ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đề tài:
KHẢO SÁT TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TÁC PHẨM
TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN
Người hướng dẫn:
TS.Trương Thị Diễm
Người thực hiện:
Võ Thị Nhung
Đà Nẵng, tháng 5/2013
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tồn thể q
thầy cơ trong khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã
dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt bốn năm học
tập và rèn luyện tại trường. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
tới cô Trương Thị Diễm, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong
suốt q trình thực hiện khóa luận này.
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, các em của
em - những người đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em
hồn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Với vốn kiến thức cịn hạn hẹp, thời gian thực hiện khóa luận có hạn
nên khơng tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự chỉ bảo,
những ý kiến góp ý, phê bình của q thầy cơ. Đây sẽ là hành trang q báu
giúp em hồn thiện kiến thức của mình sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi. Những kết quả và
số liệu trong khóa luận chưa được ai cơng bố dưới bất kì hình thức nào. Tơi
hồn tồn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này!
Đà nẵng, ngày
tháng
Tác giả
(Kí và ghi rõ họ tên)
Võ Thị Nhung
năm
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phùng Quán là một nhà văn lớn, có tầm ảnh hưởng đến nhiều thế hệ độc
giả và là một người con trung hiếu của quê hương Thừa Thiên - Huế. Ông là
một nhà văn bắt đầu viết trong khoảng thời gian đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp nhưng được biết đến nhiều hơn sau Đổi mới. Ơng nổi tiếng bởi các
tác phẩm nói về người Vệ quốc quân và bởi biến cố liên quan đến chính trị
trong sự nghiệp văn chương của mình. Ơng có hàng chục tác phẩm được nhiều
thế hệ bạn đọc mến mộ. Đặc biệt, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội là một khúc tráng
ca của tuổi trẻ Thừa Thiên - Huế trong chống Pháp. Ra đời năm 1986, bàng bạc
trong suốt gần tám trăm trang viết của ơng là tình cảm ngợi ca quê hương đất
nước, ngợi ca cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ngợi ca những người anh hùng
và xen lẫn ngợi ca một thời vang bóng của cuộc đời ông. Không một mảy may
vương vấn những nhỏ nhen trần thế, ông vẫn viết bằng lý tưởng đã nuôi dưỡng
tâm hồn ông từ thuở ấu thơ; vẫn nuôi những ước mơ đẹp đến nao lòng. Cuốn
tiểu thuyết của Phùng Quán được xem là viên ngọc quý của văn học thiếu nhi
Việt Nam, chất chứa tâm hồn, tình cảm của một nhà văn lớn, nói lên tiếng nói
của thế hệ trẻ một thời. Đúng như Nguyễn Khắc Viện nhận xét: “...Với một
Gavroche, Vitor Hugo đã viết nên những trang bất hủ. Trẻ em của chúng ta đã anh
dũng, hồn nhiên tham gia cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ cùng với cha, anh;
khơng kém gì những Gavroche trên chiến luỹ cách mạng Pháp. Thế mà sách vở
viết về mặt này cịn q ít. Nhà văn Việt Nam cịn mắc nợ các em rất nhiều. Với
TUỔI THƠ DỮ DỘI, Phùng Quán đã bắt đầu trả nợ một cách chính đáng. Sách
dày 800 trang mà người đọc không bao giờ muốn ngừng lại, bị lơi cuốn vì những
nhân vật ngây thơ có, khơn ranh có, anh hùng có, vì những sự việc khi thì ly kỳ,
khi thì hài hước, khi thì gây xúc động đến ứa nước mắt... Tôi chỉ mong làm sao
cho tất cả các em thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này”. (Trích từ sách Nguyễn
Khắc Viện – Tác phẩm, tập chun đề văn học).
Có lẽ khơng phải bây giờ mà mãi về sau, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn.
Những trang văn của Phùng Quán cho đến ngày nay, bất chấp biến động thời
cuộc, vẫn mang lại những giá trị lịch sử - thẩm mĩ thực sự có ý nghĩa với độc
giả.
Sinh ra trên đất Huế, ngơn ngữ Huế đã ngấm vào máu thịt Phùng Quán,
nuôi dưỡng tâm hồn ông. Trong Tuổi thơ dữ dội, lớp từ ngữ địa phương Huế đã
góp phần rất lớn cho sự thành công của tiểu thuyết Phùng Quán.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống cách dùng từ địa
phương trong các sáng tác văn chương nói chung, trong tác phẩm Phùng Quán
nói riêng vẫn chưa được chú ý đúng mức. Chính vì vậy mà người viết lựa chọn
đề tài “Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội của Phùng
Qn”.
2. Lịch sử vấn đề
Cịn q ít cơng trình nghiên cứu về ngơn ngữ trong tác phẩm Tuổi thơ
dữ dội. Theo tìm hiểu của chúng tơi, hiện mới có cơng trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài này đó là: “Đặc trưng ngơn ngữ hội thoại trong tiểu thuyết Tuổi
thơ dữ dội của Phùng Quán” của Dương Thị Thanh Huyền (Khóa luận tốt
nghiệp Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng – 2011).
Như vậy có thể nói rằng, việc khảo sát từ địa phương trong tác phẩm
Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là một vấn đề rất thú vị, hấp dẫn và có phần
mới mẻ. Chúng tơi thực hiện khóa luận này với hi vọng làm rõ hiệu quả nghệ
thuật của việc sử dụng lớp từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội và
thấy được nét tài hoa của ngòi bút Phùng Quán.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khóa luận này nghiên cứu là: Từ địa phương trong tác phẩm
Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: vốn từ địa phương trong tác phẩm Tuổi
thơ dữ dội của Phùng Quán xuất bản năm 2006, Nhà xuất bản Văn học.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ
dội của Phùng Quán, khóa luận hướng vào những mục đích cụ thể sau:
- Bằng việc thống kê các từ địa phương được sử dụng trong tác phẩm
Tuổi thơ dữ dội, chúng tôi khái quát nên bức tranh về từ địa phương Thừa Thiên
- Huế, về các lớp từ được sử dụng trong tác phẩm, trên cơ sở đó, phân tích,
nhận xét, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm
Tuổi thơ dữ dội.
- Bước đầu tìm hiểu việc sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là sử dụng từ ngữ
địa phương) của nhà văn Phùng Quán, chúng tôi muốn giúp ích cho việc thưởng
thức, nghiên cứu, giảng dạy văn chương Phùng Quán nói riêng và văn chương
Việt Nam nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này, chúng tơi đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp khảo sát thống kê: Dựa vào tác phẩm để khảo sát các từ
ngữ địa phương sau đó đưa ra bảng thống kê các từ địa phương được sử dụng
theo một số tiêu chí cần thiết.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đối chiếu giữa từ địa phương
Huế với ngơn ngữ tồn dân và các vùng phương ngữ khác.
- Phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật được đặc biệt chú ý để tìm
hiểu nội dung văn bản và hiệu quả sử dụng các từ ngữ địa phương.
- Phương pháp phân tích diễn ngơn: Nghiên cứu ngôn ngữ trong mối
quan hệ đa chiều với ngữ cảnh mơi trường giao tiếp, tác giả, độc giả.
Ngồi ra, chúng tơi cịn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp bổ trợ
khác nữa khi cần thiết như phương pháp khái qt tổng hợp, mơ hình hố.
6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lí luận: Đề tài này đề cập đến một lớp từ được sử dụng trong
ngơn ngữ nghệ thuật, qua đó góp phần làm rõ hiệu quả nghệ thuật của việc sử
dụng lớp từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội và thấy được cái tài
tình của ngịi bút Phùng Qn.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài làm sáng rõ về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn
Phùng Quán qua tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội - đó là sử dụng ngơn ngữ đời thường,
sử dụng lớp từ địa phương, vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày vào trong ngơn
ngữ nghệ thuật một cách khéo léo, vừa phải, hợp lí, mang lại hiệu quả nghệ thuật
cao.
Hy vọng rằng đề tài này sẽ có đóng góp nhất định vào việc giảng dạy
ngữ văn trong nhà trường, nhất là ở bậc phổ thơng.
7. Bố cục Khóa luận
Ngồi phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội
của Phùng Quán.
Chương 3: Dụng ý nghệ thuật của Phùng Quán trong việc sử dụng
từ địa phương.
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CĨ LIÊN QUAN
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Phùng Quán
1.1.1. Vài nét về cuộc đời Phùng Quán
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn
101 (tiền thân là Trung đồn Trần Cao Vân). Sau đó ơng tham gia Thiếu sinh
qn Liên khu IV, Đồn Văn cơng Liên khu IV.
Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội
thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí
Văn nghệ Qn đội).
Tác phẩm đầu tay Vượt Cơn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1955. Về quá trình viết tác phẩm này, trong Hồi ký Tôi đã
trở thành nhà văn như thế nào do Nhà Xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí
Minh xuất bản năm 2007, ơng kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và
tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất
phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, khơng một chút trách móc
hay thù hận. Khơng lâu sau đó, Phùng Qn tham gia phong trào Nhân văn –
Giai phẩm bằng hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ơ lãng phí (1957). Phùng
Qn bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao
động cải tạo ở nhiều nơi.
Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Qn hầu
như khơng có một tác phẩm nào được xuất bản, ơng phải tìm cách xuất bản một
số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống. Vì
thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ơng thời kỳ này bằng sáu chữ:
cá trộm, rượu chịu, văn chui.
Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất
bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai
năm sau đó. Ngồi văn xi, Phùng Qn cịn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ
nổi tiếng như: Hoa sen, Hơn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe,...
Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội. Năm 2010, sau khi vợ
ông là nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm mất, thể theo nguyện vọng của ông lúc sinh
thời, gia đình và bạn bè đã đưa hài cốt ơng bà về an táng tại quê nhà: xã Thủy
Dương, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Năm 2007, Phùng Quán được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn
học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần
Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm.
1.1.2. Khái quát về sự nghiệp văn chương Phùng Quán
Phùng Quán (1932–1995) là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Ông bắt đầu
viết trong khoảng thời gian của cuộc kháng chiến chống Pháp và khẳng định được
văn tài với Vượt Côn Đảo nhưng ông được biết đến nhiều hơn sau Đổi mới.
Sau đây là những tác phẩm chính của ơng:
Vượt Cơn Đảo, Tiểu thuyết, 1955 - Giải thưởng Nhà nước về Văn học
nghệ thuật, 2007.
Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, Thơ, 1955 - Giải thưởng Nhà
nước về Văn học nghệ thuật, 2007.
Tuổi thơ dữ dội, Tiểu thuyết, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1987 - Giải A văn
học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988. Năm 1990 được đạo
diễn Nguyễn
Vinh
Sơn dựng
thành
phim,
Giải
thưởng Bộ
Quốc
phòng 2000, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Thơ Phùng Quán, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.
Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nxb Thanh Văn, USA 1993. Năm
2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hồng
cung & Phùng Qn viết Trăng hồng cung (tiểu thuyết tình 13 chương của
Phùng Qn và Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh) kể về những câu chuyện
xung quanh thi phẩm này.
Phùng Quán, Thơ, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003.
Ba phút sự thật, Ký, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh,
2006, tái bản bổ sung 2009.
Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào?, Hồi ký, Nhà xuất bản Văn
Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
Phùng Qn cịn đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn
bè, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
1.2. Khái quát về phương ngữ tiếng Việt
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thấy cần thiết phải xác định rõ một số
khái niệm liên quan sẽ được sử dụng. Trên cơ sở trình bày các ý kiến của các
tác giả đi trước, chúng tôi đi đến lựa chọn những quan niệm làm cơ sở cho việc
thực hiện đề tài này.
1.2.1. Khái niệm phương ngữ
Khái niệm phương ngữ là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học.
Thuật ngữ này tồn tại song song với một số từ khác ít mang tính thuật ngữ
hơn như: phương ngôn, tiếng địa phương, giọng địa phương… Trong khóa
luận này, chúng tơi dùng thuật ngữ phương ngữ. Theo tác giả Hoàng Thị Châu,
phương ngữ là biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là
phương tiện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một
cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội, về nghề nghiệp,
còn gọi là tiếng địa phương [15, tr 24]. Phương ngữ được chia ra phương ngữ
lãnh thổ và phương ngữ xã hội. Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến
ở một vùng lãnh thổ nhất định. Nó ln là một bộ phận của một chỉnh thể
ngơn ngữ nào đó. Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong âm thanh, từ
ngữ, ngữ pháp. Những khác biệt này trong trường hợp tiếng Việt là khơng lớn,
vì vậy những người nói những phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn
hiểu được nhau. Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngơn ngữ của một
nhóm xã hội nhất định. Trong tiếng Việt, loại phương ngữ này bao giờ cũng
có từ xã hội, làm định ngữ, và do bộ môn Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu.
Như vậy, phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu
hiện của ngơn ngữ tồn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một địa phương
cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngơn ngữ tồn dân hay với một
phương ngữ khác [10, tr. 29]. Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra
trên hai mặt cấu trúc và chức năng. Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt
của ngôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ
âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp. Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự
biến đổi ấy. Chính vì vậy, phương ngữ khác với ngơn ngữ tồn dân ở một vài
khía cạnh nào đó, nhưng về căn bản cái mã chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp,
từ vựng, âm vị giữa phương ngữ và ngôn ngữ tồn dân là khá tương đồng. Tóm
lại, nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp của một ngôn ngữ
không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc cũng như phương tiện thể hiện mà bản thân
nó cũng là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngồi
ngơn ngữ.
1.2.2. Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt
Phương ngữ tiếng Việt được chia thành nhiều vùng khác nhau. Có nhiều
ý kiến về số vùng phương ngữ tiếng Việt. Theo Hoàng Thị Châu và nhiều người
khác, tiếng Việt có ba phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và
phương ngữ Nam. Có thể nêu sơ lược để dễ hình dung về đặc điểm của các
phương ngữ tiếng Việt như sau:
1.2.2.1. Đặc điểm về ngữ âm
Nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả làm
chuẩn để khảo sát sự khác nhau của ba phương ngữ nói trên, thì có thể nêu
những đặc trưng ngữ âm chủ yếu như sau:
* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc:
- Hệ thống thanh điệu: có 6 thanh, đối lập từng đơi về âm vực và âm điệu.
- Hệ thống phụ âm đầu: có 20 âm vị, khơng có những phụ âm ghi trong
chính tả là s, r, gi, tr, tức là không phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch. Lẫn lộn l/n (vùng
châu thổ sông Hồng và sơng Thái Bình).
- Hệ thống âm cuối: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả. Có 3 cặp âm
cuối ở thế phân bố bổ túc là: [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước [i, ê,
e], [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa [ư, ơ, â, a, ă], [-ngm…,-kp…] đứng
sau ngun âm dịng sau trịn mơi [u, ơ, o].
* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung:
- Hệ thống thanh điệu có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu phương
ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm
uốn lưỡi [s, z, t] (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr). Trong nhiều thổ ngữ có hai phụ
âm bật hơi [ph, kh] thay cho 2 phụ âm xát [f, x] trong phương ngữ Bắc.
- Trong hệ thống âm cuối, đôi phụ âm [-ng,-k] có thể kết hợp được với
các nguyên âm trước, giữa và sau. Tuy vậy, trong những từ chính trị - xã hội
mới xuất hiện gần đây, vẫn có các cặp âm cuối [-nh,-ch] và [-ngm…,-kp…]
* Đặc điểm ngữ âm phương ngữ Nam:
- Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một.
Xét về mặt điệu tính, thì đây là một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ
Bắc và phương ngữ Trung.
- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như
phương ngữ Trung [s, z, t] chữ viết ghi là s, r, tr. Ở Nam Bộ r có thể phát âm
rung lưỡi [r]. So với các phương ngữ khác, thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm
[v], nhưng lại có thêm [w] bù lại, khơng có âm [z] được thay thế bằng âm [j].
- Âm đệm [-u-] không gặp trong phương ngữ Nam.
- Mất đi rất nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung.
Thiếu đôi âm cuối [-nh, -ch].
- Đôi âm cuối [-ng…, -k…] trở thành những âm vị độc lập.
1.2.2.2. Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa
Để thấy được đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, ta phải phân biệt
hai lĩnh vực khác nhau là sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng Việt và nguồn
gốc khác nhau của chúng. Những từ khác nhau do biến đổi ngữ âm tạo nên
những từ khác âm bộ phận. Các từ này khác nhau chỉ một hai bộ phận, có thể
ở phụ âm đầu, ở nguyên âm, ở phụ âm cuối hay ở thanh điệu. Bởi vì một từ
biến đổi về ngữ âm không phải biến đổi tất cả các bộ phận cùng một lúc mà
biến đổi một trong những bộ phận này thôi, trong khi các bộ phận kia vẫn giữ
nguyên, cho nên đây là cơ sở để khẳng định rằng, các bộ phận này là âm vị,
rằng âm tiết có thể phân đoạn được. Tuỳ theo bộ phận khác âm, ta có thể chia
ra những từ khác phụ âm đầu, những từ khác nguyên âm và những từ khác phụ
âm cuối, thanh điệu,…
* Đặc điểm về từ vựng:
Từ cùng gốc:
- Từ thể hiện quá trình xát hoá: Biến thể cổ b, đ ở phương ngữ Trung
tương ứng với v, z ở phương ngữ Bắc. Ví dụ: Bui/ vui, bá/ vá, ban/ vai, bo/ vo,
bưa/ vừa… đa/ da, đưới/ dưới, đao/ dao, đốc/ dốc…
- Từ thể hiện q trình xát hố và hữu thanh hố: Biến thể cổ ở phương
ngữ Trung tương ứng với biến thể mới ở phương ngữ Bắc. Ví dụ: ph, th, kh/ v,
z (d), G(g): ăn phúng/ ăn vụng, phở đất/ vỡ đất, phổ tay/ vỗ tay…; nhà thốt/
nhà dột, mưa thâm/ mưa dầm, thu/ dấu…; khải/ gãi, khở/ gỡ, khỏ/ gõ,
khót/gọt… ch, k,/j(gi), G(g): chi/ gì, chừ/giờ; gấu/ gạo, cỏ cú/cỏ gấu, trôốc cúi/
đầu gối…
- Hiện tượng hữu thanh hoá thường xảy ra cùng với việc hạ thấp thanh
điệu: thanh không thành thanh huyền, thanh sắc thành thanh nặng, thanh hỏi
thành thanh ngã. Phụ âm vô thanh đi với thanh cao ở phương ngữ Trung còn
phụ âm hữu thanh đi với thanh trầm gặp ở phương ngữ Bắc: Sắc/ nặng: ăn
phúng/ ăn vụng, nhà thốt/ nhà dột… Khơng/ huyền: ga/ gà, chi/ gì, mưa thâm/
mưa dầm,… Hỏi/ ngã: phở/ vỡ, phổ/ vỗ, khở/gỡ…
- Những từ có phụ âm đầu khác với ngơn ngữ tồn dân có thể tìm thấy
trong phương ngữ Bắc nhưng khơng nhiều hiện tượng như phương ngữ Trung:
dăn deo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm, dức đầu/ nhức đầu, con nhôộng/ con
nhộng…
- Những từ khác nguyên âm thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm
đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng:
+ Nguyên âm đôi mở dần trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam:
e/ei, a/ ươ, o/ uo: méng/ miếng, mẹng/ miệng, lả/ lửa, nác/ nước, mạn/ mượn,
lái/ lưới, ló/ lúa, nót/ nuốt, lịn/ luồn, mói/ muối…
+ Ngun âm đơi mở dần trong các phương ngữ khác: i/ iê, u/âu: con chí/
con chấy, ni/ nầy, mi/ mầy, nu/ nâu, bu/ bâu, tru/ trâu, trú/ trấu …
- Những từ khác phụ âm cuối biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hoá:
phụ âm cuối -n biến đổi thành -j: cằn cấn/ cày cấy, kha cắn/ gà gáy…; cái vắn/
cái váy, ban/ vai, con mõn/ con muỗi, cái chũn/ cái chổi….
Từ khác gốc (khơng có quan hệ ngữ âm):
Có những phương ngữ có hai hay nhiều từ khác hẳn nhau nhưng lại đồng
nghĩa, thí dụ: trái và quả, bơng và hoa. Những từ này là do xuất phát từ những
nguồn gốc khác nhau. Có thể thấy, các từ này tập trung chủ yếu vào một từ loại
là danh từ. VD: Thuyền ở phương ngữ Bắc. Lúc đầu người Việt nói nôốc
(Khơme). Từ thuyền là gốc Hán - Việt. Từ nôốc phổ biến ở phương ngữ Trung
(chủ yếu là vùng Bắc Trung Bộ (từ Nghệ An đến hết Thừa Thiên- Huế). Một
vài sự so sánh khác:
PNB
PNT
PNN
quả dứa
trấy dứa
trái gai
quả roi
trấy đào
trái mận
bát
đọi
chén
thuyền
nơốc
ghe
cá quả
cá tràu
cá lóc
* Đặc điểm về ngữ nghĩa:
Xét về mặt ngữ nghĩa thì phương ngữ Bắc có ưu điểm là ngôn ngữ đã
được thừa hưởng truyền thống văn học viết. Ngôn ngữ văn học Việt Nam được
xây dựng trên nền tảng phương ngữ Bắc. Kết quả là nó có được một vốn từ
vựng phong phú hơn các khu vực khác, ở chỗ tương ứng với một từ ở phương
ngữ Trung và phương ngữ Nam để chỉ một trạng thái hay một tính chất, một
cảm xúc thì có cả một loạt từ. Phương ngữ Nam là phương ngữ mới và những
người sử dụng có nguồn gốc khác nhau ( Hoa, Khơ-me).
PNN
PNB
lạnh
lạnh, rét, giá, buốt
ốm
gầy, còm, còi, cọc
thương
yêu, mến, thương
Từ chỉ đơn vị (chỉ loại) trong phương ngữ Nam dùng rất khái quát. Ở
Bắc Bộ người ta nói: miếng cơm, ngụm nước, mẩu giấy, thì ở Nam bộ dùng
chung một từ miếng. Sự khái quát hoá về nghĩa trong phương ngữ Nam được
đền bù lại bằng hàng loạt phó từ và trạng từ để tăng cường sự thể hiện mức độ
cho tính từ và động từ. Ngơn ngữ văn chương cần sự phân biệt tế nhị về sắc
thái từng nghĩa một, do đó dù là người địa phương nào, nói như thế nào trong
sinh hoạt hàng ngày, nhưng đã cầm bút viết, là viết trước hết bằng từ vựng của
ngôn ngữ tồn dân rồi sau đó mới thêm những từ địa phương để tơ điểm cho
ngơn ngữ nghệ thuật của mình.
1.2.2.3. Đặc điểm về ngữ pháp
Trong tiếng Việt, về mặt ngữ pháp hầu như rất ít sự khác biệt. Có chăng
những sự khác biệt ấy thường nằm ở cấp độ từ và cũng chỉ ở một số từ loại,
như đại từ, tiểu từ tình thái,… Sau đây là một vài nét khu biệt điển hình trong
các hệ thống đại từ:
* Hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn:
PNB
PNT
PNN
này
ni
nầy
thế này
ri
vầy
ấy
nớ
đó
kia
tê
đó
đâu, nào
mơ
đâu, nào
* Hệ thống đại từ xưng hơ:
PNB
PNT
PNN
tơi
tui
tui
tao
tau
tao, qua
chúng tôi
mày
cô ấy
bầy tui
mi
o nớ
tụi tui
mầy
cổ
chị ấy
ả nớ
chỉ
anh ấy
eng nớ
ảnh
…
* Đại từ hoá danh từ:
Thêm dấu hỏi (thanh hỏi) để biến danh từ thành đại từ là một phương
ngữ thức ngữ pháp sử dụng rộng rãi trong phương ngữ Nam. Ngoài đại từ nhân
xưng như trên đã dẫn ra: ổng, bả, cổ, chỉ, ảnh,… cịn hình thành những đại từ
chỉ khơng gian: trỏng (trong ấy), ngoải (ngồi ấy), trển (trên ấy), đại từ chỉ thời
gian: hổm (hôm ấy), nẳm (năm ấy)… Các biến đổi này thấy ở Thanh Hoá, và
chủ yếu là từ Nam Trung Bộ trở vào. Những từ có tần số xuất hiện cao như: ấy,
với, chứ lại cũng được rút ngắn trong phương ngữ Bắc, nhưng không tạo thành
một phương thức ngữ pháp nêu trên: ấy thành í, với thành mí, chứ lại thành chứ
lị. Tóm lại, phương ngữ tiếng Việt luôn vận động và phát triển, đa dạng và
phong phú. Trong sáng tác văn học, việc sử dụng vốn từ địa phương thường dễ
bắt gặp ở nhiều tác phẩm, cả văn xi và thơ vì mỗi tác giả đều sinh ra và lớn
lên ở một vùng đất nhất định. Tuy vậy, từ ngữ địa phương khi đưa vào tác phẩm
văn học cần phải chọn lọc vì nếu khơng nó sẽ gây sự khó hiểu đối với độc giả
không thuộc vùng đất ấy. Nhà thơ Phùng Quán sinh ra ở Thừa Thiên - Huế là
một nhà thơ rất nhạy cảm với các từ địa phương nên trong sáng tác của mình
tác giả đã đưa từ ngữ địa phương vào trong tác phẩm mà không làm cho người
đọc khó hiểu. Mà ngược lại, từ địa phương được Phùng Quán sử dụng mang lại
hiệu quả nghệ thuật cao.
Chương 2:
KHẢO SÁT TỪ ĐỊA PHƯƠNG
TRONG TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI
2.1.
Kết quả thống kê
Số lần
ST
Từ ngữ
T
địa phương
1
Tụi
Bọn
422
2
Mau
Nhanh
39
3
Mần
Làm
7
4
Nện
Đánh
6
5
Mô
Đâu, nào
280
6
Xê ra
Tránh ra
5
7
Tui
Tôi
342
8
Vô
Vào
291
9
Lộn mửa
Buồn nôn
3
10
Làm răng
Làm sao, làm thế nào
7
11
Xài
Dùng
1
12
Thằng nớ
Thằng ấy
20
13
Lanh
Nhanh
3
14
Đừng hịng
Đừng mong
6
15
Răng
Sao
173
16
Mi
Mày
429
17
Chi
Gì
320
Từ tồn dân
xuất
hiện
18
Né
Tránh
1
19
Làm chi
Làm gì
9
20
Coi
Xem
75
21
Chuyện chi
Chuyện gì
11
22
Khối
Nhiều
3
23
Dát
Nhát
82
24
Tau
Tao
301
25
Cái ni
Cái này
5
26
Con nít
Trẻ con
67
27
Một túm
Một nhúm
1
28
Bợp tai
Tát tai
4
29
Rứa
Thế, vậy
287
30
Thiệt
Thật
66
31
Băm mốt
Ba mốt
1
32
Ủa
Ôi
1
33
Ươ trời
Ôi trời
5
34
Chừ
Giờ, bây giờ
101
35
Lầm
Nhầm
13
36
Cực
Mệt, khổ
23
37
Hè
Nhỉ
2
38
Bợm
Giỏi, tài
4
39
Ni
Này
299
40
Coi bộ
Xem chừng
8
41
Bay
Chúng mày
30
42
Ngộp quá
Sợ quá
5
43
Nghe
Nhé, nha, nhá
74
44
Khó cóc chi
Khó gì
9
45
Chuyến ni
Chuyến này
25
46
Chớ
Chứ
34
47
In hệt
Giống hệt
3
48
Rờ
Sờ
1
49
Hỉ
Nhé, nha, nhá
6
50
Ưng
Thích, thương, u
7
51
Tề
Kìa
23
52
Úi trời
Ối trời
7
53
Ui chao
Ơi chao
4
54
Trưa ni
Trưa này
14
55
Ở lỗ
Ở truồng
7
56
Cậu ni
Cậu này
9
57
Chú mi
Chú mày
34
58
Tê
Kia
27
59
Bày
Chỉ bảo
12
Làm cái gì
6
60
Làm cái
cóc khơ chi
61
Nói giỡn
Nói đùa
3
62
Bổ
Ngã
11
63
Nhứt
Nhất
3
Khơng có gì hết
1
64
Khơng có cóc khơ
chi hết
65
Xớn rớn
Xơn xao/nháo nhác
1
66
Côi
Trên
4
67
Thấu
Đến
45
68
Chiều ni
Chiều nay
4
69
Hồi
Mãi
9
70
Ngó bộ
Xem chừng
4
71
Ui cha
Ơi chao
3
72
Tọng vơ
Bỏ vào
2
73
Tha
Mang
4
74
Ngồi chồm hỗm
Ngồi xổm
3
75
Tây ngu
Tê giác
1
76
Giựt
Giật
3
77
Té ra
Thì ra
15
78
Dễ sợ
Lắm, q
4
79
Mạ
Mẹ
339
80
Má
Mẹ
6
81
Ngó
Nhìn
89
82
Giả bộ
Giả vờ
4
83
Chết giấc
Chết ngất
4
84
Ba
Bố, cha
46
85
Na
Mang, vác
2
86
Rị
Kéo xuống
2
87
Đừng có hịng
Đừng có mong
5
88
Hun
Hơn
1
89
Coi thường
Xem thường
3
90
Can chi
Không sao
2
100
Nhớp
Bẩn
19
101
Phang
Đánh
6
102
Quăng
Vứt, ném
18
103
Nớ
Ấy
49
104
Nói giỡn
Nói đùa
2
105
Hỉ
Nhỉ
4
106
La
Kêu, mắng
53
107
Đêm mơ
Đêm nào
4
108
Nằm mê
Nằm mơ
4
109
Nờ
Ạ, à, ơi
3
110
Hị nhau
Hợp sức mọi người lại
1
111
Ghèn
Gỉ mắt
3
112
Chơi xỏ
Chơi xấu
1
113
Mệ
Bà
93
114
Chú ni
Chú này
6
115
Mai mốt
Ngày mai, ngày kia
5
116
Hí
Nhé
11
117
Tại răng
Tại sao
9
118
Làm lơ
Làm ngơ
1
119
Vịi chi
Địi gì
1
120
Bày tui
Bọn tơi
5
121
Lủi
Chuồn
9
122
Ơơng
Ơng
9
123
Kì cục
Kì quặc
1
124
Hiện ngụy
Lạ thật
1
125
Chú mơ
Chú nào
7
126
Bày đặt
Bày vẽ
2
127
Trật
Sai
3
128
Coi như
Xem như
4