Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Mot so van de kinh te xa hoi Viet Nam va the gioi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.47 MB, 76 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>CHUYÊN ĐỀ 2 </b>


<b>MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI </b>
<b>VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI </b>


<i><b>I. MỤC TI</b><b>ÊU </b></i>


<i><b>1. </b></i> <i>Về mặt kiến thức</i>: Trang bị những kiến thức cơ bản, cập nhật địa lí
kinh tế - xã hội Việt Nam và thế giới.


<i><b>2. </b></i> <i>Về mặt kĩ năng</i>


+ Bồi dưỡng phương pháp khai thác, phân tích các thơng tin tư liệu địa
lí kinh tế - xã hội Viẹt Nam và thế giới.


+ Nâng cao khả năng phân tích các bảng số liệu thống kê.
<i>II. PHƯƠNG PHÁP</i>


- Thuyết trình có kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học ;


- Thảo luận nhóm (phân tích đánh giá và cách khai thác các loại bản
đồ);


- Học viên thực hành khai thác các loại bản đồ trong phần mềm DB -
MAP


<i>III. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ</i>


- Sau mỗi vấn đề có các câu hỏi và bài tập


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>CHƯƠNG 1 </b>



<b>TỒN CẦU HỐ VÀ KHU VỰC HÓA </b>
<b>I. QUAN NIỆM </b>


Trong những thập kỉ gần đây, sau sự ra đi của trật tự thế giới hai cực, tồn
cầu hố trở thành một trong những cụm từ được sử dụng nhiều và có mức độ
chi phối cao trong đời sống xã hội của thế giới. Hiện tượng toàn cầu hoá được
nhắc chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế nhiều đến mức làm cho người ta nhiều
khi lãng qn tính đa dạng của tồn cầu hố. Trào lưu tồn cầu hố hiện nay đã
bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.<i>Tồn cầu hố là quá trình hình </i>
<i>thành một chỉnh thể thống nhất tồn thế giới. Đó là q trình ảnh hưởng, tác </i>
<i>động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời </i>
<i>sống xã hội, trước hết và chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế và vận hành trong một </i>
<i>trật tự hệ thống toàn cầu.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>Chủ nghĩa tồn cầu kiểu Mĩ</b>


<i>Điển hình là chủ nghĩa tồn cầu kiểu Mĩ. Nước này có ý đồ bá quyền từ lâu </i>
<i>nhưng kể từ khi Liên Xơ tan vỡ, lí thuyết của nó mới được tổng kết dưới thời B. </i>
<i>Clintơn với mục tiêu phổ biến các giá trị Mĩ ra toàn thế giới. Họ dùng các tiêu </i>
<i>chuẩn Mĩ, thước đo Mĩ để xét đoán thế giới, bất chấp những giá trị văn minh </i>
<i>chung của nhân loại hay giá trị truyền thống, tiêu chuẩn văn hoá riêng của các </i>
<i>nước khác. Họ tự cho mình quyền can thiệp vào cơng việc của các quốc gia khi </i>
<i>thấy ở đó xảy ra những sự kiện trái với mong đợi của mình. </i>


Thứ ba, kinh tế là động lực, là nội dung cơ bản của tồn cầu hố. Kinh tế
vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của đa số các liên kết quốc tế. Nó là cơ sở, là
điều kiện tồn tại và phát triển của mọi quốc gia nên người ta ln cố gắng giành
lấy hoặc bảo vệ nó. Lợi ích kinh tế ln là động lực chủ yếu thôi thúc các cá
nhân, các tổ chức vươn ra thế giới. Mọi mối quan hệ của quốc gia này hay khác


đối với bên ngoài bao giờ cũng gắn với những ràng buộc về kinh tế, nhất là
trong điều kiện hiện đại khi mà nền kinh tế muốc tồn tại thì nhất thiết phải có sự
hỗ trợ từ bên ngồi. Vì vậy, ngày nay các thiết chế về kinh tế như WTO, WB,
IMF... có vai trị nổi trội hơn cả trong các thiết chế mang tính tồn cầu. Nhưng
nói kinh tế là nội dung cơ bản của tồn cầu hóa thì khơng có nghĩa kinh tế là nội
dung duy nhất của tồn cầu hóa. Những nội dung phi kinh tế như an ninh, văn
hố, mơi trường và những nội dung nhân văn ngày càng thu hút được nhiều mối
quan tâm chung của nhân loại. Tổ chức mang tính tồn cầu lớn nhất là tổ chức
Liên hợp quốc. Đây là một tổ chức mà hoạt động của nó bao trùm lên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội thế giới trong đó kinh tế chỉ là một mà thơi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>II. NHÂN TỐ TỒN CẦU HỐ </b>


<b>1. Ngun nhân sâu xa của tồn cầu hố </b>


Tồn cầu hố chính là một hiện tượng nằm trong quá trình phát triển tự
nhiên của xã hội loài người. Sự phát triển của các sự vật, hiện tượng theo
nguyên lí phát triển có lặp lại về hình thức nhưng ở một trình độ cao hơn. Sự
phát triển của lịch sử lồi người tất nhiên khơng nằm ngồi quy luật đó. Chỉ có
điều, lồi người do đạt đến trình độ cao trong nhận thức và hành động nên có
thể đẩy nhanh hay làm chậm q trình phát triển mà thôi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

sự phát triển của nhân loại. Những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của quốc
gia khơng chỉ cịn là vấn đề riêng của họ mà trở thành vấn đề mang tính quốc tế.


Lịch sử đã chứng minh, mỗi cộng đồng người muốn phát triển thì khơng thể
chỉ dựa vào việc áp chế mà còn phải dựa vào sự phối hợp với các cộng đồng
khác. Vì vậy, khi nhu cầu cho sự phát triển vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì
bên cạnh việc đấu tranh với nhau, các cộng đồng người phải phối hợp, cộng tác
với nhau và đòi hỏi này ngày càng trở lên cấp thiết. Sự phát triển này đã đưa


nhân loại đến thời kì của những mối quan hệ quốc tế đa chiều, phức tạp, đan
xen giữa loại bỏ và nâng đỡ, giữa tước đoạt và ban ơn và bao trùm lên mọi lĩnh
vực từ kinh tế đến chính trị, xã hội... Vai trò của sự hội nhập quốc tế lớn đến nỗi
nhìn vào mức độ hội nhập người ta có thể đánh giá được mức độ phát triển kinh
tế - xã hội của một nước. Một nước đứng ngoài các mối quan hệ quốc tế ngày
nay là khơng thể có. Hầu hết các nước kém phát triển ngày nay là những nước ít
hồ nhập vào môi trường quốc tế. Các nước càng phát triển thì càng phụ thuộc
nhiều vào thế giới bên ngồi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<b>Quan niệm về tồn cầu hố</b>


<i>Theo quan niệm nhân chủng học thì lồi người trên thực tế có cơ sở thống </i>
<i>nhất từ nguồn gốc của nó. Vào giai đoạn phát triển thấp thì khơng gian địa lí </i>
<i>cách trở là ngun nhân khơng thể khắc phục được và dẫn tới sự phân li. Khi </i>
<i>nhân loại bước vào kỉ nguyên văn minh, với sự trợ giúp của kĩ thuật hiện đại sự </i>
<i>xa cách về không gian địa lí khơng cịn là khó khăn khơng thể khắc phục được </i>
<i>thì nhân loại rõ ràng lại có điều kiện để hội tụ, thống nhất. Theo Roland </i>
<i>Robertson, tồn cầu hố là quá trình lịch sử tự nhiên, là quá trình hội tụ thế </i>
<i>giới theo phạm vi rộng, phân biệt với các quá trình diễn ra trên phạm vi quốc </i>
<i>gia hay nhỏ hơn. Hàm ý ở đây là lịch sử thế giới đi theo một tiến trình hợp </i>
<i>nhất, thơng qua việc hình thành lên những thực thể lớn dần, mà lớn nhất là thực </i>
<i>thể tồn cầu và như vậy chính việc hình thành các thực thể trung gian đã mang </i>
<i>ý nghĩa toàn cầu hóa. Do đó, có khái niệm tồn cầu hố (globalization) và tồn </i>
<i>cầu hố có tính địa phương (local globalization)... Tồn cầu hố khơng phải là </i>
<i>q trình đồng nhất tồn cầu mà là q trình xâm nhập lẫn nhau giữa cái toàn </i>
<i>cầu và cái địa phương. Về kinh tế nó thể hiện bằng việc hợp tác tồn cầu đáp </i>
<i>ứng nhu cầu sản phẩm và thị trường của địa phương, theo từng hồn cảnh cụ </i>
<i>thể, tương thích với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng. </i>


<b>2. Động lực trực tiếp </b>



<i><b>2.1. L</b><b>ợi ích của giai cấp, của dân tộc</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

tiềm lực kinh tế cịn hạn chế thì tham gia vào các mối quan hệ quốc tế giúp họ
có thêm sức mạnh để bảo vệ mình trước sự cạnh tranh của những đối thủ lớn.
Về quân sự, tham gia các mối quan hệ quốc tế chẳng những đem lại những tiến
bộ về khoa học, kĩ thuật mà còn tạo thêm được hiện đại hố qn đội mà cịn
giúp các nước có thêm cái ơ bảo vệ. Đó là sức mạnh của đồng minh và những
đỉều kiện đảm bảo độc lập cho đất nước do những thoả thuận quôc tế đem lại.


<i><b>2.2. S</b><b>ự tiến bộ khoa học kĩ thuật, sự lớn mạnh của kinh tế nói chung</b></i>


Người ta ghi nhận những hiện tượng quốc tế hoá ra đời khá sớm, nhưng chỉ
gần đây chúng mới trở thành trào lưu lơi cuốn tồn nhân loại. Ngun nhân chủ
yếu là vì trước đây những hạn chế về khoa học, kĩ thuật và khả năng kinh tế đã
làm chậm quá trình này.


Thành tựu của cách mạng khoa học - kĩ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự hoà
nhập quốc tế. Trước hết, tiến bộ khoa học kĩ thuật làm cho kinh tế, xã hội phát
triển đồng thời làm nảy sinh những nhu cầu mới mà con người khơng thể thoả
mãn bằng những gì đã có trên quê hương, đất nước của mình. Một trong những
nhu cầu ấy là nhu cầu kinh tế bao gồm tìm kiếm nguồn tài nguyên bổ sung và
những thị trường tiêu thụ mới. Nhu cầu vượt khỏi ranh giới những không gian
nhỏ bé ngày càng trở lên cháy bỏng. Mặt khác, những tiến bộ về khoa học - kĩ
thuật đã chắp cánh cho người ta thực hiện giấc mơ vươn ra thế giới, trong đó
một kì tích quan trọng hàng đầu là khắc phục ngày càng có hiệu quả sự cách trở
của khơng gian địa lí. Tiến bộ trong ngành hàng hải, thông tin liên lạc dường
như làm cho thế giới trở nên nhỏ bé, gần gũi với mỗi người. Sự ra đời của xe
lửa đã nối liền các vùng đất xa xôi, tạo điều kiện trao đổi những khối lượng
hàng hoá to lớn. Máy bay xuất hiện làm cho việc giao lưu càng trở nên nhanh


chóng. Người ta ngồi trên máy bay với tốc độ 800km/h thì đi từ Hà Nội sang
Pari cịn hết ít thời gian hơn là đi bộ từ Hạ Long lên Hà Nội. Máy bay làm cho
thế giới trở lên gần cận như trong một nước. Và với sự ra đời của điện thoại,
internet... thì sự ngăn cách về khơng gian địa lí gần như bị loại bỏ hoàn toàn.
Hai người ở Hà Nội và ở New York có thể nói chuyện bàn bạc việc làm ăn với
nhau dễ dàng hơn so với hai bà nông dân ở hai nhà hàng xóm. Thơng tin viễn
thơng và internet thật sự đã biến thế giới thành một nhà.


<i><b>2.3. Vai trò thúc </b><b>đẩy của các định chế, các tổ chức mang tính to</b><b>àn c</b><b>ầu</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

các hoạt động kinh tế xã hội của các quốc gia được điều chỉnh theo hướng
thống nhất với thế giới tạo cơ hội cho sự xâm nhập lẫn nhau giữa các cộng
đồng, nghĩa là chúng tạo cơ hội cho quốc tế hoá và tồn cầu hố.


Hiện nay, bản hiến chương có ảnh hưởng rộng rãi nhất là Hiến chương Liên
Hợp Quốc. Bản hiến chương này nêu ra những nguyên tắc chung nhất về quyền
lợi dân tộc, các nguyên tắc ứng xử quốc tế... Theo tinh thần Hiến chương Liên
hợp quốc, căn cứ vào những vấn đề xuất hiện trong lịch sử, người ta lại kí kết
các cơng ước quy định những nguyên tắc thể lệ cho từng vấn đề cụ thể. Các
công ước mà ta biết nhiều gồm công ước quốc tế về quyền con người, công ước
về quyền trẻ em, công ước về biển, công ước quốc tế về cấm phổ biến vũ khí
huỷ diệt...


Trong các mối quan hệ song phương hay đa phương, vì lợi ích của một
nhóm nước, người ta có thể kí với nhau những hiệp ước, hiệp định hay các thoả
thuận riêng. Hiệp ước là những điều ước quan trọng nhất, ghi rõ những điều
cam kết của các bên về các vấn đề nào đó, ví dụ Hiệp ước hữu nghị và hợp tác
giữa hai nước, Hiệp ước quân sự giữa các nước... Ở mức độ thấp hơn nhưng
thơng dụng hơn, người ta hay kí kết các hiệp định để giải quyết những vấn đề
cụ thể. Ví dụ, Hiệp định Pari lập lại hồ bình ở Việt Nam, Hiệp định tránh đánh


thuế hai lần, Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ...


Đơi khi, nhiều quy định tuy không phải là những chuẩn mực do cộng đồng
quốc tế ban hành mà chỉ là những tiêu chuẩn của một tổ chức, một quốc gia hay
một nhóm quốc gia nhưng lại được các quốc gia khác tự nguyện tuân theo khiến
chúng cũng có ý nghĩa như các định chế quốc tế. Chúng ta thấy rõ điều này qua
việc phổ biến các tiêu chuẩn châu Âu, Hoa Kì...


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<b>Liên Hợp Quốc </b>


<i>Tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc (LHQ) là Hội Quốc Liên, hình thành </i>
<i>sau chiến tranh thế giới thứ 1. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhu cầu giữ gìn </i>
<i>an ninh trật tự trong thế giới mới được đặt ra. LHQ ra đời tại Xanfranxcô vào </i>
<i>năm 1945 trong bối cảnh như vậy.</i>


<i>Mục tiêu ban đầu của LHQ là duy trì an ninh thế giới nhưng về sau lĩnh </i>
<i>vực hoạt động của nó mở rộng. Ngày nay, hoạt động của LHQ bao trùm lên </i>
<i>mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên quy mô tồn cầu. Số thành viên của nhân </i>
<i>viên tăng khơng ngừng, từ hơn 50 nước lúc thành lập đến nay đã gồm khoảng </i>
<i>190 nước, nghĩa là bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên thế giới.</i>


<i>Là tổ chức có đại diện của tất cả các thành viên nhưng LHQ là sản phẩm </i>
<i>của một trật tự thế giới nên quyền lực của nó phản ánh tương quan lực lượng </i>
<i>trên thế giới. Quyền lực của LHQ tập trung ở Hội đồng Bảo an gồm 15 nước </i>
<i>đại diện của các khu vực, nhưng quyền phủ quyết thuộc về 5 cường quốc thuộc </i>
<i>phe thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ 2.</i>


<i>Cơ cấu quyền lực của LHQ ngày nay cũng đang có sự thay đổi. Một mặt, </i>
<i>do vai trị của Hoa Kì trên thế giới nổi lên như một siêu cường không đối thủ </i>
<i>nên quyền lực thực tế của LHQ cũng tập trung vào tay Hoa Kì nhiều hơn. Thực </i>


<i>tế, đối với các vấn đề quốc tế quan trọng, Hoa Kì có thể bất chấp LHQ để hành </i>
<i>động đơn phương, và sau đó LHQ phải đứng ra giải quyết việc đã rồi. Sự kiện </i>
<i>Irắc là ví dụ minh chứng rõ nhất cho điều đó. Mặt khác, có nhiều quốc gia trên </i>
<i>thế giới đã trở lên hùng mạnh, lấy lại được vị thế của mình trên thế giới. Do đó </i>
<i>họ địi có vị trí, có quyền lợi xứng đáng ở LHQ. Trường hợp điển hình là Nhật, </i>
<i>Đức, Braxin, Ấn Độ</i>…<i> Những nước này đang vận động để có thể có chân trong </i>
<i>thường trực Hội đồng Bảo an. Dù có thay đổi về cơ cấu quyền lực thì LHQ vẫn </i>
<i>được hiểu là một tổ chức được các quốc gia tham gia trên cơ sở cam kết tuân </i>
<i>thủ hiến chương LHQ, trong đó, mỗi quốc gia có đầy đủ các quyền nội trị của </i>
<i>mình và có tồn quyền trong quan hệ đối ngoại trong khuôn khổ tập quán và </i>
<i>luật pháp quốc tế.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

quốc tịch, nhiều nền văn hoá. Đối với những người này, lợi ích của họ khơng
chỉ gắn với lợi ích quốc gia mà cịn gắn với lợi ích tập đoàn nơi mà họ đang làm
việc. Họ là một phần của dân tộc mình nhưng cũng là một phần của công ti đa
quốc gia. Bản thân họ đã là hiện thân của q trình quốc tế hố. Họ vừa là kết
quả nhưng cũng đồng thời là nhân tố thúc đẩy tiếp tục q trình tồn cầu hố.
Với cách lập luận như thế, có thể cho rằng các công ti đa quốc gia là nhân tố rất
cơ bản của q trính tồn cầu hố, bởi vì các cơng ti đa quốc gia thúc đẩy tồn
cầu hố các hoạt động trung tâm của lồi người là hoạt động kinh tế và tồn cầu
hố chính chủ nhân của xã hội, tức là tồn cầu hố từng con người. Mặt khác,
do có thế lực to lớn về kinh tế, các cơng ti này có khả năng tác động tới chính
<i>phủ</i> khiến họ phải có những chính sách kinh tế, ngoại giao có lợi cho việc làm
ăn của các công ty.


Ngày nay, thế giới có rất nhiều tập đồn đa quốc gia và chính chúng là chủ
của những khoản đầu tư quốc tế chủ yếu mà ta gọi là đầu tư trực tiếp từ nước
ngồi và là người kiểm sốt phần lớn kim ngạch xuất nhập khẩu. Để đón nhận
được những luồng đầu tư này, tất cả các chính phủ đều phải điều chỉnh chính
sách, tất cả mọi người lao động đều phải tự đổi mới, phải tiêu chuẩn hoá để đạt


tới những chuẩn mực chung nào đó của thế giới. Thập kỉ vừa qua, nhiều cuộc
sáp nhập xuyên biên giới đã diễn ra, khiến nhiều cơng ti lớn về mặt nào đó đã
trở thành tổ chức kinh tế mang tính thế giới và quy mơ của nó lớn đến mức tự
nó mang màu sắc độc quyền, chi phối cả thế giới, khiến cho các ngành tương
ứng của các quốc gia chỉ cịn vai trị như những ngành có tính địa phương.


<b>II. TỒN CẦU HỐ KINH TẾ - NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA Q </b>
<b>TRÌNH TỒN CẦU HỐ </b>


Tồn cầu hoá kinh tế vừa là nội dung, vừa là động lực chủ yếu của hiện
tượng quốc tế hố. Khi tìm ngun nhân sâu xa của các hoạt động quốc tế hoá
từ xưa đến nay, bao giờ ta cũng thấy bóng dáng của nhân tố kinh tế. Lợi ích
kinh tế là động lực cơ bản, còn các mối liên kết kinh tế là nội dung chủ yếu của
tồn cầu hố.


Tồn cầu hố kinh tế được thực hiện thông qua các kênh trao đổi và việc
tăng cường các thiết chế tổ chức và thực hiện các kênh đó. Các kênh trao đổi
chủ yếu thông qua các hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư, viện trợ
kinh tế. Các thiết chế, tổ chức quan trọng nhất gồm các tổ chức mang tính tồn
cầu, các cơng ti đa quốc gia, các diễn đàn, các thoả thuận chung về kinh tế...


<b>1. Hoạt động ngoại thương </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

đa số các quốc gia trên thế giới. Chính sách ngoại thương của các nhà nước có
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước cùng như thu hút sự quan tâm của
các nước khác. Những mối liên kết hay xung đột lớn nhất về kinh tế trên thế
giới hiện nay là nằm trong lĩnh vực thương mại quốc tế.


<i><b>1.1. Vì sao ngo</b><b>ại thương lại được nhân loại quan tâm đến như vậy? </b></i>



Chúng ta đều biết rằng tham gia hoạt động ngoại thương có nghĩa là các
quốc gia đã tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và như vậy họ có thể
lựa chọn cho mình những ngành sản xuất mang lại <i>lợi ích kinh tế cao hơn.</i> Mỗi
nước sẽ được lợi hơn khi thay vì phải sản xuất những mặt hàng mà mình khơng
có điều kiện thuận lợi để sản xuất thì họ sản xuất những mặt hàng có điều kiện
thuận lợi rồi mang trao đổi lấy những thứ mình cần. Giả sử một nước có điều
kiện thuận lợi, có khả năng sản xuất tất cả các sản phẩm với giá thành thấp hơn
tất cả các nước khác thì hoạt động ngoại thương có mang lại lợi ích gì cho họ
hay khơng? Thực tế là có. Bằng chứng là các nước phát triển nhất lại là những
nước có kim ngạch ngoại thương lớn nhất và chính lợi ích kinh tế tiếp tục thôi
thúc họ mở rộng quy mô ngoại thương. Về mặt lí thuyết, những lợi ích của
ngoại thương được chỉ ra từ thế kỉ 18 bởi nhà kinh tế học Anh Davis Ricardo
trong <i>học thuyết vềlợi thế so sánh</i> của ơng.


<i>Lí thuyết về lợi thế so sánh </i>chỉ ra rằng tất cả các nước đều được lợi thông
qua thương mại quốc tế. Do sự khác nhau về nguồn lực, chi phí sản xuất và giá
cả tương đối của từng mặt hàng mà các nước sẽ được lợi nếu tập trung và sản
xuất các mặt hàng mà mình có chi phí tương đối thấp, đem trao đổi lấy mặt
hàng mà mình có chi phí tương đối cao, bất chấp sự khác biệt về năng suất lao
động. Người ta đã chứng minh một cách hết sức thuyết phục những nhận định
này.


<b>Lợi ích của thương mại quốc tế </b>


<i>Chúng ta cùng lấy ví dụ đơn giản để chứng minh những lợi ích của thương </i>
<i>mại quốc tế. Ta giả sử rằng Hoa Kì là nước có năng suất lao động cao và do </i>
<i>đó, giá thành mọi sản phẩm đều cao hơn châu Âu, ta sẽ chứng minh rằng khi </i>
<i>trao đổi với nhau thì cả Hoa Kì, nơi có năng suất cao và châu Âu, nơi có năng</i>
<i>suất thấp, đều có lợi.</i>



</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

<i>châu Âu đều cao hơn Mĩ. Giả sử cả châu Âu và Hoa Kì, mỗi nơi đều cần 300 đơn </i>
<i>vị quần áo, 300 đơn vị thực phẩm thì châu Âu cần 900 giờ để sản xuất thực </i>
<i>phẩm, 1200 giờ để sản xuất quần áo. Còn đối với, số liệu tương ứng là 300 giờ </i>
<i>và 600 giờ.</i>


<i>Ta thấy ở Hoa Kì năng suất lao động trong việc sản xuất thực phẩm gấp 2 </i>
<i>lần năng suất trong việc sản xuất quần áo, còn ở châu Âu hệ số này chỉ là 4/3. </i>
<i>Như thế, so với sản xuất quần áo thì ưu thế của sản xuất thực phẩm ở Hoa Kì </i>
<i>cao hơn ở châu Âu cịn nếu so với sản xuất thực phẩm thì sản xuất quần áo ở </i>
<i>châu Âu lại có ưu thế cao hơn ở Hoa Kì (Châu Âu là 3/4 cịn Mĩ chỉ có 1/2). </i>
<i>Người ta nói, châu Âu có lợi thế tương đối trong việc sản xuất thực phẩm, cịn </i>
<i>Hoa Kì có lợi thế tương đối trong việc sản xuất quần áo.</i>


<i>Giả sử rằng, nếu mỗi bên khơng tự sản xuất tất cả các thứ mình cần mà có </i>
<i>sự trao đổi với nhau, theo đó mỗi bên chỉ sản xuất một mặt hàng mà mình có lợi </i>
<i>thế tương đối để dùng và đổi cho bên kia lấy thứ mình kém lợi thế hơn, cụ thể là </i>
<i>châu Âu chỉ sản xuất quần áo còn Hoa Kì chỉ sản xuất thực phẩm, thì mỗi bên </i>
<i>cố lợi như thế nào? </i>


<i>Nếu châu Âu dùng thời gian định để sản xuất 300 đơn vị thực phẩm là 900 </i>
<i>giờ (3giờ </i>x<i> 300đơn vị) vào việc sản xuất quần áo thì sẽ được 225 đơn vị quần </i>
<i>áo (900 : 4 giờ). Giả sử chi phí chuyên chở và thuế khố khơng đáng kể thì số </i>
<i>quần áo này mang sang Hoa Kì sẽ đổi được 450 đơn vị thực phẩm. Vậy thì nếu </i>
<i>khơng có trao đổi ngoại thương, châu Âu chỉ sản xuất được 300 đơn vị QA và </i>
<i>300 đơn vị TP nhưng cũng với thời gian lao động như thế, nhờ trao đổi với Hoa </i>
<i>kì mà châu Âu có thể thu được thêm 150 đơn vị thực phẩm. Rõ ràng phần này </i>
<i>có được là nhờ hoạt động ngoại thương.</i>


<i>Lập luận tương tự, ta cũng thấy rằng nếu Hoa Kì dùng 600 giờ định sản </i>
<i>xuất 300 đơn vị quần áo mà sản xuất thực phẩm rồi đem đổi cho Châu Âu lấy </i>


<i>quần áo thì sẽ được khơng phải chỉ 300 đơn vị quần áo mà là 400 đơn vị, phần </i>
<i>dư ra tới 100 đơn vị. Một lợi ích hiển nhiên là, nếu mỗi bên vẫn lao động với số </i>
<i>thời gian như cũ thì họ sẽ được hưởng một số lượng sản phẩm tiêu dùng nhiều </i>
<i>hơn. Còn nếu họ chỉ hưởng số lượng sản phẩm như cũ, thì chỉ cần bỏ ra ít thời </i>
<i>gian lao động hơn, nghĩa là chi phí ít hơn. Đó là cơ sở để người ta thu được lợi </i>
<i>nhuận cao hơn nếu như vẫn bán hàng với giá như cũ hoặc vẫn lãi cao hơn nếu </i>
<i>có giảm giá bán hàng ở mức thích hợp.</i>


<i>Tất nhiên, phần lợi do ngoại thương cịn phụ thuộc vào chi phí vận tải, thuế </i>
<i>xuất nhập... nhưng những yếu tố này ngày càng được hạn chế nên lợi ích do </i>
<i>ngọai thương mang lại ngày càng tăng lên.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

<i>ích khác</i>. Ngoại thương đảm bảo cung cấp cho các quốc gia những sản phẩm
đáp ứng nhu cầu chiến lược, mang tính thời đại, sống còn của nền kinh tế.
Chẳng hạn dầu, khí đối với những nước khơng có mỏ dầu, máy móc, vũ khí đối
với các nước đang phát triển, kim loại màu đối với các nước cơng nghiệp...
Ngoại thương cịn là con đường để các nước du nhập các tiến bộ khoa học, kĩ
thuật, còn tạo ra nhân tố thúc đẩy sự phát triển trong nước thông qua việc tạo ra
một thực thể cạnh tranh mới. Thương mại từ lâu không chỉ đơn thuần là thương
mại hàng hố mà nó cịn bao gồm cả lĩnh vực dịch vụ, trí tuệ... Là một hoạt
động kinh tế nhưng ngày nay, ngoại thương không chỉ ảnh hưởng tới sự phát
triển kinh tế mà nó cịn có vai trị về chính trị. Nhiều nước thông qua ngoại
thương để phát huy ảnh hưởng của mình ra ngồi biên giới.


<b>2. Hoạt động ngoại thương có cường độ ngày càng lớn </b>


Quy mô hoạt động ngoại thương đo bằng kim ngạch xuất nhập khẩu. Trong
mấy thập kỉ qua, kim ngạch ngoại thương của thế giới tăng nhanh chóng. Trong
nhiều năm trở lại đây, tốc độ tăng của kim ngạch ngoại thương luôn cao hơn nhiều
so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thập kỉ 90, thương mại quốc tế tăng với tốc độ


trung bình khoảng 7% /năm, cao gấp 2,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Cho đến nay,
lượng hàng hoá trao đổi trên thế giới đã lên đến con số gần 7000 tỉ đô la Mĩ, chiếm
tới hơn 20% GDP toàn cầu. Thế giới xuất hiện những nền kinh tế có nền ngoại
thương khổng lồ, nghĩa là những nước mua nhiều, bán nhiều trên thế giới. Nổi lên
hàng đầu là các nước như Hoa Kì, Đức, Nhật, Trung Quốc, Anh, Pháp, Canađa..
Riêng Hoa Kì có kim ngạch ngoại thương lên tới hơn 2000 tỉ USD. Các nước đang
trong quá trình cơng nghiệp hố có kim ngạch ngoại thương tăng nhanh, tiêu biểu
như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Trung Quốc trong vài chục năm qua
đã tăng kim ngạch lên hơn hàng ngàn tỉ đô la Mĩ. Các nước Đông Nam Á cũng
tăng với tốc độ cao.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

nhau giữa các nước hay nhóm nước với những nguyên nhân rất khác nhau
+ Những nước có tỉ xuất hàng xuất, nhập khẩu thấp có thể là những nước
kém phát triển, kinh tế tự cấp tự túc như nhiều nước châu Phi, nhưng cũng có
thể là những nước công nghiệp phát triển giàu có công nghệ hiện đại và thị
trường trong nước rộng lớn. Ta có thể thấy ngay như Nhật, Hoa Kì thì tỉ xuất
hàng xuất hay nhập khẩu cũng chỉ trên dưới 10% GDP.


+ Những nước có tỉ xuất hàng xuất nhập khẩu cao nhất thường là những
nước nhỏ mà cơ cấu kinh tế có sự mất cân bằng lớn giữa các ngành do đặc điểm
nguồn lực hay do lịch sử để lại… Đó là những nước nghèo chuyên sản xuất cây
công nghiệp hay khai thác quặng mỏ. Đó cũng có thể là những nước có trình độ
phát triển khá cao nhưng thị trường nhỏ hoặc những nước nhỏ mà nền kinh tế
mang tính chất gia cơng, chế biến như Xingapo.


+ Các nước đang phát triển nhưng đang cơng nghiệp hố mạnh thì tỉ xuất
hàng xuất - nhập cũng khá cao, đạt tới 40 - 50% GDP hoặc hơn nữa. Một mặt,
các nước này xuất nhập nhiều do nền kinh tế mang tính chất gia công - chế
biến, do nhu cầu tăng thu ngoại tệ để đầu tư cơ sở vật chất nhưng cũng cịn do
xã hội hồ nhập với thế giới và phát triển nhanh làm nảy sinh nhiều nhu cầu


mới mà trong nước không thể đáp ứng nổi... Việt Nam hay phần lớn các nước
Đơng Nam Á nằm trong nhóm này.


<b>3. Khái niệm thương mại ngày nay được mở rộng hơn trước </b>


Bên cạnh những trao đổi hàng hố cịn có trao đổi dịch vụ. Mặc dù mới ra
đời nhưng loại hình giao dịch dịch vụ phát triển rất nhanh vượt xa tốc độ tăng
trưởng của giao dịch hàng hố và có quy mơ rất đáng kể. Vào năm 1980, xuất
khẩu dịch vụ của thế giới mới vào khoảng 392 tỉ USD thì đến nay đã vào
khoảng 1300 tỉ USD, tương đương 1/4 giá trị trao đổi thương mại hàng hoá của
thế giới. Nguyên nhân làm cho những trao đổi dịch vụ tăng trưởng nhanh chóng
như vậy chủ yếu do con người bước vào kỉ nguyên thông tin, kỉ nguyên của
cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại, kỉ nguyên của hoà nhập thì những
nhu cầu phi vật thể có vai trị ngày càng lớn. Ngồi ra, những hàng hố dịch vụ
thường dễ vận chuyển và thị trường cũng bùng phát với tốc độ lớn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

khẩu, người ta cũng tạo ra những đối tác cạnh tranh mới, thường là có ưu thế
hơn so với nội địa. Do đó, nhập khẩu thơi thúc các cơ sở sản xuất kinh doanh
trong nước phải đổi mới theo hướng tích cực, tạo ra những tiến bộ cho nền kinh
tế. Hiển nhiên người tiêu dùng cũng được lợi. Việc cải tiến chất lượng đi kèm
với hạ giá của nhiều sản phẩm (ví dụ như xe máy, quạt điện ở nước ta trong
những năm qua) là những ví dụ điển hình.


Ngồi các mục tiêu kinh tế, ngoại thương còn được coi là một hoạt động
nhằm vào những mục tiêu phi kinh tế. Những nước có thị trường lớn hay những
nước nắm giữ những sản phẩm chi phối nền kinh tế hay sự vận hành của xã hội
thường thay đổi xuất nhập hàng theo những định hướng quan hệ quốc tế của
mình. Ví dụ, Hoa Kì có thể coi việc mở hay khơng mở cửa thị trường của mình,
hạn chế xuất nhập hàng đối với nước này hay nước khác như một điều kiện hay
sự thể hiện thái độ của Hoa Kì với nước đó. Những nước Trung Đơng dùng dầu


mỏ để trừng phạt các nước có lối hành xử không phù hợp với quan điểm của họ.
Sự cấm vận của Hoa Kì với Cu Ba trong hơn 40 năm qua như là một ví dụ cụ
thể nhất minh chứng cho việc một quốc gia có thể dùng ngoại thương như một
vũ khí phục vụ cho mục tiêu chính trị của mình.


<b>4. Ngoại thương ngày càng bị chi phối bởi nhiều nhân tố </b>


Nhân tố bao trùm là mục tiêu của hoạt động thương mại. Như trên đã phân
tích, bên cạnh các nhân tố thuần t kinh tế, cịn có rất nhiều nhân tố phi kinh
tế. Các mục tiêu ngày càng đa dạng đã hối thúc ngoại thương phát triển không
ngừng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

quan được dựng lên thông qua việc quy định mức thuế xuất nhập cho các hàng
hoá. Chúng không chỉ đơn giản mang lại <i>nguồn thu ngân sách</i> mà quan trọng
hơn là thông qua đó nhà nước giấn tiếp ngăn cản hay thúc đẩy các luồng hàng
vào hay ra khỏi thị trường nước mình. Việc đánh thuế cao hay thấp đối với hàng
xuất, nhập sẽ ảnh hưởng đến giá bán, do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của hàng hoá ấy trên thị trường. Hàng rào phi thuế quan là hàng rào dựng lên
không dựa vào thuế xuất nhập. Nói nôm na, đây là những điều kiện mà các
nước đặt ra đòi hỏi các nhà xuất, nhập khẩu phải tuân thủ nhưng không phải là
những điều kiện kinh tế mà là những địi hỏi về chính trị, xã hội... Chẳng hạn,
những đòi hỏi về cải cách thể chế, những đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền...
Nhiều nước phát triển không nhập những hàng hoá được sản xuất bởi lao động
trẻ em hay lao động ngoài giờ quá mức họ quy định. Hàng rào phi thuế quan có
thể phải tính thêm cả những hỗ trợ của nhà nước đối với các ngành sản xuất nội
địa như những chính sách hỗ trợ tài chính cho nơng dân của EU hay Hoa Kì,
cũng như sự hỗ trợ của hai thực thể này đối với công nghiệp hàng không của
họ. Hàng rào phi thuế quan tuy khơng địi hỏi những điều kiện về mặt kinh tế
nhưng không thể nói mục đích của chúng là phi kinh tế. Nói cho cùng thì chúng
cũng nhằm mục đích là khép bởi cánh cửa đối với hàng nhập và điều đó cũng


đồng nghĩa với việc bảo vệ thị trường nội địa của mình. Chính sách thương mại
khác nhau thường dẫn đến xung đột giữa các nước ở những mức độ khác nhau.
Trên quy mô tồn cầu, câu nói “thương trường l<i>à chiến trường"</i> ngày càng
đúng khơng chỉ về nghĩa bóng của nó.


<b>Chiến tranh thương mại trên thế giới</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

<i>biến mang tính thời đại vì nó đụng chạm đến lợi ích của mọi quốc gia. Việc </i>
<i>điều phối các quan hệ thương mại toàn cầu ngày càng trở lên cấp bách.</i>


Tranh chấp thương mại dẫn đến việc hình thành các tổ chức thương mại
mang tính tồn cầu như Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT ra
đời từ những năm 40 của thế kỉ của thế kỉ XX mà bây giờ được thay thế bằng
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO hay các tổ chức thương mại khu vực như
NA FTA, AFTA...


<i> Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật vànhững thành tựu to lớn trong </i>
<i>nền kinh tế thế giới thúc đẩy mạnh hoạt động ngoại thương trong những năm </i>
<i>gần đâ</i>y. Tiến bộ trong vận tải, nhất là vận tải đường bộ và hàng hải vừa làm
giảm cước vận chuyển, vừa đảm bảo được chất lượng hàng hố trong q trình
vận chuyển đã tạo ra cơ hội mới cho ngoại thương… Những chuyến tầu
côngtenơ đi gom hàng qua các cảng tương tự như xe buýt đi bắt khách dọc các
bến làm cho việc xuất khẩu hàng hoá đặc biệt tiện lợi cho mọi doanh nghiệp dù
lớn hay nhỏ. Công nghệ thông tin tạo thuận lợi cho thương mại từ khâu thông
tin quảng bá thương hiệu thông tin thị trường đến đàm phán thương lượng và
cuối cùng là giao nhận hàng hoá và thanh toán... Ngày nay, với một máy tính
hồ mạng, một vốn kiến thức chun mơn, một doanh nhân có thể ngồi ở văn
phịng của mình để thực hiện những phi vụ làm ăn buôn bán với các doanh
nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới. Người ta cịn có thể ngồi ở nhà mà thực
hiện những cuộc đàm phán đa phương nhờ vào việc tổ chức những cuộc <i>hội </i>


<i>nghị ảo. </i>Việc giảm bớt những chi phí trung gian, việc dễ dàng khắc phục những
trở ngại về thời gian càng giúp người ta có thể thực hiện sự phân cơng lao động
quốc tế sâu rộng hơn và vì vậy ngoại thương sẽ càng được đẩy mạnh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

Kinh tế càng phát triển thì càng phổ biến lối sống theo thị hiếu, vòng đời
của các sản phẩm hàng hoá ngắn nên nhu cầu về khối lượng sản phẩm là rất lớn
và nó cũng địi hỏi lượng hàng hoá trao đổi nhiều thêm.


Bối cảnh quốc tế ngày nay tạo cơ hội to lớn cho những hoạt động thương
mại. Việc hồ hợp Đơng Tây đã biến thế giới thành một thể hoàn chỉnh, nó làm
mất đi một rào cản lớn là rào cản Đông - Tây.


<b>5. Tổ chức thương mại thế giới WTO </b>


<i><b>5.1. WTO có ti</b><b>ền thân l</b><b>à t</b><b>ổ chức Hiệp định chung về Thuế quan v</b><b>à M</b><b>ậu </b></i>


<i><b>d</b><b>ịch</b></i>


Tổ chức Thương mại Thế giới chính thức đi vào hoạt động năm 1995 do kết
quả của vòng đàm phán Urugoay. Đó là một thể chế pháp lí của hệ thống
thương mại đa phương. Nó đưa ra các nghĩa vụ có tính ngun tắc để các quốc
gia xây dựng các chính sách thương mại phù hợp với thông lệ quốc tế làm nền
tảng thúc đẩy xuất, nhập khẩu. Những nghĩa vụ đó được xác định thông qua các
văn kiện mà quan trọng nhất là các hiệp định được các thành viên cam kết tuân
thủ.


Lĩnh vực hoạt động của WTO rất rộng, nó khơng chỉ bó khn trong các
giao dịch thương mại hàng hố như GATT mà cịn bao gồm cả các nội dung về
thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Nghĩa là, nó cố gắng kiểm sốt hầu hết
các vấn đề liên quan đến bán - mua trên thế giới.



<i><b>5.2 M</b><b>ục ti</b><b>êu c</b><b>ủa WTO</b></i>


Mục tiêu bao trùm cả các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội. Các mục tiêu
cơ bản của WTO là:


* <i>Về kinh tế: WTO thúc đẩy tự do hoá thương mại, thúc đẩy sự xác lập cơ </i>
chế thị trường, đảm bảo phát triển bền vững. Điều này đạt được nhờ việc loại
bỏ các rào cản thương mại, phổ cập các hiểu biết về các quy định của WTO,
xây dựng môi trường lành mạnh.


* <i>Về chính trị: WTO hướng tới giải quyết các tranh chấp thương mại trong </i>
khuôn khổ các thoả thuận phù hợp với tập quán quốc tế và các luật lệ của WTO.
Do đó, nó đảm bảo được tính minh bạch, giúp các quốc gia kém phát triển có
điều kiện phát triển và hội nhập.


* <i>Về xã hội: WTO hướng tới nâng cao mức sống con người, tạo công ăn </i>
việc làm đảm bảo quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

Hoạt động của WTO thực hiện theo các hình thức sau:


- Đề xuất, thông qua hệ thống các nguyên tắc làm nền tảng cho hoạt động
của tổ chức;


- Quản lí, giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại bao gồm cả
giúp đỡ để các thành viên thực hiện nghĩa vụ và hưởng quyền lợi của mình. Bên
cạnh đó phải rà sốt, kiểm điểm chính sách thương mại của các thành viên và
hướng chúng theo mục tiêu WTO;


- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên;



- Tổ chức các diễn đàn, các vòng đàm phán về thương mại;


- Phối hợp với các tổ chức kinh tế khác để hoạch định chính sách, dự báo
kinh tế.


<i><b>5.4. Nh</b><b>ững nguy</b><b>ên t</b><b>ắc cơ bản trong hoạt động của WTO</b></i>


<i>a. Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation) </i>


MFN hiểu là bình đẳng, khơng phân biệt đối xử. Một nước nào đó dành cho
một nước khác một ưu đãi thương mại thì đồng thời cũng phải dành cho tất cả
các thành viên khác của WTO một ưu đãi như thế. Tuy nhiên, MFN không phải
là tuyệt đối. Các nước láng giềng có thể dành cho nhau ưu đãi vượt trội so với
các nước khác. Một số nước có thể tun bố MFN hạn chế hay khơng hạn chế.


Nguyên tắc này có lợi ở chỗ là mọi tiến bộ về thoả thuận thương mại giữa
hai nước thành viên sẽ trở thành thành quả chung của toàn thể các thành viên
khác (trừ trường hợp đặc biệt).


<i>b. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT - National Treament) </i>


NT được hiểu là mọi hàng hoá, dịch vụ,… nhập khẩu sau khi thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ pháp lí phải được đối xử bình đẳng (khơng kém thuận lợi hơn)
với các hàng hố, dịch vụ trong nước.


Nguyên tắc này chống lại sự trợ giá hay việc các nước tự đưa ra những đòi
hỏi đối với hàng có xuất xứ từ ngoài khắt khe hơn với hàng trong nước. Nó
cũng chống lại việc hạn chế hàng nhập.



<i>c. Nguyên tắc tiếp cận thị trường (MA - Market Access) </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

tiêu thụ của sản phẩm ấy trên thị trường, một số loại có thể xố bỏ hạn ngạch.
<i>d. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng (FC - Fair Competition) </i>


Nguyên tắc FC đòi hỏi mỗi quốc gia phải đối xử bình đẳng với hàng nhập
khẩu, khơng kể chúng đến từ nước nào (nghĩa là với cùng một loại hàng nhập
khẩu thì phải áp dụng cùng một mức thuế, một cách đối xử). Nguyên tắc này
đảm bảo cho các quốc gia có thể kiện khi những nước khác có thể có nhiều đối
xử đặc biệt gây thiệt hại lớn cho mình ngay cả khi chúng không vi phạm hiệp
định chung.


<i><b>5.5. </b><b>Ảnh hưởng củ</b><b>a WTO v</b><b>ới sự phát triển kinh tế x</b><b>ã h</b><b>ội thế giới</b></i>


<i>a. Mặt tích cực của WTO</i>


- WTO tạo điều kiện tự do hoá thương mại, tạo ra động lực to lớn cho kinh
tế phát triển, nhờ đó các nước đạt những tiến bộ kinh tế - xã hội.


- WTO hướng thế giới tới những chuẩn mực chung, minh bạch khiến những
tiến bộ của nhân loại mau chóng được quốc tế hố. Nhờ gắn bó về quyền lợi, nó
hướng nhân loại tới một tương lai phi bạo lực, tới việc cùng chung bảo vệ sự
phát triển bền vững.


<i>b. Mặt tiêu cực </i>


- Trong khi thúc đẩy tự do hoá thương mại, thúc đẩy tự do cạnh tranh thì
WTO đã đẩy nhân loại từ bất bình đẳng này sang bất bình đẳng khác. Với việc
mở cửa thị trường, người ta tạo ra sự bình đẳng là các doanh nghiệp trực diện
cạnh tranh nhau mà khơng có sự bảo hộ. Nhưng sự bất bình đẳng lại chính là ở


chỗ những kẻ yếu cần được bảo hộ thì lại không được bảo hộ một cách tương
xứng. Và dĩ nhiên, trong cuộc cạnh tranh đó, đa số các doanh nghiệp ở các nước
đang phát triển bị thua lỗ, sản xuất đình trệ hay phá sản. Kinh tế của các nước
này sẽ đình đốn và hậu quả về xã hội mới thật nặng nề, tỉ lệ thất nghiệp tăng
lên. Cả đất nước sẽ biến thành võ đài cho các tập đoàn nước ngoài thao túng.


- Việc thúc đẩy thương mại sẽ gây những cú sốc về văn hoá, xã hội. Những
tập tục, thói quen truyền thống bị coi nhẹ, mất đi. Các nước đang phát triển rất
dễ hịa tan trước khi hồ nhập.


<b>II. DỊNG CHẢY TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ </b>
<b>1. Nguyên nhân tạo ra dòng chảy tiền tệ quốc tế </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

Mĩ, còn lực lượng lao động ở ngồi đất nước mình lên tới hàng chục triệu
người.


Nguyên nhân nào thúc đẩy dòng vốn, lao động vượt biên giới? Người ta có
thể kể nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong trường hợp các luòng vốn chảy từ
các nước giàu sang các nước nghèo, ta có thể dựa vào dạng đơn giản của hàm
sản xuất để giải thích hiện tượng này<i><b>.</b></i>


Gọi số vốn bình qn cho mỗi lao động là k, sản lượng bình quân cho mỗi
lao động này là y thì ta có hàm số y = f(k), tức là sản lượng bình quân phụ thuộc
số vốn bình quân. Hàm sản xuất là đồng biến nhưng tương quan ở đây không
phải là tỉ lệ thuận. Quan hệ y và k có thể biểu diễn bằng đồ thị sau.





<b> Hình 1. Đồ thị biểu diễn quan hệ y v</b>à k trong hàm sản xuất y = f(k)


Như vậy, khi vốn ít thì sản lượng bình quân thấp, tăng vốn sẽ làm tăng
nhanh sản lượng. Nhưng nếu vốn nhiều, sản lượng bình quân cao, khi tăng vốn
đầu tư thì sản lượng cũng tăng nhưng chậm, tốc độ tăng giảm dần và hiển nhiên
tiền lương cũng khó tăng. Đến một lúc nào đó thì gần như sản lượng khơng tăng
khi vốn tăng. Trạng thái đó gọi là trạng thái dừng của nền kinh tế. Ở trạng thái
đó, hiệu quả đầu tư thấp, kinh tế bắt đầu trì trệ. Các nước giầu thường đứng
trước nguy cơ “dừng”.


Các nước giàu thường dùng nhiều cách để nới lỏng trong trạng thái dừng.
Một trong những cách ấy là giải phóng tư bản bằng cách đầu tư ra nước ngồi.
Nhà tư bản khi đầu tư ra nước ngồi thì tỉ suất lợi nhuận cao hơn một phần quan
trọng do ở đó vốn bình qn cho lao động thấp. Tuy nhiên, các nước thừa vốn
cũng có thể giảm k nhờ tăng lao động. Như vậy người ta chú ý đến tăng mức
sinh, tăng nhập cư và nhập khẩu lao động. Đó hiểu như lực hút lao động.


Các nước nghèo thì tình trạng ngược lại. Do k thấp nên y thấp, hay do thiếu
vốn nên sản lượng thấp vì khơng khai thác được tài nguyên và lao động, và do ở


y


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

đây có nhu cầu vốn để tăng sản lượng, nếu đầu tư thì lợi nhuận sẽ cao. Vì vậy,
họ khuyến khích các nhà tư bản trong và ngồi nước đầu tư vốn cho nền kinh tế
để tăng k. Nhưng họ cũng có thể tăng k bằng cách giảm số lượng lao động
thông qua xuất khẩu lao động. Như vậy ở các nước nghèo, hình thành lực hút
vốn và lực đẩy đối với lao động.


Sự phối hợp lực hút và đẩy như trên làm cho các luồng vốn, lao động lưu
chuyển với chiều trái ngược nhau.


Vốn



Ngày nay, các luồng vốn không chỉ chảy từ các nước giàu sang các nước
nghèo mà còn chảy từ nước giàu sang nước giàu, các nước nghèo sang các nước
giàu, đồng thời có tình trạng các nước đầu tư lẫn nhau. Trong trường hợp này,
các luồng vốn bị lái do tác động của các lợi thế so sánh khác nhau trong đầu tư
đối với từng lĩnh vực cụ thể tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận vấn đề của các ơng
chủ các luồng vốn đó.


<b>2. Các luồng vốn </b>


<i><b>2.1. V</b><b>ốn ODA</b></i>


<i>Vốn ODAcịn gọi là viện trợ chính thức. Đây là nguồn t</i>ài chính hình thành
do thoả thuận giữa các chính phủ với các chính phủ hoặc tổ chức phi chính phủ.
Nguồn vốn ODA có từ các nước phát triển và đang phát triển. Theo quy định
của LHQ, mỗi nước phát triển hàng năm phải dành 0,7% GDP để viện trợ cho
các nước đang phát triển.


Dòng ODA của các nước phát triển khá lớn. Gần đây, dòng vốn ODA hàng
năm đạt hàng chục tỉ USD, với hai nước chủ chốt là Nhật Bản và Mĩ. Tuy
nhiên, nguồn ODA còn xa nước đạt mức yêu cầu của LHQ, bởi vì giả sử Hoa
Kì cung cấp ODA ở mức 0,7% thì hàng năm họ phải chi hơn 80 tỉ USD, lượng
tiền đó có thể làm cho rất nhiều nước thốt khỏi đói nghèo. Trên thực tế Hoa Kì
chỉ chi hơn 10 tỉ USD, nghĩa là chỉ hơn 10% so với quy định. Ngay Nhật Bản
được coi là viện trợ ODA khá thơng thống thì mức chi cũng chỉ đạt hơn 20%
yêu cầu LHQ đặt ra.


Viện trợ ODA phần nhiều đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội, thực hiện các chương trình xã hội như phong trào giáo dục, y tế, xố đói
giảm nghèo.



Lao động


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

ODA thường gọi là viện trợ nhưng không phải bao giờ cũng có nghĩa là
cho. ODA có nhiều loại. Loại mang tính chất cho gọi là viện trợ khơng hồn
lại. Ngồi loại này, ODA cũng chỉ là những khoản vay có lãi hoặc khơng có
lãi, đơi khi lãi suất cao. Những từ “tài trợ”, “viện trợ” thường dùng đôi khi
không làm cho người ta hiểu rõ trách nhiệm với nguồn vốn ODA.


Vấn đề rõ ràng là phần lớn ODA là phần vốn vay. Có vay thì có trả. Vì vậy,
các nước phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả. Nhiều nước đã trở nên kiệt
quệ, vì gánh nợ do những khoản tài trợ này tích tụ qua nhiều năm.


Tuy có vay có trả nhưng nói chung đối với các nước nghèo thì ODA có ý
nghĩa tích cực với nền kinh tế, giúp chính phủ các nước này có vốn đầu tư
những vấn đề cơ bản của xã hội. Vì vậy, các nước nghèo rất cần ODA. Mặc dù
các nước giàu cam kết cung cấp ODA, nhưng cung cấp cho nước nào thì cũng
có điều kiện. Dòng chảy ODA cơ bản được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của
nhà cung cấp. Hàng năm căn cứ vào tình hình kinh tế trong nước và định hướng
quan hệ quốc tế, các nước giàu sẽ thơng qua nguồn kinh phí và phân bổ ODA
cho các nước nghèo, thậm chí theo từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội.


Nguồn ODA của các nước giàu có thể tập trung vào một số đầu mối.
Những đầu mối quan trọng hàng đầu về lĩnh vực này là IMF và WB.


<i><b>2.2. Đầu tư trực tiếp (FDI)</b></i>


Đầu tư FDI có thể coi là dòng lưu chuyển vốn cung cấp cho nền kinh tế lớn
nhất trong hệ thống kinh tế thế giới. Trong thời đại hiện nay, lượng FDI hàng
năm có thể đạt tới hàng ngàn tỉ USD.



</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

Đầu tư FDI có nhiều loại và mỗi loại có những ưu, nhược điểm khác nhau.
Nói chung, hiện nay người ta thường ưa thích loại đầu tư <i>hợp tác chuyển giao</i>.
Theo đó, nhà đầu tư và nước sở tại cùng góp vốn xây dựng doanh nghiệp, cùng
kinh doanh và chia lãi trong một thời gian nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư
nước ngoài sẽ chuyển giao doanh nghiệp cho nước sở tại. Doanh nghiệp liên
doanh sẽ trở thành doanh nghiệp của các chủ sở hữu nội địa.


Đối với nhà tư bản, động lực của đầu tư FDI là lợi nhuận. Vì vậy, họ tìm
kiếm thị trường đầu tư sao cho có lợi nhất. Những yếu tố khác sẽ rất ít giá trị nếu
như chúng không đảm bảo làm cho nguồn đầu tư được bảo tồn và sinh lợi. Vì
vậy, hướng đầu tư cũng thay đổi tuỳ hoàn cảnh cụ thể.


+ Ở giai đoạn ra trước đây, các nước tư bản dốc nguồn đầu tư sang các
nước đang phát triển để khai thác tài nguyên và nhân công rẻ.


+ Thập kỉ 80, 90 của thế kỉ XX do tác động của cuộc cách mạng KHKT
hiện đại, nhu cầu tài nguyên, nhân công rẻ giảm, các nước đang phát triển có thị
trường hẹp và không cải tạo kịp thời nguồn lực nên dòng FDI vào các nước
đang phát triển thụt lùi tương đối, các nước phát triển hướng dòng FDI vào
nhau.


+ Từ giữa thập kỉ 90, nguồn lực của các nước đang phát triển được cải
thiện, thị trường các nước đang phát triển mở rộng, nên nguồn FDI vào các
nước này lại tăng nhanh. Ngày nay, Trung Quốc đã trở thành một địa chỉ thu
hút đầu tư hàng đầu thế giới, ngang với Hoa Kì. Tại các nước phát triển, tình
hình tuỳ thuộc vào những điều chỉnh mang tính vĩ mô của Nhà nước. Ở một số
nước nguồn vốn quá nhiều, khiến nền kinh tế đạt đến trạng thái dừng, đầu tư trở
lên kém hiệu quả nên dòng FDI vào rất hạn chế. Ngược lại, một số nước mà tiêu
biểu là Hoa Kì, trong một nỗ lực bền bỉ đã nới lỏng trạng thái dừng thông qua


những giải pháp tăng cầu, đầu tư vào khoa học, công nghệ, kết quả kinh tế phát
triển mạnh và thu hút nguồn FDI lớn. Đối với các nước nhận đầu tư, nhất là các
nước đang phát triển, đầu tư FDI rõ ràng mang lại nhiều cái lợi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

Các nước nhận đầu tư hy vọng vào những tiến bộ công nghệ hay tiến bộ về
kĩ thuật của lao động qua cái gọi là <i>chuyển giao cơng nghệ</i> hay <i>nội địa hố</i> sản
phẩm. Thế nhưng người ta thấy rằng công nghệ được chuyển giao thường là lạc
hậu hơn nhiều so với chính quốc. Mặt khác, các quá trình sản xuất phức tạp
được phân chia rất chi tiết khiến lao động được sử dụng phần lớn vẫn chỉ là lao
động đơn giản, không cần đào tạo hoặc chỉ qua đào tạo đơn giản. Vì những bộ
phận nội địa hoá đa phần là những bộ phận đơn giản nên nói chung, hoạt động
sản xuất chủ yếu vẫn dừng ở mức độ lắp ráp, gia cơng là chính.


Về mặt xã hội, bảo vệ quyền lợi cho người lao động là khâu yếu của các
nước đang phát triển. Ở đây, luật pháp thường không đủ, không đề cập hết được
các khía cạnh của vấn đề nên thường bị các chủ đầu tư lợi dụng gây thiệt hại
cho người lao động như: không thực hiện đủ việc bảo hộ, bảo hiểm, buộc người
lao động làm quá giờ, đuổi việc…


<i><b>2.3. Các công ti đa quốc gia (TNC) l</b><b>à ch</b><b>ủ nhân nguồn FDI</b></i>


Các công ti đa nguồn quốc gia có tầm hoạt động xuyên biên giới theo
phương châm “<i>Lấy thế giới làm công xưởng, lấy quốc gia làm phân xưởng</i>” và
từ đó hình hành hệ thống sản xuất, tiêu thụ quy mơ toàn cầu. Bằng việc tổ chức
chi nhánh ở nhiều quốc gia, TNC là những chủ thể thực hiện phân công lao
động quốc tế một cách có chủ định.


Các cơng ti đa quốc gia thường có cơng ti mẹ đóng trụ tại nước xuất phát và
nhiều công ti con ở các nước khác. Tuỳ theo mức độ góp vốn của các TNC mà
các doanh nghiệp ở nước ngoài gắn kết với TNC ở mức độ khác nhau:



- Nếu TNC nắm dưới 50% tài sản của cơng ti con thì đó gọi là công ti con
liên kết (Associate). TNC không có quyền quyết định đối với nhân sự công ti
con.


- Nếu TNC nắm trên 50% đến dưới 100% tài sản thì cơng ti con gọi là công
ti con phụ thuộc (subsidiary). Trong trường hợp này, TNC có quyền chỉ định
hay bãi miễn các thành viên ban quản lí, trong bộ máy tổ chức công ty.


- Nếu công ti TNC chiếm 100% tài sản của cơng ti con thì cơng ti con được
gọi là chi nhánh (branch) của TNC ở nước ngoài.


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

Số lượng các TNC là rất lớn. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 60 ngàn
công ti công mẹ và gần 500 ngàn cơng ti con và xí nghiệp phụ thuộc ở nước
ngoài. Phần đông các công ti mẹ thuộc các nước phát triển. Tuy nhiên, các nước
cơng nghiệp mới cũng có nhiều TNC.


Tại các nước phát triển, có nhiều cơng ti có giá trị tài sản đến hàng trăm tỉ
USD. Người ta tính rằng tài sản của 10 TCN lớn nhất có giá trị lớn gấp 3 lần
tổng GDP của 38 nước nghèo nhất trên thế giới với số dân hơn một tỉ người.


Các TCN có vai trò rất to lớn trên lền kinh tế thế giới, cung cấp tới 70%
FDI, 2/3 mậu dịch thế giới, khống chế 1/3 sản lượng thế giới, 70% các ngành
độc quyền và các kĩ thuật chuyển nhượng và trên thực tế, 40% giá trị giao dịch
thế giới là các TNC với nhau.


TCN không chỉ có vai trị như là chủ thể thực hiện phân cơng lao động thế
giới, mà cịn là nhân tố thúc đẩy cải cách thể chế ở các nước tiếp nhận, tạo ra sự
thống nhất chung cho thế giới.



Các TNC tuy có quy mơ lớn, khống chế nền kinh tế thế giới nhưng chúng
không phải là những siêu pháo đài, nghĩa là chúng cũng có sự cạnh tranh và đổ
vỡ. Những vụ đổ bể của TNC lớn thật sự làm rung chuyển nền kinh tế các quốc
gia, gây ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới.


<b>3. Thị trường tài chính tiền tệ </b>


Thị trường tài chính tiền tệ vừa là nhân tố, vừa là biển hiệu của quá trình
quốc tế hố kinh tế, cường độ hoạt động của thị trường này rất mạnh và thường
gây những hậu quả lớn cho kinh tế thế giới. Trên bình diện quốc tế có thể phân
ra thị trường chứng khốn và thị trường tiền tệ căn cứ vào hình thức hoạt động
và ảnh hưởng của chúng.


<i><b>3.1. Th</b><b>ị trường chứng khoán</b></i>


Thị trường chứng khoán là nơi mua bán các cổ phiếu. Cổ phiếu là những
giấy tờ xác nhận sở hữu của người cầm cổ phiếu với một phần giá trị của doanh
nghiệp. Để có cổ phiếu, người ta phải thực hiện kiểm tốn, xác định giá trị tồn
phần của các tài sản doanh nghiệp (máy móc, nhà xưởng, vốn, thương hiệu) từ
đó xác định giá trị các cổ phần. Cổ phiếu cũng có thể do các tổ chức đăng kí
phát hành, ví dụ như các trái phiếu chính phủ. Cổ phiếu có thể ghi tên người sở
hữu, gọi là cổ phiếu ghi danh. Loại cổ phiếu này không thể giao dịch. Cổ phiếu
tham gia giao dịch là cổ phiếu không ghi danh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

mua đi bán lại, được đầu cơ. Nơi mua bán cổ phiếu nhằm ăn chênh lệch giá như
vậy gọi là <i>thị trường chứng khoán thứ cấp. </i>Thị trường chứng khốn thứ cấp là
nơi giao dịch sơi động và có những diễn biến mau lẹ. Khi cổ phiếu trơi nổi trên
thị trường chứng khốn, cái người ta quan tâm không phải là lợi tức (nghĩa là
phần lãi do kinh doanh do doanh nghiệp trả tính theo giá trị cổ phần) mà là giá
của nó. Giá cổ phiếu thì phụ thuộc vào những nhân tố thị trường nên nó lên


xuống, được giá, mất giá là tùy theo quan hệ cung cầu.


Khi tình hình một nước ổn định, tăng trưởng khả quan thì các cổ phiếu của
họ có uy tín. Lúc đó, các nhà đầu tư, người có nhiều tiền nhàn rỗi sẽ đầu tư mua
cổ phiếu và giá cổ phiếu sẽ tăng. Ngược lại khi có dấu hiệu bất ổn, uy tín cổ
phiếu giảm thì người ta bán tháo cổ phiếu, giá cổ phiếu giảm xuống. Sự tăng
giảm như thế có thể làm chao đảo thị trường vốn có ở những nước có nền kinh
tế thị trường.


Đối với các nền kinh tế thị trường, hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh
được cổ phần hoá, các cổ phiếu đa phần khơng ghi danh nên chúng có thể tự do
trao đổi. Cổ phiếu trở thành một loại hàng hoá đặc biệt mà người ta có thể tự do
mua bán trong khuôn khổ pháp luật. Số đông người dân đều nắm giữ một lượng
cổ phiếu nào đó. Các nhà kinh doanh thường nắm cổ phiếu với số lượng lớn
nhằm chi phối doanh nghiệp ở một mức nào đó để hưởng lợi. Người ta giữ cổ
phiếu như thể giữ một con bị sữa. Bình thường thì vắt sữa, cịn khi được giá thì
bán kiếm lời, khi thấy bị mất giá thì bán tháo bị đề phịng mất vốn gốc.


Mỗi quốc gia có một hay một số thị trường chứng khoán. Mỗi nước tư bản
phát triển lớn thường có nhiều thị trường nhưng nền kinh tế bị chi phối bởi vài
thị trường lớn. Các thị trường lớn kiểm soát nguồn vốn của các TNC. Vì vậy
trên thực tế nhiều thị trường chứng khoán đã mang tính quốc tế.


Thế giới có nhiều thị trường kiểm sốt một lượng vốn khổng lồ. Trong các
thị trường ấy, nổi lên thị trường Niuc, Tơk, Ln đơn, Hồng Kơng... Số
vốn nằm trong tầm kiểm sốt của các thị trường này tới hàng ngàn tỉ Đô la Mĩ.


<i><b>3.2. Th</b><b>ị trường tiền tệ ngắn hạn</b></i>


Tiền tệ ngày nay cũng được quốc tế hoá. Sự quốc tế hoá thể hiện ở chỗ vị


trí mỗi đồng tiền của các nước đều được xác định rõ rệt trong hệ thống tiền tệ
thế giới thông qua một tỉ lệ chuyển đổi gọi là <i>tỉ giá hối đoái. Người ta đ</i>ã xác
nhận một số đồng tiền mạnh, có thể sử dụng phổ biến và coi là những đồng tiền
có giá trị chuyển đổi. Những đồng tiền chuyển đổi tiêu biểu là Đô la Mĩ, Ơrô
EU, Yên Nhật Bản, Bảng Anh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

đồng tiền lại trở thành hàng hoá, chúng được mua bán với một giá cả nào đó.
Giá cả đơi khi khác rất xa so với giá trị của nó và tuỳ thuộc vào động thái thị
trường. Điều này dẫn đến sự tăng giá, hạ giá các đồng tiền hay người ta nói thay
đổi tỉ giá hối đối.


Tỉ giá hối đối thay đổi có tác động đến kinh tế xã hội. Vì vậy, đối với các
nền kinh tế mạnh, ổn định thì người ta thả nổi đồng tiền, nghĩa là tỉ giá hoàn
toàn do quan hệ cung cầu trên thị trường quy định. Đối với những nước kinh tế
yếu nhạy cảm, nhà nước phải thực hiện kiểm soát tỉ giá. Như thế trong các nước
này có hai loại tỉ giá. Tỉ giá chính thức do ngân hàng nhà nước quy định và tỉ
giá trên thị trường tự hình thành do quan hệ cung cầu trên thị trường. Chính
sách tỉ giá của nhà nước nói chung không theo kịp diễn biến thị trường nên
thường có chênh lệch giữa hai loại tỉ giá, dễ phát sinh tiêu cực.


Để ổn định đồng tiền nước mình, các nước đều có dự trữ các đồng tiền để
chủ động mua vào, bán ra đảm bảo nguồn cung ứng loại hàng hoá đặc biệt này.
Các ngân hàng trung ương cũng thường có những hợp đồng mua bán tiền với
nước ngoài để đáp ứng những nhu cầu của chính sách về tài chính. Nguồn dự
trữ tiền tệ dồi dào là chỗ dựa vững chắc cho sự ổn định nội tệ. Nguồn dự trữ cạn
sẽ làm nảy sinh những khó khăn, thậm chí khủng hoảng tiền tệ.


Thị trường tiền tệ là thị trường có cường độ mạnh, nhạy cảm nhất và cũng
tác động nhanh nhất đến sự phát triển kinh tế. Vì tiền là loại hàng hoá mà ai
cũng có nhu cầu, ai cũng có thể tích trữ hoặc bán. Nó là loại hàng gọn nhẹ, chi


phí lưu thơng có thể giảm đến con số khơng, cự ly vận chuyển có thể rất xa và
gần như tức thời. Giao dịch tiền tệ rất mau chóng trở thành giao dịch khơng
biên giới, bấp chấp chính sách tiền tệ của các nước.


Hiện nay, tiền tệ giao dịch, chuyển đổi hàng ngày lên tới 1500 tỉ USD. Con
số này là rất lớn nếu so với kim ngạch trao đổi ngoại thương khoảng 40 tỉ USD.
Trong thị trường tiền tệ, hình thành những luồng tiền lưu trú ngắn hạn, mà
người ta gọi là vốn lưu động, là tiền nóng (hot money) bị chi phối bởi các nhà
tư bản tài chính lớn. Chúng thường tập trung và đổ dồn vào các nước có vấn đề,
có sự yếu kém về quản lí tiền tệ, làm rối loạn hệ thống tài chính của họ rồi sau
đó lại rút đi. Tai họa thì nước đón nhận tiền nóng phải chịu, cịn các tập đồn tài
chính sẽ hưởng lợi chính từ sự rối loạn đó.


<b>Tình hình Đơng Nam Á 1997 </b>


<i>Một nhân vật có liên quan trực tiếp là tỉ phú Sô Rốt, tỉ phú Hoa Kì gốc Do </i>
<i>Thái - Hungrari. Vào thời điểm trước khi xảy ra sự kiện năm 1997, ơng ta có tài </i>
<i>sản là 2,5 tỉ USD nhưng có khả năng khống chế một số vốn tới 18 tỉ USD và có </i>
<i>ảnh hưởng tới một nguồn vốn quốc tế là 30 tỉ USD.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

<i>vấn đề trong việc quản lí tiền tệ. Các nước này cột chặt đồng tiền của mình vào </i>
<i>đồng Đơ la Mĩ theo một chính sách tỉ giá sơ cứng. Để duy trì một tỉ giá khống </i>
<i>chế ổn định làm chỗ dựa cho nền kinh tế, các nước phải duy trì một kho dự trữ </i>
<i>ngoại tệ lớn. Như vậy, đã hình thành mồi cho </i>“<i>đàn sói</i>”<i> tư bản tài chính quốc tế. </i>
<i>Người ta nhằm vào Thái Lan là nơi có nhiều điểm yếu, có dự trữ ngoại tệ lớn và </i>
<i>khá cởi mở về chính sách tiền tệ.</i>


<i>Mở đầu, Sơ Rốt đổ USD mua Bạt Thái theo hợp đồng trả chậm (nhận Bạt </i>
<i>nhưng chưa thanh tốn USD ngay). Điều đó làm giá đồng Bạt nhích lên. Khi </i>
<i>giá Bạt đã cao ở mức cần thiết Sô Rốt đổ Bạt ra mua đô la củaThái với số </i>


<i>lượng lớn. Điều này làm đồng Bạt có nguy cơ giảm giá. </i>


<i>Để giữ giá đồng Bạt, ngân hàng Thái phải bán USD từ kho dự trữ. So Rốt </i>
<i>tiếp tục mua. Việc So Rốt mua nhiều và Ngân hàng Trung ương Thái Lan tung </i>
<i>USD ra bán gây tâm lí hoang mang, mất lịng tin vào đồng Bạt. Vì vậy, người ta </i>
<i>rút tiền bạt từ những khoản tiết kiệm, bán tháo cổ phiếu lấy bạt để mua USD đề </i>
<i>phòng mất trắng. Cuối cùng Ngân hàng nhà nước hết kho Đô la dự trữ, phải thả </i>
<i>nổi đồng tiền, đồng Bạt mất giá. Nhưng lúc này Sơ Rốt đã hồn thiện việc mua </i>
<i>USD, ơng ta khơng cịn bạt nữa. Tồn bộ những đồng Bạt ốm yếu lại quay về với </i>
<i>Thái Lan. </i>


<i>Thị trường tiền tệ đổ sụp tất nhiên làm sản xuất đình đốn vì thiếu vốn, </i>
<i>người lao động thiếu việc làm, nguồn vốn nước ngoài bị rút đi. Người Thái Lan </i>
<i>làm ăn ở nước ngoài không dám chuyển tiền về, kinh tế khó khăn càng thêm </i>
<i>gian khó và khủng hoảng tồn diện của nền kinh tế đã nổ ra.</i>


<i>Trong cả vụ này, thiệt hại của Đơng Nam Á là vơ cùng to lớn, cịn các tập </i>
<i>đồn tài chính thì thu lợi rất nhiều, riêng tập đoàn So Rốt thu được tới 2-3 tỉ </i>
<i>USD. </i>


<b>4. Các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế </b>


<i><b>4.1. Qu</b><b>ỹ tiền tệ quốc tế (IMF)</b></i>


<i>a. Sự ra đời của IMF</i>


Quỹ tiền tệ Quốc tế được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ II trong
Hội nghị Breton wood (bang New Hamsphire) với 44 quốc gia sáng lập dựa
theo ý tưởng của Maynard Keynes (Anh) và Harry Dexter White (Mĩ). Ngày
nay tổ chức này đã có khoảng 185 nước thành viên.



</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

nước có thể đóng góp 70% hạn ngạch bằng tiền nước mình, 25% bằng các đồng
tiền có khả năng chuyển đổi.


Hạn ngạch đóng góp của các nước sẽ được quy đổi thành một đơn vị tiền tệ
đặc biệt, gọi là SDR (quyền rút vốn đặc biệt). Giá trị của SDR được dựa trên tập
hợp có trong số của một số đồng tiền của các quốc gia thương mại chủ chốt, mà
chủ yếu là Đô la Mĩ, Bảng Anh, Ơ rô EU, Yên Nhật. Vì vị thế của các quốc gia
xuất khẩu thay đổi nên tỉ giá của SDR với các đồng bản tệ cũng thay đổi. Lúc
mới ra đời, 1SDR  1USD. Tới năm 2003, 1SDR tương đương với 1,51 USD.


Tổng hạn ngạch của IMF hiện nay vào khoảng 145 tỉ SDR. Nước đóng góp
nhiều là Hoa Kì 17,5%, Nhật 6,3%, Đức 6,2%, Anh 5,1% … Các nước đang
phát triển đóng góp ít là Trung Quốc 3%, Ấn Độ 2%. Việt Nam có hạn ngạch
đóng góp là 329 triệu USD, ở mức 0,2%.


<i>Chức năng cơ bản nhất của IMF là giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế</i>.
Thơng qua việc cấp tín dụng và đặt ra những điều kiện, nó góp phần ổn định hệ
thống tiền tệ quốc tế… Từ năm 1978, các điều khoản thoả thuận của IMF được
thơng qua theo đó tỉ giá giữa các loại tiền tệ khác nhau được duy trì tương đối
với những chính sách tỉ giá riêng của các nước. Ngày nay, tuy hệ thống ổn định
tỉ giá khơng cịn nhưng IMF vẫn thực hiện giám sát thanh toán quốc tế như một
cơ chế ổn định tỉ giá.


<i>b. Hoạt động cấp vốn và vay mượn</i>


IMF có thể cho các quốc gia vay vốn nếu họ có yêu cầu. Các quốc gia có
thể vay số tiền nằm trong hạn mức đóng góp của họ. Nếu quốc gia nào muốn
vay vượt hạn mức thì phải tuân theo những điều kiện ràng buộc để đảm bảo
rằng họ có thể thanh tốn đúng hạn.



Phần vốn mà một nước vay vượt quá mức đóng góp của họ được lấy từ
phần đóng góp của các nước khác. Nếu các khoản vay vượt quá số vốn của
IMF, IMF có thể đi vay để cho vay. Việc này tiến hành thể theo “điều kiện
Witteveen”. Trong điều kiện IMF đi vay để cho vay như thế, nước vay nợ phải
trả lãi vay ấn định theo thời gian ngắn. Vì IMF là quĩ tiền tệ, chức năng của nó
là giám sát thanh tốn quốc tế, ổn định tỉ giá với những khoản đóng góp mang
tính chất định kì nên <i>các khoản vay IMF thường là vay ngắn hạn.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

kiện khắt khe. Cụ thể, IMF cấp cho các thành viên các loại tín dụng sau:


+ Cấp tín dụng đặc biệt: Loại tín dụng này dành cho các quốc gia bội chi
cán cân thanh toán dài hạn. Thời gian vay có thể ra hạn tới 10 năm và phải
thanh toán thành nhiều đợt. Lãi suất 6 - 7% kèm 0,5% phí.


+ Tín dụng bù đắp thất thu ngoại tệ: Loại tín dụng này dành cho quốc gia
đang phát triển đột biến thiếu hụt cán cân thanh toán do các tác nhân nài đó.
Với loại này, cách thức áp dụng gần giống hình thức cấp tín dụng theo đợt.


+ Tín dụng điều hồ dự trữ hàng hố: Loại tín dụng này cấp cho các quốc
gia để dự trữ các hàng hoá chiến lược. Thời hạn cho vay thường ngắn, chỉ 1
năm.


Ngồi ra, các tín dụng được cấp cịn bao gồm cả tín dụng điều chỉnh cơ cấu
(thời hạn 10 năm) với lãi suất thấp 0,5%, vay dự phòng…


<i>c. Cơ chế điều hành </i>


IMF được điều hành bởi Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc với trụ sở ở
Oasin tơn. Theo quy định, Giám đốc IMF là đại diện của EU. Trụ sở IMF ở


Oasinhtơn, Hoa Kì.


IMF sử dụng hình thức biểu quyết để thơng qua các chính sách của mình.
Mỗi nước nắm một số phiếu có giá trị tương đương hạn ngạch góp vốn của
mình. Vì vậy, các lá phiếu có giá trị thuộc về các nước giàu. Hoa Kì nắm 18%
số phiếu.


Quy định của IMF là mọi vấn đề chỉ được thông qua với 85% số phiếu đồng ý
trở lên. Quy định này cho phép Hoa Kì nắm quyền phủ quyết mọi chính sách của
IMF nếu nó khơng phù hợp với lợi ích của mình.


<i><b>4.2. T</b><b>ập đo</b><b>àn ngân hàng th</b><b>ế giới (WBG hay WB)</b></i>


Tập đoàn ngân hàng thế giới tập hợp các tổ chức kinh doanh tài chính quốc
tế như Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (cũng gọi là Ngân hàng Thế
giới), Hiệp hội Phát triển Quốc tế và Công ti Tài chính Quốc tế (cịn gọi là
Nghiệp đồn tài chính Quốc tế).


<i>a. Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD)</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

190 tỉ USD. Vốn vay thường huy động thông qua việc phát hành trái phiếu.
Mức vốn đóng góp của các quốc gia khác nhau tuỳ sức mạnh kinh tế. Hoa Kì là
nước góp khoảng 18% số vốn nên họ cũng năm 18% cổ phiếu biểu quyết.


IBRD chủ yếu cung cấp vốn vay trung hạn, dài hạn cho các nước đang phát
triển với lãi suất thấp hơn thị trường với mục tiêu sau:


- Giúp các nước tái thiết kinh tế sau chiến tranh, phát triển sản xuất, bồi
dưỡng nguồn lực trong thời bình.



- Hỗ trợ các khoản đầu tư tư nhân ra nước ngoài.


- Hỗ trợ khai thác tài nguyên, cân bằng quan hệ thương mại và thu chi quốc
tế thông qua động viên đầu tư quốc tế.


- Dàn xếp, bảo trợ cho các khoản vay cần thiết.


- Điều hành các hoạt động đầu tư quốc tế vào các nước thành viên, giúp đỡ
kinh tế chuyển đổi.


<i>b. Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)</i>


Thành lập năm 1960 theo đề xuất của Mĩ với mục đích là giúp các quốc gia
thành viên trong khu vực kém phát triển nhất phát triển kinh tế. Đến nay, IDA
có hơn 160 thành viên.


Nguồn vốn của Hiệp hội là do các thành viên của nó đóng góp và một phần
lợi nhuận từ IBRD. Các thành viên được chia thành hai nhóm với nghĩa vụ
đóng góp khác nhau. Nhóm các nước giàu phải góp tồn bộ số vốn bằng tiền tệ
chuyển đổi và có thể cho vay. Nhóm các nước nghèo hơn chỉ phải góp 1/10
bằng tiền tệ chuyển đổi, 9/10 là bản tệ. Hiện nay tổng vốn của IDA có khoảng
gần 80 tỉ USD.


Do mục đích thành lập là hướng vào phục vụ những nước nghèo nhất nên
IDA có nhiều ưu đãi. Các nước muốn được vay của IDA phải là những nước
nghèo, thường là dưới 800USD. Lãi suất cho vay thường bằng 0% (trừ khoản lệ
phí ban đầu 0,5%). Thời gian cho vay dài hạn, có thể tới 30 - 40 năm, thậm chí
50 năm.


<i>c. Cơng ti tài chính quốc tế IFC</i>



</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

Chủ tịch IBRD nắm. Ban tổ chức trên có quan hệ mật thiết với nhau và ta
thường hiểu chung là Ngân hàng thế giới WB.


Nguyên tắc chung của Ngân hàng Thế giới là thông qua các chính sách
thơng qua biểu quyết (tương tự IMF) và Mĩ vẫn duy trì khả năng phủ quyết của
mình với số phiếu khống chế là khoảng 18% và 10 nước công nghiệp hàng đầu
thế giới vẫn khống chế hơn 50% số phiếu.


Theo một thoả thuận giữa châu Âu và Mĩ, châu Âu nắm chức Chủ tịch IMF
và ngược lại, Mĩ nắm giữ chức Chủ tịch WB.


Khác với IMF, WB có lĩnh vực hoạt động rất rộng, trong đó bao gồm cả
lĩnh vực phát triển xã hội, bồi dưỡng nguồn lực. Những điều kiện mà WB đặt ra
cũng không quá nặng nề, thời hạn cho vay dài hơn nên khá hấp dẫn với những
nước nghèo. Thế nhưng những dễ dãi đó cũng trở thành cạm bẫy để nhiều nước
sa vào vịng nợ nần, khủng hoảng. Nói chung, hiện nay khi mà cơ chế của WB
hướng vào việc đi vay dể cho vay thì bản thân WB cũng lại trở thành một nấc
trung gian trên thị trường vốn mà người thao túng nằm trong tay kẻ cho vay, tức
là các TNC, và chính phủ các nước giàu.


<b>III. KHU VỰC HOÁ </b>
<b>1. Quan niệm chung </b>


Khu vực hố là một khái niệm cịn nhiều tranh cãi. Số đông các tài liệu hiểu
khu vực hoá là sự liên kết giữa các quốc gia lãnh thổ trong cùng khu vực trên cơ
sở bình đẳng, tơn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, tự nguyện trong đó các quốc gia
gắn kết một phần chủ quyền với nhau, thông qua các quy định chặt chẽ của các
điều ước quốc tế.



Cách hiểu như thế là chỉ mang tính một chiều, đó là sự gắn kết được thực
hiện một cách chủ quan của con người và như vậy nó mang màu sắc chủ nghĩa
khu vực.


Thực tế, cũng như toàn cầu hoá, khu vực hoá là một q trình mang tính
khách quan. Nó cũng có những nguyên nhân kinh tế, xã hội nhất định. Quá
trình khách quan ấy được các chính phủ nhận thức và có các biện pháp điều
khiển. Một trong những cách ấy chính là sự liên kết khu vực của các quốc gia,
lãnh thổ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

<i><b>2. Những khía cạnh và lĩnh vực quan trọng khu vực hố </b></i>


Q trình khu vực hố được hiểu dưới 2 khía cạnh. Thứ nhất, có thể coi khu
vực hố là “<i>giai đoạn mở đầu của quốc tế hoá</i>”<i>,</i> là quốc tế hoá ở cấp độ thấp,
cấp độ khu vực, là một nội dung tất yếu để quốc tế hố ở cấp độ cao hơn, tức là
cấp tồn cầu hố. Roboson gọi khu vực hố là tồn cầu hố có tính địa phương.
Tồn cầu hố cấp hành tinh là cái chung, khu vực hoá là cái riêng trong đó…


Mặt khác, khu vực hố có thể được coi như một <i>phản ứng tự vệ đối với hiện </i>
<i>tượng tồn cầu hố.</i> Tồn cầu hố là q trình khẳng định cái chung, cái tồn
cầu nên nó có thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của cái riêng, cái địa phương.
Vì vậy, các quốc gia trong cùng khu vực, có chung bản sắc, chung quyền lợi
liên kết với nhau để bảo vệ những <i>cái chung của khu vực. Trong trường hợp </i>
này khu vực hoá đối lập với toàn cầu hố và từ đó hình thành chủ nghĩa khu
vực.


Khu vực hoá là quá trình bao trùm lên nhiều lĩnh vực bao gồm cả kinh tế,
xã hội và các vấn đề nhân văn nói chung.


Vấn đề kinh tế là vấn đề nổi bật nhất trong q trình khu vực hố. Việc một


nền kinh tế vốn đóng cửa nay cần mở cửa các nước xung quanh thì cũng có một
ngun nhân như q trình tồn cầu hố. Tuy nhiên, cịn có nhiều nguyên nhân
khác nữa. Chẳng hạn, khu vực hoá bắt nguồn từ nét tương đồng, cùng chung
nguồn lực, sự cận kề lẫn nhau hay những lợi ích chung trên trường quốc tế… Vì
vậy, những liên kết khu vực dễ xảy ra nguy cơ và diễn ra phổ biến, thường
xuyên. Khi các nước chủ động liên kết về kinh tế thì quá trình này diễn ra mạnh
mẽ.


Vấn đề an ninh là vấn đề quan trọng. An ninh của khu vực diễn biến do các
quan hệ lợi ích tầm quốc gia, hoặc do những hiện tượng ở tầm thấp hơn. Tranh
chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột kinh tế, vấn đề tội phạm là những nội dung
đòi hỏi liên kết giải quyết.


Các vấn đề xã hội bao gồm sự giao lưu văn hoá, bảo tồn các nét chung, khắc
phục đói nghèo, bảo vệ mơi trường là những nội dung nổi bật.


<b>3. Hình thức tổ chức thực hiện khu vực hoá </b>


Để hướng q trình khu vực hố theo hướng có lợi cho các quốc gia trong
bối cảnh quốc tế hoá hiện nay, người ta thực hiện <i>các liên kết khu vực</i>. Các tổ
chức liên kết khu vực thường mang tính chuyên ngành nhưng nhiều tổ chức
cũng hướng tới liên kết đa lĩnh vực.


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

mại tự do chủ yếu hiện nay có thoả thuận về số lượng khu vực mậu dịch tự do,
liên minh thuế quan, khối thị trường chung…


Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) là khu vực mà các nước bãi bỏ
hoàn toàn hàng rào thuế quan. Hàng hố do vậy được tự do lưu thơng giữa các
nước. Mức thuế của hàng nhập từ các nước ngoài khu vực do từng nước tự
quyết định. Thế giới ngày nay hình thành nhiều khu vực mậu dịch tự do như


AFTA , NAFTA.


<i>Cần phân biệt FTZ và FTA. FTZ (Free Trade Zone) là khu vực nằm trong </i>
<i>một nước được tách ra thực hiện buôn bán miễn thuế. Về một mặt nào đó, nó </i>
<i>tương tự như khu chế xuất. </i>


Liên minh thuế quan, ngoài nét giống với FTA, các nước trong liên minh
phải thống nhất cả mức thuế quan với hàng của các nước ngoài liên minh.


Khối thị trường chung là khối trong đó khơng chỉ hàng hố mà tồn bộ các
yếu tố của sản xuất được tự do luân chuyển. Sự tồn tại của EEC là ví dụ điển
hình.


Liên minh kinh tế được hình thành trong quá trình phát triển, khi các liên
kết đã nâng dần từ liên kết thương mại sang liên kết kinh tế toàn diện dưới dạng
liên minh kinh tế hay hợp nhất kinh tế hoàn toàn. Liên minh kinh tế chẳng
những bao hàm các vấn đề liên kết về thị trường mà còn liên kết cả về pcác
chính sách kinh tế khác như tài chính, tiền tệ, xã hội… EU hiện nay là, mơ hình
liên minh kinh tế rõ rệt nhất thế giới. Mơ hình hợp nhất hồn toàn hiện nay
chưa xuất hiện, người ta có thể trơng chờ nó qua sự nâng tầm liên kết của EU.


Các liên kết khác được tăng cường thông qua việc kí kết các hiệp ước an
ninh khu vực, các hiện định về văn hoá… Trong bối cảnh hiện nay liên kết về
an ninh, văn hoá hay giải quyết các vấn đề xã hội ngày càng có vai trị quan
trọng.


Mặc dù chưa có một tổ chức nào là hoàn hảo nhưng hiện nay một số tổ
chức khu vực đã hướng tới sự hợp tác ngày càng toàn diện. Những tổ chức này
thực hiện các mối liên kết bao trùm nhiều lĩnh vực của con người. Các ví dụ có
thể thấy như EU, ASEAN.



<i><b>4. Khu vực hố có tác động điến sự phát triển kinh tế - xã hội </b></i>


Khu vực hoá tạo điều kiện cho các quốc gia có thể học hỏi trao đổi,
hợp tác với nhau để phát triển. Mặt khác, nó cho phép các nước trong khu
vực giải quyết những vướng mắc, tạo ra môi trường cho sự phát triển.


</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>

giới. Sự liên kết khu vực còn giúp các nước có kinh nghiệm, có sức mạnh để
tồn tại, thích nghi dần trong q trình tồn cầu hoá.


Tuy nhiên, những cực đoan trong việc khẳng định tính khu vực sẽ dần đến
“chủ nghĩa khu vực”, có thể làm mất đi tính tích cực của các nước trong quá
trình hoà nhập vào thế giới, khiến người ta phải đi đường vịng nhiều khu gây
tụt hậu cho q trình phát triển.


<b>5. Các tổ chức liên kết khu vực </b>


<i><b>5.1. Liên minh châu Âu (EU) </b></i>


Bắt đầu từ một tổ chức liên kết trên một vài lĩnh vực kinh tế, tổ chức này có
sự phất triển khơng ngừng. Một mặt, các lĩnh vực liên kềt ngày càng mở rộng.
Đến nay, ngoài những liên kết kinh tế, các quốc gia trong khu vực còn mở rộng
liên kết sang các lĩnh vực an ninh, xã hội và quân sự. Mặt khác những mối liên
kết ngày càng chặt chẽ và đồng bộ. Kết quả đã trở thành một liên minh có một
thể chế chặt chẽ và phổ cập nhất hành tinh. Quy mô của tổ chức này lớn lên
không ngừng. Từ 6 thành viên ban đầu, đến nay EU đã có 25 thành viên chiếm
phần lớn lãnh thổ châu Âu ngoài nước Nga. Triển vọng tổ chức này còn mở
rộng hơn nữa trong thời gian tới do nhiều nước đang đề đạt nguyện vọng gia
nhập EU.



EU là một cực kinh tế - chính trị của thế giới. Quy mô kinh tế của EU
tương đương Hoa Kì. Nó là đối trọng nặng kí của siêu cường bên kia bờ Đại
Tây Dương. Tuy nhiên, điểm yếu mà còn lâu EU mới khắc phục được trong
cuộc cạnh tranh với Hoa Kì là dù sao thì EU vẫn chỉ là liên minh chứ chưa phải
một quốc gia. Do đó, ở EU cịn tồn tại một mâu thuẫn rất lớn là mâu thuẫn giữa
lợi ích của trong quốc gia với lợi ích của tồn bộ EU nói chung.


<i><b>5.2. Hi</b><b>ệp hội các nước Đơng Nam Á </b><b>- ASEAN </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>

<i><b>5.3. Khu v</b><b>ực Mậu dịch Tự do Bắc Mĩ (NAFTA)</b></i>


Thành lập từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX với nội dung liên kết kinh tế,
NAFTA là tập hợp của ba quốc gia liền kề nhưng có khác biệt rất lớn. Đó là
siêu cường Hoa Kì có sức mạnh to lớn nhưng đang bị cạnh tranh quyết liệt trên
khắp thế giới. Đó là Canađa, cường quốc kinh tế phát triển nhưng với nguồn
nhân lực và thị trường nội địa hạn hẹp và Mêhicô, cường quốc dân số giàu lao
động, tiềm năng thị trường lớn nhưng kinh tế còn nghèo. Do đó, các quốc gia
trong NAFTA có khả năng bổ sung cho nhau. Trao đổi kinh tế nội khối là rất
mạnh, chiếm tỉ trọng cao trong tổng kim ngạch giao dịch đối ngoại của mỗi
nước. Tất nhiên, vai trò đầu tầu, chi phối NAFTA phải là Hoa Kì.


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

<b>CÂU HỎI </b>
<b>1.</b> Trình bày quan niệm về tồn cầu hố.


<b>2.</b> Phân tích những nguyên nhân sâu xa và các động lực trực tiếp của q
trình tồn cầu hóa.


<b>4.</b> Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương trên thế
giới hiện nay và phân tích ý nghĩa của hoạt động ngoại thương đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội.



<b>5.</b> Nguyên nhân hình thành các liên kết ngoại thương mang tính tồn cầu? Hãy
trình bày những nét chính về tổ chức WTO (chức năng, nguyên tắc hoạt
động, ý nghiã đối với thế giới và các quốc gia)


<b>6.</b> Nguyên nhân phát sinh các dòng lưu chuyển tài chính tiền tệ trên thế
giới?


<b>7.</b> Trình bày hiểu biết của anh chị về thị trường tài chính, tiền tệ và tác động
của chúng đến nền kinh tế.


<b>8.</b> Hãy trình bày sự khác nhau của vốn ODA và FDI. Phân tích ảnh hưởng
của chúng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của các nước.


<b>9.</b> Trình bày những nét cơ bản về các tổ chức IMF và WB .


<b>10.</b> Quan niệm về khu vực hoá? Mối quan hệ giữa khu vực hoá và tồn cầu
hố?


<b>11.</b> Phân tích nội dung, các hình thức tổ chức điều khiển quá trình khu vực
hố?


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

<b>CHƯƠNG 2 </b>


<b>NỀN KINH TẾ TRI THỨC </b>


<b>I. SỰ RA ĐỜI CỦA KINH TẾ TRI THỨC </b>


Khi nhân loại bước vào giai đoạn hai của cuộc CMKHKT hiện đại thì nền
kinh tế thế giới có những biến đổi về chất so với trước đây. Từ một nền kinh tế


lấy tài nguyên, lao động đơn giản làm nền tảng kinh tế thế giới đã chuyển sang
thời kì mà chất xám, trí tuệ có vai trị chủ chốt. Sức mạnh đã chuyển từ các
quốc gia nhiều vàng đen, kim loại sang quốc gia giàu tri thức. Các ngành kinh
tế chủ đạo chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ, từ khu vực sản xuất sang phi
vật chất. Cuối cùng, giá trị của sản phẩm được xác định thông qua lượng chất
xám kết tinh trong đó. Kỉ nguyên của chúng ta, được gọi là kỉ nguyên của nền
kinh tế tri thức.


<b>II. KHÁI NIỆM VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC </b>


Một câu hỏi phổ biến được đặt ra là <i>tại sao lại cần phải có kinh tế tri thức, </i>
<i>chẳng lẽ lại có những hoạt động kinh tế không cần tri thức</i>? Vấn đề là không
nên hiểu khái niệm này theo kiểu triết tự ngôn từ, mà phải hiểu nó như một
thuật ngữ, một khái niệm.


Trước hết, nên tìm hiểu khái niệm tri thức<i>.</i> Theo Mác, tri thức là phương
thức tồn tại của ý thức. Tri thức của một con người phản ánh sự nắm bắt thực
tại khách quan của họ. Trong cuộc sống, con người vận dụng tri thức để phục
vụ cho bản thân mình, cho xã hội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40>

hình thành do khái quát các kinh nghiệm, thực tiễn và từ đó tìm ra cái bản chất,
các mối liên hệ, các quy luật vận động của sự vật hiện tượng. Nhờ đó con người
có khả năng suy luận, phán đốn, phát minh…


Có thể nói, với kinh nghiệm con người ta hiểu rất ít so với những gì người
ta biết, nhưng với tri thức khoa học, người ta có thể trải nghiệm ít nhưng hiểu
nhiều và từ đó có cơ sở để dự đoán nhiều hơn nữa. Một ví dụ điển hình,
Menđêlêép chỉ biết có mấy chục nguyên tố nhưng đã dự đốn, thậm chí mơ tả
tính chất của rất nhiều nguyên tố khác. Các nhà khoa học ngày nay có thể dự
đốn chính xác đến phút, giây của những hiện tượng vũ trụ hay nghiên cứu cả


những thế giới siêu vi mô mà thực tế con người chưa hề trực tiếp quan sát.


<i>Vậy kinh tế tri thức là gì? </i>Có nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế tri
thức, nhưng dưới đay là hai định nghĩa đáng chú ý:


Theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh (1998) thì <i>kinh tế tri thứclà một </i>
<i>nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức, là một nền kinh tế mà việc sản sinh và </i>
<i>khai thác tri thức có vai trị nổi trội trong việc tạo ra của cải.</i>


Theo OECD thì <i>kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập</i>
<i>và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất trong sự phát triển kinh tế, tạo </i>
<i>ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.</i>


Điểm chung trong các quan niệm nêu trên là <i>kinh tế tri thức là nền kinh tế </i>
<i>mà việc sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức đóng vai trị quyết định nhất</i>. Như
vậy, có thể phân biệt rõ ràng kinh tế tri thức, vai trị của tri thức nổi có được
nhờ “sản sinh, phổ cập”, tức là nhờ nghiên cứu, đào tạo có vai trị hàng đầu.


<b>III. ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC </b>


<b>1. Nền kinh tế tri thức trước hết là nền kinh tế trong đó tri thức khoa </b>
<b>học phải là trung tâm </b>


Trước hết là nguồn lực phát triển, nếu như trong các nền kinh tế công
nghiệp và nông nghiệp, tài nguyên tự nhiên và lao động giản đơn là cơ bản thì
trong kinh tế tri thức, vai trị nổi trội là tri thức, thông tin cùng với những di sản
do lao động KH - KT của con người tạo ra trước đó mà ta gọi là các cơ sở vật
chất - kĩ thuật. Con người, xét cả về khía cạnh nguồn lao động hay lực lượng
tiêu thụ, thể hiện vai trị của mình thơng qua lao động trí tuệ và sự thụ hưởng
thành quả lao động dựa trên nền tri thức của thời đại. Công nghệ tự động khiến


cho số lượng lao động sẽ phải nhường vị trí do chất lượng. Một thị trường đơng
dân nhưng trình độ thấp kém khơng thể được coi là thị trường hấp dẫn cho nền
sản xuất hàng hố cơng nghệ cao.


</div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

kinh tế, kinh tế tri thức cũng có những khác biệt. Trong tất cả các ngành, mọi
sản phẩm đều là kết quả của những đầu tư về công nghệ, kĩ thuật mới. Người ta
nói rằng chúng đều có một hàm lượng tri thức nhất định kết tinh trong đó. Tri
thức mới có thể nằm trong nguyên liệu, trong năng lượng sử dụng, trong công
nghệ sản xuất hoặc trong mẫu mã, tính năng của sản phẩm… Những lĩnh vực,
những sản phẩm có hàm lượng tri thức lớn người ta gọi là những lĩnh vực,
những sản phẩm công nghệ cao. Những lĩnh vực công nghệ cao nổi bật hay
nhắc tới là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…


Trong nền kinh tế, dần hình thành những ngành kinh tế mới gọi là <i>ngành </i>
<i>kinh tế tri thức</i>. Tiêu biểu cho chúng là những ngành như bưu chính viễn thông,
điện tử tin học, đa số các ngành dịch vụ… Đối với các ngành này, nguyên liệu,
tài nguyên có rất ít ý nghĩa, cái quyết định giá trị sử dụng của chúng là tri thức và
sáng tạo. Chẳng hạn, trong việc sản xuất phần mềm máy tính thì ngun liệu vật
thể coi như đã bằng khơng.


Phân bố sản xuất cũng có những thay đổi lớn. Do trong nền kinh tế xuất
hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới với nhu cầu mới về nguồn lực và
thị trường nên bộ mặt phân bố sẽ khác với nền kinh tế truyền thống. Một mặt,
chun mơn hố theo lãnh thổ có thể rất rộng, mặt khác nhiều vùng trước đây là
khó khăn cho phát triển thì nay lại được đánh giá ngược lại. Ví dụ, chúng ta
thường coi hoang mạc, núi non, rừng thẳm là nơi phát triển kinh tế khó khăn thì
trong kinh tế tri thức, chúng sẽ được đánh giá là đặc biệt hấp dẫn cho một số
ngành nào đó. Những nơi khơ khan ở Hoa Kì là những nơi tập trung các ngành
công nghệ thông tin, tổ chức du lịch hay điện ảnh. Sự có mặt của Lát-vê-gat,
Xơn-lếch, Hơ-li-ut là những ví dụ tiêu biểu…



<b>2. Kinh tế tri thức có đặc điểm là rất linh hoạt </b>


Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên sự sáng tạo. Sự sáng tạo thể hiện trong
sản xuất cũng như trong việc đặt ra những nhu cầu mới. Vì thế đổi mới trong nền
kinh tế là một nét đặc trưng, quyết định sự phát triển.


Sự đổi mới đó thể hiện trong cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành. Do tính linh
hoạt của tri thức nên người ta dễ nảy ra ý tưởng mới, sáng chế những sản phẩm
với tính năng mới, mẫu mã mới và dễ dàng thực hiện chúng nhờ có trang bị
thích hợp. Chẳng hạn, nếu trước đây, một người muốn thay đổi mẫu thiết kế
một sản phẩm phức tạp ví như ơ tơ hay tồ biệt thự thì anh ta sẽ rất vất vả với
khâu tính tốn, đồ hoạ. Ngày nay, việc đó trở nên rất đơn giản với sự trợ giúp
của máy tính, với những phần mềm chuyện dụng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

<i>tế tri thứcdo nhu cầu thay đổi thường xuyên</i>. Sự xuất hiện những ngành, những
lĩnh vực những sản phẩm mới cũng còn do những thay đổi mau lẹ trong thị hiếu
người tiêu dùng. Thời đại ngày nay, chu kì sống của sản phẩm hàng hoá rất
ngắn. Điều đó khơng phải do những tính năng, phẩm chất ban đầu của các sản
phẩm ấy bị giảm đi nhanh hơn mà là <i>do chúng mau chóng bị mất đi những giá </i>
<i>trị xã hội</i> do thị hiếu người tiêu dùng thay đổi. Thêm vào đó, nhu cầu của thị
trường lại bị phân hoá sâu sắc theo nhóm xã hội, nghĩa là bị cá biệt hố. Cho
nên, thay vì dùng các sản phẩm với tiêu chuẩn chung, thì người ta lại địi hỏi
những sản phẩm phù hợp với sở thích, thậm chí sở thích nhất thời của cá nhân.
Những đặc điểm này của đầu ra khiến các nhà sản xuất từ chỗ sản xuất hàng
loạt, đã phải chuyển sang sản xuất với seri nhỏ và thay vì tập trung chủ yếu vào
sản xuất, người ta phải đầu tư cho tiếp thị, quảng cáo, cách thức bán hàng…


<b>3. Trong nền kinh tế tri thức, giáo dục, đào tạo có vai trị đặc biệt </b>



Con người thể hiện vai trị của mình trong nền kinh tế thơng qua các khía
cạnh nhân văn chủ yếu. Con người trước hết <i>phải có đức để điều chỉnh h</i>ành vi
của mình cho phù hợp với các chuẩn mực chung, <i>phải có phẩm chất thể chất và </i>
<i>trí tuệ để tham gia các hoạt động mang tính sản xuất của x</i>ã hội và <i>phải có khả </i>
<i>năng thụ hưởng, tiêu thụ để có tạo ra khả năng tái sản xuất cho nền kinh tế nói </i>
riêng và xã hội nói chung.


Trong các xã hội trước thời kì của nền kinh tế tri thức, những tri thức kinh
nghiệm đóng vai trị chủ đạo, những thơng tin mới cịn ít, con người có thể dễ
dàng nắm bắt những tri thức ấy phục vụ cho cuộc sống và sản xuất thông qua
cuốc sống thực tiễn hàng ngày. Mặt khác, những đòi hỏi chung của xã hội đối
với mỗi con người ít thay đổi. Người ta có thể n tâm sống, làm việc suốt đời
với những chuẩn mực truyền thống, với những vốn hiểu biết, những kĩ năng
được trang bị lúc mới vào đời mà không sợ bị lạc hậu.


Trong xã hội của thời kì kinh tế tri thức, tình hình diễn ra ngược lại. Nền
kinh tế tri thức với một khối lượng khổng lồ những tri thức mới được tạo ra nên
người ta không thể chỉ sống với những kinh nghiệm ít ỏi của các thế hệ đi trước
mà còn phải nắm bắt lượng thơng tin mới đó. Người ta khơng thể nắm thơng tin
theo cách cũ, theo cách ghi nhớ máy móc mà phải nhớ bằng tư duy theo hướng
chọn lọc và hệ thống hóa. Do đó, địi hỏi người ta phải học nhiều để nắm bắt cả
<i>tri thức mới</i> và <i>cách nắm bắt các tri thứcđó</i>.


</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

khơng thể sống, phát triển bình thường với những gì đã có. Tình hình địi hỏi
mỗi người phải vươn lên, đổi mới theo bước tiến chung của nhân loại. Giáo dục
nhà trường lúc này chỉ cịn có ý nghĩa là giúp con người <i>nắm thông tin cơ sởvà</i>
<i>biết cách nắm bắt thông tin mới</i> trong một xã hội đầy sáng tạo. Học tập trở
thành một yêu cầu của xã hội đối với mọi thành viên nhưng cũng trở thành nhu
cầu tự thân của mỗi con người. Xã hội của thời đại kinh tế tri thức do vậy trở
thành một xã hội học tập, ở đó mỗi cá nhân phải học tập suốt đời.



<b>CÂU HỎI </b>


<b>1. </b> Thế nào là nền kinh tế tri thức? Hãy phân biệt nền kinh tế tri thức với các
nền kinh tế truyền thống.


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>

<b>CHƯƠNG 3 </b>


<b>VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA </b>


<b>I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA </b>
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tạo tiền đề vật chất cho sự tăng
trưởng, ổn định của nền kinh tế.


Việc đánh giá cơ cấu kinh tế là "hợp lí" hoặc "tối ưu" được xem xét qua các
khía cạnh sau:


+ Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo.


+ Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của đất nước, của
ngành, của địa phương.


+ Phản ánh đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên,
kinh tế và xã hội. Như là việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi phải phù hợp với
điều kiện khí hậu, đất đai. Đặc biệt là các quy luật kinh tế, quy luật của kinh tế
thị trường...


+ Sử dụng ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nước ta
và nước ngoài, giữa các vùng trong nước.



+ Phản ánh được các xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học-
công nghệ, xu hướng hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.


Nền kinh tế nước ta trong quá trình Đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường
có định hướng XHCN đã và đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh
mẽ. Các nước phương Tây xếp nước ta vào nhóm các nước có nền kinh tế
chuyển đổi (transitional economies). Thực ra, có một q trình mang tính khái
quát luôn diễn ra ở mọi nền kinh tế, đó là q trình cơ cấu lại nền kinh tế, hay là
tái cấu trúc nền kinh tế (re-structuring).


Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trên cả ba mặt:
- Chuyển dịch cơ cấu theo ngành.


- Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ.


- Chuyển dịch cơ cấu theo các thành phần kinh tế.


</div>
<span class='text_page_counter'>(45)</span><div class='page_container' data-page=45>

khu vực và thế giới có ảnh hưởng ngày càng trực tiếp vào nền kinh tế nước ta,
làm cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn biến không
thật ổn định (xem H.1 và H.2).


<b>Hình 1. </b>Tốc độ tăng trưởng GDP thời kì 1990-2003


<b>Hình 2. </b>Sự chuyển dịch tỉ trọng của các ngành trong cơ cấu GDP thời kì 1990 –
2003


Cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2002 chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của
các nước trong khu vực vào những năm 80 của thế kỉ trước. So với cơ cấu kinh
tế của các nước này năm 2000, cơ cấu kinh tế nước ta còn lạc hậu. Xu hướng


của nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới là coi trng


0
2
4
6
8
10
12
14
16
1
9
9
0
1
9
9
1
1
9
9
2
1
9
9
3
1
9
9


4
1
9
9
5
1
9
9
6
1
9
9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
2
0
0
1
2

0
0
2
2
0
0
3
%


Tổng sản phẩm trong


nc


Nông, Lâm nghiệp và
Thuỷ sản


Công nghiệp và
Xây dựng
Dịch vụ
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50


1
9
9
0
1
9
9
1
1
9
9
2
1
9
9
3
1
9
9
4
1
9
9
5
1
9
9
6
1
9

9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
2
0
0
1
2
0
0
2
2
0
0
3
%


Nông, Lâm nghiệp và
Thuỷ sản



</div>
<span class='text_page_counter'>(46)</span><div class='page_container' data-page=46>

và tìm mọi cách để giảm tỉ trọng của khu vực nông lâm ngư và tăng khu vực
công nghiêp - xây dựng, đặc biệt chú trọng đến việc tăng tỉ trọng của dịch vụ
trong GDP. <i> </i>


<b>II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ </b>
<b>1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành </b>


Việc tiến hành cơng nghiệp hóa, tăng trưởng nhanh giá trị gia tăng công nghiệp
và dịch vụ đã và đang tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, làm cho phong
cách “sản xuất công nghiệp” trở thành phổ biến trong nền kinh tế. Theo Báo cáo
Phát triển Thế giới năm 2004 của Ngân hàng Thế giới, mức thu nhập bình quân
đầu người của Việt Nam là 430 USD (năm 2002), bằng 1/12 trung bình của thế
giới và bằng 50% mức bình qn của khu vực Đơng Á và Thái Bình Dương, tương
đương với mức trung bình của nhóm các nước có thu nhập thấp. Nếu tính theo sức
mua tương đương (PPP), thu nhập bình quân đầu người năm 2002 của Việt Nam
mới đạt 2240 USD, chưa bằng 1/3 mức bình quân chung của thế giới.


Để khắc phục nguy cơ tụt hậu, con đường duy nhất là phải tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.


<i><b>1.1 Khu v</b><b>ực nông </b><b>- lâm -</b><b> ngư nghiệp</b></i>


Khu vực này có 75% dân số sinh sống và 60% lao động, đã duy trì mức độ
tăng trưởng cao nhất có thể và chỉ có thể đạt trên dưới 5%/năm, do giới hạn
sinh học. Biểu đồ hình 1 cho thấy rằng những thiên tai liên tiếp xảy ra trong
những năm 2001, 2003 đã làm cho tốc độ tăng giá trị gia tăng(1) của nông - lâm
- thủy sản khá thấp (2,98% năm 2001 và 3,25% năm 2003). Mặt khác, sự rớt giá
của nhiều sản phẩm nông nghiệp trong những năm gần đây đã đặt nông nghiệp
trong thế bất lợi nhất định so với công nghiệp và dịch vụ.



Vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nơng thơn là một
nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển. Với các
chính sách mới trong nơng nghiệp, xây dựng nông thôn mới, việc thi hành Luật
Đất đai, Luật Hợp tác xã (sửa đổi), phát triển kinh tế trang trại… tạo ra nền tảng
cho kinh tế nông nghiệp và nơng thơn có nhiều chuyển biến lớn, góp phần làm
cho kinh tế nước ta ổn định. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, một
mặt gắn liền với việc hình thành các vùng chuyên canh, đa dạng hóa cơ cấu cây
trồng theo hướng sản xuất hàng hóa nhiều về số lượng và tốt về chất lượng, mặt


</div>
<span class='text_page_counter'>(47)</span><div class='page_container' data-page=47>

khác vẫn đảm bảo an toàn lương thực và xuất khẩu mỗi năm 3 - 4 triệu tấn gạo,
có nhiều sản phẩm xuất khẩu cây công nghiệp. Trong nông nghiệp, tỉ trọng của
ngành trồng trọt đã giảm từ 79,3% (1990) xuống 75,4% (2003). Có thể thấy
rằng song song với sự giảm tỉ trọng ngành trồng trọt (diễn ra tuy không đồng
đều và rõ rệt nhất từ năm 1998 trở lại đây) là quá trình tăng dần tỉ trọng của
ngành chăn nuôi (từ 17,9% năm 1990 lên 22,4% năm 2003), trong khi tỉ trọng
của dịch vụ trong nông nghiệp dao động từ khoảng 2,5% đến 3%. Nếu như
trong ngành chăn nuôi (không kể nuôi trồng thủy sản), tốc độ tăng trưởng của
chăn ni gia cầm có phần cao hơn so với chăn nuôi gia súc và thì trong chăn
ni gia súc, tăng trưởng chủ yếu là của đàn bò và đàn lợn. Đáng chú ý là các
sản phẩm không qua giết mổ (trứng và sữa) chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong
cơ cấu sản phẩm chăn nuôi, phản ánh một xu hướng mới trong chăn nuôi hiện
đại của nước ta.


<i>Ngành lâm nghiệp</i> có tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu nơng - lâm - thủy sản, và tập
trung chủ yếu vào việc giữ rừng, phát triển vốn rừng.


<i>Ngành</i> <i>thủy sản đ</i>ã có sự chuyển biến vượt bậc, tăng với tốc độ trên dưới
10% và tốc độ tăng của ngành ni trồng thủy sản là rất cao. Vì thế, tỉ trọng của


ngành thủy sản trong cơ cấu khu vực nông - lâm - ngư tăng mạnh và cơ cấu
ngành thủy sản đã chuyển dịch mạnh, cả về sản lượng và giá trị sản lượng,
trong đó giá trị sản lượng chuyển dịch nhanh hơn (xem các bảng dưới đây).


<b>Bảng 1. Cơ cấu GDP khu vực nông </b>- lâm - thủy sản 1995 - 2003
<b>Nông nghiệp </b> <b>Lâm nghiệp </b> <b>Thuỷ sản </b>


1995 84,7 4,6 10,7


1996 80,8 6,2 12,9


1997 81,5 6,0 12,5


1998 81,8 5,7 12,5


1999 81,9 5,6 12,4


2000 80,8 5,5 13,8


2001 78,5 5,4 16,0


2002 78,2 5,3 16,5


2003 76,6 5,0 18,4


</div>
<span class='text_page_counter'>(48)</span><div class='page_container' data-page=48>

(theo giá so sánh 1994), thời kì 1990 – 2003


<b>Cơ cấu sản lượng </b> <b>Cơ cấu giá trị sản lượng </b>
<b>Năm </b>



<b>Khai thác </b> <b>Nuôi trồng </b> <b>Khai thác </b> <b>Nuôi trồng </b>


1990 81,8 18,2 68,3 31,7


1991 82,7 17,3 70,4 29,6


1992 83,0 17,0 71,1 28,9


1993 82,9 17,1 70,3 29,7


1994 76,5 23,5 70,0 30,0


1995 75,4 24,6 68,1 31,9


1996 75,1 24,9 70,3 29,7


1997 76,0 24,0 70,9 29,1


1998 76,2 23,8 69,9 30,1


1999 76,0 24,0 69,3 30,7


2000 73,8 26,2 63,8 36,2


2001 70,8 29,2 55,9 44,1


2002 68,1 31,9 52,5 47,5


Sơ bộ
2003



65,4 34,6 48,9 51,1


Nếu năm 1990 sản lượng thủy sản mới là 890,6 nghìn tấn, trong đó sản
lượng từ ni trồng là 162,1 nghìn tấn (chiếm 18,2%), thì đến năm 2003, sản
lượng thủy sản đã tăng lên 279,6 nghìn tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng là
966,1 nghìn tấn (chiếm 34,6%). Do tính chung sản phẩm từ ni trồng có giá trị
cao hơn các sản phẩm từ khai thác và trong nuôi trồng thủy sản xu hướng là
nhằm vào các đối tượng đem lại giá trị kinh tế cao, nên tỉ trọng của nuôi trồng
trong cơ cấu giá trị sản lượng thủy sản cao hơn và tăng mạnh từ 31,7% (năm
1990) lên 51,1% (năm 2003).


<i><b>1.2. Khu v</b><b>ực công nghiệp </b><b>- xây d</b><b>ựng</b></i>


Là khu vực có điều kiện đạt mức tăng trưởng nhanh do tăng đầu tư và ứng
dụng khoa học công nghệ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(49)</span><div class='page_container' data-page=49>

điểm để tập trung đầu tư, đổi mới công nghệ, Trước đây nước ta đã từng lựa
chọn bước đi cơng nghiệp hóa là ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng
(trước hết là sắt thép, xi măng, nguyên liệu cơ bản, điện, hóa chất, cơng nghiệp
cơ khí v.v…), bảo đảm chủ động các nguồn nguyên liệu cơ bản. Tư duy này có
thể đúng trong điều kiện bị bao vây kinh tế, nhưng lại duy trì cả trong điều kiện
hội nhập kinh tế nên đã dẫn tới phát triển công nghiệp nặng không hiệu quả, do
không gắn ngay từ đầu với phát triển công nghiệp nhẹ, với khu vực dịch vụ và
nông nghiệp, và nhất là không cân nhắc đầy đủ các lợi thế so sánh trong điều
kiện hội nhập kinh tế đang đi vào chiều sâu. Trong quá trình đổi mới, ở giai
đoạn đầu công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến thực phẩm được đặc biệt coi
trọng. Từ đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX trở lại đây, tỉ trọng của công nghiệp
nặng ngày càng tăng lên và đến nay đã vượt tỉ trọng của cơng nghiệp nhóm B.



Tỉ trọng của cơng nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP đã tăng từ 22,7%
(năm 1990) lên 39,5% năm 2003 và đạt tới 40,1% năm 2004. Cứ theo đà này,
thì tỉ trọng của công nghiệp và xây dựng sẽ ở mức 40 - 41% vào năm 2010. Nếu
tính riêng khu vực cơng nghiệp thì tỉ trọng đã tăng từ 18,8% (năm 1990) lên
33,8% (năm 2004).


Trong các ngành công nghiệp, ngành khai thác mỏ đã có bước tiến nhanh
với khai thác dầu khí, than được đẩy mạnh. Ngành dầu khí năm 1986 mới khai
thác tấn dầu đầu tiên, thì nay đã có sản lượng gần 20 triệu tấn/năm (quy dầu) và
ngành than tăng sản lượng lên hơn 3 lần, vượt 15 triệu tấn và nhanh chóng đạt
20 tấn/năm. Ngành điện cũng tăng trưởng mạnh, đi trước phục vụ sản xuất và
dân sinh. Từ mức sản lượng điện chưa tới 9 tỉ KWh năm 1990, đến nay sản
lượng điện đã tăng 4 - 5 lần.


Ngành công nghiệp chế biến phát triển mạnh, chiếm khoảng 80% giá trị sản
lượng công nghiệp. Trong các ngành công nghiệp chế biến phải kể đến:


- Ngành dệt may và da giầy đã có bước phát triển vượt trội, đóng góp quan
trọng vào mức tăng xuất khẩu.


- Ngành sản xuất thép: Từ chỗ cả nước năm 1990 chỉ sản xuất 100 tấn thép
thì nay đã đạt hơn 2,5 triệu tấn thuộc mọi thành phần kinh tế.


- Ngành điện, điện tử cũng tiến bước mạnh mẽ.


- Ngành vật liệu xây dựng đã sản xuất vượt 20 triệu tấn xi măng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(50)</span><div class='page_container' data-page=50>

<i><b>1.3. Khu v</b><b>ực dịch vụ</b></i>


Trước đây, trong thời kì bao cấp, hoạt động dịch vụ chủ yếu chỉ bó hẹp


trong khâu phân phối lưu thông và do Nhà nước tổ chức quản lí. Các loại dịch
vụ khác thì hầu như khơng có hoặc bị cấm. Nhờ các chính sách đổi mới nền
kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, ngành dịch vụ đã từng bước hình thành
và phát triển đa dạng với tốc độ nhanh chóng, góp phần phục vụ đắc lực cho sản
xuất và cho tiêu dùng.


Ngành dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh, nhất là lĩnh vực liên
quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị. Tuy nhiên, sự phát triển
này không đều, nhất là trong những năm gần đây đã chuyển biến chậm hơn kinh
tế nói chung, làm hạn chế sự tăng trưởng nền kinh tế. Trong những năm tiến
hành đổi mới, ngành vận tải tăng sản lượng vận tải hàng hóa lên hơn 5 lần,
trong đó khu vực tư nhân tăng trưởng rất mạnh, hơn 10 lần trong thời kì đổi mới
và có sản lượng chiếm tới khối lượng hàng hóa vận chuyển. Tóm lại, trong gần
20 năm, ngành dịch vụ cũng có bước phát triển tương đối khá, góp phần nâng
cao hiệu quả của nền kinh tế.


Các loại hình dịch vụ mới ra đời như: viễn thông, chuyển giao công nghệ,
tư vấn đầu tư và các dịch vụ nghiên cứu, khai thác thị trường đã góp phần
khơng nhỏ vào sự phát triển kinh tế nước ta trong những năm qua Các loại dịch
vụ mang tính chất kinh doanh như: thương mại, vận tải, tài chính tín dụng, du
lịch, khách sạn, nhà hàng... đã nhanh chóng có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, tạo nhiều cơng ăn việc làm và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, vẫn chưa có các giải pháp phù hợp để phát triển các dịch vụ
cao cấp, dịch vụ thu nhiều giá trị gia tăng như: viễn thơng, tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, tư vấn, khoa học công nghệ…


Trong những năm gần đây, khu vực dịch vụ có xu hướng phát triển chậm
hơn so với khu vực sản xuất vật chất. Mặc dù có sự suy giảm về tỉ trọng trong
cơ cấu GDP, nhưng về giá trị tuyệt đối thì trong giai đoạn vừa qua ngành dịch
vụ liên tục có sự tăng trưởng đều đặn.



</div>
<span class='text_page_counter'>(51)</span><div class='page_container' data-page=51>

Trong quá trình đổi mới, chúng ta từng bước phát triển các ngành kinh tế
gắn bó với thị trường, góp phần nâng hiệu quả và sức cạnh tranh. Chúng ta phải
lựa chọn những ngành hàng nào, những sản phẩm và dịch vụ nào có thể phát
huy các lợi thế so sánh của đất nước, nhờ đó tạo ra mức đột phá trong tốc độ
phát triển để lôi kéo các ngành kinh tế, vùng kinh tế khác cùng phát triển. Đó là
cơ sở để đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt quy mơ đủ lớn thích ứng của
nền kinh tế công nghiệp hóa, trong đó tỉ trọng của ngành nông nghiệp từng
bước hạ thấp trên cơ sở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có hiệu quả.


<b>2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ </b>


Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ là chuyển dịch cơ cấu quan trọng.
Điều này, một mặt phụ thuộc vào các nhân tố vị trí địa lí, tài nguyên thiên
nhiên…, mặt khác còn dựa vào sự tác động chủ quan của con người. Nhận
xét chung là đã có sự chuyển biến tích cực về mọi mặt trên mọi vùng kinh tế
của đất nước trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế theo vùng đang có sự chuyển dịch khơng thuận
cho các vùng khó khăn, cần có thời gian dài mới khắc phục được. Vì vậy,
trong khoảng thời gian này, cũng cần có nhận thức, chính sách nhất qn để
xử lí những vấn đề mất cân đối phát sinh. Trong thực tế, Đông Nam Bộ vẫn
là vùng phát triển năng động nhất cả nước, trong khi các vùng khác, nhất là
vùng núi vẫn còn nhiều khó khăn. Khoảng cách phát triển và đời sống vẫn
còn lớn giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng.


<b>Bảng 3. Cơ cấu GDP ( %) phân theo v</b>ùng (giá so sánh 1994)


<b>Vùng </b> <b>1994 </b> <b>1998 </b> <b>2003 </b>



Trung du và miền núi Bắc
Bộ


11,48 8.03 8.14


Đồng bằng sông Hồng 18,97 20.75 19.66


Bắc Trung Bộ 8.51 7.83 7.37


Duyên hải Trung Bộ 7.78 7.56 7.64


Tây Nguyên 3.02 3.52 4.12


Vùng Đông Nam Bộ 28.47 31.82 33.9


Vùng ĐBSCL 21.77 20.49 19.17


</div>
<span class='text_page_counter'>(52)</span><div class='page_container' data-page=52>

<i>Nguồn: tính tốn từ Số liệu kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố</i>


Theo thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2000 khá chênh lệch giữa
các tỉnh thành trong cả nước (Bảng 4)


<b>Bảng 4. </b>GDP bình quân đầu người các địa phương


<b>Địa phương </b> <b>GDP bình quân </b>


<b>(nghìn đồng, giá </b>
<b>hiện hành) </b>


<b>Khoảng cách so </b>


<b>với tỉnh Hà Giang </b>


<b>(lần) </b>


<i><b>Năm tỉnh, th</b><b>ành ph</b><b>ố gi</b><b>àu </b></i>


<i><b>nh</b><b>ất</b></i>


Bà Rịa – Vũng Tàu
Thành phố Hồ Chí Minh
Hà Nội


Bình Dương
Đà Nẵng


<i><b>Năm tỉnh ngh</b><b>èo nh</b><b>ất</b></i>


Lào Cai
Sơn La
Lai Châu
Bắc Cạn
Hà Giang


50.710,3
14.516,0
11.504,4
8.224,2
7.031,8
2.334,2
2.028,3


1.992,9
1.753,3
1.721,2


29,46
8,43
6,68
4,78
4,09
1,36
1,18
1,16
1,02
1,00


Nhờ chính sách điều tiết tốt nên tuy GDP bình qn đầu người có chênh
lệch lớn, nhưng mức sống thì chênh lệch ít hơn. Số hộ nghèo của các tỉnh này
tuy vẫn chênh lệch lớn do các điều kiện ban đầu và những lợi thế cạnh tranh rất
khác nhau.


</div>
<span class='text_page_counter'>(53)</span><div class='page_container' data-page=53>

của nhân dân tăng trên 5%/ năm. Hiện nay tỉ lệ nghèo chung đã giảm một nửa
sau 10 năm phấn đấu. Đây là một thành tựu lớn, được thế giới thừa nhận.


Cơ cấu kinh tế ngành của các vùng đã có sự thay đổi mạnh. Trên thực tế,
chỉ có vùng Đơng Nam Bộ về hình thức có cơ cấu ngành đã tương ứng với nền
kinh tế của nước công nghiệp, tuy chất lượng của chuyển cơ cấu chưa cao, nhất
là các ngành dịch vụ cao cấp còn chậm phát triển (năm 2000, nông nghiệp
chiếm 6,6 GDP; công nghiệp chiếm tới 56,7% GDP và dịch vụ mới đạt 36,7%
GDP). Tuy nhiên, cơng nghiệp phát triển cịn dựa nhiều vào công nghiệp khai
thác, công nghiệp chế biến với công nghệ cao còn chưa phát triển nhiều, làm


ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh dài hạn của vùng.


Trong nước đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ phát triển
cao: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung,
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Ba vùng này chiếm tới 58,46% GDP cả
nước và nhờ đó tạo nên sức lan tỏa ra các vùng kinh tế khác trong nước. Khi
xét tới những chuyển dịch cơ cấu ngành trên các tỉnh, có thể thấy một số ít các
tỉnh đã “về đích sớm” trong q trình thực hiện cơng nghiệp hóa. Có 5 tỉnh và
thành phố thuộc ba vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng,


Bà Rịa – Vũng Tàu


và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 đã có tỉ trọng nông nghiệp giảm xuống
dưới 10% GDP. Chỉ 5 địa phương này đã đóng góp 40% GDP
cả nước.


<b>Bảng 4. Cơ cấu ng</b>ành của các địa phương
có chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, năm 2002 (%)
<b>GDP </b>


<b>(giá hiện hành) </b>


<b>Tổng </b>
<b>GDP </b>
<b>Tỉ trọng </b>
<b>(%) </b>
<b>Nông </b>
<b>nghiệp </b>
<b>Công </b>
<b>nghiệp </b>


<b>Dịch </b>
<b>vụ </b>
<i>Cả nước</i> (tỉ đồng)


Hà Nội
Quảng Ninh
Đà Nẵng


</div>
<span class='text_page_counter'>(54)</span><div class='page_container' data-page=54>

<i>Nguồn</i>: <i>Niên giám thống kê các tỉnh năm 2000 và Việt Nam năm 2002,</i> tr.
51.


<i>Số liệu về các mục tiêu phát triển của Việt Nam</i>, Tổng cục Thống kê, 2003,
tr 15-17.


<b>3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế </b>


Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã góp phần quan trọng huy
động các nguồn lực trong và ngoài nước để đẩy mạnh tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Trong cơ cấu GDP có thể thấy khu vực kinh tế Nhà nước
vẫn đóng vai trị chủ đạo, nhưng mặt khác cũng thấy vai trò đang tăng lên của
kinh tế tư nhân và nhất là của khu vực có đầu tư nước ngoài.


<b>Bảng 5. Cơ cấu GDP phân theo th</b>ành phần kinh tế (%)
Các thành phần kinh tế 1995 2002


Kinh tế Nhà nước 37.5 38,4


Kinh tế tập thể 10.8 8,0


Kinh tế tư nhân 7.5 8,3



Kinh tế cá thể 37.6 31,6


Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài


6.6 13,7


<b>Tổng cộng </b> 100,0 100,0


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có liên quan đến việc tạo ra năng suất lao động
ngày càng cao. Trước đổi mới, các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể chiếm
tuyệt đối nguồn vốn và các điều kiện ưu đãi, nhưng hoạt động thiếu hiệu quả, do
thiếu động lực kinh tế để phát triển, nhất là động lực khuyến khích vật chất. Trong
khi đó, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa được tạo ra cơ chế thích hợp
để phát triển.


</div>
<span class='text_page_counter'>(55)</span><div class='page_container' data-page=55>

và thời đại.


Từ khi đổi mới, tiến hành phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, sự tham
gia của khu vực tư nhân nói chung đã góp phần quan trọng vào sự phát triển
chung đã làm chuyển đổi dần nhận thức về sự tham gia bình đẳng của các thành
phần kinh tế trong phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là ở nông thôn,
với các doanh nghiệp nhỏ, và vừa và trong khu vực dịch vụ.


Phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu là những vấn đề bức xúc đã
được từng bước tháo gỡ. Chỉ riêng khu vực ngoài kinh tế nhà nước và hợp tác
xã đã thu hút 90% lao động xã hội và làm ra trên 60% GDP đã phản ánh tính
đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế ngồi nhà nước, bao gồm cả khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã coi kinh tế có


vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế. Một trong
những chuyển biến nhận thức quan trọng nhất thời gian gần đây là việc thi hành
Luật Doanh nghiệp từ năm 2000 và tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung
ương 9 (khóa IX) về nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế được
tự do phát triển không hạn chế quy mô trong khuôn khổ pháp luật, các tổng
cơng ti nhà nước cũng có thể được cổ phần hóa cả trong các ngành hàng quan
trọng như: ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, vận tải biển, v.v… để kinh tế quốc
gia phát triển thêm năng động. Đó là những bước đổi mới tư duy rất quan trọng,
mở đường cho cơ cấu thành phần kinh tế thêm đa dạng.


<b>CÂU HỎI </b>
<b>1. </b> Tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế?


</div>
<span class='text_page_counter'>(56)</span><div class='page_container' data-page=56>

<b>CHƯƠNG 4 </b>


<b>VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO </b>


<b>VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM </b>


<b>I. VẤN ĐỀ ĐĨI NGHÈO </b>
<b>1. Định nghĩa về đói nghèo </b>


Định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993
nêu rõ: <i>nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn </i>
<i>các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa </i>
<i>nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa </i>
<i>phương</i>.


<b>2. Các chuẩn nghèo đã được áp dụng </b>



Các chuẩn nghèo khác nhau đã được TCTK( Tổng cục Thống kê) xác định,
trên cơ sở áp dụng các quan điểm quốc tế về nghèo đói.


<i>- Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm </i>được xác định theo mức Kcal tối
thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100
Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được
lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.


<i>- Đường đói nghèo chung </i>(bao gồm chi phí cho cả mặt hàng lương thực, thực
phẩm và phi lương thực, thực phẩm). Năm 1993 đường đói nghèo chung có mức
chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực thực
phẩm là 55%); năm 1998 là 1,79 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo
lương thực thực phẩm là 39%). Dựa trên các ngưỡng nghèo này, tỉ lệ đói nghèo
chung năm 1993 là 58% và 1998 là 37,4%; cịn tỉ lệ đói nghèo lương thực tương
ứng là 25% và 15%.


<i>Các chuẩn đói nghèo áp dụng trong</i> <i>Chương trình xóa đói giảm nghèo </i>
<i>quốc gia</i> do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra:


</div>
<span class='text_page_counter'>(57)</span><div class='page_container' data-page=57>

+ <i>Hộ nghèo</i>: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg gạo/
người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng); vùng nông thôn đồng bằng, trung du:
dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng); vùng thành thị: Dưới
25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng).


+ Xã nghèo: là xã có tỉ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, thiếu cơ sở hạ tầng
(đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, thuỷ
lợi nhỏ và chợ).


- <i>Chuẩn nghèo mới</i> (công bố năm 2001, áp dụng cho thời kì 2001-2005)


bình quân thu nhập là: 80 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng
núi nơng thơn; 100 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nơng thơn;
150 nghìn đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị.


<b>II. THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở NƯỚC TA </b>


Theo Chiến lược tồn diện về tăng trưởng và xố đói giảm nghèo của Chính
phủ đưa ra năm 2002, thì tỉ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam cịn khá cao. Theo
kết quả điều tra mức sống dân cư (theo chuẩn nghèo chung của quốc tế), tỉ lệ
đói nghèo năm 1998 là trên 37% và ước tính năm 2000 tỉ lệ này vào khoảng
32% (giảm khoảng 1/2 tỉ lệ hộ nghèo so với năm 1990). Nếu tính theo chuẩn
đói nghèo về lương thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ước tính năm 2000 là
13%. Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia mới,
đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả
nước. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2002 đã cho thấy những tiến bộ
mới trong việc xóa đói giảm nghèo chung của cả nước cũng như từng vùng lãnh
thổ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(58)</span><div class='page_container' data-page=58>

<b>Bảng 6. </b>Tỉ lệ hộ nghèo lương thực và thực phẩm, 1999 và 2001 - 2002


<b>1999 </b> <b>2001 - 2002</b>


<b>Việt Nam</b> <b>13,33</b> <b>9,94</b>


Thành thị 4,61 3,86


Nông thôn 15,96 11,89


<b>Vùng</b>



ĐB sông Hồng 7,55 6,54


Đông Bắc 17,07 14,08


Tây Bắc 28,05


Bắc Trung Bộ 19,29 17,31


DH Nam Trung Bộ 14,02 10,66


Tây Nguyên 21,27 16,99


Đông Nam Bộ 5,17 3,23


ĐB sông Cửu Long 10,22 7,59


<b>Bảng 7. </b>Tỉ lệ hộ nghèo tại các tỉnh năm 2002


<b>Năm tỉnh, thành phố giàu nhất (%) </b> <b>Năm tỉnh nghèo nhất </b>
<b>(%) </b>


TP. Hồ Chí Minh
Đà Nẳng


Hà Nội


Bà Rịa – Vũng Tàu
Bình Dương


1,8


3,5
5,0
6,9
8,4


Lai Châu
Hà Giang
Bắc Cạn
Sơn La
Lào Cai


</div>
<span class='text_page_counter'>(59)</span><div class='page_container' data-page=59>

chắc trong sự chuyển biến, tình trạng tái nghèo ở nhiều hộ sau khi thốt nghèo
cũng là vấn đề cần được xử lí nghiêm túc.


<b>Bảng 8. </b>Tỉ lệ hộ nghèo của các vùng (%)


<b>1993 </b> <b>1998 </b> <b>2002 </b>


Cả nước
Thành thị
Nơng thơn


Vùng núi phía Bắc
ĐBSH


Bắc Trung Bộ


Dun hải Nam Trung
Bộ



Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐBSCL
58
25
66
81,5
62,7
74,5
47,2
70,0
37,0
47,1
37
9
45
64,2
29,3
48,1
34,5
52,4
12,2
36,9
29
6
35
43,9
22,4
43,9
25,2


51,8
10,6
23,4


<i> Nguồn:Báo cáo tiến độ thực hiện các MDG 2003</i>, tr 1-2, UNDP, 2003.
Tuy nhiên, các nghiên cứu của các cơ quan chức năng cũng đã nhấn mạnh
rằng:


- Thu nhập của phần lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ
cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng
nghèo và làm tăng tỉ lệ nghèo. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo chưa
vững chắc, vẫn cịn có nguy cơ tái nghèo.


- Sự chênh lệch về thu nhập giữa 20% dân số nghèo nhất và 20% dân số có
mức thu nhập cao nhất có xu hướng giãn rộng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(60)</span><div class='page_container' data-page=60>

- Vẫn còn 90% hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn. Những hạn chế về
điều kiện địa lí, về cơ sở hạ tầng, về khả năng tiếp cận thông tin, tiếp cận thị
trường, về vốn và công nghệ, về lao động... làm cho việc đấu tranh giảm đói
nghèo ở nơng thơn gặp nhiều khó khăn, phức tạp.


- Tỉ lệ hộ nghèo đói đặc biệt cao trong các nhóm dân tộc ít người. Mặc dù
các dân tộc ít người chỉ chiếm khoảng 14% tổng dân số cả nước, song lại chiếm
khoảng 29% trong tổng số người nghèo.


<b>Bảng 9. Ước tính quy mơ v</b>à tỉ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới
<b>Số hộ nghèo, </b>


<b>(nghìn hộ)</b>



<b>So với tổng số </b>
<b>hộ trong vùng </b>


<b>(%)</b>


<b>So với tổng </b>
<b>số hộ nghèo </b>
<b>cả nước (%)</b>


<b>Tổng số </b> <b>2.800</b> <b>17,2</b> <b>100</b>


Tây Bắc 146 33,9 5,2


Đông Bắc 511 22,3 18,2


Đồng bằng sông Hồng 337 9,8 12,0


Bắc Trung Bộ 554 25,6 19,8


Duyên hải Nam Trung
Bộ


389 22,4 13,9


Tây Nguyên 190 24,9 6,8


Đông Nam Bộ 183 8,9 6,6


Đồng bằng sông Cửu
Long



490 14,4 17,5


<i>Nguồn: Chương tr</i>ình quốc gia về xóa đói giảm nghèo


<b>III. XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO GẮN LIỀN VỚI ĐẨY MẠNH TĂNG </b>
<b>TRƯỞNG KINH TẾ </b>


- Muốn nâng cao đời sống nhân dân, thì phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế.


</div>
<span class='text_page_counter'>(61)</span><div class='page_container' data-page=61>

- Tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp và khu vực dịch vụ khơng chính thức có
tác dụng xóa nghèo ở nông thôn và thành thị.


- Việc cải cách cơ cấu nền kinh tế và việc mở cửa nền kinh tế phải đồng
thời với việc tạo ra việc làm mới bù đắp cho những người lao động bị mất việc
trong quá trình cạnh tranh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(62)</span><div class='page_container' data-page=62>

<b>CHƯƠNG 5 </b>


<b>VẤN ĐỀ DI CƯ Ở NƯỚC TA </b>


<b>I. DI CƯ GIỮA CÁC TỈNH VÀ CÁC VÙNG Ở VIỆT NAM TỪ GIỮA THẬP KỈ 80 ĐẾN </b>
<b>CUỐI THẬP KỈ 90 CỦA THẾ KỈ XX </b>


<b>1. Các luồng chuyển cư giữa các vùng </b>


Tổng điều tra dân số năm 1989 cho biết trong thời kì 1984-1989 có 1429 nghìn người từ 5 tuổi



trở lên đã tham gia di chuyển giữa các tỉnh, bằng 2,6% dân số từ 5 tuổi trở lên năm 1989. Kết quả
điều tra toàn diện dân số và nhà ở năm 1999 cho biết có 2116,6 nghìn người đã di chuyển giữa các


tỉnh từ 1994-1999, bằng 3,1% dân số từ 5 tuổi trở lên của năm 1999. Các kết quả tổng hợp về


chuyển cư giữa các vùng vào hai thời kì này được trình bày ở các bảng dưới đây.
<b>Bảng 10. </b>Sự di chuyển giữa các tỉnh gộp theo vùng 1984-1989 (người)


Nơi thường trú 1/4/1984 (khác tỉnh)
Nơi
thường
trú
1/4/198
9

MN-TD
phía
Bắc
ĐBSH
Bắc
Trung
Bộ
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyê
n
Đông


Nam
Bộ
ĐB
SCL


Tổng chuyển
đến ngoại


vùng
MN-TD


phía
Bắc


75955 79264 7434 1030 768 1409 1595 91500


ĐBSH 108048 92895 21211 4626 4180 6488 4281 148834


Bắc


Trung
Bộ


20508 22670 14329 10998 5741 9941 3723 73581


Nam
Trung


Bộ



6109 11732 25524 18804 10210 11173 3114 67862


Tây


Nguyên 33531 118669 86912 54806 5181 15970 6285 316173


Đông


Nam Bộ 24205 76128 69129 50994 10251 76320 84344 315051


ĐBSCL 1975 12144 8608 3837 907 21068 83844 48539
Tổng


chuyển
đi ngoại


vùng


194376


320607 218818 126291 32057 66049 103342 <b>1061540 </b>


Trong bảng 10 và bảng 12, ta sẽ đọc được số người di chuyển nội vùng (ô giao nhau giữa cột và
hàng) và số người di chuyển ngoại vùng. Đối với số người di chuyển ngoại vùng, theo cột dọc là số
người chuyển đi khỏi vùng, còn theo hàng ngang là số người chuyển từ vùng khác đến.


<b>Bảng 11. </b>Các tỉ suất di chuyển giữa các vùng 1984 - 1989 (‰)


<b>Tỉ suất </b>
<b>chuyển đi </b>


<b>Tỉ suất </b>
<b>chuyển </b>
<b>đến </b>
<b>Cán cân </b>
<b>di chuyển </b>


<b>Tỉ suất di cư </b>
<b>tổng cộng </b>


MN-TD phía Bắc 23.0 10.8 -12.2 33.8


<i> Tính tốn từ Kết quả điều tra tồn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(63)</span><div class='page_container' data-page=63>

Đồng bằng sông Hồng 27.2 12.6 -14.6 39.8


Bắc Trung Bộ 30.2 10.2 -20.1 40.4


Nam Trung Bộ 22.1 11.9 -10.2 34.0


Tây Nguyên 15.6 154.1 138.5 169.7


Đông Nam Bộ 9.7 46.1 36.4 55.7


Đồng bằng sông Cửu


Long


8.5 4.0 -4.5 12.5


<i> Nguồn: Tính tốn từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập 1, H, 1991.</i>



Về di chuyển giữa các vùng, có thể thấy một số xu hướng sau:


- <i>Miền núi, Trung du phía Bắc (MNTDPB)cho tới đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX còn là địa bàn </i>


<i>nhập cư,</i> cán cân di chuyển dương, thì từ giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX về sau liên tục là địa bàn


xuất cư. Điều này có liên quan khá rõ nét với tình trạng đời sống cịn nhiều khó khăn của nhiều


vùng cao, nhất là của các tỉnh biên giới trong thập kỉ 80, 90, việc chuyển cư sau hồ Hồ Bình, sức


hút của đồng bằng sông Hồng đối với các luồng chuyển cư. Việc phân tích kĩ ở cấp tỉnh, có thể thấy


rõ hơn như sau.


<i>- Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) vẫn là vùng </i>“<i>trao đổi</i>”<i> các luồng chuyển cư với miền núi </i>


<i>trung du phía Bắc mạnh nhất</i>. Ở đây, yếu tố cự li gần có ý nghĩa khá quan trọng. Các luồng chuyển


từ MNTDPB chủ yếu đến thủ đơ Hà Nội, cịn các luồng từ ĐBSH (các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương,


Thái Bình, Nam Định, TP Hà Nội, TP Hải Phòng) chủ yếu là đến vùng mỏ Quảng Ninh. Một số


tỉnh khác cũng có sức hút khá đối với cư dân từ ĐBSH là Hoà Bình, Phú Thọ và Thái Nguyên. Nếu
như vào nửa cuối thập kỉ 80 vẫn còn thấy các luồng chuyển cư từ ĐBSH đi xây dựng các vùng kinh
tế mới ở MNTDPB (Hồng Liên Sơn, Bắc Thái), thì đến giai đoạn này không thấy nữa.


<b>Bảng 12. </b>Sự di chuyển giữa các tỉnh gộp theo vùng 1994-1999 (người)
Nơi thường trú 1/4/1994 (khác tỉnh)



Nơi
thường trú
1/4/1999
MN -
TD
phía
Bắc
ĐBSH
Bắc
Trung
Bộ
DH
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyê
n
Đông
Nam
Bộ
ĐBSC
L
KX
Đ


Tổng số


chuyển
đến



ngoại


vùng


MNTDPB 51783 62007 7710 1087 2421 3001 650 701 77579


Đồng


bằng sông


Hồng


74421 15365
6


28086 3902 9180 11917 2412 105


0


130968


Bắc Trung


Bộ


3504 6822 23506 10189 8026 9623 1895 24 40085


DHNTB 4350 7787 25739 54141 18105 21246 4034 104 81365



Tây
Nguyên


40825 88806 95495 58734 16519 22653 9826 17 316357


Đông


Nam Bộ


30536 15018
4


145973 99487 23088 14631
8


217416 166 666850


</div>
<span class='text_page_counter'>(64)</span><div class='page_container' data-page=64>

Tổng số


chuyển đi


ngoại


vùng


154742 32467
5


309970 176300 61828 10342
9



236233 217
3


<b>136934</b>
<b>9 </b>


<i>Nguồn: Tính tốn từ số liệu gốc điều tra mẫu 3%. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.</i>


- Hai vùng khác có quy mơ chuyển cư tăng lên, cũng thu hút mạnh di cư từ MNTDPB là Tây
Nguyên (TN) và Đông Nam Bộ (ĐNB). Đặc trưng chung là dòng di dân nông nghiệp chiếm ưu thế


tuyệt đối, gắn với việc phát triển các vùng trồng cây cơng nghiệp, nhất là cây cà phê. Vì vậy, các vùng
nhập cư chính là Đắc Lắc, Lâm Đồng và Bình Phước. Các tỉnh chuyển đi chính là Cao Bằng, Lạng Sơn,


Quảng Ninh. Luồng di chuyển đến TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai từ Phú Thọ, Thái


Nguyên, Bắc Giang đã tăng lên nhiều, gắn với việc phát triển các khu công nghiệp tập trung và khu chế


xuất ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (thời kì 1994 - 1999, gần 15 000 người (49%) số người di cư


từ MNTDPB tới các đô thị của ĐNB, phần khá lớn trong số họ là từ nông thôn).
<b>Bảng 13. </b>Các tỉ suất di chuyển giữa các vùng 1994-1999 (‰)


<b>Tỉ suất </b>
<b>chuyển đi </b>


<b>Tỉ suất </b>
<b>chuyển đến </b>



<b>Cán cân di </b>
<b>chuyển </b>


<b>Tỉ suất di cư </b>
<b>tổng cộng </b>


MNTDPB 15.6 7.8 -7.8 23.4


Đồng bằng sông


Hồng


21.0 8.5 -12.5 29.5


Bắc Trung Bộ 34.6 4.5 -30.2 39.1


DHNTB 24.5 11.3 -13.2 35.7


Tây Nguyên 17.7 90.5 72.8 108.1


Đông Nam Bộ 11.2 72.0 60.9 83.2


ĐBSCL 16.0 3.8 -12.2 19.8


<i>Tính tốn từ số liệu gốc điều tra mẫu 3%. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.</i>


<i>- </i>Đồng bằng sông Hồng vẫn là vùng xuất cư lớn nhất nước ta, mặc dù trong thời kì 1994 - 1999
thì quy mơ xuất cư từ Bắc Trung Bộ đã gần theo kịp ĐBSH. Mặt khác, là một vùng kinh tế phát
triển, lại có nhiều trung tâm cơng nghiệp, có Thủ đơ Hà Nội, nên ĐBSH có sức hút khá lớn đối với
dân cư và lao động từ các vùng khác trong nước. Vào thời kì 1984 - 1989, ĐBSH với hơn 320 000


người chuyển đi và gần 149 000 người chuyển đến có số người tham gia di chuyển lớn nhất cả
nước. Đến thời kì 1994 - 1999, số người chuyển đi và chuyển đến có lẽ giảm chút ít so với thời kì


trước đó (chú ý ở đây có sự thay đổi trong ranh giới ĐBSH). Di dân từ ĐBSH vẫn tiếp nối dòng di
dân trong lịch sử là di dân đường dài, theo hướng Bắc Nam, nhưng hướng tới hai địa bàn chính là


Tây Nguyên và Đơng Nam Bộ. Trong thời kì 1984 - 1989, hơn 118 000 người đến Tây Nguyên, 76


000 người đến ĐNB. Các tỉnh thu hút nhiều nhất người di cư từ ĐBSH là Đắc Lắc (47,6 nghìn


người), rồi đến Lâm Đồng (45,6 nghìn người) và Gia lai – Kon Tum (25 500 người). Đến ĐNB, thì


địa bàn quan trọng nhất lúc bấy giờ là tỉnh Đồng Nai (hơn 35 000 người), rồi đến tỉnh Sông Bé (17
600 người). TP Hồ Chí Minh cũng đã có sức hút tăng dần đối với các luồng di dân từ ĐBSH: hơn
15 000 người đã nhập cư. Nét đặc trưng nổi bật lúc bấy giờ là di dân có kế hoạch, có tổ chức của
Nhà nước và trọng tâm là di dân đi các vùng kinh tế mới, nhằm hình thành các vùng chun canh
cây cơng nghiệp (cà phê, cao su); còn chuyển đến TP Hồ Chí Minh chủ yếu là cán bộ được điều
động công tác.


</div>
<span class='text_page_counter'>(65)</span><div class='page_container' data-page=65>

Nguyên và hơn 150 000 người đến ĐNB. Khoảng 75% số người từ ĐBSH đến Tây Nguyên là đến


các vùng kinh tế mới để phát triển nông lâm nghiệp. Địa bàn nhập cư chính là Đắc Lắc (32 600
người), Lâm Đồng (25 300 người) và Gia lai (13 400 người). Ngược lại trong số 150 000 người từ
ĐBSH đến ĐNB, thì 106 nghìn người (hơn 70%) là đến các đô thị ở ĐNB, trong đó hơn 82 000


người là từ vùng nơng thôn của ĐBSH. Như vậy, một luồng di dân nông thôn - đô thị rất quan trọng
đã diễn ra trên khoảng cách gần 2000km. Một phần khá quan trọng trong số họ là những người di


dân tự do. Trong thời kì này đến TP Hồ Chí Minh là 61 000 người và Đồng Nai 29 600 người.



- <i>Bắc Trung Bộ (BTB)</i> <i>là vùng xuất cư lớn thứ hai ở nước ta</i> v<i>à có tỉ suất chuyển đi lớn nhất, </i>


<i>cán cân di chuyển có thời kì đã đạt tới </i>–<i>30,2</i>‰<i> (1994 - 1999</i>). Đó là vì BTB là một vùng kinh tế có


nhiều khó khăn, lại thường xuyên có thiên tai, mức thu nhập của vùng nông thôn thấp bậc nhất cả
nước.2 Sự phát triển công nghiệp của vùng cũng hạn chế, nên dịng người chuyển đến có quy mơ


nhỏ nhất so với các vùng khác và tỉ suất chuyển đến chỉ bằng 4,5‰ (1994 - 1999). Giống như ở
ĐBSH, các luồng chuyển cư quan trọng nhất là tới Tây Nguyên và ĐNB, và trong thời kì 1994 -
1999 thì 47% luồng xuất cư là tới ĐNB.


- <i>Trong luồng di chuyển đến Tây Nguyên, thì tập trung nhất là ở Đắc Lắc </i>(62,7/86,9 nghìn


người, thời kì 1984 - 1989; 57,4/95,5 nghìn người, 1994 - 1999); 72% trong số này là di dân nông
thôn – nông thôn. Trong luồng di dân đến ĐNB, thì 57% đến các đơ thị, 43% đến vùng nông thôn,
di dân nông thôn – đô thị chiếm 45% tổng số. Các địa bàn nhập cư chủ yếu là Đồng Nai, Sông Bé


(1984 - 1989). Đến thời kì 1994 - 1999 thì địa bàn chủ yếu là TP Hồ Chí Minh (hơn 62 nghìn


người, 43% tổng số) và Đồng Nai (40 nghìn người, 27% tổng số). Các luồng di cư từ BTB tới
ĐBSH chủ yếu là từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh đến Hà Nội. Còn các luồng chuyển
cư đến DHNTB chủ yếu tới Đà Nẵng và Khánh Hồ. Di dân vào các đơ thị chiếm ưu thế.


<i>- Duyên hải Nam Trung Bộcó các luồng di chuyển chủ yếu tới các vùng lân cận</i> là Tây Nguyên


và ĐNB (158 nghìn người, bằng 90% số người chuyển khỏi vùng, 1994 - 1999), và tỉ suất chuyển đi
đã tăng lên. Các tỉnh chuyển cư chủ yếu là Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Dịng nhập cư
đến DHNTB (1994 - 1999) là 81,4 nghìn người từ các vùng lân cận, trong đó lớn nhất là từ BTB.


<b>Bảng 14. </b>Vùng nơi đã sinh ra và vùng cư trú hiện nay (%)


Vùng cư trú hiện nay


Vùng nơi sinh


Tây Nguyên Đơng Nam Bộ


MN-TD phía Bắc 11,04 5,39


Đồng bằng sông Hồng 6,75 16,91


Bắc Trung Bộ 14,72 9,34


Duyên hải NTB 50,31 9,44


Tây Nguyên 14,72 0,93


Đông Nam Bộ 1,84 34,65


Đồng bằng sơng Cửu


Long


0,61 18,67


Nước ngồi 0 4,67


<b>Tổng cộng </b> <b>100,00 </b> <b>100,00 </b>


<i>Nguồn</i>: <i>Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1992 - 1993</i>. UBKHNN, TCTK, H., 9-1994,





2<sub>Kết quả điều tra giàu nghèo 1993 cho thấy thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng ở Bắc Trung Bộ là </sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(66)</span><div class='page_container' data-page=66>

tr.273.


<i>- Tây Nguyên trong thời kì 1984 - 1989 là vùng nhập cư lớn nhất nước ta</i> (316,2 nghìn người).
Đến thời kì 1994 - 1999 quy mơ nhập cư vẫn khơng giảm (316,4 nghìn người), nhưng vùng đứng vị


trí thứ hai sau ĐNB. TN có tỉ suất di cư tổng cộng lớn nhất cả nước (169,7‰ thời kì 1984 - 1989 và
108,1‰ thời kì 1994 - 1999). Sự phân bố người nhập cư theo tỉnh đến là Đắc Lắc 47,2%, Lâm
Đồng 25,4%, Gia Lai 22,3% và Kon Tum 5,2%. Như phân tích ở trên, di dân đến Tây Nguyên chủ


yếu là để phát triển các vùng trồng cây công nghiệp, nhất là trồng cà phê. Ở đây chúng tôi không đề


cập đến các hậu quả về môi trường do di dân thiếu kế hoạch và mở rộng diện tích cà phê tràn lan ở


Tây Nguyên. Có thể thấy một số thay đổi rất rõ nét trong cơ cấu dân cư, dân tộc của vùng. Bảng
dưới đây chỉ đề cập đến hai vùng nhập cư lớn nhất nước ta là TN và ĐNB. Bảng số liệu rất ấn tượng


là Tây Nguyên có tới 85% dân số không sinh ra tại vùng này; 50% dân số đang cư trú ở TN được


sinh ra ở DHNTB, cho thấy vai trò của DHNTB trong việc bổ sung nguồn lao động cho TN.
<b>Bảng 15. </b>15 dân tộc đông dân nhất Tây Nguyên năm 1999 (%)


<b>Số thứ tự Các dân tộc </b> <b>Tỉ trọng trong cơ cấu </b>
<b>dân số Tây Nguyên 1999 </b>


<b>Tỉ trọng trong cơ cấu </b>
<b>dân số Tây Nguyên </b>



<b>1989 </b>


<b>Tổng số </b> <b>100,00 </b> <b>100,00 </b>


1 Kinh 66,77 64,56


2 Gia rai 7,76 9,65


3 Ê-đê 6,15 7,20


4 Ba-na 3,83 4,85


5 Cơ-ho 2,79 3,34


6 Nùng 2,30 1,17


7 Xơ-đăng 2,09 2,68


8 Tày 1,98 0,79


9 Mnông 1,75 2,02


10 Mạ 0,76 0,97


11 Thái 0,63 0,31


12 Gié-Triêng 0,63 0,84


13 Hoa 0,52 0,59



14 Mường 0,50 0,23


15 Dao 0,46 0,07


<i> Nguồn: Tính tốn từ Kết quả điều tra toàn diện,</i> Tổng điều tra dân số 1989 và Tổng điều tra


dân số và nhà ở 1999.


Trong cơ cấu các dân tộc ở Tây Nguyên, 4 tộc người Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Cơ-ho vẫn giữ được


vị trí là các dân tộc có số dân đơng nhất, cịn các tộc người Xơ-đăng và Mơ-nơng đã nhường vị trí


cho các tộc người Nùng và Tày. Sự di cư của các dân tộc ít người từ MN - TDPB tới TN trong


những thập kỉ qua là một xu hướng khá nổi bật. Chỉ tính riêng 5 tộc người Nùng, Tày, Thái, Mường


và Dao ở TN dân số đã tăng từ 64100 người (1989) lên 238 300 người (1999), tăng 3,7 lần, và tỉ


trọng của các tộc người này đã tăng từ 2,58% lên 5,87%.


TN là vùng chịu sức ép lớn nhất về di dân tự do nông thôn – nông thôn. Theo báo cáo của Vụ


</div>
<span class='text_page_counter'>(67)</span><div class='page_container' data-page=67>

589 000 nhân khẩu đã di dân tự do lên TN (chiếm 43% cả nước). Những năm cuối thập kỉ 90 của


thế kỉ XX hiệu quả kinh tế cao của cây cà phê đã thúc đẩy mạnh việc di dân tự do lên TN. Chỉ tính


từ năm 1996 - 1999 con số là 59,1 nghìn hộ trong đó 37 000 hộ tới Đắc Lắc, 14 nghìn hộ đến Lâm
Đồng, 7,9 nghìn hộ đến Gia Lai và chỉ hơn 100 hộ đến Kon Tum. Đặc biệt vào quãng năm 1995,
khi giá cà phê tăng vọt, 2400 USD/tấn, thì cũng là quãng thời gian diện tích cà phê được mở rộng



mạnh và diện tích rừng bị cháy, bị phá ở TN lên đến cao điểm3. Thực hiện Chỉ thị 660/TTg


(17/10/1995) về giải quyết tình trạng di dân tự do, Nhà nước đã đầu tư 76 tỉ đồng cho TN nhằm xây


dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ di dân.


- <i>Đông Nam Bộlà vùng nhập cư lớn trong suốt nhiều thập kỉ</i>. Trong thời kì 1994 - 1999, đây là


vùng có số người chuyển đến từ vùng khác lớn nhất (666 800 người, bằng 48,7% tổng số người di


chuyển ngoại vùng của cả nước). Cộng với hơn 103 000 người di chuyển đi các vùng khác, thì hơn
770 000 người đã tham gia di chuyển ngoại vùng, tỉ suất di cư tổng cộng là 83,2‰. Số người di


chuyển ngoại tỉnh đến vùng ĐNB chia theo địa bàn nơng thơn và thành thị thời kì 1994 - 1999 phân
bố như sau:


<b>Bảng 16. </b>Di chuyển ngoại tỉnh đến ĐNB phân theo hình thức di chuyển (1994 - 1999)


<b>Di chuyển </b> <b>Số người tham gia </b>
<b>di chuyển </b>


<b>% tổng số </b>


Nông thôn - Thành
thị


348422 52,2


Thành thị - Thành thị 115101 17,3



<b>Đến thành thị </b>


Không XĐ - Thành
thị


3706 0,6


Thành thị - Nông
thôn


17274 2,6


Nông thôn - Nông
thôn


177038 26,5


<b>Đến nông thôn </b>


Không XĐ - Nông
thôn


5308 0,8


<b>Tổng số </b> <b>666850 </b> <b>100,0 </b>


<i> Tính tốn từ số liệu gốc điều tra mẫu 3%. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999</i>


- <i>Ở ĐNB nổi bật là các dịng di dân vào đơ thị chiếm ưu thế.</i> Di dân ngoại tỉnh đến các đơ thị là



gần 554 nghìn người, chiếm 68,1% tổng số người di chuyển. Nhưng chỉ tính người di dân ngoại
vùng đến các đô thị, đã là 467 000 người (70,1% tổng số di dân ngoại vùng). Trong số này chủ yếu


lại là dịng di chuyển nơng thơn - đơ thị, chiếm 52,2% tổng số di dân ngoại vùng. Đây là một trong


những nguồn quan trọng làm tăng nhanh dân số đô thị ở ĐNB, nhưng đồng thời cũng đặt ra rất


nhiều vấn đề xã hội cho các đô thị của vùng, trước hết là TP Hồ Chí Minh.


<i>- Đồng bằng sông Cửu Long</i> l<i>à vùng dân cư ít biến động hơn cả:</i> tỉ suất di cư tổng cộng là
12,5‰ (1984 - 1989) và 19,8‰ (1994 - 1999), nhưng có thể thấy luồng xuất cư từ ĐBSCL đã tăng


lên rất mạnh, chủ yếu là đến ĐNB. Thời kì 1994 - 1999, 217 400 người đã từ ĐBSCL đến ĐNB


(32,6% dân nhập cư ngoại vùng đến ĐNB). Nếu như trong thời kì 1984 - 1989 còn tỉ lệ khá lớn
người nhập cư từ ĐBSCL đến các tỉnh Đồng Nai, Sơng Bé, thì đến thời kì 1994 - 1999 chủ yếu




3<sub>Từ 1995 đến 1996, diện tích gieo trồng cà phê Tây Nguyên tăng 59 100 ha, cịn năm sau đó tăng 69 300 </sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(68)</span><div class='page_container' data-page=68>

(77,4%) là vào TP Hồ Chí Minh. Thời kì 1994 - 1999 hơn 56 000 người đến ĐBSCL, trong đó 25
300 người từ TP Hồ Chí Minh.


<b>2. Di cư nơng thơn - đơ thị </b>


Dịng di cư nông thôn vào đô thị, theo quy luật, đã tăng lên mạnh trong quá trình chuyển nền


kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, với hàng loạt chính sách nới lỏng ở tầm



quản lí vi mơ. Dịng di dân nơng thơn vào đô thị đã là nguồn quan trọng làm tăng trưởng dân số đô


thị, nhất là các đô thị lớn ở nước ta. Trong thời gian 1994 - 1999, 1182 000 người đã di chuyển từ
nông thôn vào đô thị. Trong số này chỉ tính độ tuổi 18-29 đã chiếm tới 54% tổng số người tham gia


di chuyển. Bảng số liệu dưới đây cho ta bức tranh khái qt về dịng di dân nơng thơn vào đơ thị nói


chung và di dân nơng thơn - đô thị giữa các tỉnh phân theo vùng. Ở các vùng Đông Bác, Tây Bắc


(MNTDPB), Bắc Trung Bộ, ĐBSCL luồng di dân nông thôn vào đô thị chủ yếu diễn ra trong tỉnh,


còn đối với các vùng ĐBSH, DHNTB, Tây Ngun, ĐNB thì dịng di chuyển nông thôn - đô thị


giữa các tỉnh chiếm tỉ trọng lớn, nhất là ở ĐNB. Ở TN và ĐNB, khoảng 4/5 số dân di cư ngoại tỉnh
vào đô thị là từ vùng nông thôn.


<b>Bảng 17. </b>Di dân nông thôn vào đô thị 1994 – 1999 phân theo vùng


<b>Giữa các tỉnh và nội </b>
<b>tỉnh </b>


<b>Giữa các tỉnh </b>
<b>Vùng </b> <sub>T</sub><sub>ổng số từ </sub>


nông thôn


vào đô thị


% tổng số



dân nhập cư
vào đô thị


Tổng số từ


nông thôn


vào đô thị


% tổng số dân


nhập cư ngoại


tỉnh vào đô thị
Đồng bằng sông


Hồng


170518 39,7 93556 58,0


Đông Bắc 78085 53,4 27511 63,0


Tây Bắc 20924 57,4 5410 65,3


Bắc Trung Bộ 67131 60,9 14995 52,4


Duyên hải NTB 97999 51,6 51840 67,5


Tây Nguyên 106035 72,0 68886 78,7



Đông Nam Bộ 475409 44,9 407218 73,5


Đồng bằng sơng


Cửu Long


166188 66,1 37332 56,7


<i>Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3%. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999</i>


Hai dòng di cư nông thôn - đô thị lớn nhất là vào TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Có thể thấy sức


</div>
<span class='text_page_counter'>(69)</span><div class='page_container' data-page=69>

<b>Bảng 18. </b>Mười tỉnh nhập cư chủ yếu vào Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 1994-1999


<b>Tỉnh, thành </b>
<b>phố </b>


<b>Tổng số </b>
<b>đến HN</b>


<b>% Tổng </b>
<b>số </b>


<b>Tỉnh, thành </b>
<b>phố </b>


<b>Tổng số </b>
<b>đến TP </b>



<b>HCM </b>


<b>% Tổng số </b>


Tổng số 196930 100,00 Tổng số 433765 100,00


Hà Tây 24825 12,61 Đồng Nai 33590 7,74


Nam Định 16502 8,38 Long An 26071 6,01


Thái Bình 14994 7,61 Tiền Giang 23970 5,53


Thanh Hoá 13572 6,89 Bến Tre 21606 4,98


Hải Dương 12283 6,24 Quảng Ngãi 17039 3,93


Vĩnh Phúc 9598 4,87 Thanh Hoá 13898 3,20


Tp.Hải


Phòng


9280 4,71 Tây Ninh 13334 3,07


Hưng Yên 9011 4,58 Thừa Th Huế 12994 3,00


Nghệ An 8464 4,30 Cần Thơ 12356 2,85


Bắc Ninh 8349 4,24 Vĩnh Long 12166 2,80



<i>Nguồn: Tính tốn từ Kết quả tồn diện</i>. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.


Việc phân tích đặc trưng của những người di cư nông thôn - đô thị ngoại tỉnh trên 13 tuổi vào
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho thấy những nét khác biệt lớn về tính chọn lọc của những người


nhập cư. Chẳng hạn, về tình trạng việc làm 12 tháng qua của nhóm người này, thì tỉ lệ làm việc ở


Hà Nội chỉ 36,7%, trong khi ở TP. Hồ Chí Minh 64,3%. Ngược lại, tỉ lệ người đến học tập ở Hà Nội


tới 47,5%, trong khi ở TP. Hồ Chí Minh chỉ 16,4%, cịn số người làm nội trợ ở Hà Nội là 7,6%, ở


TP. Hồ Chí Minh tới 11,5%.


Về trình độ chun mơn kĩ thuật, thì luồng chuyển cư vào Hà Nội có tỉ lệ lao động có trình độ
KHKT cao hơn. Tuy nhiên, do quy mơ của các luồng chuyển cư vào TP Hồ Chí Minh lớn gấp 3,6


lần vào Hà Nội, nên TP Hồ Chí Minh vẫn thu hút nhiều hơn số lao động có chun mơn kĩ thuật,


</div>
<span class='text_page_counter'>(70)</span><div class='page_container' data-page=70>

<b>Bảng 19. </b>Một số đặc trưng của người di cư ngoại tỉnh


từ nông thôn vào đô thị, tuổi trên 13, thời kì 1994 - 1999


<b>Vào Hà Nội </b> <b>Vào TP Hồ Chí Minh </b>


Số người <b>Phần trăm Số người </b> <b>Phần trăm </b>
<b>1. Công việc chính trong 12 tháng qua </b>


Làm việc 33790 36.66 213694 64.32


Nội trợ 7029 7.62 38318 11.53



Đi học 43783 47.50 54501 16.40


Mất khả năng lao động 262 0.28 2495 0.75


Thất nghiệp 4263 4.62 14711 4.43


Khơng có nhu cầu làm
việc


3055 3.31 8533 2.57


<b>Tổng cộng </b> <b>92182 </b> <b>100.00 </b> <b>332251 </b> <b>100.00 </b>


2. Trình độ chun mơn kĩ thuật cao nhất


Số người Phần trăm Số người Phần trăm


Khơng có trình độ


CMKT


80825 87.7 306769 92.3


Công nhân kĩ thuật,


nhân viên nghiệp vụ có


bằng



2904 3.2 8111 2.4


Trung học chuyên


nghiệp


3110 3.4 7361 2.2


Cao đẳng 968 1.0 1843 0.6


Đại học 4299 4.7 8167 2.5


Thạc sĩ 76 0.1 0 0.0


<b>Tổng cộng </b> <b>92182 </b> <b>100.0 </b> <b>332251 </b> <b>100.0 </b>


<i>Nguồn</i>: <i>Tính tốn từ Kết quả tồn diện.</i> Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999<i>. </i>


<i>Kết luận:</i> Việc nhận diện các xu hướng di cư giữa các vùng, các tỉnh ở nước ta trước đổi mới và


trong thập kỉ đầu của đổi mới là một căn cứ quan trọng để phân tích các biến đổi to lớn trong cơ cấu


lãnh thổ nền kinh tế, đề xuất các định hướng và giải pháp trong phân công lao động, phân bố lại lực
lượng sản xuất giữa các vùng trong nước. Nó cũng là một căn cứ quan trọng để phân tích các mối


quan hệ giữa việc phân bố lại dân cư, lao động với các vấn đề cần giải quyết về kinh tế – xã hội ở


từng vùng cũng như cả nước.


Trên đây mới là bức tranh tổng quát về các xu hướng đã diễn ra. Những nghiên cứu tiếp sau ở



quy mơ từng tỉnh và cho từng nhóm đối tượng tham gia di chuyển chắc chắn sẽ cho nhiều nhận định


sâu sắc.


<b>II. DI CƯ VÀO CÁC ĐÔ THỊ LỚN Ở NƯỚC TA TRONG THẬP KỈ 90 CỦA THẾ KỈ </b>
<b>XX. PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CỦA TP HỒ CHÍ MINH VÀ HÀ NỘI </b>


<b>1. Khái quát chung </b>


Di cư vào các đô thị (bao gồm cả di cư nông thôn và đô thị và di cư giữa các đô thị) đã là nguồn


</div>
<span class='text_page_counter'>(71)</span><div class='page_container' data-page=71>

thể thấy rõ trong bảng số liệu dưới đây về sự tăng trưởng dân số của nước ta.
<b>Bảng 20. </b>Tỉ lệ gia tăng dân số nước ta


phân theo khu vực thành thị và nông thôn, 1980 - 1999


<b>Năm </b> <b>Cả </b>


<b>nước </b>


<b>Thàn</b>
<b>h thị </b>


<b>Nông </b>
<b>thôn </b>


<b>Năm </b> <b>Cả </b>
<b>nước </b>



<b>Thành </b>
<b>thị </b>


<b>Nông </b>
<b>thôn </b>


1980 1,84 2,03 1,80 1990 1,92 2,41 1,80


1981 2,22 -0,76 2,91 1991 1,86 2,70 1,65


1982 2,24 1,36 2,44 1992 1,80 2,72 1,57


1983 2,12 5,79 1,27 1993 1,74 2,75 1,50


1984 2,21 1,10 2,47 1994 1,69 3,33 1,29


1985 2,06 2,30 2,00 1995 1,65 3,55 1,17


1986 2,05 3,94 1,60 1996 1,61 3,23 1,19


1987 2,17 3,77 1,79 1997 1,57 9,18 -0,46


1988 2,02 3,14 1,75 1998 1,55 3,74 0,91


1989 1,02 0,62 1,12 1999 1,51 3,53 0,90


<i> Nguồn: [8]; [2: tr. 27-28]. </i>


Bảng số liệu cho thấy trong thập kỉ 80 q trình đơ thị hóa diễn ra rất chậm chạp, có những năm



tỉ lệ gia tăng dân số đô thị thấp hơn cả mức gia tăng dân số chung, cịn nhìn chung gia tăng dân số
đơ thị trong thời kì này khơng cao hơn mức chung của cả nước là bao nhiêu. Chỉ từ khi tiến hành
cơng cuộc đổi mới, thì tốc độ tăng trưởng dân số đô thị mới cao. Mức gia tăng dân số tự nhiên của


thành thị luôn thấp hơn mức gia tăng dân số tự nhiên của cả nước. Vì vậy, từ bảng 21 có thể thấy


rằng từ nửa cuối của thập kỉ 90 của thế kỉ XX, gia tăng cơ học đã chiếm hơn 1/2 mức gia tăng dân


số chung của đô thị. Sự gia tăng nhanh của dân số đơ thị cịn do trong những năm gần đây một số xã


đã chuyển thành phường và thị trấn (điển hình là năm 1997). Dù nhìn ở góc độ nào, thì sự tăng


nhanh dân số đô thị trong những năm gần đây cũng là kết quả của quá trình cơng nghiệp hóa và
hiện đại hóa.


Kết quả toàn diện Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/1999 cho biết trong 5 năm tính từ thời
điểm trước điều tra đã có hơn 4.537.000 người di chuyển, trong đó 2.279.000 người di chuyển đến
các đô thị, nhiều hơn số người di chuyển đến các vùng nông thôn (Bảng 21). Trong số người di


chuyển vào thành thị, thì 1.117.000 người là từ các vùng nơng thơn, 1.082 nghìn người di chuyển


giữa các địa bàn trong khu vực thành thị. Sự di chuyển người và lao động giữa các đơ thị có liên
quan rất lớn đến q trình phát triển và thay đổi cấu trúc khơng gian của đô thị, cũng như sự tăng


vai trị của các đơ thị lớn trong hệ thống đơ thị cả nước. Bên cạnh đó có hơn 493 nghìn người di


chuyển từ thành thị về nông thôn, chủ yếu là người hồi cư.


<b>Bảng 21. </b>Số người từ 5 tuổi trở lên di chuyển phân



</div>
<span class='text_page_counter'>(72)</span><div class='page_container' data-page=72>

<b>Nơi thường trú tại </b>
<b>thời điểm 31/3/1994 </b>
<b>Nơi thường trú </b>


<b>tại thời điểm </b>
<b>1/4/1999 </b>


<b>Tổng số người </b>
<b>đi chuyển </b>


Nông thôn Thành thị KXĐ


I. Chung 4537246 2807862 1575600 153784


II. Thành thị 2279198 1117560 1082561 79077


III. Nông Thôn 2258048 1690302 493039 74707


<i> Nguồn: [3]</i>


Ở đây chúng tôi sẽ đề cập đến di cư vào 4 thành phố lớn của nước ta là Thủ đơ Hà Nội, TP Hồ


Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng, tập trung chủ yếu vào hai thành phố lớn nhất là Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh.


<b>2. Quy mơ chuyển cư và địa bàn chuyển cư chủ yếu </b>


Bảng số liệu dưới đây cho thấy, trong vịng 5 năm tính đến thời điểm điều tra, hơn 690 000
người đã di chuyển đến các thành phố này, và hơn 215 000 người đã chuyển ra khỏi thành phố.
Điều đáng chú ý là cán cân di chuyển đến Hải Phòng là âm, còn cán cân di chuyển đến TP. Đà


Nẵng cũng trên 10 000 người. TP Hồ Chí Minh là nơi có quy mơ nhập cư lớn nhất, và tỉ suất nhập
cư cũng cao nhất, tiếp đến là TP.Hà Nội. Trên thực tế, quy mô nhập cư vào đô thị và tỉ suất nhập cư


có quan hệ rất mật thiết với tình trạng phát triển kinh tế của các thành phố này trong thập kỉ 90 của


thế kỉ XX.


<b>Bảng 22. </b>Di cư giữa 4 thành phố lớn và các tỉnh 1994 - 1999


<b>Nơi thực tế </b>
<b>thường trú tại </b>


<b>31/03/1999 </b>


<b>Tổng số </b>
<b>dân từ 5 </b>
<b>tuổi trở lên </b>


<b>Đến từ </b>
<b>ngoại tỉnh </b>
<b>(người) </b>
<b>Đi ngoại </b>
<b>tỉnh </b>
<b>(người) </b>


<b>Cán cân di </b>
<b>chuyển </b>


<b>Tổng tỉ </b>
<b>suất di cư </b>



<b>5 năm </b>
<b>(%) </b>


<b>Tỉ suất </b>
<b>nhập cư </b>


<b>(%) </b>


TP Hà Nội 2477046 196930 55326 141604 10.2 7.9


TP H. Phòng 1545544 23082 36666 -13584 3.9 1.5


TP Đà Nẵng 621942 36479 26042 10437 10.0 5.9


TP HCM 4664060 433765 97399 336366 11.4 9.3


<i>Nguồn [3]</i>


Ở Hà Nội, địa bàn chuyển cư vào Hà Nội trong 10 năm không thay đổi Đối với TP Hồ Chí


Minh, có thể thấy các địa bàn nhập cư chủ yếu đã có những thay đổi quan trọng. Trong thời kì 1984
- 1989 (hay nói chung là trong thập kỉ 80) chủ yếu là nhập cư từ các tỉnh Đông Nam Bộ và một số


tỉnh lân cận của đồng bằng sông Cửu Long. Từ các tỉnh cự li xa ở miền Bắc, có một phần rất lớn là
những người chuyển cư do điều động công tác. Trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX, phần lớn là những
người nhập cư "tự do", di chuyển đến thành phố do các nguyện vọng cá nhân của mình, khơng có
sự can thiệp, tổ chức của Nhà nước. Trong thời kì 1984 - 1989, 10 tỉnh dẫn đầu về số người chuyển
đến TP Hồ Chí Minh là Đồng Nai, Sông Bé, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Hậu Giang, Hà Nội,



Bến Tre, Cửu Long và Nghĩa Bình có 76,2 nghìn người, chiếm 60,4%. Đến thời kì 1994 - 1999, 10
tỉnh dẫn đầu về người chuyển cư đến TP Hồ Chí Minh là Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Bến Tre,


Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Tây Ninh, Thừa Thiên - Huế, Cần Thơ và Vĩnh Long chỉ còn chiếm


43,2% [3]. Sự năng động của thị trường sức lao động ở TP Hồ Chí Minh và sự chênh lệch vùng
trong phát triển đã tạo ra sức hút lớn và sức đẩy lớn đối với các luồng nhập cư đến TP Hồ Chí


</div>
<span class='text_page_counter'>(73)</span><div class='page_container' data-page=73>

<b>Hình 3. </b>Phân bố người chuyển cư người từ các tỉnh đến Hà Nội 1994 - 1999


Đối với TP. Hải Phòng, các luồng chuyển đến 1994 - 1999 chủ yếu từ các tỉnh lân cận là Hải
Dương, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên. Đáng chú ý là người chuyển đến từ Quảng
Ninh ít hơn người chuyển từ Hải Phòng đi Quảng Ninh, cho thấy nền kinh tế ở Quảng Ninh năng
động hơn ở Hải Phòng trong thời gian trên. Còn đối với hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí


Minh, thì số người chuyển từ các thành phố này đến Hải Phòng chỉ bằng 1/5 số người từ Hải Phòng
chuyển đi.


Đối với TP Đà Nẵng luồng chuyển đến chủ yếu từ các tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quảng Bình


đến Bình Định, nhiều nhất là từ Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế. Trong quan hệ với TP Hồ Chí


Minh, thì số người chuyển từ thành phố này đến cũng chỉ bằng 1/5 số người chuyển đi.
<b>3. Một số đặc điểm về thành phần người di chuyển và địa bàn nhập cư </b>


<i><b>3.1. V</b><b>ề giới tính và độ tuổi</b></i>


Nhập cư vào Hà Nội có tỉ lệ nam lớn hơn nữ một cách áp đảo, nhất là ở các huyện ngoại thành
nông thôn. Trong các quận nội thành thì chỉ có các quận Tây Hồ, Hồn Kiếm và Cầu Giấy là có tỉ lệ



nữ nhập cư lớn hơn so với tỉ lệ nam nhập cư (bảng 4).


Trong trường hợp của TP. Hồ Chí Minh thì lại thấy xu hướng ngược lại: Tỉ lệ nữ cao hơn hẳn tỉ


</div>
<span class='text_page_counter'>(74)</span><div class='page_container' data-page=74>

khá mạnh công nghiệp nhẹ và chế biến thực phẩm, và nhu cầu dịch vụ gia đình tăng lên, nhu cầu về
lao động nữ tăng nên đã thu hút mạnh những người nhập cư ngoại tỉnh là nữ. Điều này chưa thấy rõ


ở Hà Nội.


Đặc điểm chung của cơ cấu tuổi người nhập cư vào thành thị là tập trung vào độ tuổi lao động


sung sức. Ở Hà Nội tập trung chủ yếu vào hai nhóm tuổi là 15 - 19 và 20 - 24 (chiếm 66% số người


nhập cư), cịn ở TP. Hồ Chí Minh phải gộp cả 3 nhóm tuổi (15 - 19, 20 - 24 và 25 - 29) mới chiếm
được 66,8% số người nhập cư (hình 4). Tỉ lệ nhập cư cao hơn ở độ tuổi trẻ ở Hà Nội có liên quan


đến hiện tượng nhập cư để học tập.


<i><b>3.2 V</b><b>ề các đặc điểm khác</b></i>


Các con số rút ra từ Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999 không cho thấy sự khác biệt lớn về tình
trạng việc làm, trình độ chun mơn kĩ thuật giữa những người nhập cư và những người khơng di
chuyển.


<b>Hình 4. </b>


Tháp dân số của người nhập cư ngoại tỉnh vào Hà Nội


và TP Hồ Chí Minh 1994 - 1999



<i><b>3.3. V</b><b>ề địa b</b><b>àn phân b</b><b>ố</b></i>


Ở Hà Nội 69,6% số người nhập cư ngoại tỉnh cư trú ở các quận nội thành, nhưng tập trung chủ


yếu vào bốn quận đang được đơ thị hóa mạnh là Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân và Cầu Giấy.
Đối với các huyện ngoại thành, thì đáng kể là hai huyện Từ Liêm và Gia Lâm.


Ở TP Hồ Chí Minh, 87,8% người chuyển cư là đến các quận nội thành, nhưng tập trung hơn cả


là ở quận Tân Bình, Gị Vấp, Thủ Đức và Bình Thạnh. Có thể nói sự mở rộng đơ thị, hình thành các
quận, phường mới và xây dựng các khu công nghiệp ở vùng ngoại thành đã tạo ra bức tranh tương


phản rõ rệt trong phân bố người nhập cư ở TP Hồ Chí Minh theo quận, huyện và phường, xã.


<i>Kết luận:</i> Những phát hiện trong đặc điểm người nhập cư ngoại tỉnh vào Hà Nội, TP Hồ Chí


Minh xét từ góc độ địa lí kinh tế - xã hội đã cho thấy những khác biệt trong sức hút đối với người


nhập cư, tính chọn lọc về cơ cấu tuổi, giới tính cũng như địa bàn định cư của người nhập cư ngoại


tỉnh. Điều này có liên quan mật thiết với q trình cơng nghiệp hóa, sự thay đổi của thị trường sức
lao động và sự thay đổi trong cấu trúc không gian đô thị trong quá trình đơ thị hóa.


<b>Hµ Néi</b>


20 16 12 8 4 0 4 8 12 16 20 24 28


5- 9
10- 14
15- 19


20- 24
25- 29
30- 34
35- 39
40- 44
45- 49
50- 54
55- 59
60- 64
65- 69
70- 74
75- 79
80+

Nam


<b>TP Hå ChÝ Minh</b>


20 16 12 8 4 0 4 8 12 16 20


</div>
<span class='text_page_counter'>(75)</span><div class='page_container' data-page=75>

<b>CÂU HỎI </b>
<b>1.</b> Ý nghĩa của cơng cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
<b>2.</b> Nêu các thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
<b>3.</b> Nêu các luồng chuyển cư chính ở nước ta.


<b>4.</b> Ảnh hưởng của di cư đối với các đặc điểm dân cư và môi trường ở Tây Nguyên.


<b>5.</b> Di cư vào Hà Nội là dân cư của các tỉnh nào? Ý nghĩa?


<b>6.</b> Di cư vào thành phố Hồ Chí Minh là dân cư của các tỉnh nào?


Ý nghĩa?


</div>
<span class='text_page_counter'>(76)</span><div class='page_container' data-page=76>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
(Chương I, II, III)


<b>1.</b> Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức (2001), <i>Di cư giữa các tỉnh và các vùng ở Việt Nam</i>,
Thông báo khoa học của các trường đại học, Địa lí, 2001. Tr 77-87.


<b>2.</b> Tổng cục thống kê,<i> Niên giám thống kê 2002</i>, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003.


<b>3.</b> Tổng cục thống kê, Trung tâm tính tốn thống kê Trung ương. <i>Kết quả tổng điều tra dân số </i>


<i>và nhà ở toàn quốc 1/4/1999.</i> Phiên bản CD-ROM, 2001.


<b>4.</b> Tổng cục thống kê, Trung tâm tính tốn thống kê Trung ương. <i>Dữ liệu & Kết quả tổng điều </i>


<i>tra dân số và nhà ở thành phố Hà Nội 1/4/1999</i>. Phiên bản CD-ROM, 2001.


<b>5.</b> Tổng cục thống kê, Trung tâm tính toán thống kê Trung Ương, <i>Dữ liệu & Kết quả tổng điều </i>


<i>tra dân số và nhà ở TP Hồ Chí Minh 1/4/1999,</i>Phiên bản CD-ROM, 2001.


<b>6.</b> Tổng cục thống kê, UNDP, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, <i>Chuyên khảo về di </i>


<i>cư nội địa và đơ thị hóa ở Việt Nam</i>, NXB Thống kê, 2001.


<b>7.</b> Tổng điều tra dân số Việt Nam 1989, <i>Kết quả điều tra toàn diện,</i> Ban chỉ đạo Tổng điều tra


dân số Trung ương, Tập 1, Hà Nội, 1991.



<b>8.</b> Viện quy hoạch đô thị - nông thôn Bộ Xây dựng, Dự án VIE-88-P02, <i>Cẩm nang dân số đơ thị </i>


<i>hóa,</i> Hà Nội, 1992.


<b>9.</b> Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xố đói giảm nghèo, 5/200.


<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
(Chương IV, V)


<b>1.</b> <i>Địa lí Kinh tế xã hội thế giới</i> (Giáo trình ĐHSP Hà Nội)


<b>2.</b> Tạp chí <i>Những vấn đề kinh tế thế giới</i>, Viện kinh tế thế giới, Trung tâm KHXH &NV Quốc


gia, Hà Nội, 1995 - 2004.


<b>3.</b> Nguyễn Văn Luân, <i>Kinh tế học vĩ mô</i>, NXB Thống kê, 2000.


<b>4.</b> <i>Gương mặt thế giới hiện đại</i>. NXB Văn hố Thơng tin, Hà Nội, 2001.


<b>5.</b> Vương Liêm, <i>Kinh tế tri thức với công cuộc phát triển ở Việt Nam</i>, NXB Thanh Niên, Hà
Nội, 2004.


<b>6.</b> Kim Ngọc, <i>Kinh tế thế giới thế kỉ XX và những thập kỉ đầu thế kỉ XXI,</i> NXB chính trị Quốc


gia,Hà Nội, 2001.


<b>7.</b> <i>Trung Quốc trước thách thức thế kỉ XXI</i>, Tri thức không biên giới, Minh Giang dịch, NXB
Văn hố thơng tin, Hà Nội, 2003.


<b>8.</b> Nguyễn Vũ Hoàng, <i>Các liên kết kinh tế và thương mại quốc tế</i>, NXB Thanh Niên, 2003.



<b>9.</b> Tơn Ngũ Viên, <i>Tồn cầu hố, nghịch lí của thế giới TBCN</i>, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003.


<b>10.</b> <i>Hỏi đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta</i>, Học viện


</div>

<!--links-->

×