hà Tĩnh nói riêng và nước
Việt Nam nói chung với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và di tích, danh thắng
tiêu biểu, có giá trị tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Đặt chân đến mảnh đất Can Lộc,
chúng ta sẽ được tham quan nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như:
- Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung: thuộc xã Tùng Lộc, thờ hai vị tướng có
cơng lao lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh xâm lược.
- Miếu Biên Sơn: được xây dựng thời nhà Lê ở trung tâm xã Hồng Lộc, thờ
Phan Thị Sơn, một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh.
- Mộ trạng nguyên Bạch Liêu: thuộc xã Thiên Lộc. Bạch Liêu sinh năm 1236
quê ở Yên Xá - Đông Thành - Nghệ An. Ông đỗ Trạng nguyên năm 1266 nhưng
không ra làm quan, sau này ông giúp Trần Quang Khải trấn Nghệ An và có cơng
lớn trong cuộc chống qn Ngun Mơng.
- Chùa Hương Tích (xã Thiên Lộc, Can Lộc) nằm lưng chừng ngọn Hương
Sơn với 99 ngọn cao thấp gắn với truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng đi tìm
chốn đậu càng thêu dệt nên nhiều câu chuyện huyền bí.
- Đền thờ Hà Tơn Mục ở xã Tùng Lộc: Cụ Hà Tơn Mục là một trong số ít
những người được thờ sống - thể hiện sự tôn vinh của nhân dân đối với những
người có cơng lao đối với đất nước.
- Ngã ba Đồng Lộc nằm ở giao điểm 2 tỉnh lộ số 5 và 15. Trong chiến tranh
Việt Nam, nơi đây đã phải hứng chịu hàng ngàn trận bom của máy bay Mỹ và đã
chứng kiến sự hy sinh của tiểu đội nữ Thanh niên xung phong gồm 10 người.
- Làng K130: Thuộc xã Tiến Lộc - huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh. Cùng với
Ngã ba Đồng Lộc, làng K130 trong chiến tranh chống Mỹ là sự kiện lịch sử điển
hình của tinh thần đồn kết tồn dân, thế trận quốc phịng tồn dân nhằm giữ vững
mạch máu giao thông thông suốt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Nơi
đây có những người nơng dân u nước khơng tiếc của cải, máu xương, tình nguyện
dỡ 130 ngôi nhà để lát đường và nhường đường cho 130 chiếc xe chờ hàng phục vụ
chiến trường Miền Nam đánh Mỹ.
- Di tích lịch sử tượng đài Xơ Viết được xây dựng tại Ngã ba Nghèn - thị trấn
Nghèn - huyện Can Lộc là nơi ghi dấu cuộc đấu tranh của nhân dân huyện Can Lộc
- tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây có Đài tưởng niệm, tấm bia ghi tên các liệt sĩ.
1.1.2.5. Làng nghề và lễ hội
Mảnh đất Can Lộc cịn là một nơi có nhiều làng nghề nổi tiếng được du
khách cả nước biết đến. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng
Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp bốn phương lại nô
nức về với mảnh đất Thiên Lộc để dự lễ hội Chùa Hương Tích được tổ chức ngày
18/2 âm lịch. Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện
tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn
bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật. Mùa
xuân cũng là mùa của lễ hội Xuân Điển diễn ra tại làng Phan Xá, Lợi Xá, xã Tùng
Lộc. Lễ hội tưởng nhớ thần Tam Lang có cơng giúp qn Đại Việt đánh thắng giặc
ngoại xâm. Lễ hội được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch rất trọng thể
với nghi thức quốc lễ. Lễ hội có hát tụng thần, có hát chèo, tuồng, thi nấu cơm. Ba
năm một lần, làng tổ chức bơi thuyền rồng, rước thần trên kênh trước đền. Những
mùa khác trong năm cũng diễn ra các lễ hội đặc trưng. Đó là lễ hội Kỳ Phúc ở
Thuần Thiện tổ chức vào ngày 14 - 16 tháng 6 hàng năm. Hội có cuộc rước và tế
thần, các trị chơi văn hố, thể thao, đặc biệt là có hội vật. Ban đêm có hát Trị Kiều,
hát ả đào Cổ Đạm. Trị chơi nào cũng đơng người tham gia và cuốn hút người xem.
Bên cạnh những lễ hội mang tính tâm linh, thờ thần cúng phật thì cịn có những dịp
lễ để kỉ niệm những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những người con đã vĩnh viễn nằm lại
dưới lịng đất mẹ. Đó là lễ kỉ niệm ngày Xơ Viết Nghệ Tĩnh ở Khu di tích Ngã ba
Nghèn, thị trấn Nghèn được tổ chức vào ngày 12 tháng 9 dương lịch hàng năm.
Trước tượng đài Ngã ba Nghèn lịch sử, lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đặt vòng hoa, dâng
hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng,
vì độc lập tự do của dân tộc; cầu cho linh hồn các liệt sĩ được siêu thoát nơi cõi vĩnh
hằng, cầu cho nhân dân no ấm.
Người Can Lộc với bản tính cần cù, chịu thương chịu khó đã ln tự mình
làm ra các sản phẩm phục vụ cho cho mình và tìm nguồn thu nhập cải thiện cuộc
sống. Chính vì điều đó, nhiều sản phẩm của người dân Can Lộc được nhiều người
biết đến và có nhiều làng nghề đã trở thành làng nghề nổi tiếng. Đó là làng Trường
Lưu (thuộc xã Trường Lộc) còn nổi tiếng với nghề dệt vải và hát phường vải. Từ
đời Hậu Lê, nghề thủ cơng chính ở Trường Lưu là nghề bông vải, kéo sợi, dệt vải.
Sản phẩm phục vụ trong làng, trong tổng, bao gồm các loại vải mộc, vải thơ may
mặc gia đình, có cả tơ lụa cho các cơ gái. Làng Trường Lưu đã hình thành phường
vải và hát ví phường vải cũng phát triển ở đây. Hiện nay, nghề dệt vải ở Trường
Lưu đã mai một. Từ Trường Lưu, nếu ghé qua làng Yên Lạc (xã Quang Lộc), chúng
ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi bắt gặp những chiếc áo tơi vẫn được sử dụng trong
đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây. Ở Yên Lạc, bao đời nay, áo tơi là công cụ
không thể thiếu trong lao động sản xuất. Cái đáng quý là chiếc áo đã thành truyền
thống, thành “của độc” mà người xưa “để lại” vẫn được giữ gìn. Trải qua bao đời
đến nay, người dân Yên Lạc vẫn còn giữ được nghề chằm tơi truyền thống, và là
một trong những làng hiếm hoi, nếu khơng nói là duy nhất.
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học
1.1.3.1. Những thay đổi của trẻ bắt đầu đi học.
Học sinh bắt đầu bước vào bậc Tiểu học sẽ phải làm quen với môi trường
học tập mới khác hẳn với trường Mầm non. Các em phải chuyển từ hoạt động vui
chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo. Các em phải đi học đúng giờ, không được
bỏ học, trong lớp phải ngồi yên lặng nghe cô giáo giảng bài, làm bài tập về nhà đầy
đủ và đúng thời hạn... Tính chất quan hệ qua lại giữa giáo viên với học sinh, giữa
học sinh với học sinh, giữa học sinh với gia đình cũng thay đổi. Điều này sẽ gây cho
các em không ít khó khăn trong việc thích ứng với mơi trường mới trong giai đoạn
đầu của giáo dục phổ thông.
Đại đa số trẻ em được chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý để đến trường phổ
thông. Các em muốn đến trường để xem nhà trường có gì khác với ở nhà. Do trẻ chỉ
có hứng thú với đặc điểm bên ngồi của q trình học tập nên hứng thú đó dễ dàng
mất đi. Vì thế cần làm cho trẻ có hứng thú với chính q trình học tập, với sự hấp
dẫn của nội dung tri thức. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với những nhà sư phạm là phải
lựa chọn và tổ chức các phương pháp, hình thức dạy học sao cho gây được hứng thú
tìm hiểu, học tập ở hầu hết học sinh.
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi trẻ bắt đầu đi học. Hoạt động chủ
đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một cách cơ bản những
động cơ, hành vi của trẻ, mở ra những nguồn phát triển mới của nhận thức và đạo
đức ở trẻ, hành động học phải được xem như là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở
thành phương tiện để tiếp thu tri thức khái niệm khoa học. Cách học vừa là tiền đề,
cơng cụ, phương tiện, vừa là mục đích của dậy học. Hoạt động học bắt đầu nảy sinh
ở lớp 1 và 2, hình thành ở lớp 3 và 4, định hình ở lớp 5.
1.1.3.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học.
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, tồn bộ, ít đi sâu vào chi
tiết (lớp 1 và 2). Tuy nhiên, trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích, tách dấu hiệu,
chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó.
Tri giác về đánh giá khơng gian, thời gian cịn hạn chế; tri giác chưa chính
xác độ lớn của những vật quá lớn hoặc quá nhỏ.
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào đặc điểm bên ngoài.
Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát. Khi khái quát, học sinh
Tiểu học thường dựa vào chức năng và cộng dụng của sự vật, hiện tượng. Trên cơ
sơ đó tiến hành phân loại, phân hạng. Hoạt động tổng hợp ở học sinh Tiểu học còn
sơ đẳng.
Tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng thì đơn giản,
hay thay đổi. Tưởng tượng tái tạo từng bước hồn thiện. Ngồi ra, “nói dối” là hiện
tượng gắn liền với sự phát triển tưởng tượng của trẻ.
Chú ý không chủ định ở trẻ vẫn phát triển, chú ý có chủ định cịn yếu và
thiếu bền vững. Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động học tập.
Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lơgic. Nhiều học
sinh Tiểu học cịn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng
ghi nhớ máy móc. Ghi nhớ gắn với mục đích đã giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và
chính xác hơn.
1.1.3.3. Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học.
Nét tính cách của học sinh Tiểu học mới hình thành nên chưa ổn định. Hành
vi của trẻ mang tính bột phát và ý chí cịn thấp. Tính cách điển hình của trẻ là hồn
nhiên và dễ tin. Trẻ thích bắt chước hành vi của người xung quanh hay trên phim
ảnh. Học sinh Tiểu học ở Việt Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao
động.
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát triển khá rõ rệt: Từ nhu cầu
tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và 2) đến nhu cầu tìm hiểu nguyên
nhân, quy luật và các mối quan hệ (lớp 3, 4, 5). Nhu cầu đọc sách phát triển cùng
với việc phát triển kỹ xảo đọc. Cần hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ
sớm.
Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh Tiểu học là sự vật, hiện tượng cụ thể
nên cảm xúc, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể.
Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế cảm xúc của mình.
Tình cảm của học sinh Tiểu học cịn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc. Sự
chuyển hóa cảm xúc nhanh.
Việc nắm được đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học vô cùng quan trọng
đối với mỗi người giáo viên. Là căn cứ để giáo viên xác định phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học sao cho gây được hứng thú, mang lại hiệu quả dạy học cao
nhất.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Mục tiêu dạy học Lịch sử địa phương lớp 4, 5
1.2.1.1. Kiến thức
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản, ban đầu về lịch sử hình
thành và phát triển của địa phương theo dòng thời gian từ khi thành lập cho đến
nay.
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về một số sự kiện, hiện
tượng; một số nhân vật lịch sử điển hình; một số thành tựu văn hóa tiêu biểu đánh
dấu sự phát triển của địa phương.
1.2.1.2. Kỹ năng
- Hình thành ở học sinh kỹ năng quan sát sự vật, hiện tượng trên thực tế để
thu thập thông tin.
- Kỹ năng thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau
như: qua cuộc trò chuyện với nhân vật lịch sử, tham quan viện bảo tàng...
- Trình bày kết quả mình thu nhận được bằng lời nói, bài viết, sơ đồ, vẽ
tranh...
- Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm.
- Vận dụng những hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống.
1.2.1.3. Thái độ.
- Đánh giá đúng giá trị của của di tích lịch sử.
- Giáo dục tình u q hương, đất nước, lịng tự hào dân tộc.
- Hình thành lịng u mến, u q di tích lịch sử quê hương. Có thái độ
đúng đắn trong việc bảo vệ di tích lịch sử thơng qua việc tìm hiểu những giá trị của
di tích lịch sử.
- Khơi dậy ở học sinh tinh thần ham học, say mê tìm hiểu về lịch sử địa
phương.
1.2.2. Vai trị, ý nghĩa của việc dạy học Lịch sử địa phương ở Tiểu học
1.2.2.1. Vai trị
Ở trường phổ thơng, giảng dạy Lịch sử địa phương có khả năng to lớn trong
việc cung cấp cho học sinh những tri thức về lịch sử địa phương, làm phong phú
thêm những hiểu biết của các em về quê hương mình, giáo dục cho các em lịng u
q hương, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học
sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc.
Giảng dạy Lịch sử địa phương góp phần khơng nhỏ vào việc giáo dục tư
tưởng chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh.
Lòng tự hào đất nước, dân tộc Việt Nam bắt đầu từ lịng tự hào những chiến
cơng của cha ơng đã làm nên ngay trên mảnh đất quê hương thân yêu nơi các em
sinh ra và lớn lên.
Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội của địa
phương từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, tạo những biểu tượng lịch
sử cụ thể, sinh động, thuận lợi trong việc lĩnh hội các khái niệm phức tạp, những kết
luận, những khái quát khoa học. Đồng thời cũng góp phần giúp học sinh tiếp cận
với đời sống thực ở địa phương, hiểu được những nét đặc thù của lịch sử địa
phương, tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp của của quê hương, những đóng góp
của nhân dân địa phương đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Điều này
rất quan trọng để phát triển tư duy lịch sử cho học sinh.
Dạy học Lịch sử địa phương làm cho học sinh thấy rõ ý nghĩa lịch sử tiến bộ
của chế độ XHCN đang được xây dựng ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam,
bước đầu đem lại những thành quả to lớn, cụ thể trong việc nâng cao đời sống tinh
thần, vật chất của nhân dân lao động ở mỗi địa phương.
Lịch sử địa phương giáo dục cho học sinh lòng yêu lao động qua nhiều thế
hệ, từ đó xác định nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó của
địa phương.
Việc giảng dạy Lịch sử địa phương còn làm cho học sinh nắm vững hơn khái
niệm khoa học hiện đại của hệ thống tự nhiên - con người - xã hội, thấy được vai trò
của con người trong việc chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người.
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có một mối quan hệ biện chứng không
thể tách rời, nằm trong cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”. Tri thức lịch sử địa
phương là những biểu hiện sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc. Để
nghiên cứu, nhận thức lịch sử dân tộc một cách hoàn chỉnh, sâu sắc, người học phải
nghiên cứu lịch sử địa phương vì lịch sử dân tộc được hình thành trên cơ sở khối
lượng tri thức, tài liệu của lịch sử địa phương đã được khái quát hoá, tổng hợp ở
mức độ cao. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử đều xảy ra ở một địa phương nhất định
và nó gắn chặt với một không gian cụ thể ở một địa phương cụ thể nên nó mang
tính chất địa phương rất rõ nét. Nếu tách rời lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương
sẽ làm cho bộ môn Lịch sử trở nên thiếu khoa học, thiếu lôgic, thiếu chặt chẽ, thiếu
sâu sắc và giá trị thuyết phục của nó sẽ bị hạn chế.
Chúng ta đều biết rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra đều
mang tính chất địa phương, vì nó gắn với một vị trí khơng gian cụ thể của một địa
phương nhất định dù rằng các sự kiện đó có tính chất, quy mơ và mức độ ảnh hưởng
khác nhau. Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng ảnh hưởng ở một phạm vi
nhỏ hẹp nhưng cũng có những sự kiện, hiện tượng mà tác động của nó vượt ra khỏi
khung giới địa phương, mang ý nghĩa quốc gia, thậm chí là ý nghĩa quốc tế. Mặt
khác, tìm hiểu về lịch sử địa phương không chỉ là việc riêng của các nhà nghiên cứu
mà còn là nhu cầu của mỗi con người.
Ngoài ra, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự am tường cần
thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về quê hương, xứ sở, nơi chơn rau cắt rốn của
mình, hiểu từ mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.
Mơn Lịch sử nói chung và phần Lịch sử địa phương nói riêng vốn có vị trí, ý
nghĩa to lớn đối với giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh
hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với những thành tựu dựng nước của tổ tiên, xác
định vị trí trong hiện tại, có thái độ đúng với sự phát triển hợp qui luật của tương
lai.
Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của lịng u nước chân
chính. Từ thuở bé thơ, mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật, quá khứ nơi
chơn nhau cắt rốn của mình. Những câu hát ru, những câu chuyện cổ tích của bà,
mẹ, chị mà một phần khơng nhỏ nói về q hương, đã sớm in sâu vào tâm trí trẻ em,
làm tăng thêm lịng yêu quê da diết và là tri thức ban đầu về quê hương.
Các môn học về địa phương ở trường Tiểu học, trong đó có những tiết Lịch
sử địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung cấp, bổ sung những kiến
thức khoa học về tự nhiên, xã hội của quê hương trên mọi lĩnh vực. Đây là điều kiện
thuận lợi cho những học sinh muốn tìm hiểu về lịch sử của dân tộc, quê hương.
Lịch sử địa phương là phần chương trình có khả năng dung nạp lớn nhất mọi
hình thức học tập (Trên lớp, ở nhà, nội khố, ngoại khố,...) Cũng là phần có điều
kiện thuận lợi nhất trong việc phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, phù
hợp với phương pháp dạy học tích cực.
Việc giảng dạy Lịch sử địa phương trong nhà trường có tác dụng trực tiếp và
quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử dân tộc của người giáo viên,
làm cho bài giảng Lịch sử sinh động hơn, có sức truyền cảm, gây thêm hứng thú
học Lịch sử của học sinh, tạo được những biểu tượng lịch sử, giúp học sinh hiểu sâu
sắc hơn các khái niệm, các hiện tượng trong bài học Lịch sử dân tộc. Tri thức lịch
sử địa phương cịn có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục cho người học lòng tự hào
về những truyền thống tốt đẹp của quê hương, địa phương nơi cư trú, khơi dậy tình
yêu quê hương xứ sở của các em.
1.2.2.2. Ý nghĩa
Nhiệm vụ của nhà trường Tiểu học là đào tạo thế hệ trẻ biết yêu quý tha thiết
quê hương của mình, là người lao động tốt, người chiến sĩ tốt trên mặt trận xây
dựng và bảo vệ quê hương, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc
nghiên cứu Lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện
mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông.
a. Ý nghĩa phát triển
- Dạy học Lịch sử địa phương là hoạt động thiết thực, đảm bảo được nguyên
tắc giáo dục: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội. Những gì các em
được học trong nhà trường sẽ được cụ thể hóa ở thực tế.
- Bồi dưỡng cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong việc vận dụng tri
thức vào giải quyết nhiệm vụ cụ thể mà thực tiễn đang địi hỏi.
- Góp phần rèn luyện và phát triển năng lực học tập, nghiên cứu của học
sinh.
b. Ý nghĩa giáo dưỡng
- Giúp cho học sinh thấy được sự phát triển đa dạng, sinh động và thú vị của
lịch sử địa phương; thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lịch sử địa phương và dân
tộc; thấy được nét đặc thù của lịch sử địa phương.
- Kết quả việc nghiên cứu Lịch sử địa phương trong nhà trường góp phần:
+ Cung cấp tài liệu cho việc dạy học Lịch sử địa phương.
+ Giúp địa phương có tài liệu để động viên, tuyên truyền, giáo dục nhân
dân, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương.
+ Thắt chặt mối quan hệ giữa nhà trường với nhân dân địa phương.
+ Nguồn tài liệu Lịch sử địa phương rất phong phú và đa dạng là cơ sở để
tạo biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, sự kiện lịch sử bởi tri thức lịch
sử địa phương là biểu tượng sinh động, cụ thể của tri thức lịch sử dân tộc.
c. Ý nghĩa giáo dục
- Tri thức Lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dục sâu sắc lòng tự hào về
những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo
vệ, giữ gìn di sản văn hóa, di tích lịch sử.
- Lịng tự hào, tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương, ý thức trách nhiệm
của thế hệ trẻ đều được hình thành trên cơ sở những hiểu biết nhất định về lịch sử,
truyền thống và con người ở chính nơi mình đã sinh ra, lớn lên, đang học tập để
trưởng thành.
1.2.3. Mục đích, yêu cầu dạy học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc
Trong nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng
nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gắn với một vị trí khơng gian cụ
thể ở một hoặc một số địa phương nhất định. Tuy nhiên, những sự kiện, hiện tượng
đó có tính chất, quy mơ, mức độ ảnh hưởng khác nhau. Có những sự kiện, hiện
tượng chỉ có tác dụng, ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, nhưng có
những sự kiện, hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi không gian địa
phương, mang ý nghĩa rộng đối với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới. Chính vì
vậy, có những sự kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn
là lịch sử thế giới. Tri thức lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con
người. Chính vì lẽ đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết
cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi
chơn rau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử
của dân tộc và rộng lớn hơn là lịch sử thế giới.
Việc dạy và học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc có ý nghĩa quan trọng
trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của huyện. Thông qua việc dạy học
Lịch sử địa phương, hoạt động của nhà trường có điều kiện để gắn liền với xã hội,
lý thuyết đi đôi với thực hành.
Việc học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc còn bồi dưỡng cho các em học
sinh những kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức lý thuyết vào thực tiễn
đang đòi hỏi ở địa phương. Từ hoạt động thực tiễn đó, các em thấy được sự phát
triển đa dạng, sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương và lịch sử dân
tộc, thấy được nét độc đáo, đặc thù của lịch sử địa phương mình, song vẫn tuân theo
qui luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại.
Nguồn tài liệu lịch sử địa phương với những loại hình đa dạng phong phú,
sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái
niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử. Tri thức lịch sử địa phương huyện
Can Lộc sẽ có ý nghĩa giáo dục lịng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa
phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ, giữ gìn di sản văn hố, di tích
lịch sử,...
Lịch sử địa phương huyện Can Lộc nếu được tổ chức giảng dạy tốt ở các
trường Tiểu học trong huyện sẽ là một trong những nguồn quan trọng làm phong
phú tri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lịng u q
hương, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học
sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.
Việc dạy học Lịch sử địa phương sẽ góp phần hình thành ở mỗi học sinh
lịng tự hào đất nước, tự hào về dân tộc Việt Nam mà trước hết là lòng tự hào về
những chiến cơng của cha anh mình đã làm nên ở ngay trong làng xóm thân yêu khi
đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh
tế, văn hoá, xã hội của địa phương huyện Can Lộc từ trước đến nay. Học sinh không
những tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trong đấu tranh Cách mạng mà
cũng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng, sản xuất, tự hào về
những nghề thủ công truyền thống, về sự tài giỏi khéo léo của những nghệ nhân ở
địa phương huyện Can Lộc đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng. Giới thiệu cho
học sinh những nghề truyền thống, gây cho các em có ý thức bảo vệ và phát triển
nghề truyền thống thủ cơng địa phương.
1.2.4. Tìm hiểu thực tế việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh
Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
1.2.4.1. Mục đích khảo sát
Chúng tơi tiến hành khảo sát trên đối tượng học sinh với mục đích tìm hiểu
về hứng thú học Lịch sử địa phương của học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can
Lộc. Từ đó có phương pháp dạy học thích hợp nhằm thu hút học sinh, đồng thời
giúp các em có cái nhìn đúng đắn đối với việc học tập Lịch sử địa phương.
Bên cạnh khảo sát học sinh thì chúng tơi cũng tiến hành khảo sát trên đối
tượng giáo viên với mục đích tìm hiểu các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học mà giáo viên sử dụng cũng như những khó khăn mà họ gặp phải khi dạy Lịch
sử địa phương huyện Can Lộc. Đây là cơ sở đề chúng tôi đề xuất một số ý kiến
đóng góp để việc dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn
huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh đạt hiệu quả cao hơn.
Thơng qua tìm hiểu về việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương ở trường
Tiểu học Tiến Lộc, đề tài cũng xin phép được góp tiếng nói vào việc nêu lên thực tế
dạy học Lịch sử địa phương ở Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh.
Từ đó, đưa ra một số ý kiến đóng góp với mong muốn ngày càng nâng cao chất
lượng dạy học phần Lịch sử địa phương nói riêng và mơn Lịch sử nói chung ở Tiểu
học.
1.2.4.2. Chuẩn bị khảo sát
a. Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát
- Đối tượng, phạm vi khảo sát:
+ Giáo viên dạy môn Lịch sử lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can
Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, với số lượng là 6 giáo viên.
+ Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà
Tĩnh, với số lượng là 60 học sinh.
- Thời gian khảo sát: Ngày 11/4/2012.
b. Nội dung khảo sát
- Khảo sát về thái độ, nguyện vọng, mong muốn của học sinh lớp 4, 5 trường
Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, đối với việc tổ chức dạy học
Lịch sử địa phương của giáo viên.
- Khảo sát thực tế việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học Lịch sử địa phương của giáo viên trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
1.2.4.3. Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện.
1.2.4.4. Kết quả khảo sát
a. Khảo sát trên đối tượng học sinh
Bảng 1: Câu hỏi: Em có thích học Lịch sử địa phương khơng?
Kết quả
Đáp án
Số lượng
Tỉ lệ phần trăm (%)
Có
54
90
Khơng
1
1,7
Bình thường
5
8,3
Nhận xét: Qua kết quả khảo sát như trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết học
sinh Tiểu học thích học Lịch sử địa phương. 90 % học sinh (54 trong số 60 học sinh
được khảo sát) cho rằng Lịch sử rất bổ ích, các em cảm thấy thích học Lịch sử địa
phương. 1,7% học sinh khơng thích học Lịch sử địa phương (1 trong số 60 học sinh
được khảo sát) là con số không đáng lo ngại nhưng cũng cần để các em có thái độ
đúng đắn khi học Lịch sử địa phương. Có khoảng 8,3% học sinh (tương đương với
5 học sinh trong số 60 học sinh được khảo sát) có thái độ bình thường đối với việc
học tập Lịch sử địa phương (khơng cảm thấy hứng thú cũng khơng có thái độ thờ
ơ). Những học sinh chọn câu trả lời “khơng” hoặc “bình thường” giải thích ngun
nhân của thái độ đó với lí do chủ yếu là theo các em thì kiến thức Lịch sử địa
phương khơ khan, thiếu sinh động, quá nhiều mốc thời gian và khó nhớ.
Bảng 2: Câu hỏi: Trong các giờ dạy Lịch sử địa phương, em có thích được
tham gia các hoạt động học tập như: Kể chuyện lịch sử, đóng vai, tham quan, trị
chơi lịch sử,… khơng?
Kết quả
Đáp án
Số lượng
Tỉ lệ phần trăm (%)
Có
60
100
Khơng
0
0
Bình thường
0
0
Nhận xét: Qua kết quả khảo sát như trên, chúng tơi nhận thấy 100% học sinh
Tiểu học có hứng thú với những hoạt động học tập nhằm nâng cao tính tích cực hoạt
động của các em do giáo viên tổ chức. Các hoạt động như kể chuyện lịch sử, trò
chơi lịch sử được tổ chức thường xuyên trong các tiết dạy Lịch sử địa phương ở các
trường Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh và thực tế cho thấy nó
đã thu hút số đơng học sinh tham gia. Cịn hoạt động tham quan và đóng vai do
khơng có điều kiện nên ít được tổ chức nhưng theo khảo sát thì học sinh rất thích
được tham gia những hình thức học tập này. Đây cũng là mong muốn hết sức chính
đáng của các em. Qua đó thể hiện sự quan tâm của học sinh đối với việc nâng cao
chất lượng dạy học Lịch sử địa phương.
b. Khảo sát trên đối tượng giáo viên
* Về phương pháp dạy học
Câu hỏi: Trong dạy học Lịch sử địa phương ở lớp 4 (5), thầy cô thường sử
dụng những phương pháp dạy học nào?
100% các thầy cô được hỏi đều thể hiện sự nhận thức đầy đủ và hệ thống các
phương pháp đặc trưng cho việc dạy học Lịch sử địa phương trong trường Tiểu học.
Cụ thể là hầu hết tất cả các thầy cô đều sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học
như: Vấn đáp, thảo luận nhóm, trình bày trực quan, trị chơi,... Tuy nhiên, trong hệ
thống các phương pháp đó, có những phương pháp được giáo viên sử dụng thường
xuyên như thảo luận nhóm, vấn đáp. Bên cạnh đó cũng có những phương pháp
khơng thường xuyên được sử dụng như đóng vai. Khi được hỏi về nguyên nhân vì