BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ PHAN QUỲNH TRANG
CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG
VÀ TƢ DUY THƠ CHẾ LAN VIÊN
QUA BA TẬP DI CẢO
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số:
60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. BÙI TRỌNG NGOÃN
Đà Nẵng, Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
chƣa từng đƣợc cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
LÊ PHAN QUỲNH TRANG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................3
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu...............................................................3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................4
5. Bố cục đề tài: ...........................................................................................4
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu .................................................................4
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .10
1.1. CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG...............................................10
1.1.1. Khái quát về các biện pháp tu từ .....................................................10
1.1.2. Các biện pháp tu từ liên tƣởng ........................................................11
1.2. CHẾ LAN VIÊN VÀ DI CẢO THƠ .........................................................25
1.2.1. Chế Lan Viên – cái tôi sáng tạo độc đáo.........................................25
1.2.2. Di cảo thơ - “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm
Tiếng hát lẫn với im lìm của đất” ..............................29
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG TRONG DI CẢO
THƠ .................................................................................................................38
2.1. SO SÁNH TU TỪ .....................................................................................39
2.1.1. Dạng A nhƣ B ................................................................................40
2.1.2. Dạng A là B .....................................................................................45
2.2. ẨN DỤ TU TỪ .........................................................................................50
2.2.1. Ẩn dụ chân thực ..............................................................................52
2.2.2. Ẩn dụ tƣợng trƣng ...........................................................................53
2.2.3. Ẩn dụ bổ sung .................................................................................57
2.3. HOÁN DỤ TU TỪ....................................................................................60
2.3.1. Hoán dụ cải số .................................................................................61
2.3.2. Hoán dụ cải dung.............................................................................63
2.3.3. Hoán dụ cải danh .............................................................................65
2.3.4. Hoán dụ bộ phận – tồn thể.............................................................69
2.4. NHÂN HĨA..............................................................................................72
2.4.1. Nhân hóa dạng 1 ..............................................................................73
2.4.2. Nhân hóa dạng 2 ..............................................................................76
2.5. PHÚNG DỤ ..............................................................................................77
CHƢƠNG 3. VAI TRỊ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG
ĐỐI VỚI TƢ DUY THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG BA TẬP DI CẢO ...80
3.1. VAI TRÒ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG ĐỐI VỚI TƢ
DUY XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƠ CỦA CHẾ LAN VIÊN ......................81
3.2. VAI TRÒ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG ĐỐI VỚI TƢ
DUY CẤU TỨ THI PHẨM CỦA CHẾ LAN VIÊN ......................................89
3.3. TỪ CÁI DÙNG ĐỂ BIỂU ĐẠT SUY NGHĨ VỀ TƢ DUY NGHỆ
THUẬT CỦA CHẾ LAN VIÊN ......................................................................98
KẾT LUẬN ...................................................................................................115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................118
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giữa ba vạn sáu nghìn ngày chóng mặt
Anh ở đây chốc lát
Vui buồn khoảnh khắc
Rồi anh ra đi
(Cây và ngƣời)
Vậy là, đã rất xa, kể từ ngày Chế Lan Viên tạ từ nhân gian… Nhƣng
những “chiếc lá có hƣơng tƣ tƣởng”, “ngọc thơ anh” thì chƣa bao giờ cách xa
thế nhân cả. “Thơ là trái tim anh móc lại cho đời”, thơ là tài năng anh để lại
cho ngƣời trong cái “vui buồn khoảnh khắc” ấy.
Chế Lan Viên là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam. Điều
ấy khơng ai có thể phủ định đƣợc. Qua mỗi trang thơ của thi nhân, bao giờ ta
cũng nhận ra một phong cách nghệ thuật độc đáo. Đấy là một phong cách triết
luận – suy tƣởng “rất Chế”! Đấy là một phong cách trí tuệ “rất Chế”! Tuy đã
có rất nhiều cơng trình tìm hiểu về thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, nhƣng
nghiên cứu về Chế Lan Viên vẫn còn là nguồn mạch cần đƣợc tiếp tục khơi
dòng.
Đối với một nhà thơ coi trọng kĩ thuật, có ý thức tu luyện, vận dụng kĩ
xảo ngôn từ một cách tài hoa nhƣ Chế Lan Viên thì việc tìm hiểu thơ ơng ở
góc độ ngơn ngữ rất có ý nghĩa. Thi nhân từng nhận định: “Hình thức cũng là
vũ khí. Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí”. Các biện pháp tu từ
mà Chế sử dụng trong thơ cũng là một thứ “vũ khí”, một thứ “sắc đẹp” phát
huy mạnh mẽ tác dụng của nó. Trong đó, các biện pháp tu từ theo quan hệ liên
tƣởng là một trong những phƣơng thức sáng tạo đầy hiệu quả, giúp Chế có
khơng gian tung tẩy trí tƣởng tƣợng đầy độc đáo, mạnh mẽ. Và cũng chính
2
phƣơng thức này đã góp phần giúp Chế thể hiện tƣ duy và cá tính sáng tạo
khơng lẫn vào đâu đƣợc của mình.
Chế Lan Viên đã để lại cho cuộc đời nhiều tập thơ và mỗi tập thơ nắm
giữ ý nghĩa quan trọng riêng trong đời thơ tác giả. Chọn Di cảo thơ làm phạm
vi nghiên cứu cho đề tài của mình, chúng tơi muốn tìm hiểu kĩ hơn về những
chiêm nghiệm sâu sắc về đời, về thơ của thi nhân, về một trong những tập thơ
đƣợc xem là “khuôn mặt khuất lấp” của ngƣời thơ Chế Lan Viên. Với đề tài
“Các biện pháp tu từ liên tƣởng và tƣ duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di
cảo”, ngƣời viết hi vọng sẽ góp đƣợc một phần cơng sức nhỏ bé vào việc giải
mã vẻ đẹp thơ Chế Lan Viên từ góc độ ngơn ngữ.
Hơn thế nữa, từ thực tiễn giáo dục, ta thấy rằng: phân tích tác phẩm văn
chƣơng là một nội dung quan trọng trong giảng dạy Ngữ Văn. Tuy nhiên, có
một thực trạng khá phổ biến hiện nay là học sinh thƣờng phân tích tác phẩm
một cách sơ lƣợc, chung chung dẫn đến lan man, xa đề hoặc “vọng văn sinh
nghĩa”. Việc phân tích nghệ thuật (phƣơng diện ngôn ngữ) chỉ đƣợc chú ý một
cách chiếu lệ. Trong khi đó, giá trị của một tác phẩm thƣờng tập trung khá
nhiều ở phƣơng diện này. Văn chƣơng là tác phẩm nghệ thuật ngơn từ. Trong
q trình sáng tạo nghệ thuật của mình, nhà văn đã vận dụng, phát huy tối đa
khả năng gợi tƣởng, gợi tả, gợi cảm của các yếu tố ngơn ngữ hoặc có liên
quan đến ngôn ngữ. Tiếp nhận văn học là một quá trình vừa mang tính khoa
học vừa mang tính nghệ thuật. Với suy nghĩ nhƣ vậy, chúng tơi cho rằng, việc
tìm hiểu thấu đáo các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm trƣớc khi lên lớp, rèn
luyện cho học sinh thói quen phân tích, đánh giá phƣơng diện hình thức nghệ
thuật của tác phẩm là việc làm rất có ý nghĩa, rất cần thiết đối với giáo viên bộ
môn Ngữ Văn.
Với hi vọng sẽ đóng góp vào hƣớng giảng dạy Ngữ Văn theo quan
điểm tích hợp hiện nay, đồng thời làm giàu hƣớng cảm thụ văn chƣơng cho
3
độc giả từ góc độ ngơn ngữ, chúng tơi đã chọn đề tài “Các biện pháp tu từ liên
tƣởng và tƣ duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo” để nghiên cứu, khám
phá. Các trƣờng hợp sử dụng biện pháp tu từ liên tƣởng trong Di cảo thơ Chế
Lan Viên đƣợc sắp xếp theo trình tự các mơ hình với những phân tích, lí
giải… là nguồn tƣ liệu có khả năng ứng dụng thiết thực trong giảng dạy,
nghiên cứu. Đề tài cũng góp phần làm cụ thể thêm về lý thuyết phép so sánh
tu từ, ẩn dụ tu từ, hốn dụ tu từ, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ, tƣợng trƣng.
Trong đề tài, ngƣời viết cũng sẽ gợi mở và làm sáng tỏ thêm cách nhìn về
chức năng, vai trò của các biện pháp này trong mối quan hệ với tác phẩm
nghệ thuật và tƣ duy sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ.
Những lí do trên đã thơi thúc chúng tôi khám phá đề tài đầy thú vị này.
Cùng niềm đam mê và sự làm việc khoa học, tác giả luận văn rất mong “Các
biện pháp tu từ liên tƣởng và tƣ duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo” sẽ
là một cơng trình khoa học thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời, góp
một phần nhỏ làm khơng khí phê bình – nghiên cứu văn chƣơng từ góc độ
ngơn ngữ ngày càng sơi nổi…
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Các biện pháp tu từ liên tƣởng và tƣ duy thơ Chế Lan Viên qua
ba tập Di cảo” đi sâu nghiên cứu các biện pháp tu từ liên tƣởng trong 3 tập Di
cảo thơ và làm rõ vai trò của các biện pháp này trong việc thể hiện tƣ duy thơ
Chế Lan Viên. Dựa trên cơ sở ngơn ngữ, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần
lí giải những đặc điểm trong tƣ duy thơ Chế Lan Viên một cách rõ ràng, khoa
học. Đồng thời, kết quả đó cũng sẽ là nguồn tƣ liệu có khả năng ứng dụng
thiết thực trong việc giảng dạy Ngữ Văn ở các trƣờng Trung học phổ thông.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu: Các biện pháp tu từ liên tƣởng trong Di cảo thơ và
vai trò của các biện pháp này trong việc thể hiện tƣ duy thơ Chế Lan Viên.
4
* Phạm vi nghiên cứu: 3 tập Di cảo thơ gồm 461 bài (tập I - 65 bài, tập II 196 bài, tập III - 200 bài)
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp.
Trong đó, ba phƣơng pháp sau đƣợc chúng tôi đặc biệt coi trọng:
- Phƣơng pháp thống kê – phân loại
- Phƣơng pháp miêu tả
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp
5. Bố cục đề tài:
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Các biện pháp tu từ liên tƣởng trong Di cảo thơ
Chƣơng 3: Vai trò của các biện pháp tu từ liên tƣởng đối với tƣ duy thơ
Chế Lan Viên trong ba tập Di cảo
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chế Lan Viên là một tài năng thật sự. Và chính vì thế, thi nhân luôn
luôn là đối tƣợng của nhiều nhà nghiên cứu. “Trƣớc mắt tôi, Chế Lan Viên
vẫn là một hiện tƣợng ln gợi thức và đánh động cho mình” (Phong Lê) [26,
tr.253].
Về thơ Chế Lan Viên, nhiều cây bút phê bình văn học có uy tín nhƣ
Hồi Thanh, Xn Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Nguyễn Lộc, Nguyễn
Đăng Mạnh, Nguyễn Xn Nam, Mã Giang Lân… đã có những cơng trình
nghiên cứu khá thành công. Ở đây, chúng tôi sẽ chỉ xâu chuỗi một số những
cơng trình có liên quan trực tiếp đến đề tài của mình.
Về Di cảo thơ, đã có nhiều bài viết, cơng trình nhƣ: Nguyễn Thái Sơn
với “Chế Lan Viên và Di cảo thơ”, Nguyễn Bá Thành và “Đọc hai tập Di cảo
5
thơ”, Phạm Xuân Nguyên có “Chế Lan Viên - ngƣời đi tìm mặt”, Đồn Trọng
Huy có “Khuynh hƣớng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975”, Trần Mạnh
Hảo với “Ngƣời làm vƣờn vĩnh cửu”…
Nguyễn Thái Sơn đã nhìn ra cái phức tạp trong con ngƣời, trong thơ
Chế Lan Viên qua Di cảo thơ: “Diện mạo thơ, chân dung thơ của Chế Lan
Viên trƣớc đây, sắc sảo đến mấy, thần sắc đến mấy cũng chỉ mới ở trên một
mặt phẳng, còn thơ chƣa in và thơ sau khi nhà thơ từ trần, đã tạo nên một
diện mạo có chiều kích khác. Đó là phù điêu. Đó là tƣợng trịn. Đó là tƣợng
đài” [1, tr.413].
Phạm Quang Trung lại có bài “Đọc Chế Lan Viên và Di cảo thơ” phản
hồi lại bài của Nguyễn Thái Sơn. Phạm Quang Trung nhận định: “Không nên
quá đề cao “Di cảo thơ” Chế Lan Viên tới mức đối lập nó với những sáng tác
trƣớc đây của nhà thơ. Có một Chế Lan Viên khác mà khơng lạ hiện lên trong
“Di cảo”. Song chủ yếu vẫn là một Chế Lan Viên quen thuộc mà ta đã bắt
gặp trong suốt nửa thế kỉ qua” [1, tr.418].
Trần Thanh Đạm trong “Những vần thơ triết lí của Chế Lan Viên qua
những trang Di cảo” đã phân tích và đánh giá những dẫn chứng triết lí bằng
thơ và triết lí về thơ của Chế và từ đó đƣa ra nhận định: “Trong các nhà thơ
của thế kỉ chúng ta, Chế Lan Viên vẫn là nhà thơ giàu chất triết lí hơn cả” [1,
tr.389]. “Trong “Di cảo”, có một phần rất mới của các tập thơ trƣớc chƣa có,
đó là những bài thơ, theo tôi, ghi lại nỗi thao thức, day dứt sáng tạo của nhà
thơ trong giai đoạn cuối đời” [1, tr.393]. Tuy nhiên, những nỗi day dứt này
đƣợc chuyển tải qua hình thức ngơn từ của Chế Lan Viên ra sao thì chƣa thấy
tác giả này bàn tới.
Nguyễn Quốc Khánh gọi “Di cảo thơ Chế Lan Viên – hành trình tìm lại
chính mình”, là “hành trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh, dám
sống tận cùng với cá tính của mình” [1, tr.433]. Với cách định danh đó, tác
6
giả đã đi sâu tìm hiểu những khía cạnh trong chân dung Chế: bản tổng kết về
đời mình – đời ngƣời và đời thơ, cảm hứng về nỗi đau buồn, về số phận con
ngƣời…
Sau khi “Đọc hai tập Di cảo thơ”, Nguyễn Bá Thành cảm nhận chủ yếu
về giọng thơ Chế Lan Viên những năm cuối đời với chất giọng chủ đạo là đơn
lẻ, não nùng, có phần chua chát mang đầy phong cách suy tƣởng - tổng hợp
của Chế.
Đề cập đến sự hòa quyện cũng nhƣ mâu thuẫn giữa ý thức công dân và
ý thức nghệ thuật của Chế, trong bài viết “Di cảo thơ Chế Lan Viên”, Võ Tấn
Cƣờng thơng qua đó đề cập đơi điều đến số phận nghệ sĩ, trách nhiệm và số
phận của họ với thời đại.
Với tƣ cách một ngƣời làm thơ, trong “Chế Lan Viên trong Di cảo”, Vũ
Quần Phƣơng tiếp cận Di cảo thơ của Chế Lan Viên bằng cách nêu lên những
cảm thụ, những suy nghĩ thiên về bình chú của mình.
Nhìn chung, về Di cảo thơ, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung khai
thác ở mặt nội dung, ở những triết lí bằng thơ và về thơ của Chế. Qua đó, họ
đi tìm những khn mặt khác trong “tháp Bay – on bốn mặt” của Chế và
khẳng định phong cách triết lí – suy tƣởng của thi nhân mà chƣa thật sự đi sâu
vào nghệ thuật của ba tập thơ này.
Trong các cơng trình đi sâu khảo sát nghệ thuật thơ Chế Lan Viên nhƣ
“Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” (Hồ Thế Hà), “Nghệ thuật thơ Chế
Lan Viên” (Đoàn Trọng Huy)…, vấn đề về các biện pháp tu từ liên tƣởng
trong thơ Chế Lan Viên, cụ thể là trong Di cảo cũng đã đƣợc đề cập. Tuy
nhiên, những cơng trình đó đều tập trung nhấn mạnh biện pháp so sánh tu từ
mà bỏ qua các biện pháp có giá trị khác nhƣ ẩn dụ, hốn dụ, nhân hóa, tƣợng
trƣng… (Nếu có chăng chỉ mới nêu tên biện pháp mà không đi vào khảo sát,
thống kê, miêu tả!)
7
Từ góc độ thi pháp, Hồ Thế Hà đã tiếp cận “Thế giới nghệ thuật thơ
Chế Lan Viên” trên các bình diện: quan niệm nghệ thuật, tính triết lí, khơng –
thời gian nghệ thuật, và phƣơng thức biểu hiện. Trong các phƣơng thức biểu
hiện của thơ Chế, tác giả nhấn mạnh đến hai biện pháp nghệ thuật là biện
pháp đối lập và biện pháp so sánh. Trong đó, biện pháp so sánh đƣợc nhà
nghiên cứu ƣu ái khảo sát cặn kẽ hơn (trong 16 trang đề cập đến biện pháp tu
từ thì có đến 12 trang dành cho biện pháp so sánh!). Hồ Thế Hà chỉ sử dụng
rất ít những dẫn chứng trong Di cảo thơ và hầu nhƣ không đƣa ra bất kì số
liệu khảo sát cụ thể nào về cấu trúc so sánh trong tập thơ này. Những biện
pháp tu từ khác theo quan hệ liên tƣởng hầu nhƣ khơng đƣợc tác giả này nhắc
đến.
Đồn Trọng Huy với chuyên luận giá trị “Nghệ thuật thơ Chế Lan
Viên”, đã dành hẳn một chƣơng nói về ngơn ngữ thơ. Trong chƣơng đó, tác
giả đã đƣa ra nhận xét: ngơn ngữ thơ Chế có mật độ tu từ đậm đặc. Đồn
Trọng Huy đã đƣa ra các lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh Chế Lan Viên có sự
chú trọng phép tu từ toàn diện. Chế sử dụng cả tu từ từ vựng, tu từ âm thanh,
tu từ ngữ nghĩa trong các thi phẩm của mình. Trong phần tu từ ngữ nghĩa, tác
giả cơng trình đã nêu tên các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tƣởng đã đƣợc
Chế Lan Viên sử dụng nhƣ nhân hóa, hốn dụ, tƣợng trƣng. Tuy nhiên, do
tính chất khái qt của chun luận nên Đồn Trọng Huy chỉ nêu và đƣa ra
một vài câu thơ làm dẫn chứng chứ không đi vào khảo sát chi tiết, cặn kẽ từng
biện pháp. Và hầu nhƣ khơng có câu thơ nào trong Di cảo thơ đƣợc tác giả sử
dụng làm ngữ liệu. Đoàn Trọng Huy đặc biệt nhấn mạnh đến phép so sánh tu
từ “So sánh nghệ thuật là sức mạnh ngôn ngữ chủ yếu của thơ Chế Lan Viên”
[19, tr.99]. Tác giả thật sự đã có những phát hiện và đƣa ra những lí giải sâu
sắc về các dạng so sánh nghệ thuật, phân tích vẻ đẹp hình tƣợng và giá trị
nhận thức của so sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên. Điều đáng chú ý là
8
trong mỗi dạng so sánh tu từ, tác giả phát hiện ra các “tiểu cấu trúc” và gọi
tên. Hơn thế, mỗi dạng so sánh, Đoàn Trọng Huy đều đƣa ra những con số
thống kê rất cụ thể, chi tiết và có sự đối sánh với so sánh nghệ thuật trong thơ
Tố Hữu. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này chỉ mới khảo sát Di cảo 1, còn hai
tập còn lại (giá trị khá lớn) chƣa có đƣợc sự quan tâm cần thiết. Bên cạnh đó,
ý nghĩa của so sánh nghệ thuật cũng chỉ mới đƣợc rút ra ở tầm đại thể. Một số
vai trò khác của so sánh nghệ thuật, đặc biệt trong Di cảo thơ chƣa đƣợc nhắc
đến.
Nguyễn Bá Thành khi “Đọc hai tập Di cảo thơ” đã đƣa ra những nhận
định của mình về giọng điệu và hình ảnh thơ. Về giọng điệu, ông cho rằng
chất giọng chủ đạo của hai tập thơ là “đơn l , não nùng và có phần chua chát”
[40, tr.154], đó là “một cung bậc rất trầm, rất thấp nhƣ một thứ âm thanh thì
thào, có khi đứt qng” [40, tr.155]. Về hình ảnh thơ, Nguyễn Bá Thành cho
rằng thơ Chế Lan Viên không cịn những hình ảnh thơ chói lọi, rực r mà
mang một màu sắc ảm đạm. “Nhƣ vậy, vào những năm cuối đời, Chế Lan
Viên đã thay đ i khá nhiều về giọng thơ, hình ảnh thơ, âm điệu thơ và cả
phƣơng pháp tƣ duy. Đó khơng phải là sự cách tân mà chủ yếu là sự ph c hồi
cách cảm, cách nghĩ của nhà thơ thời trƣớc Cách mạng tháng Tám. Phƣơng
pháp tƣ duy ấy là “lộn trái” thơ” [40, tr.158]. Bài viết của tác giả này có bàn
tới một vài khía cạnh nghệ thuật của Di cảo thơ (I và II) nhƣng nghiên cứu
một cách có hệ thống những yếu tố nghệ thuật này thì cịn đang bỏ ngỏ.
Nhìn nhận phép so sánh tu từ từ góc độ “Ngơn ngữ học so sánh”, Trần
Thị Ánh Thu khi thực hiện luận án tiến sĩ “Phép so sánh tu từ trong thơ Chế
Lan Viên và thơ Tố Hữu” đã rút ra những nét tƣơng đồng và khác biệt giữa
các dạng cấu trúc cũng nhƣ ý nghĩa của các so sánh tu từ trong sáng tác của
hai nhà thơ lớn của dân tộc. Luận án cũng đã khẳng định nét riêng của so sánh
nghệ thuật trong thơ Chế trong sự đối sánh với thơ Tố Hữu: “Phép so sánh tu
9
từ trong thế giới thơ Chế Lan Viên phần nào nghiêng về sự phát hiện của lý
trí: Hình ảnh giàu tính trực giác của ơng rất phong phú, đa dạng, mới lạ, độc
đáo, tinh vi, dễ khơi gợi sự ham hiểu biết ở ngƣời đọc; tuy nhiên, đôi lúc chƣa
thực sự đến với ngƣời đọc bằng sức mạnh truyền cảm” [43, tr.1].
Các biện pháp tu từ liên tƣởng trong thơ Chế Lan Viên, cụ thể hơn là Di
cảo thơ là vấn đề không mới, đã đƣợc một số nhà nghiên cứu quan tâm. Các ý
kiến đều khẳng định đây là đặc điểm nổi bật của thế giới thơ Chế Lan Viên.
Những cơng trình đã nêu trên đây là một nguồn tài liệu vơ cùng q giá, giúp
chúng tơi có những tiền đề, cơ sở ban đầu cho việc tìm tịi, khảo sát của mình.
Tuy nhiên, do qui mơ bài viết cũng nhƣ do mục đích nghiên cứu, vấn đề này
vẫn chƣa đƣợc đi sâu nghiên cứu thành hệ thống nhƣ một vấn đề độc lập.
Thêm vào đó, theo hiểu biết của chúng tơi, hầu nhƣ cũng chƣa có cơng trình
nào tập trung phân tích Di cảo thơ dƣới góc độ ngôn ngữ, cụ thể hơn là các
biện pháp tu từ liên tƣởng trong tập thơ này và sự tác động của nó với tƣ duy
thơ Chế. Do đó, “Các biện pháp tu từ liên tƣởng và tƣ duy thơ Chế Lan Viên
qua ba tập Di cảo” vẫn là một đề tài hấp dẫn, khơi gợi nhiều hứng thú, vẫn là
một mảnh đất màu m dành cho những ai mang trong mình niềm đam mê
khai phá những điều mới lạ…
10
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƢỞNG
1.1.1. Khái quát về các biện pháp tu từ
a. Khái niệm
Cù Đình Tú trong “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” từng
nhận định: “Một trong những đóng góp đáng kể của Bhetorica (Mĩ từ pháp c
đại) là phát hiện ra các “Figura” – “Cách tu từ”. Trong tiếng La tinh,
“Figura” có nghĩa là hình thức, bóng bẩy. Ở tiếng Việt, các nhà nghiên cứu
Ngữ Văn đã dùng các thuật ngữ: phép mĩ từ, biện pháp tu từ, cách tu từ” [44,
tr.266 - 267]
Với tƣ cách là một thuật ngữ của mĩ từ pháp, “Figura” - các biện pháp
tu từ đƣợc quan niệm là những cách thức, những hình thức diễn đạt bóng bẩy,
gợi cảm, có sức hấp dẫn, lơi cuốn trong khi trình bày nhằm nâng cao hiệu lực
của ngơn ngữ.
b. Tác dụng
Vận dụng các biện pháp tu từ là một trong những con đƣờng chủ yếu để
nâng cao hiệu quả của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đặc biệt, trong văn
học nghệ thuật, việc sử dụng một cách đắc địa và sáng tạo các biện pháp tu từ
sẽ làm nên giá trị độc đáo, đặc biệt của các tác phẩm văn chƣơng, góp phần
khẳng định tƣ duy và tài năng của ngƣời nghệ sĩ.
c. Phân loại
Hiện nay, có hai cách phân loại các biện pháp tu từ. Đó là dựa vào các
phƣơng tiện ngôn ngữ và dựa vào các quan hệ ngôn ngữ.
Dựa vào các phƣơng tiện ngôn ngữ, ngƣời ta phân chia thành:
- Các biện pháp tu từ ngữ âm
- Các biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa
11
- Các biện pháp tu từ ngữ pháp
Dựa vào các quan hệ ngôn ngữ, ngƣời ta phân chia thành:
- Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tƣởng
- Các biện pháp tu từ theo quan hệ tổ hợp
1.1.2. Các biện pháp tu từ liên tƣởng
Cơ sở ngôn ngữ để cấu tạo nên các phƣơng thức biểu hiện về ngữ nghĩa
là hai trục liên tƣởng và tổ hợp. Đây là cơ sở để phân loại và miêu tả các
phƣơng thức biểu hiện về mặt ngữ nghĩa trong tiếng Việt. Dựa vào đây, ngƣời
ta cũng phân chia các biện pháp tu từ thành hai loại: theo quan hệ liên tƣởng
và theo quan hệ tổ hợp.
Đặc điểm chung của các cách tu từ theo quan hệ liên tƣởng là: trong
một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tƣợng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa. Ở
đây, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tƣợng này (theo từ điển) nay đƣợc lâm
thời chuyển sang biểu thị đối tƣợng khác dựa trên cơ sở một quan hệ liên
tƣởng nhất định. Quan hệ liên tƣởng này có thể là: liên tƣởng nét tƣơng đồng
(khía cạnh giống nhau) hoặc liên tƣởng có tính logic khách quan về mối quan
hệ có thực xảy ra giữa hai đối tƣợng .
Việc chia nhỏ các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tƣởng tùy thuộc vào
đặc trƣng của từng đối tƣợng A, B và đặc trƣng của mối quan hệ liên tƣởng.
Dựa vào đó, các nhà ngơn ngữ học thống nhất phân chia các biện pháp tu từ
thuộc loại này thành sáu biện pháp nhỏ: so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, hốn dụ tu
từ, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ và tƣợng trƣng.
a. So sánh tu từ
a1. Khái niệm
“So sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu hai
hay nhiều đối tƣợng khác loại có cùng một nét giống nhau nào đó nhằm diễn
tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tƣợng” [44, tr.272]
12
a2. Cấu trúc
Ở dạng đầy đủ nhất, so sánh nghệ thuật có cấu trúc nhƣ sau:
Cái đƣợc so
Cơ sở so sánh
Từ ngữ biểu
Cái dùng để so sánh
đạt quan hệ
sánh
so sánh
Ông ấy
hiền
nhƣ
đất (Tơ Hồi)
Khói
đậm đà
nhƣ
vị mật (Nam Cao)
Con bé
ríu rít
nhƣ
chim s (Nguyên Hồng)
Trong cấu trúc của so sánh tu từ, các yếu tố nhƣ cơ sở so sánh, từ ngữ
biểu đạt quan hệ so sánh có thể vắng mặt. Hai vế đặt trong mối tƣơng quan là
vế đƣợc so sánh (kí hiệu A) và vế dùng để so sánh (kí hiệu B) nhất thiết phải
xuất hiện trong cấu trúc này. Trong đó, A là cái chƣa biết, B là cái đã biết, cái
đƣợc dùng làm chuẩn. Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để làm sáng tỏ
A một cách cụ thể và hấp dẫn.
a3. Các kiểu so sánh tu từ
- Kiểu A nhƣ (tựa, tựa nhƣ) B
Ví dụ: Đôi ta nhƣ lửa mới nhen
Nhƣ trăng mới mọc, nhƣ đèn mới khêu
(Ca dao)
Trong đó: A là Đơi ta
B là lửa mới nhen, trăng mới mọc, đèn mới khêu
- Kiểu … bao nhiêu … bấy nhiêu
Ví dụ: Qua cầu ngả nón trơng cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
(Ca dao)
Trong đó, A là nỗi sầu của dạ
13
B là nhịp của cầu
- Kiểu A là B
Ví dụ: Nhân dân là bể
Văn nghệ là thuyền
Thuyền xơ sóng dậy
Sóng đẩy thuyền lên
(Tố Hữu)
Trong đó, A là nhân dân, văn nghệ
B là bể, thuyền
- Kiểu A // B hay so sánh song hành (kiểu so sánh đặt 2 vế song song và lƣợc
bớt từ so sánh)
Ví dụ: Miệng quan – trơn tr
Lời nói – đọi máu
(Tục ngữ)
a4. Giá trị phong cách
So sánh nghệ thuật đƣợc dùng rộng rãi trong nhiều phong cách: phong
cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong
cách ngôn ngữ văn chƣơng.
Về mặt tiêu chí, xét giá trị một so sánh nghệ thuật cũng cần phải có
những xác định cơ bản. Thƣờng so sánh nghệ thuật đƣợc coi là “đắt”, giàu
phẩm chất mĩ học khi:
+ Các đối tƣợng đƣa ra so sánh là khác loại (thậm chí càng xa nhau
càng dễ gây bất ngờ, kì thú)
+ Nêu đúng những nét giống nhau (dấu hiệu tƣơng đồng) giữa hai đối
tƣợng, gợi lên mối liên tƣởng mới mẻ, độc đáo và bất ngờ.
+ Có nghĩa hàm ngơn phong phú và sâu sắc, có giá trị nhận thức cao.
14
Đây là một biện pháp rất hiệu quả để miêu tả các đối tƣợng, sự vật. Nhờ
các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tƣởng, các yếu tố trừu tƣợng đƣợc cụ
thể hóa và trở nên gợi cảm. So sánh tu từ cũng là một cách thức xây dựng
hình ảnh trong ngơn ngữ văn chƣơng, tạo nên tính hình tƣợng, làm nên sức
hấp dẫn của tác phẩm và góp phần quan trọng vào sự thể hiện tƣ duy nghệ
thuật, phong cách - tài năng ngƣời nghệ sĩ. “So sánh mang đặc trƣng của
phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả… Có ngƣời ƣa
dùng cách so sánh mang màu sắc trí tuệ, có ngƣời ƣa so sánh mộc mạc, chân
chất, chính xác và pha màu hài hƣớc nhƣ văn học dân gian…” [5, tr.103]. Đề
tài khảo sát phép so sánh tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là một
đề tài của phong cách học tham gia vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn
chƣơng.
b. Ẩn dụ tu từ
b1. Khái niệm
“Ẩn d tu từ (hay ẩn d nghệ thuật) là cách cá nhân lâm thời lấy tên
gọi của đối tƣợng này để biểu thị đối tƣợng kia trên cơ sở của mối quan hệ
liên tƣởng về những nét tƣơng đồng giữa hai đối tƣợng” [44, tr.279]
Ví dụ:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mơng nhƣờng nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
(Xuân Quỳnh)
Trong khổ thơ có hình ảnh thuyền và biển nhƣng không phải là thuyền
và biển của hiện thực khách quan mà đã là chàng trai và cô gái trong mối quan
hệ không thể tách rời.
Không chỉ trong văn chƣơng mà ngay cả trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng
ngày, ta cũng gặp những ẩn dụ. Chẳng hạn, ngƣời mẹ nựng con là “con cún
15
con”, “con mèo hen”, “con voi còi” của mẹ. Hoặc khi ngƣời mẹ tức giận gọi
con là “đồ quỉ sứ”, “thằng giặc”, “thằng giời con”. Trong những phát ngôn
nhƣ: “Bao nhiêu của tiền đem nƣớng vào sòng bạc hết rồi”, “làm ăn gãy cầu,
bay luôn cả chục cây vàng” đều có ẩn dụ tu từ.
b2. Cấu trúc
Qua những ví dụ trên có thể thấy trong ẩn dụ tu từ cũng có hai yếu tố là
cái đƣợc ẩn d và cái dùng để ẩn d . Nhƣng trên bề mặt ngôn bản, cái đƣợc
ẩn d không xuất hiện trực tiếp. Do đó ẩn dụ cịn đƣợc gọi là so sánh ngầm.
b3. Các kiểu ẩn d tu từ
Cơ sở để tạo nên ẩn dụ là những nét tƣơng đồng giữa các sự vật, hiện
tƣợng, hoạt động, trạng thái, cảm giác. Vì thế, có bao nhiêu khả năng tƣơng
đồng sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ.
Có ba loại ẩn dụ tu từ chủ yếu: ẩn dụ chân thực, ẩn dụ bổ sung, ẩn dụ
tƣợng trƣng.
- Ẩn d chân thực: Là những ẩn dụ đƣợc cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những
nét tƣơng đồng giữa các sự vật, các hoạt động, các tính chất, các trạng thái…
Ví dụ:
+ Ẩn dụ - tƣơng đồng giữa các sự vật
Con sông kia bên lở bên bồi
Một con cá lội biết mấy người buông câu
(Ca dao)
Trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các hình ảnh “một con cá
lội”, “mấy ngƣời bng câu” sẽ có những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau. Trong ý
nghĩa chung nhất, hai hình ảnh ấy ẩn dụ cho mối lợi và những ngƣời cầu lợi.
+ Ẩn dụ - tƣơng đồng về tính chất
Đầu tƣờng lửa lựu lập lịe đâm bông
(Nguyễn Du)
16
Hoa lựu có màu đỏ nhƣ màu lửa. Vì thế, Nguyễn Du đã dùng “lửa” để
biểu thị “hoa”.
+ Ẩn dụ - tƣơng đồng về hoạt động
Lịng em đã quyết thì hành
Đã cấy thì gặt với anh một mùa
(Ca dao)
“Cấy”, “gặt” ẩn dụ cho hành trình tình u và hơn nhân của đôi lứa.
+ Ẩn dụ - tƣơng đồng về trạng thái
Cứ nghĩ: Hồn thơm đang tái sinh
Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh
(Tố Hữu)
Câu thơ của Tố Hữu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Ngơi sao lặn” và
“Bác Hồ qua đời” có trạng thái nhƣ nhau (khơng cịn). “Sao lặn” biểu thị Bác
Hồ từ trần.
- Ẩn d b sung (ẩn d chuyển đ i cảm giác): là sự thay thế một cảm giác này
bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng nhƣ trong diễn đạt bằng ngơn
ngữ.
Ví dụ: Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ta vẫn thƣờng nghe “thấy
nóng”, “thấy thơm”, “thấy đói cồn cào”, “lời nói ngọt ngào”, “giọng nói ấm
áp”, “tiếng cƣời giịn tan”, “câu chuyện nhạt nhẽo”, “xấu không ngửi đƣợc”…
Trong văn chƣơng, ẩn dụ bổ sung đƣợc sử dụng khá phổ biến và tạo ra một
hiệu quả nghệ thuật rõ rệt. Hãy đọc một câu văn xi và một câu thơ có mặt
ẩn dụ bổ sung:
“Mà bên nƣớc tơi thì đang bừng lên cái nắng bốn giờ chiều, cái nắng
đậm đà của mùa thu biên giới, cái thứ nắng hanh đang sấy khô gió Tây Trang
và đang mài sắc thêm tiếng động của hoa lau phất cờ trong bóng núi”
(Nguyễn Tuân).
17
“Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn nhƣ lệ ngân”
(Xuân Diệu)
- Ẩn d tƣợng trƣng: Là những ẩn dụ có tính chất tƣợng trƣng, mang ý nghĩa
biểu tƣợng.
Ví dụ: “Đất nƣớc Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ
bỗng bừng lên buổi bình minh của thời đại” (Lê Duẩn)
b4. Giá trị phong cách
Ẩn dụ tu từ là biện pháp đƣợc dùng rộng rãi trong các phong cách tiếng
Việt: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách khoa
học, phong cách ngơn ngữ văn chƣơng.
Là một công cụ để bày tỏ sự nhận thức sâu sắc về đối tƣợng, ẩn dụ tu từ
đòi hỏi ngƣời tạo lập cũng nhƣ ngƣời tiếp nhận phải căn cứ vào các nhân tố
nhƣ văn cảnh, nhân tố logic và nhân tố thói quen thẩm mĩ để có thể sáng tạo
cũng nhƣ khám phá đƣợc ý nghĩa, giá trị của các hình ảnh ẩn dụ.
Bên cạnh chức năng nhận thức, sức mạnh đặc biệt của ẩn dụ là biểu
cảm nhờ thơng qua lối nói hình ảnh, kín đáo. “Ẩn d là một cấu tạo ngôn ngữ
hết sức mềm d o… Đó là qui luật của một lối diễn đạt lấy cực nọ biểu hiện
cực kia: lấy xa nói gần, lấy vịng nói thẳng, lấy kín nói hở, lấy ít nói nhiểu…
Paul từng nhận định: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của
ẩn d là cảm xúc” [5, tr.105]. Có những ẩn dụ chứa đựng những nội dung
biểu hiện rất súc tích. Nội dung biểu hiện này có thể đƣợc hiểu theo nhiều
cách, cách này gần gũi với cách kia, bổ sung cho cách kia mà vẫn không
chống đối nhau, loại trừ nhau. Những ẩn dụ tốt, sâu sắc, gợi cho ta nhiều suy
nghĩ, cảm xúc thƣờng đƣợc cấu tạo nhƣ vậy.
Ẩn dụ tu từ đƣợc sử dụng nhiều nhất là trong các loại hình ngơn ngữ
nghệ thuật vì đây là một phƣơng tiện diễn đạt có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Các
18
nhà văn, nhà thơ tài năng thƣờng sáng tạo đƣợc những ẩn dụ bất ngờ, lí thú và
có tính hàm súc cao, khơi gợi nhiều liên tƣởng thú vị, có chiều sâu ở ngƣời
đọc. Qua ẩn dụ tu từ, ngƣời ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về ngƣời
sử dụng. Khảo sát phép ẩn dụ tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là
một đề tài thú vị của phong cách học tham gia vào việc nghiên cứu ngơn ngữ
văn chƣơng.
c. Hốn dụ tu từ
c1. Khái niệm
“Hoán d tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tƣợng này
dùng để biểu thị đối tƣợng kia dựa trên mối quan hệ liên tƣởng logic khách
quan giữa hai đối tƣợng” [44, tr.297].
Ví dụ:
Áo chàm đƣa bu i phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hơm nay
(Tố Hữu)
Áo chàm (áo bằng vải thơ, nhuộm màu chàm đậm đà, bền bỉ) dùng để
biểu thị đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc (mộc mạc, giản dị, thủy chung).
c2. Cấu tạo
Về mặt cấu tạo, hoán dụ tu từ cũng có hai yếu tố là cái đƣợc hoán d và
cái dùng để hoán d . Nhƣng trên bề mặt ngơn bản, cái đƣợc hốn d khơng
xuất hiện trực tiếp.
c3. Các loại hoán d tu từ
Cơ sở để tạo nên hoán dụ là quan hệ logic khách quan, quan hệ tiếp cận
giữa các sự vật, hiện tƣợng, trạng thái, cảm giác. Vì thế, có bao nhiêu mối
quan hệ sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo hốn dụ tu từ.
Các loại hoán dụ tu từ thƣờng gặp:
- Cải số: Hoán dụ theo quan hệ giữa số lƣợng với số lƣợng
19
Cầu này cầu ái cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
(Ca dao)
Một trăm: nhiều lắm
- Cải dung: Hoán dụ theo quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa
Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Ngƣời – Hồ Chí Minh
(Tố Hữu)
Trái đất: nhân loại
- Cải danh: Hoán dụ theo quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ chung
Thời đại ta có rất nhiều Võ Thị Sáu.
Võ Thị Sáu: ngƣời thiếu nữ anh hùng.
- Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể
Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến q nửa thì chƣa thơi
(Nguyễn Du)
Đầu xanh: ngƣời trẻ tuổi
Má hồng: thân phận hồng nhan
c4. Giá trị phong cách
Hoán dụ tu từ đƣợc dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ: phong cách
khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách ngơn ngữ văn chƣơng.
Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức, nhằm nhấn mạnh đặc
điểm của đối tƣợng đang đƣợc thể hiện. Dấu hiệu hoặc thuộc tính này đƣợc
dùng làm cái đại diện, cái thay thế cho đối tƣợng. Biện pháp này gợi ra những
nhận thức sâu sắc về thế giới khách quan, làm cho ngôn ngữ thêm sinh động.
Tài năng của ngƣời nói thể hiện ở chỗ chỉ ra đƣợc đặc điểm có thực nào là
chính xác nhất, tiêu biểu nhất cho đối tƣợng định miêu tả, điều mà ngƣời khác
20
khơng nghĩ đến. Những hốn dụ tu từ tốt, gây cho ngƣời đọc những suy nghĩ
sâu sắc, mới mẻ, bất ngờ chính là những hốn dụ tu từ thỏa mãn những điều
kiện nói trên.
Đây cũng là một trong những phƣơng cách để xây dựng hình tƣợng
nghệ thuật. Sức mạnh của hốn dụ “vừa ở tính cá thể hóa và tính c thể, vừa ở
tính biểu cảm kín đáo và sâu sắc” [5, tr.113]. Qua hoán dụ, các nhà văn, các
nhà thơ có điều kiện thể hiện tài năng quan sát, phát hiện riêng của mình.
Khảo sát hốn dụ tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là một đề tài
thú vị thuộc loại vận dụng phong cách học vào việc nghiên cứu văn học.
d. Nhân hóa và vật hóa (nhân cách hóa và vật cách hóa)
d1. Nhân hóa
- Khái niệm:
“Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, hoạt động của
ngƣời để biểu thị thuộc tính, hoạt động của đối tƣợng khác loại dựa trên mối
quan hệ liên tƣởng nét tƣơng đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa ngƣời và
đối tƣợng khơng phải ngƣời (khác loại)” [44, tr.289]
Ví dụ:
Trong ngơn ngữ hàng ngày, ta vẫn thƣờng nghe: “cửa cống kêu rống
lên”, “đá đ mồ hơi”, “lúa đang thì con gái”, “lúa chín q giấc”, “na mở
mắt”…
Trong ca dao, nhân hóa khá phổ biến:
Vì sƣơng nên núi bạc đầu
Biển lay bởi gió hoa sầu vì mƣa
Hay:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Đèn thương nhớ ai
21
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mà mắt không yên…
Nhân hóa đã khiến cho ngoại giới trở thành nội giới. Vì thế, trong thơ
văn hiện đại, nhân hóa cũng là một biện pháp tu từ đắc dụng:
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối
Đêm bâng khng đơi miếng lẫn trong cành
(Xuân Diệu)
hoặc: “Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già ngủ im
lìm” (Nguyễn Minh Châu).
- Phân loại:
Dựa vào cách cấu tạo, ta có thể phân chia nhân hóa thành hai loại:
+ Thứ nhất là dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của ngƣời để
biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tƣợng không phải ngƣời. Chẳng
hạn:
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong
vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng, giữ nƣớc, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa
chín. Tre hi sinh để bảo vệ con ngƣời. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng
chiến đấu!
(Thép Mới)
+ Thứ hai là coi đối tƣợng không phải con ngƣời nhƣ con ngƣời và đối
thoại tâm tình với chúng. Chẳng hạn:
Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời, chẳng thấy ngƣời thƣơng
(Ca dao)
- Giá trị phong cách: