Tải bản đầy đủ (.pdf) (131 trang)

Nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học giảng dạy các học thuyết và định luật hóa học nhằm nâng cao chất lượng bài lên lớp ở trường phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 131 trang )

[1]

Ph ò n g GD & Đ T ..................
T r - ê n g T H C S .....................

ĐẠI HỌC NNG
TRNG
Ich
HCgi
S
PHM
Kế Hoạ
ảng
dạ y
KHOA HểA
Họ và tên giá o viên :....................................................
T ổchuyê n môn :..............................................
G iảng dạ y môn :

Â

m

n h ¹ c


m ĐỨC
học THẮNG
2008 - 2009



NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIẢNG DẠY CÁC
THUYẾT VÀ ĐỊNH LUẬT HÓA HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BÀI LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THƠNG

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƯ PHẠM

ĐÀ NẲNG - 2013


[2]

ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIẢNG DẠY CÁC
THUYẾT VÀ ĐỊNH LUẬT HÓA HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG BÀI LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THƠNG

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƯ PHẠM
SVTH : LÊ ĐỨC THẮNG
LỚP : 09SHH
GVHD : ThS. PHAN VĂN AN

ĐÀ NẲNG - 2013


[3]

ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

TRƯỜNG ĐHSP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHOA HÓA
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Họ và tên sinh viên: Lê Đức Thắng
Lớp

: 09SHH

1. Tên đề tài:
"Nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học giảng dạy các học thuyết và
định luật hóa học nhằm nâng cao chất lượng bài lên lớp ở trường phổ thông".
2. Nguyên liệu dụng cụ và thiết bị:
- Các tài liệu tham khảo có liên quan đến phương pháp dạy học hóa học
trong trường phổ thơng.
- Các giáo án, hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học về củng cố và mở rộng.
- Gần 400 HS trường THPT Hướng Hóa, THPT Lao Bảo tỉnh Quảng Trị.
- Máy tính, phần mềm tin học chuyên ngành.
3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
- Lựa chọn, sưu tầm, tìm tịi những biện pháp nâng cao chất lượng bài lên
lớp khi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy các thuyết và định luật
hóa học.
- Thực nghiệm sư phạm.
4. Giáo viên hướng dẫn: ThS. Phan Văn An.
5. Ngày giao đề tài: Tháng 9/2012.
6. Ngày hoàn thành: Tháng 5/2013.

Chủ nhiệm khoa
(Ký và ghi rõ họ tên)

Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)


[4]

Sinh viên đã hoàn thành và nộp bài nghiên cứu cho khoa ngày 20 tháng 05
năm 2013.
Kết quả điểm đánh giá: ………………
Đà Nẵng, ngày … tháng … năm 2013.
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)


[5]

LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Thạc sĩ Phan Văn An đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tơi trong suốt q
trình nghiên cứu và hồn thiện đề tại này.
Tôi cũng xin gữi lời cảm ơn chân thành đến các thây cơ trong khoa Hóa Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong
quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo chủ nhiệm, cùng tất cả các
bạn sinh viên lớp 09SHH đã động viên, giúp đỡ trong thời gian học vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy cô giáo và các em học
sinh ở 2 trường THPT Hướng Hóa và THPT Lao Bảo tỉnh Quảng Trị đã phối
hợp, tạo điều kiện để tơi hồn thành đề tài nghiên cứu này.
Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nên đề tài nghiên cứu không

tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhât định. Vì vậy, tơi kính mong nhận được
sự góp ý và hướng dẫn của thầy cơ và các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!.

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Lê Đức Thắng


[6]

MỤC LỤC

Trang
PHẦN1: MỞ ĐẦU…………………………………………………............1
1. Lý do chọn đề tài……………………..………………………………....1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………….....2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………....2
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………......3
5. Đóng góp của đề tài………………………………………………….......3
PHẦN 2: NỘI DUNG ……………………………………….………….....4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG BÀI LÊN LỚP ……………………………………………4
1.1. Bài lên lớp hóa học ............................................................................... 4
1.1.1. Các hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường...................................... 4
1.1.2. Bài lên lớp ………………………………..……………………….. 8
1.2. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học……………….…… 16
1.2.1 Về phía học sinh…………………..………………………………. 16
1.2.2 Về phía giáo viên………………………….……………………….. 16
1.2.3 Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X

phần nói về giáo dục và đào tạo như sau:………………………………………. 16
1.3 Tình hình nghiên cứu, thử nghiệm chiến lược đổi mới phương pháp dạy
học ở nước ta trong thời gian gần đây……………………………………………17
1.3.1 Về vấn đề “ Dạy học lấy HS làm trung tâm”…………..………….. 17
1.3.2. Về phương pháp giáo dục tích cực lấy học sinh làm trung tâm……18
1.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người
học………………………………………………………………………………. 19
1.4. Một số phương pháp dạy học tích cực……………………………….21
1.4.1. Dạy học nêu vấn đề - Ơrixtic………………………………………21


[7]

1.4.2. Phương pháp nghiên cứu………………………………………….. 25
1.4.3. Phương pháp grap dạy học trong dạy học hóa học……………….. 26
1.4.4. Phương pháp algorit dạy học trong dạy học hóa học…………….. 27
1.4.5. Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ………………………………… 30
1.5. Thực trạng thực hiện bài lên lớp hóa học ở các trường phổ thơng hiện
nay……………………………………………………………………………… 31
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI
LÊN LỚP KHI SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ DẠY CÁC
THUYẾT



ĐỊNH

LUẬT

HÓA


HỌC…………………………………………33
2.1. Phương pháp giảng dạy các thuyết và định luật hóa học trong chương
trình hóa học phổ thơng…………………...…………………………………… 34
2.1.1. Vị trí của các học thuyết và định luật hóa học trong chương trình hóa
học phổ thơng…………………………………………………………………….34
2.1.2 Nhiệm vụ của các thuyết và định luật hóa học trong chương trình hóa
học phổ thơng…………………………………………………………………….35
2.1.3 Phương pháp giảng dạy các thuyết và định luật hóa học…………. 38
2.2. Sự cần thiết phải tiếp tục nâng cao chất lượng bài lên lớp hóa học….39
2.2.1. Phần mục đích yêu cầu bài lên lớp…………………………………39
2.2.2. Phần nội dung bài lên lớp…………………………………………. 38
2.2.3. Phần phương pháp dạy học của bài lên lớp……………………….. 40
2.2.4. Phần kết quả bài lên lớp………………………………………….. 40
2.3. Thực chất của việc nâng cao chất lượng bài lên lớp hóa học hiện nay là
gì?................................................................................. ......................................... 40
2.3.1. Những biện pháp chung để nâng cao chất lượng bài lên lớp hóa
học………………………………………………………………………………. 41
2.3.2. Những biện pháp riêng cho loại bài các thuyết và định luật hóa học
………………………………………………………………………………….. 47


[8]

2.4. Sử dụng phương pháp dạy học khi nghiên cứu các học thuyết và định
luật hóa học trong chương trình hóa học phổ ........................................................54
2.5. Một số giáo án sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao
chất lượng bài lên lớp.............................................................................................5 6
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………..73
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm……………………………………...73

3.2. Đề kiểm tra thực nghiệm và giáo án………………………………… 74
3.3. Kết quả thực nghiệm ……………………………………………….. 74
3.3.1. Kết quả kiểm tra thực nghiệm ……………………………………..75
3.3.2. Nhận xét chung……………………………………………………. 80
KẾT LUẬN VẦ KIẾN NGHỊ…………………………………………… 82
1. Kết luận ………………………………………………………………. 82
2. Kiến nghị ………………………………………………………………82


[9]

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
- Dung dịch: dd

- Trung học phổ thông: THPT

- Phản ứng: pư

- Sách giáo khoa: SGK

- Phương trình phản ứng: ptpư

- Giáo viên: GV

- Học sinh: HS

- Nhiệt độ: t0

- Áp suất: P


- Phương pháp dạy học: PPDH

- Thực nghiệm: TN

- Đối chứng: ĐC

- Phương pháp: PP

- Giáo dục: GD

- Giáo dục đào tạo: GDĐT

- Thiết bị dạy học: TBDH

- Trung học cơ sở: THCS

- Hiện tượng: HT

- Công nghệ thông tin: CNTT


[10]

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 kết quả kiểm tra 2 lớp 11/1 và 11/2 trường THPT Hướng
Hóa……………………………………………………………………………… 74
Bảng 3.2 kết quả kiểm tra 2 lớp 11A1 và 11A2 trường THPT Lao
Bảo……………………………………………………………………………… 74
Bảng 3.3: kết quả kiểm tra 2 lớp 10/1 và 10/2 trường THPT Hướng Hóa

……………………………………………………………………………………76
Bảng 3.4 kết quả kiểm tra 2 lớp 10A1 và 10A2 trường THPT Lao
Bảo……………………………………………………………………………… 77


[11]

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 3.1 Biểu đồ thống kê chất lượng bài kiểm tra ở 2 lớp 11/1 và 11/2
trường THPT Hướng Hóa – Quảng trị…………………………………………

74

Hình 3.2 Biểu đồ thống kê chất lượng bài kiểm tra ở 2 lớp 11A1 và 11A2
trường THPT Lao Bảo – Quảng trị…………………………………….………

75

Hình 3.3: Biểu đồ thống kê chất lượng bài kiểm tra ở 2 lớp 10/1 và 10/2
trường THPT Hướng Hóa – Quảng trị…………………………………………

77

Hình 3.4: Biểu đồ thống kê chất lượng bài kiểm tra ở 2 lớp 10A1 và 10A2
trường THPT Lao Bảo – Quảng trị……………………………………………

78



[12]

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang bước vào thế kỉ XXI, một thế kỉ của khoa học công nghệ.
Bằng sự thông minh và khả năng sáng tạo của mình con người đã tạo ra của cải
vật chất, cải tạo thiên nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình. Xã hội ngày
càng phát triển, tri thức khoa học phát triển như vũ bão, cứ mỗt phút, mỗi giờ trên
thế giới có rất nhiều kiến thức mới được tìm ra dưới bàn tay của các nhà khoa học.
Đất nước chúng ta là một nước đang phát triển, đang trong thời kì cơng
nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu. Bên cạch những thuận lợi có
được trong thời kì mở cửa thì chúng ta cũng gặp khơng ít những khó khăn thách
thức. Đó là làm thế nào để đào tạo ra nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm
chất năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. Người lao
động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng
tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm
đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Để có nguồn nhân lực trên thì phụ thuộc hồn toàn vào việc đào tạo của
ngành GD. Như vậy nhiệm vụ của GD đặt ra không chỉ đào tạo con người trở
thành một người có nhân cách tốt, yêu nước, trung thành với chế độ mà còn trở
thành một nguồn nhân lực, người lao động có đủ những phẩm chất, năng lực để
đáp ứng yêu cầu xã hội trong thời kì mới.
Để có nguồn nhân lực trên thì nhất thiết chúng ta phải tiến hành đổi mới
giáo dục, trong đó có đổi mới mục tiêu, nội dung và quan trọng nhất là đổi mới
PPDH.


[13]

Đổi mới PPDH từ lối học bị động của HS, phụ thuộc vào GV sang lối học

mang tính tích cực hóa. HS sẽ trở thành trung tâm của mọi hoạt động dưới sự
hướng dẫn của GV, thơng qua đó HS sẽ tự mình tìm tịi, phát hiện và lĩnh hội tri
thức một cách tự giác.
Các thuyết và định luật hóa học trong chương trình phổ thơng chiếm một
vai trị rất quan trọng, đó là cở sở lí luận cho cấu tạo chất và sự biến đổi về chất.
Khác với hóa học thực nghiệm đó là học sinh có thể khám phá tri thức qua các thí
nghiệm hóa học, các hiện tượng tự nhiên thì bài giảng về các thuyết và định luật
trong hóa học lại nặng về lí thuyết. Thực tế các bài lên lớp về học thuyết và định
luật chỉ thiên về lí thuyết và có phần áp đặt kiến thức cho HS nên thường gây ra sự
nhàm chán, không hứng thú trong học tập, làm cho học sinh nắm bài không sâu,
không hiểu bản chất, dẫn đến không hiệu quả trong dạy học, không đạt được mục
tiêu của bài học. Từ bức xúc về thực trạng trên. Tôi mạnh dạn chọn đề tài “
Nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học giảng dạy các học thuyết và định
luật hóa học nhằm nâng cao chất lượng bài dạy trên lớp ở trường phổ
thơng”.
2. MỤC DÍCH NGHIÊN CỨU.
Sử dụng có hệ thống các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình giảng
dạy các thuyết và định luật nhằm nâng cao hiệu quả bài lên lớp theo hướng tích
cực hóa hoạt động nhận thức và hứng thú học tập của học sinh.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Để đạt được mục tiêu trên, chúng tơi phải hồn thành những nhiệm vụ sau:
a/ Tìm hiểu thực trạng dạy và học hóa học hiện nay ở các trường THPT ở
thành phố Đà Nẵng và Tỉnh Quảng Trị, tình trạng sử dụng các phương pháp tích
cực trong các bài hóa học nói chung và đối với các thuyết và định luật hóa học nói
riêng.


[14]

b/ Xây dựng các bài giảng nghiên cứu tài liệu mới về các học thuyết và

định luật hóa học ở trường THPT (chuẩn và nâng cao) có sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực và hứng thú trong học tập và
thực tiễn cho học sinh.
c/ Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của
những đề xuất. Từ đó rút ra những biện pháp thực tiễn nhằm giúp giáo viên hóa
học ở trường phổ thơng mạnh dạn sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và
làm tư liệu cho sinh viên khoa hóa nghiên cứu trong trường ĐHSP.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để hoàn thành các nhiệm vụ đã đặt ra, chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
1/ Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài.
2/ Nghiên cứu các giáo trình và tài liệu giáo khoa hóa học, sách giáo viên,
sách bài tập và các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài.
3/ Điều tra cơ bản: Phỏng vấn, dự giờ.
4/ Lấy ý kiến chuyên gia.
5/ Thực nghiệm sư phạm.
6/ Dùng toán học thống kê để xử lý các kết quả thực nghiệm.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.
1/ Lần đầu tiên áp dụng một số PPDH tích cực vào các bài lên lớp nghiên
cứu tài liệu mới về các học thuyết và định luật hóa học trong chương trình phổ
thông.


[15]

2/ Đề xuất các nguyên tắc soạn kiểu bài nghiên cứu tài liệu mới theo hướng
nâng cao chất lượng bài lên lớp về các học thuyết và định luật hóa học trong
chương trình phổ thơng.



[16]

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BÀI LÊN LỚP
1.1. Bài lên lớp hóa học [7], [8]
1.1.1. Các hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức thể hiện sự tác động qua lại giữa
hoạt động dạy và hoạt động học, giữa thầy và trò, được tiến hành theo một trật tự
nhất định, một chế độ nhất định. Trong đó hoạt động dạy và hoạt động học phải
thống nhất, có quan hệ biện chứng với nhau.
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông tùy theo mối quan hệ giữa dạy
và học, tùy vào phương thức tổ chức, điều khiển của người dạy và thái độ, mức độ
tích cực tự lực hoạt động nhận thức của người học mà tồn tại nhiều hình thức tổ
chức dạy học khác nhau.
Ở trường THPT, trong dạy học thường sử dụng hệ thống các hình thức tổ
chức dạy học thuộc hệ, lớp – bài. Ngồi ra cịn có hệ dạy học cá nhân và hệ diễn
giảng – xêmina.
1. Hệ dạy học cá nhân
Hệ học cá nhân xuất hiện cách đây rất sớm. Trong xã hội chiến hữu nô lệ,
nhà trường xuất hiện, việc dạy học được tổ chức có hệ thống, chữ viết đã được sử
dụng trong dạy học. Hình thức dạy học cá nhân xuất hiện khi dạy học trở thành
với tư cách là một quá trình xã hội riêng biệt.
Trong thời kỳ trung cổ mặc dù trong các nhà trường giáo hội được tổ chức
theo nhóm, mỗi nhóm khoảng 15 người, nhưng GV vẫn dạy từng cá nhân.


[17]


Ở phương đơng thì hình thức trên tồn tại trong nhà trường của các thầy đồ.
Hệ dạy học cá nhân có các đặc điểm:
- Có thể nhận HS vào học bất cứ thời gian nào trong năm,
- Có thể nhận HS ở các lứa tuổi, trình độ khác nhau.
Dạy cho mỗi HS mỗi bài khác nhau (áp dụng nội dung, phương pháp riêng
cho mỗi HS). Như vậy hệ dạy học này sẽ tồn tại những ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm: phát huy tính tích cực của HS, có điều kiện thường xuyên thu
được liên hệ ngược, tạo điều kiện cho HS học tập với nội dung, PP vừa sức, với
nhịp độ học tập thích hợp.
Nhược điểm: khơng có tính tổ chức và tính kế hoạch, lãng phí sức lực của
GV, không tạo được điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, kết quả đào tạo thấp, chất
lượng học thấp.
2. Hệ dạy học lớp – bài
Vào đầu thế kỉ XVII, nền sản xuất phát triển, xã hội ngày càng tiến bộ thì
với hình thức tổ chức dạy học cá nhân khơng cịn đáp ứng được u cầu, hình thức
dạy học có tính tập thể ra đời. Được gọi là hình thức dạy học hệ lớp – bài.
Với hình thức tổ chức dạy học này, HS sẽ được chia thành từng lớp với
thành phần khơng đổi, cùng lứa tuổi và trình độ học lực. Nội dung trí dục được
chia thành từng bài học tạo nên một hệ thống chương trình nhất định. Các bài học
được tiến hành theo thời gian biểu hàng tuần.
Hình thức thức tổ chức dạy học tập thể ra đời cách đây đã trên 300 năm,
đến nay vẫn phát huy hiệu quả và có nhiều ưu điểm, hiện nay được coi là hình
thức tổ chức dạy học cơ bản của nhà trường hiện đại.
3. Hệ diễn giảng – xêmina


[18]

a. Hệ diễn giảng
Khái niệm: Diễn giảng là hình thức GV trình bày trực tiếp một tài liệu học

tập, một vấn đề khoa học, một kiến thức… nào đó theo một hệ thống một trình tự
nhất định cho đơng đảo HS.
Diễn giảng với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản của trường
phổ thơng, nó được tiến hành theo thời khóa biểu nghiêm ngặt và tồn tại như một
thể hoàn chỉnh, hữu cơ mà các yếu tố, cấu trúc của nó thống nhất với nhau, nhằm
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học nhất định.
Về phương pháp: diễn giảng phải được trình bày một cách rõ ràng, trong
sáng, phải gây hứng thú học tập cho người học.
Về tổ chức: bài giảng phải thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học.
Tạo điều kiện cho HS ghi chép những nội dung cơ bản.
b. Xêmina
Xêmina là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản. Trong đó, dưới sự điều
khiển trực tiếp của GV, HS trình bày, thảo luận, tranh luận về nhưng vấn đề khoa
học nhất định.
Như vậy, xêmina là hình thức thảo luận khoa học, tranh luận về học thuật
nhằm khơi sâu, mở rộng vốn tri thức, tìm tịi, phát hiện chân lí hoặc chứng minh,
tìm cách vận dụng chân lí khoa học vào thực tiễn. Vì thế xêmina có những đặc
trưng cơ bản sau:
- Phải có chủ thể khoa học nhất định để người học căn cứ vào đó trình bày
ý kiến, thảo luận, tranh luận.
- Phải có sự hướng dẫn, điều khiển của GV.


[19]

Thiếu một trong hai đặc trưng trên thì xêmina sẽ mất tác dụng. Vì thế
khơng nên lẫn lộn xêmina với hình thức tranh luận thảo luận khơng theo chủ đề
hoặc khơng có giáo viên hướng dẫn.
4. Ba hình thức tổ chức dạy học cơ bản của hệ lớp – bài ở trường trung
học:

Hệ lớp – bài bao gồm nhiều hình thức dạy học cụ thể, nhưng có thể chia
thành ba dạng cơ bản sau:
- Dạy học trên lớp.
- Dạy học lao động kĩ thuật và hướng nghiệp.
- Hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngồi trường.
Mối quan hệ giữa các hình thức tổ chức dạy học hệ lớp – bài được thể hiện
qua sơ đồ.

DẠY HỌC

DẠY HỌC TRÊN LỚP

LAO

BÀI HỌC

ĐỘNG KĨ

HOẠT
ĐỘNG
NGOÀI

THUẬT

TỰ

GIỜ LÊN

TỔNG HỢP


HỌC

LỚP,

HƯỚNG

CÁC HÌNH

NGỒI

NGHIỆP

THỨC KHÁC

TRƯỜNG

Ba dạng trên gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ thống tồn vẹn các
hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học.Chúng bổ sung cho nhau, thâm nhập
vào nhau để thực hiện mục tiêu GD tồn diện ở trường trung học. Trong đó dạy


[20]

học trên lớp bao gồm những hình thức: bài học, tự học và các hình thức khác,
chúng quan hệ mật thiết và bổ sung cho nhau, nhưng bài học là hình thức chính.
1.1.2. Bài lên lớp
1. Nội dung của khái niệm
Bài lên lớp đã được sinh ra từ thế kỷ thứ XVI và đã trở thành hình thức dạy
học chủ yếu, được áp dụng rộng rãi trong nhà trường của nhiều nước trên thế giới.
Là hình thức tổ chức dạy học quan trọng nhất trong các hình thức tổ chức dạy học.

- Tên gọi của hệ lớp bài gồm: bài học, tiết học, giờ học, giờ lên lớp.
- Có nhiều cách định nghĩa về hệ lớp bài. Nhưng ta cần chú ý đến hai định
nghĩa sau:
Định nghĩa 1: Bài lên lớp là một hình thức dạy học cơ bản, chính yếu ở
trường phổ thơng. Nó là một q trình dạy học sơ đẳng, trọn vẹn. Bài lên lớp có
thời lượng xác định, sĩ số giới hạn, tập hợp thành những HS có cùng độ tuổi, cùng
trình độ học lực. Ở đây, dưới sự chỉ đạo sư phạm của GV, HS trực tiếp lĩnh hội
một đoạn đường trọn vẹn của nội dung trí dục của mơn học.
Định nghĩa 2: Bài lên lớp là hình thức tổ chức mà trong đó, GV trong một
khoảng thời gian xác định hướng dẫn hoạt động nhận thức cho một tập thể HS cố
định, cùng độ tuổi (một lớp) có chú ý đến đặc điểm từng HS trong lớp, sử dụng
các phương tiện và PPDH để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho tất cả HS nắm
được kiến thức, kĩ năng, GD đạo đức và phát huy khả năng nhận thức của họ.
Hai định nghĩa này đã xác định được những đặc điểm cơ bản bên ngoài và
cả bản chất bên trong của bài lên lớp. Bài lên lớp là một hệ thống toàn vẹn và
phức tạp bao gồm cả sự tiếp thu kiến thức, sự phát triển trí tuệ và thế giới quan, sự
GD tình cảm và nhân cách cho học sinh.


[21]

Thật vậy, trong các định nghĩa trên, có những đặc điểm riêng mà chỉ bài lên
lớp mới có và khơng có bất kỳ hình thức tổ chức dạy học khác. Đó là nhóm HS có
sĩ số cố định và có trình độ phát triển nhất định tạo thành một tổ chức trọn vẹn,
tham gia tập thể tồn bộ q trình đào tạo. GV chỉ đạo hoạt động của cả tập thể,
nhưng có tính đến đặc điểm nhận thức của mỗi em, giúp cả tập thể HS nắm vững
một cách trực tiếp ngay trên lớp đến mức tối đa những kiến thức trong nội dung
của bài lên lớp. Đây là hình thức tổ chức dạy học thường xuyên, bắt buộc HS phải
đến lớp học tập chuyên cần.
2. Algorit để nghiên cứu bài lên lớp theo tiếp cận hệ thống.

Theo lý luận dạy học hiện đại, bài lên lớp là đơn vị cấu trúc nguyên tố cơ
bản và trọn vẹn của quá trình dạy học, hạn chế về mặt thời gian. Bài lên lớp là một
hệ toàn vẹn. Đây là quan điểm cơ bản để hiểu kỹ về bài lên lớp theo “Tiếp cận hệ
thống”. Tiếp cận hệ thống là một bộ phận của triết học duy vật biện chứng. Tiếp
cận hệ thống là sự khái quát hóa cao của những phương pháp hiện đại, xuất xứ từ
lý thuyết hệ của Xibecnêtic. Tiếp cận hệ thống là cách thức xem xét đối tượng như
một hệ toàn vẹn phát triển động trong quá trình tự sinh thành và lớn lên của nó
thơng qua việc giải quyết những mâu thuẫn bên trong, những mối liên hệ và tác
động phức tạp qua lại bên trong giữa các thành tố tạo nên hệ, qua đó mà phát hiện
ra được bản chất tích hợp, tính tồn vẹn và logic phát triển nội tại của đối tượng
coi như một hệ toàn vẹn. Như vậy tiếp cận hệ thống địi hỏi phải phân tích bài lên
lớp theo logic sau đây:
- Tìm hiểu cấu trúc và chức năng của tất cả các thành tố của bài lên lớp.
- Phát hiện ra tất cả các tương tác qua lại giữa các thành tố với nhau trong
bài lên lớp, thấy được logic sinh thành và phát triển của bài lên lớp, dựng được sơ
đồ grap cấu trúc của bài lên lớp. Xác định bài lên lớp là một hệ toàn vẹn.


[22]

- Bài lên lớp là hệ tồn vẹn nên có tính tích hợp (hay tính tồn vẹn) là thuộc
tính cơ bản và những thuộc tính nổi bật khác mà hệ tồn vẹn có.
3. Bốn thành tố cơ bản của bài lên lớp
Bài lên lớp của các mơn học đều có bốn thành tố cơ bản là:
- Mục tiêu của bài lên lớp (M).
- Nội dung của bài lên lớp (N).
- Phương pháp dạy học của bài lên lớp (P).
- Kết quả tích hợp của bài lên lớp (K).
a. Mục tiêu của bài lên lớp
Đây là yếu tố xuất phát của bài học, nó xác định con đường đi, mức độ kiến

thức, kĩ năng sẽ đạt tới. Mục tiêu của bài lên lớp chứa đựng ba mục tiêu thành
phần: trí dục, phát triển và giáo dục. Các mục đích này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau.
- Mục tiêu trí dục: chỉ ra những kiến thức, kĩ năng nào, với mức độ đến
đâu, nhờ những phương tiện và phương pháp nào để HS nắm vững những cơ sở
khoa học, kĩ năng, kĩ xảo của bài học một cách tự giác, tích cực, tự lực.
- Mục tiêu phát triển: có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu trí dục. Trên cơ sở
của việc lĩnh hội nội dung khoa học của bài học mà giúp HS phát triển năng lực
nhận thức, năng lực hành động.
- Mục tiêu giáo dục: trên cơ sở bài học hình thành thế giới quan khoa học,
đạo đức, hành vi văn minh và nhân cách cho học sinh.
Mục tiêu là mơ hình tư duy của kết quả dự kiến, nó chi phối nội dung và
PPDH của bài lên lớp.


[23]

b. Nội dung của bài lên lớp
Mục tiêu dạy học quyết định nội dung của bài học. Nội dung của bài lên
lớp chính là nội dung tài liệu SGK quy định trong bài học có thể bao gồm:
- Các kiến thức lí thuyết về hóa học nằm trong kiến thức về thế giới tự
nhiên.
- Các kĩ năng, kĩ xảo hóa học cần rèn luyện.
- Các kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong hóa học cần truyền lại.
- Những quy phạm về đạo đức để hình thành nhân cách, thế giới quan duy
vật biện chứng cho học sinh.
Điều quan trọng là GV phải biết khai thác triệt để nội dung cơ bản tài liệu
giáo khoa.
c. Phương pháp dạy học của bài lên lớp
PPDH của bài lên lớp được xác định dựa vào mục tiêu, nội dung của bài

học. Ngoài ra PPDH cịn phụ thuộc vào trình độ, trạng thái tâm lí của HS. Ở đây
khái niệm PPDH được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm:
- Cách thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò trong sự phối
hợp thống nhất với nhau.
- Lựa chọn các phương tiện dạy học và cách thức sử dụng chúng trong bài
học đó.
- Tùy theo mục tiêu, nội dung học tập mà GV xác định các hình thức tổ
chức hoạt động nhận thức của HS trong bài học đó. Thơng thường có 3 kiểu tổ
chức hoạt động nhận thức trong bài lên lớp là hoạt động tập thể, cá nhân và nhóm.


[24]

+ Hoạt động tập thể: khi trình độ HS trong lớp đồng đều. GV giao cho cả
lớp cùng một nhiệm vụ học tập.
+ Hoạt động cá nhân: trong lớp có 3 trình độ học sinh (khá, trung bình,
yếu), GV có thể biên soạn những nhiệm vụ học tập phân hóa, phù hợp với trình
độ của mỗi HS, rồi giao cho mỗi HS một nhiệm vụ.
+ Hoạt động nhóm: khi mà cả lớp giải quyết một nhiệm vụ phức tạp thì GV
có thể phân chia nhiệm vụ chung đó thành một số nhiệm vụ nhỏ gọi là nhiệm vụ
thành phần, lớp được chia thành một số nhóm ứng với số lượng nhiệm vụ thành
phần và thực hiện nhiệm vụ đó. Cuối cùng GV tổng hợp kết quả hoạt động của các
nhóm lại thành vấn đề chung.
d. Kết quả tích hợp của bài lên lớp
Bài lên lớp là một hệ toàn vẹn, thống nhất của mục tiêu, nội dung, phương
pháp và kết quả nhận thức của HS.
4. Mối liên hệ có quy luật giữa bốn thành tố mục đích (M), nội dung (N),
phương pháp (P), kết quả (K) của bài lên lớp:
Qua các phân tích ở trên ta thấy giữa M – N – P – K có sự liên hệ chặt chẽ
trong suốt quá trình thực hiện bài lên lớp. Sự phối hợp bốn thành tố này theo qui

luật đặc biệt thể hiện bởi tài năng của thầy cô giáo sẽ làm xuất hiện một phẩm chất
đặc biệt mà trước đó chưa hề có, đó là chất lượng cao thành cơng rực rỡ của tiết
học. Lý luận dạy học gọi điều này là cấu trúc tứ diện M – N – P – K. Đây là tế bào
hình thành nên cấu trúc của bài lên lớp.
N
M
P

K


[25]

a. Bài học lên lớp là một hệ tồn vẹn
Nó có bốn thành tố là M – N – P – K tác động qua lại với nhau theo một
cách nhất định, theo một qui luật riêng mà chỉ thầy cơ soạn và thể hiện chính bài
lên lớp đó với học sinh của mình mới biết, nhờ đó sinh thành ra một phẩm chất
mới, một chất lượng mới của bài lên lớp. Phẩm chất mới này là của mỗi một em
HS. Chất lượng mới này chính là sự thành cơng của tiết dạy. Nếu phối hợp một
cách vụng về bốn thành tố thì chắc chắn kết quả là thất bại vì chất lượng của một
hệ tồn vẹn khơng phải là tổng số các tính chất của các thành tố riêng rẽ.
b. Bài lên lớp là một hệ toàn vẹn nên có tính tích hợp (hay tính tồn vẹn) là
thuộc tính cơ bản chủ yếu và những thuộc tính nổi bật khác mà hệ tồn vẹn có.
- Tính tích hợp của hệ toàn vẹn là chất lượng mới của hệ được sinh ra từ sự
tương tác theo qui luật của các thành tố tạo nên hệ chính là sự phối hợp đầy tài
năng của thầy cô giáo đối với bốn thành tố là M - N - P - K.
- Trong hệ toàn vẹn, mối liên hệ giữa các thành tố là chặt chẽ, sự thay đổi
của một thành tố sẽ dẫn tới sự thay đổi của các thành tố khác của hệ, có khi của cả
hệ. Thật vậy, nếu M của bài lên lớp thay đổi thì kéo theo sự thay đổi lần lượt của
N, P, K.

- Hệ toàn vẹn có mối liên hệ bên trong giữa các thành tố trội hơn sự vận
động ly khai của chúng và trội hơn cả sự phá hủy từ bên ngoài vào hệ. Ở đây cần
lưu ý M là thành tố có ý nghĩa rất đặc biệt: M có ý nghĩa xuất phát vạch ra hướng
đi, M cũng có ý nghĩa là trung tâm tập hợp liên kết các thành tố khác. Vậy chừng
nào N, P, K vẫn còn liên kết với trung tâm M thì bài lên lớp vẫn tồn tại. Ví dụ:
một bài lên lớp có ba thí nghiệm thì làm có kết quả hai thí nghiệm cịn một thí
nghiệm thất bại, yếu tố ly khai ở đây là sự thất bại của một thí nghiệm khơng đủ
để phá vỡ lịng tin của các em học sinh vào hai thí nghiệm đã thành công và những


×