1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đề tài:
CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Người hướng dẫn:
TS. Lê Đức Luâ ̣n
Người thực hiện:
Phan Thi Kim
Chi
̣
Đà Nẵng, tháng 5/2013
2
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Cuộc sống của con người khơng thể tách rời việc giao tiếp. Có hai
phương tiện giao tiếp cơ bản trong đời sống con người, đó là giao tiếp bằng
phương tiện ngôn ngữ và giao tiếp bằng phương tiện phi ngơn ngữ. Trong đó,
hội thoại là hình thức giao tiếp quan trọng nhất của con người với ngơn ngữ là
phương tiện chủ yếu. Vì vậy, hội thoại và lý thuyết hội thoại là những vấn đề
gắn bó chặt chẽ, mật thiết với đời sống hằng ngày của chúng ta. Nghiên cứu
về yếu tố nào đó của hội thoại cũng sẽ giúp ta hiểu hơn về tâm lý, tích cách,
cử chỉ , thái độ, ngơn ngữ,…của nhân vật giao tiếp.
Là một loại hình của nghệ thuật ngữ văn dân gian, ca dao thơng qua
những tín hiệu ngơn ngữ đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình
tượng thẩm mĩ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những
suy tư và diễn biến tình cảm của con người. Ngôn ngữ ca dao vừa là ngơn ngữ
thơ, cũng vừa là ngơn ngữ giao tiếp. Chính vì thế, nó mang trong mình một
hình thức diễn đạt đặc biệt, giao tiếp bằng thơ. Hay nói cách khác, văn bản ca
dao là một đơn vị giao tiếp được hình thành từ lối sinh hoạt diễn xướng giao
duyên nên mang đặc điểm của văn bản hội thoại. Đặc trưng hội thoại đã chi
phối cấu trúc của ca dao.
Cuộc sống và tâm hồn dân tộc được thể hiện sinh động trong ca dao
bằng chính những tín hiệu ngơn ngữ với một hình thức diễn đạt đặc biệt mà
trong đó, hội thoại là hình thức phổ biến đặc sắc. Nó thể hiện được khơng khí
diễn xướng, khung cảnh hội thoại, thể hiện cả tâm tư tình cảm, mong muốn,
khát vọng của những người tham gia hội thoại. Mà qua đó, ta có thể nhìn thấy
được tài ứng đối, trí thơng minh, khả năng vận dụng tài tình của nhân dân lao
động.
3
Bởi những lẽ đó, khi nghiên cứu về ca dao hay hội thoại, sẽ thiếu sót
lớn nếu ta chỉ nghiên cứu một cách riêng biệt mà không lồng ghép việc
nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn hội thoại. Với đề tài Cấu trúc hội thoại
trong ca dao người Viê ̣t, chúng tôi hi vọng mang lại một hướng tiếp cận mới
về ca dao nói chung và thi pháp ca dao nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Những năm gần đây, việc nghiên cứu ca dao đã có bước phát triển vượt
bậc. Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến nhiều lĩnh vực của ca dao như thi pháp,
thể thơ, kết cấu, lời, thời gian khơng gian nghệ thuật, hình ảnh biểu tượng, đặc
điểm ngôn ngữ…. Bên ca ̣nh đó, các công trình nghiên cứu về về lí thuyết ngữ
dụng học và ứng dụng lí thuyết ngữ dụng học vào phân tích hội thoại tiếng
Việt thì la ̣i rấ t phong phú. Tuy nhiên, vấ n đề tiế p câ ̣n ca dao dưới góc nhiǹ
ngữ du ̣ng ho ̣c lại cịn khá hiếm hoi, đặc biệt vấ n đề “Cấu trúc hội thoại trong
ca dao” thì chưa có một cơng trình nghiên cứu chuyên biệt nào . Tuy vâ ̣y, ta
có thể điể m qua mô ̣t số nghiên cứu có đề câ ̣p đế n, hoặc liên quan đến viê ̣c
phân tích đă ̣c trưng cấu trúc hô ̣i thoa ̣i trong ca dao.
Với việc tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp,trong cuốn Thi
pháp ca dao (2007, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội), Nguyễn Xn
Kính có đề cập đến vấn đề này ở phần “các dạng kết cấu”. Tác giả đã chỉ ra
các dạng kết cấu chính trong ca dao, trong đó có kết cấu hai vế, đề cập đến
khả năng hội thoại, đối đáp trong ca dao. Ví như câu ca dao sau:
“Mình về có nhớ ta chăng?
Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình
Ta về ta cũng nhớ mình
Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao.”
Bài “Ngơn ngữ ca dao Việt Nam” của Mai Ngọc Chừ, đăng trên tạp chí
Văn học số 2,1991 trình bày rõ đặc điểm ngơn ngữ ca dao: ““Ngôn ngữ ca
4
dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt: nó có
cả những đặc điểm tinh t của ngơn ngữ văn học đồng thời nó cịn là sự vận
dụng linh hoạt, tài tình có hiệu quả của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại
vào một loại ngơn ngữ truyền miệng. Chính sự kết hợp giữa ngơn ngữ nói,
ngơn ngữ hội thoại với ngơn ngữ văn học tạo nên những đặc điểm riêng biệt
độc đáo của ca dao.”.
Trong bài viết Bài ca dao Tát nước đầu đình từ góc nhìn ngữ dụng học đăng
trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7, 2004, Đỗ Thị Kim Liên đã vận dụng
lí thuyết hành động ngơn ngữ và lí thuyết chiếu vật và chỉ xuất để xác định
các hành động nói và vai giao tiếp, thời gian và khơng gian trong một bài ca
dao từ góc độ tiếp cận văn bản.
Tác giả Hoàng Kim Ngọc (2009) với cơng trình nghiên cứu So sánh và
ẩn dụ trong ca dao trữ tình - dưới góc nhìn ngơn ngữ - văn hố học, đã tiếp
cận ca dao từ góc nhìn của lí thuyết giao tiếp bằng ngơn ngữ và phân tích diễn
ngơn; xem lối đối đáp giao dun là một hình thái đặc biệt của giao tiếp bằng
ngơn ngữ. Từ đó, tác giả vận dụng các lí thuyết về so sánh và ẩn dụ của ngôn
ngữ học để nghiên cứu ẩn dụ và so sánh trong ca dao.
Trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2009, nhà xuất bản đại
học Huế) Lê Đức Luận cũng có bàn đến vấn lời đơn và lời đôi trong cấu trúc
giao tiếp. Tác giả nhấn mạnh: ““Vận dụng lý thuyết hội thoại vào xem xét
cấu trúc nội dung lời ca là một việc làm cần thiết và đúng hướng…Khi phân
tích lời đơn (khơng có cấu trúc đối đáp trên văn bản), chúng ta cần phải xác
định rõ nó có dấu hiệu cấu trúc đối đáp khơng, nếu khơng thì cần xác định rõ
nó là lời đối hay lời đáp trên văn bản để lần tìm ra nguyên cớ cho cấu trúc
nội dung của lời ca, chìa khố khám phá nội dung ý nghĩa của lời ca”.
Ngồi ra cịn có một loạt các nghiên cứu, các bài viết, bài bình giảng,
phân tích đề cập đến vấn đề này.
5
Như vậy có thể thấy vấn đề hội thoại trong ca dao đã và đang được các
nhà nghiên cứu khai thác tìm hiểu trong cả những nghiên cứu chung về ca
dao, thi pháp ca dao và nghiên cứu chuyên về ngôn ngữ cấu trúc. Tuy nhiên,
trên thực tế vẫn chưa có cơng trình nào nghiên cứu “Cấu trúc hội thoại trong
ca dao” một cách chuyên biệt. Trên cơ sở những kết quả các cơng trình
nghiên cứu trên,và khoảng trống vấn đề chưa được nghiên cứu, chúng tôi đã
học hỏi được rất nhiều điều và có được những kiến thức cần thiết để đi sâu,
tiến tới việc nghiên cứu cấu trúc hội thoại trong ca dao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Cấu trúc hội thoại trong ca dao
người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là khảo sát cuốn Kho tàng ca dao người Viê ̣t, (bố n
tập), 1995. Nxb Văn hóa Thông tin.
4. Các phương pháp nghiên cứu
Để hồn thành đề tài này chúng tơi đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
-Phương pháp thống kê, tổng hợp
-Phương pháp phân tích, so sánh
-Phương pháp nhận xét, đánh giá
7. Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Chương mơ ̣t: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương hai: Đặc trưng cấu trúc hội thoại trong ca dao người Viê ̣t
Chương ba: Văn hóa ứng xử giao tiếp trong ca dao
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Ca dao và đặc trưng hội thoại trong ca dao
1.1.1. Đặc trưng ca dao người Việt
Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Nếu
định nghĩa theo từ ngun thì “ca” là bài hát có khúc điệu hoặc có âm nhạc
kèm theo, cịn dao là bài hát trơn, khơng có khúc điệu. Ca dao là từ ghép chỉ
toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc khơng có
khúc điệu. Như vậy, có thể thấy thuật ngữ ca dao và thuật ngữ dân ca hầu như
khơng có ranh giới rõ rệt. Song trong thực tế khi giới tri thức trước đây sưu
tập các câu hát và bài hát dân gian, họ chỉ quan tâm ghi chép phần lời thơ của
những sáng tác ấy, cho nên thuật ngữ ca dao của họ dùng để gọi tên những
ghi chép ấy đã có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca: Nó chỉ phần lời thơ của
những sáng tác dân gian.
Theo Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán thì “ca dao cịn gọi là
phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Theo nghĩa gốc thì ca dao là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát khơng có
khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ tồn bộ những bài hát lưu hành phổ
biến trong dân gian có hoặc khơng có khúc điệu. Trong trường hợp này, ca
dao đồng nghĩa với dân ca, ca dao có thể là thơ dân gian truyền thống” [ 7,
tr.31]. Chu Xuân Diên cho rằ ng “ca dao là lời của bài hát dân ca đã tước bỏ
đi tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bẻ thành
những làn điê ̣u dân ca” [11, tr.411-437]. Lê Đức Luận đinh
̣ nghiã “ca dao là
7
lời các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vi ̣nh được lưu truyề n trong
dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” [18, 26].
Như vậy, ca dao có tương đố i nhiề u đinh
̣ nghiã . Tuy nhiên, ta có thể
hiể u chung nhấ t ca dao là những lời thơ dân gian được truyền miệng từ đời
này sang đời khác cho đến ngày nay.
Về nội dung, ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung
thực hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam; là kho tài liệu
phong phú về phong tục, tập quán trong các lĩnh vực đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân lao động. Lời ca dao cũng chính là tình cảm chân thành,
sâu sắc của người bình dân xưa đối với quê hương đất nước, với ông bà cha
mẹ, với bạn bè, người yêu… Cũng chính nhờ vào cách thể hiện tình cảm ý nhị
tinh tế và sâu sắc mà ca dao có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với người đọc qua
nhiều thế hệ. Đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu với lối hát đối đáp giao
duyên thể hiện tình u đơi lứa trong lao động, trong hội hè đình đám của các
chàng trai, cô gái. Nội dung của các câu ca dao này phản ánh mọi biểu hiện
sắc thái cung bậc tình u. Đó là những tình cảm thắm thiết, những niềm mơ
ước, những nỗi nhớ nhung da diết trong hoàn cảnh may mắn, hạnh phúc hay
những cảm xúc, lời than thở, ốn trách nảy sinh trước những tình huống rủi
ro, ngang trái đau khổ. Do đó, nghiên cứu ca dao cũng là hành trình tìm hiểu
tâm hồn, văn hố dân tộc.
Về hình thức, ca dao là thơ nhưng là một kiểu thơ riêng, có thể xem ca
dao đứng giữa ranh giới của thơ và lời nói có vần điệu. Ca dao cũng giống
như thơ là đều thể hiện các phương thức: kết hợp và lựa chọn, biểu hiện và
liên tưởng, sử dụng các biện pháp nghệ thuật chuyển nghĩa, sử dụng các thể
thơ,… Do tính đặc thù của phương thức diễn xướng và lưu truyền mà ca dao
khác với thơ ở khn hình cấu tạo, cấu trúc; về đặc trưng ngôn ngữ, tổ chức
ngôn ngữ,… Đa số văn bản ca dao có cấu tạo chỉ hai dịng thơ với cấu trúc
8
luôn thay đổi và bao gồm nhiều lượt lời nối tiếp nhau. Về đặc trưng ngơn ngữ,
ca dao có nhiều lời ca từ đồng dao, hát ví, hát đối mang tính khẩu ngữ được
lưu lại. Theo Mai Ngọc Chừ thì ca dao có cả đặc điểm tinh túy của ngơn ngữ
văn học đồng thời còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, hiệu quả ngơn ngữ
chung, ngơn ngữ hội thoại vào loại ngơn ngữ truyền miệng bằng thơ…
“Chính sự kết hợp giữa ngơn ngữ nói, ngơn ngữ hội thoại với ngôn ngữ gọt
dũa dã tạo nên đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao”. Theo tác
giả Hữu Đạt, ca dao cịn có tổ chức ngơn ngữ theo kiểu lắp ghép liên hành vi,
có khả năng dự đốn trước, có độ lặp cao về mơ hình kiến trúc và dễ tạo nên
các dị bản..
Có thể thấy rằng, ca dao là văn chương dân gian, mô ̣t thể loa ̣i đô ̣c đáo
trải qua nhiều thời kì lịch sử, đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội từ
xa xưa và lưu truyền cho đến ngày nay. Dọc theo chiều dài lịch sử dân tộc, ca
dao đã là vũ khí chống lại những xâm nhập văn hóa của nhiề u thế lực, là
thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Thơng qua những bài ca dao, chúng ta
có thể hình dung được đời sống sinh hoạt của nhân dân từ thời xưa. Đặc biệt,
ngôn ngữ giao tiếp của nhân dân đã được ca dao thể hiện rất chân thực, tự
nhiên, sinh động
1.1.2. Đặc trưng hội thoại trong ca dao
Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao, dân ca là đố i đáp nam nữ, vẫn mang những đặc
điể m chung nhấ t của lý thuyế t hô ̣i thoa ̣i và hô ̣i thoa ̣i trong cuộc sống đời
thường. Tuy nhiên, hô ̣i thoa ̣i trong ca dao là loa ̣i hô ̣i thoa ̣i đă ̣c thù, phù hơ ̣p
với môi trường diễn xướng và đă ̣c điể m của ca hát giao duyên. Cho nên, hô ̣i
thoa ̣i trong ca dao có những khác biêṭ so với hô ̣i thoa ̣i đời thường. Cấu trúc
hô ̣i thoa ̣i trong ca dao vì thế cũng bi ̣chi phố i bởi những điể m khác biêṭ ấ y. Cụ
thể như sau:
9
Khác với hô ̣i thoa ̣i trong cuô ̣c số ng đời thường, là những cuô ̣c hội thoa ̣i
với những lời ăn tiế ng nói hằ ng ngày, ngôn ngữ hô ̣i thoa ̣i thuô ̣c các phong
cách chức năng ngôn ngữ khác nhau và mỗi cuô ̣c thoa ̣i luôn gắ n liề n với mỗi
hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i khác nhau. Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao là hình thức hô ̣i thoa ̣i
bằ ng lời thơ đươ ̣c hát lên, sử du ̣ng ngôn ngữ thơ ca, mang tính nha ̣c điệu của
mỗi cuô ̣c hát nên tính truyề n cảm rấ t lớn, thường gắ n với những khung cảnh
riêng và tùy thuô ̣c vào tính chấ t của cuô ̣c thoa ̣i. Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao chủ
yế u là những bài hát giao duyên, những bài dân ca mang tính chấ t bóng bẩ y
của ngôn ngữ thơ, bay bổ ng của nhạc điệu. Những lời ca từ đó có nội dung
phản ánh đời sống nhiều mặt của nhân dân lao động thời xưa với ngơn ngữ
bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động nhưng nô ̣i dung
phong phú nhất của ca dao là lĩnh vực đề tài tình yêu nam nữ.
Sự phát triển của ca dao tình yêu phản ánh nhu cầu bộc lộ một loại tình
cảm và nhu cầu thực hiện sinh hoạt tình cảm phong phú của con người. Sự
phát triển của ca dao tình yêu cũng đồng thời được giải thích bởi sự phổ biến
rộng rãi và tồn tại lâu đời của sinh hoạt hát đối đáp nam nữ, một sinh hoạt ca
hát dân gian có nhiều gắn bó mật thiết với điều kiện lao động, phong tục, tập
quán xã hội và nghi lễ - tín ngưỡng của cư dân nơng nghiệp. Chính sự cần
thiết trong giao tiếp bày tỏ bộc lộ cảm xúc yêu thương chia sẻ mà ca dao cần
đến hội thoại.
Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao phầ n lớn là song thoa ̣i thể hiê ̣n tấ m lòng, nỗi ấ m
ức về tình yêu dồ n nén, không đươ ̣c yêu, hay yêu thầ m hay dang dở… Ca dao
tình u người Việt có những nhân vật trữ tình là chàng trai, cơ gái mang
những nét chung về diện mạo, tính cách và tâm hồn của thanh niên nam nữ ở
nông thôn thời phong kiến. Qua những lần đối thoại trao đổi giữa hai nhân vật
trữ tình đó, ca dao tình u nhiều khi bộc lộ một cách trực tiếp những quan
niệm về hôn nhân và tình yêu trai gái, tình yêu vợ chồng của những người lao
10
động xưa kia. Đồng thời, nhiều sắc thái tâm trạng như lòng khao khát yêu
đương, những e dè, băn khoăn trong bước đầu của quan hệ tình yêu, những
niềm vui và những nỗi đau khổ do tình yêu hạnh phúc và tình yêu đau khổ
đưa lại, những nỗi nhớ thương, những niềm mơ ước về cuộc sống
chung…Những vấn đề đó được miêu tả một cách chân thật, mộc mạc qua lời
trao, lời đáp đầy tinh tế.
Hô ̣i thoa ̣i bằ ng thơ tùy thuô ̣c vào mỗi cuô ̣c hát, mỗi cuô ̣c thoa ̣i là mỗi
cuô ̣c hát. Vì thế , tùy theo đă ̣c trưng của mỗi làn điêụ dân ca mà mỗi cuộc
thoa ̣i có những đă ̣c trưng vùng miề n nhấ t đinh
̣ như lời hát dân ca Quan họ
Bắ c Ninh khác Hò khoan Quảng Nam, khác những làn điê ̣u Ví dặm Nghê ̣
Tiñ h, hay Phường vải,… Sở di ̃ nói đế n yế u tố này là vì đă ̣c trưng hô ̣i thoa ̣i
vố n gắ n liề n với các yế u tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, gio ̣ng điêu,
̣ giai
điêu,…vố
n là những đă ̣c trưng của mỗi làn điêụ dân ca. Tâm lý của hô ̣i thoại
̣
là tâm lý giới tính, chủ yế u theo phe, theo nhóm, ít có tâm lí cá nhân. Vì trong
thời Phong kiế n, giữa hoàn cảnh nam nữ vố n khơng đươ ̣c gă ̣p nhau, khơng
được bày tỏ tình cảm một cảnh trực tiếp, cá nhân mà mỗi bài hát luôn là phải
là của tâ ̣p thể .
Như vâ ̣y, bằ ng phương thức thể hiện là hội thoại đã làm cho ca dao
mang tính trữ tình đậm đà và tính tư tưởng sâu sắc. Nghiên cứu về đă ̣c trưng
cấu trúc hội thoại, một mảng của hô ̣i thoa ̣i trong ca dao, ta sẽ thấ y đươ ̣c
những nét đô ̣c đáo của trí tuê ̣ dân gian và đặc trưng giao tiếp trong ca dao.
1.2. Hội thoại và cấu trúc hội thoại
1.2.1. Lý thuyết hội thoại
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Giao tiếp
có thể một chiều: một bên nói và một bên nghe. Đó là độc thoại. Ví dụ: Diễn
văn của tổng thống Mỹ, lời của phát thanh viên,… Ở đây ta không xét loại
giao tiếp này. Giao tiếp có thể hai chiều. Lúc đó vai trị của hai bên thay đổi:
11
Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó chính là
hội thoại.
Hội thoại thường gồm ba vận động: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương
tác. Sự trao lời là lời người nói hướng tới một người nhận khác. Tình thế giao
tiếp trao lời ngầm ẩn rằng tất yếu phải có một người nhận (tiếp ngôn) trong
lời của người trao (người phát ngơn – chủ ngơn). Chính vì vậy, ngay từ khi
đưa ra phát ngơn, người trao lời đã định hình đích phát ngơn nhằm vào ai, vào
cái gì, có nghĩa là đã điều hành, dự kiến trước phản ứng của người nghe,
người nhận. Sự trao đáp là sự trả lời đối với sự trao lời, chính nó tạo nên giao
tiếp, hội thoại. Trong thực tế, tất cả các hoạt động ngôn ngữ đều đòi hỏi một
sự đáp ứng. Điều này đúng không chỉ đối với các hành động như hỏi (trả lời),
chào (đáp lại), cầu khiến (chấp nhận hay không)… mà đúng cả cho những
hành động xác tín (khẳng định, miêu tả), đưa ra một xác tín tức là ngầm “hỏi”
người nghe có ý kiến như thế nào, địi hỏi người nghe một sự phản ứng nào
đó.
Tương tác trong hội thoại thể hiện ở chỗ các nhân vật giao tiếp ảnh
hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá
trình hội thoại. Sự tương tác này thể hiện ở lượt lời. Trong thực tế, hội thoại
yêu cầu phải luân phiên lượt lời nhưng đôi khi vẫn có hiện tượng lấn lời, cướp
lời hay bỏ lượt lời… Ngồi ra, tương tác của hội thoại cịn thể hiện ở những
cặp trao đáp củng cố, sửa chữa như: chào mời, hỏi han, xin lỗi, chữa lỗi….
hoặc bằng các hành vi ngôn ngữ khác.
Ba vận động trao lời, trao đáp, tương tác là ba vận động đặc trưng cho
một cuộc thoại. Nếu thiếu một trong ba vận động trên thì khơng thể đảm bảo
ngun tắc hội thoại. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ và ta sẽ
thấy rõ điều này qua thực tế hội thoại và phần không tham gia đáp lời theo Lê
12
Đức Luận là tham thoại hẫng trong ca dao và một số bài ca dao ở dạng hội
thoại đặc biệt khác.
Về quy tắc hội thoại, nữ giáo sư Catherine Kerbrat Orecchioni – nhà
ngôn ngữ học Pháp, chuyên gia về dụng học tương tác cho rằng quy tắc hội
thoại chia làm ba nhóm:
Thứ nhất là nguyên tắc luân phiên lượt lời. Vai nói thường xuyên thay
đổi nhau, mỗi lần chỉ một người nói. Khi nói, cần có những biện pháp cho
thấy sự chấm dứt lượt lời, giữa các lượt lời không ngắt quãng quá dài, không
dẫm đạp nhau (trừ chiến thuật im lặng). Trật tự nói trước, nói sau khơng cố
định mà luôn thay đổi do các nhân vật tự thương lượng với nhau một cách
không tường minh.
Thứ hai là nguyên tắc liên kết hội thoại, nó giúp hội thoại đạt hiệu quả,
hướng về đúng nội dung và mục đích. Tính liên kết hội thoại thể hiện trong
một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ và các đơn
vị hội thoại. Cần lưu ý, tính liên kết không chỉ thuộc lĩnh vực nội dung và thể
hiện theo các dấu hiệu “ngữ pháp” hiểu theo truyền thống. Nó cịn thuộc các
lĩnh vực, các hành động ngơn ngữ, các quan hệ lập luận. Nguyên tắc liên kết
mềm dẻo, linh hoạt mà cũng có khi chặt chẽ, nghiêm ngặt tùy theo tính chất
hội thoại.
Thứ ba là các nguyên tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong cộng tác
hội thoại. Để có được hội thoại chân thực, ta cần lưu ý đến một số nguyên tắc
nhất định. Trước hết là nguyên tắc cộng tác hội thoại (hãy làm cho phần đóng
góp của anh đúng như nó được địi hỏi và nó xuất hiện phù hợp đích hay
phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào).
Nguyên tắc này được Grice tách làm bốn phương châm nhỏ: về lượng, về
chất, phương châm quan hệ (lý thuyết quan yếu) và phương châm cách thức.
Các phương châm này đúng cho một cuộc thoại chân thực, đạt được tính chất
13
cộng tác và lý thuyết quan yếu. Tuy nhiên, thực tế có nhiều cuộc thoại mang
ẩn ý, chính những phương châm này sẽ giải thích những hàm ẩn trong hội
thoại. Bên cạnh đó, khi tham gia hội thoại, chúng ta cũng cần chú ý tới
nguyên tắc tôn trọng thể diện, nguyên tắc khiêm tốn tạo nên phép lịch sự
trong hội thoại. [3, tr.46,47,48]
Những quy tắc hội thoại nêu ra trên đây chỉ mang tính chất phổ quát.
Trong thực tế đời sống, ta cần chú ý đến tính địa phương, tính cá nhân, tính
dân tộc để ứng xử đúng với những quy tắc hội thoại “đặc ngữ” riêng. Đó
chính là tính đặc thù liên văn hóa của hội thoại.
Các yếu tố đi kèm: trong hội thoại, ngồi ngơn ngữ cịn có các yếu tố đi
kèm như: điệu bộ, cử chỉ, …Các yếu tố kèm ngôn ngữ rất phong phú gồm:
yếu tố kèm lời tĩnh và yếu tố kèm lời động. Yếu tố kèm lời tĩnh: diện mạo,
trang phục… cung cấp thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã
hội và có thể là tính cách. Yếu tố tĩnh tạo thiện cảm hoă ̣c ác cảm với người
đối thoại, từ đó họ có thể chấp nhận hoă ̣c chối bỏ cuộc thoại. Yếu tố kèm lời
động như nụ cười, nét mặt, tư thế ngồi, khoảng cách ngồi, cử chỉ, điệu bộ
khác…. Các yếu tố này có thể thay đổi theo cuộc thoại. Các yếu tố này rất
quan trọng, thiếu chúng hội thoại sẽ tẻ nhạt, thậm chí phải chấm dứt. Những
yếu tố kèm ngơn ngữ này cịn góp phần lý giải ý nghĩa của lời nói.
Hội thoại là hoạt động giao tiếp quan trọng của con người nên được các
nhà ngôn ngữ nghiên cứu rất kĩ. Lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ- Pháp cho rằng
“Hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp. Các đơn vị
của cấu trúc hội thoại từ lớn đến đơn vị tối thiểu là: Cuộc thoại, đoạn thoại,
cặp trao đáp, tham thoại, hành vi ngôn ngữ” [3, tr.49].
1.2.2. Cấu trúc hội thoại
Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về hội thoại ở Thụy Sĩ, tiêu biểu là
Eddy Roulet và ở Pháp là Catherine Kerbrat Orecchioni, vào năm 1980 có
14
nhiều quan điểm thống nhất với nhau về cấu trúc hội thoại cũng như phương
hướng nghiên cứu cấu trúc hội thoại.
Theo lý thuyết của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học này thì hội thoại
là một tổ chức tơn ti trật tự gồm các đơn vị theo các đơn vị từ lớn đến nhỏ là:
cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại, hành vi ngôn ngữ. Ba đơn vị
lớn có tính lưỡng thoại, hai đơn vị nhỏ cịn lại có tính đơn thoại. Cuộc thoại là
đơn vị bao trùm lớn nhất. Đó là tồn bộ cuốc đối đáp giữa các nhân vật từ khi
bắt đầu đến lúc kết thúc. Nhà nghiên cứu Catherine Kerbrat Orecchioni cho
rằng: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là một nhóm
nhân vật có thể thay đổi nhưng khơng đứt qng, trong một khơng gian, thời
gian có thể thay đổi nhưng khơng đứt qng, nói về một vấn đề có thể thay
đổi nhưng khơng đứt qng” [3,tr.49]. Thơng thường, các cuộc thoại đều có
dấu hiệu mở đầu và kết thúc giúp ta phân định nó.
Đoạn thoại của hội thoại theo GS.TS Đỗ Hữu Châu là “một mảng ngôn
bản do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về
ngữ dụng. Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất, và về
ngữ dụng, đó là tính duy nhất về mục đích” [3,tr.49]. Như vậy, cũng có thể
nói, tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự hiện thực một quan hệ lập luận
trong đoạn thoại đó. Trong một cuộc thoại có thể chia ra nhiều đoạn thoại.
Chúng thuộc cấu trúc như sau: đoạn thoại mở, thân cuộc thoại, đoạn thoại kết.
Cặp trao đáp (cặp thoại) theo nguyên tắc là một đơn vị lưỡng thoại tối
thiểu. Đây là cơ sở của hội thoại. Cặp thoại được cấu thành từ các tham thoại.
Cặp thoại có liên kết tuyến tính với nhau và thể hiện các tính chất khác nhau.
Tham thoại là đơn vị đơn thoại. Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân
vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Tham thoại có thể lớn hơn, bé hơn
hoặc bằng với lượt lời.
15
Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại. Theo
GS.TS Đỗ Hữu Châu: “Các ứng xử bằng lời (và các yếu tố kèm ngôn ngữ)
đều căn cứ vào các hành động ngôn ngữ đi trước, không phải căn cứ vào các
đơn vị ngữ pháp thông thường như từ và câu. Xét trong quan hệ hội thoại, các
hành động ngơn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hành động có hiệu
lực ở lời và những hành động liên hành động”. Những hành động có hiệu lực
ở lời là những hành động làm thay đổi quyền lực và trách nhiệm của người
hội thoại. Những hành động liên hành động nằm trong quan hệ giữa các hành
động tạo nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại trong khi các hành
động ở lời có tính chất đối thoại. Các hành động ngôn ngữ này là: dẫn khởi,
tiếp tục, nhắc lại, củng cố, kết thúc, chú thích, đánh giá, nhấn mạnh, điều
chỉnh…[3, tr.53]. Như vậy, khi khảo sát hội thoại thì cần dựa trên cấu trúc
năm cấp bậc trên để phân tích đúng trật tự, làm sáng tỏ được nội dung, mục
đích hội thoại
Nghiên cứu về hội thoại, nguời ta nghiên cứu ở phương diện cấu trúc hội
thoại, “Các cuộc hội thoại tuy thiên biến vạn hóa về kiểu loại và lỏng, trơi
chảy như dịng nuớc với những đơn vị phân dịnh không thật rõ ràng nhưng
giữa chúng vẫn có những cái gì đó chung về cấu trúc. Chính nhờ những cái
chung về cấu trúc này mà mặc dầu không đuợc dạy, huấn luyện một cách bài
bản nhung từ bé chúng ta đã làm chủ được chúng, nhờ đó mà “phối kết hợp”
đuợc lời nói của chúng ta với nhau một cách “hợp quy cách” khiến cho sự
tương tác trong hội thoại diễn ra thuờng êm ả, đạt đuợc mục đích đặt ra cho
nó” [3, 290]. Ca dao cũng vậy, với những cái chung về cấu trúc hội thoại, ca
dao thể hiện những nét đặc sắc, tinh tế, duyên dáng trong giao tiếp của những
người bình dân trong đời sống và sinh hoạt ngày xưa.
* Tiểu kết: Như vậy, ca dao là những lời thơ dân gian được hình thành
và sử dụng trong các cuộc hát giao duyên như hát ví, hát ghẹo, hát quan họ…
16
Lời thơ đó có chức năng thực hiện một hành động giao tiếp nào đó trong cuộc
đối đáp như hỏi, bày tỏ, cầu khiến, thề hẹn, từ chối, trách cứ… Lời ca dao có
cấu trúc là một cuộc hội thoại với lượt trao lời và lượt đáp lời.
Bên cạnh đó,chương một luận văn đã đề cập đến những tiền đề lí thuyết cơ
bản về ngữ dụng học có liên quan. Tuy đối tượng nghiên cứu của luận văn
không phải là bản thân các khái niệm, các quy tắc nhưng những lí thuyết trên
chính là cơ sở để đi đến việc nghiên cứu đặc trưng cấu trúc hội thoại trong ca
dao và góp phần vào nghiên cứu văn hố ứng xử giao tiếp của người Việt.
17
CHƯƠNG 2
ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG CA DAO
2.1. Đặc trưng cuộc thoại trong ca dao
2.2.1. Cuô ̣c thoa ̣i hoàn chỉnh
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất trong cấu trúc hội
thoại. Đó là tồn bộ cuộc đối đáp giữa các nhân vật từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc cuộc hội thoại. Tuy nhiên, trong ca dao, hầu hết những bài ca dao thường
chỉ dừng lại, kết thúc giữa chừng mà khơng có mở đầu, kết thúc rõ ràng. Vì
thế , cuô ̣c thoa ̣i trong ca dao vố n rấ t khó đươ ̣c xác đinh.
̣
Tuy nhiên, ta vẫn có thể bắ t gă ̣p những cuộc thoại trong ca dao bằ ng lời
ca của những cuô ̣c hát đố i đáp, có mở đầ u, có nô ̣i dung và kế t thúc trong suố t
cuô ̣c diễn xướng. Cuô ̣c thoa ̣i do mô ̣t nam và mô ̣t nữ đa ̣i diêṇ cho hai phe trai
gái đố i đáp để giao duyên, thử tài nhau, go ̣i là hát đôi. Hình thức này rất được
phổ biến và ưa chuộng. Trai gái mê nhau qua những lời ca mùi mẫn, qua tài
ứng đối nhanh nhẹn, đồng thời cảm hóa nhau về đức hạnh, tính nết đươ ̣c bày
tỏ bằ ng lời hát trong mô ̣t cuô ̣c hát giao duyên.
Cùng lắng nghe đôi trai gái đối đáp với nhau trong quan hệ tình cảm
tương hợp, trong nhịp lịng đồng điệu, hồ quyện vào nhau mà khơng xung
khắc, đối chọi. Đó là những tâm trạng bâng khuâng, vui buồn, những niềm
thương nỗi nhớ trao gởi cho nhau để cùng nhau san sẻ. Nội dung đối đáp như
một chuyện tình lứa đơi trong đời thường được thi vị hoá như một kịch bản
với mô ̣t cuô ̣c thoa ̣i hẳ n hoi, có chào hỏi, có đi vào nô ̣i dung vấ n đề rồ i có lời
chào ta ̣m biêt.̣
Gă ̣p nhau, cô gái mở lời:
Em tới đây đất nước nhà ngươi
Quê hương nhà bạn không biết vui cười với ai.
18
Người nam đáp lời:
Em đã tới đây thì anh thưa với xóm, với phường
Để cho người lạ ngụ đương đây cùng.
Cô gái đáp la ̣i:
Thiếp với chàng vô can vô cớ
Bắt lấy chữ tình thiếp nhớ chàng thương
Tưởng là vạn thọ vô cương
Té mô hay chàng Nam, thiếp Bắc thảm trăm đường chàng ơi.
Chàng trai tiế p lời cô gái:
Thiếp với chàng Bắc, Nam hai ngả
Nay chự chừ hữu xạ tự nhiên hương
Gặp em đây anh cũng muốn gá nghĩa cang thường
Sợ thầy với mẹ đã vấn vương cho em rồi.
Cô gái và chàng trai cứ thế tiế p nố i lời đố i đáp để giaĩ bày tấ t cả nỡi
lòng của mình:
Núi Ngự Bình trước trịn sau méo
Sơng An Cựu nắng đục mưa trong
Trách ai một dạ hai lịng
Em ơm dun thủ tiết long đong đợi chờ.
Chàng trai:
Núi Ngự Bình trước trịn sau méo
Sơng An Cựu nắng đục mưa trong
Bởi vì thầy với mẹ lánh đục tìm trong
Nên chi dun chàng nợ thiếp long đong mãi hồi.
Cơ gái:
Chim trong lồng còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
19
Nỏ thà khơng chộ (thấy) thì thơi
Chộ rồi đơi đứa đôi nơi thật thảm sầu.
Chàng trai:
Cầu Trường Tiền mười hai vài sáu nhịp
Anh qua không kịp tội lắm em ơi
Mấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu xa nhau ngàn dặm, dạ vẫn bồi hồi nhớ thương.
Chàng trai không đơ ̣i cô gái đáp mà tiế p tu ̣c:
Tai anh nghe thầy mẹ bán gả em đi
Cũng bằng đưa dao vô cắt ruột anh thì em ơi
Lời cơ gái:
Ví dầu thầy mẹ nhận lễ một trăm mâm
Em cũng xin trả lại để kết nghĩa tri âm với chàng.
Sự gặp gỡ nào rồi cũng phải chia tay, nhưng lúc chia tay bao giờ cũng
dùng dằng, lưu luyến. Giữa chàng trai và cô gái vẫn còn gì đó như muố n giữ
la ̣i bước chân nhau.
Cô gái phải mở lời:
Sao hôm đã lặn, sao mai đã mọc anh tề
Thôi thời bớt lời nhân nghĩa cho em về kẻo khuya.
Chàng trai cố níu kéo:
Ra về răng dứt mà về
Bỏ thương bỏ nhớ bỏ lời thề cho ai.
Cô gái ngâ ̣p ngừng hỏi, như còn vấ n vương:
Ra về nhớ nghĩa em không
Hay thuận buồm xi gió biệt mơng xa chừng.
Trăng lên, nỡi vấ n vương không đủ giữ chân hai người ở la ̣i thêm giây
phút nào, chàng trai đành buông lời tiế c nuố i:
20
Trăng lên đến đó em tề
Ta chưa nói chi được em đành về bỏ ta.
Một cuộc thoại đôi khi cũng là đối đáp nhưng không phải trao duyên
mà là một cuộc thử trí, thử lịng:
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ơng xin đổi ba bị chín trâu
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy đâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi
Phú ơng xin đổi hịn xơi, Bờm cười
Đây là bài đồng dao sáng tác cho trẻ em, giáo dục trẻ em tính thật thà,
chất phác, khơng tham lam. Bài ca dao không phải là một bài đối đáp thuần
túy mà là kể lại câu chuyện dưới hình thức đối đáp, tác giả là người ngoài
cuộc, kể lại cuộc hội thoại của Bờm và Phú ơng. Cuộc hội thoại có mở đầu
với phần giới thiệu “ Thằng Bờm có cái quạt mo”, có diễn biến nội dung với
phần đối đáp của hai nhân vật, và kết thúc cuộc thoại là việc Bờm đồng ý đổi
chác cái quạt mo với nắm xôi – phù hợp với giá trị của cái quạt :“ Bờm cười”.
Một trường hợp khác, cặp trai gái bày tỏ lịng mình qua những câu hát
đối đáp mượt mà với cuộc “hị” trên sơng nước. C ̣c hát chia làm ba chặng
diễn xướng. Chặng một là rao, dạo để tìm hiểu đối phương. Lời hị khiêm
nhượng, từ tốn. Chặng thứ hai là hò đố, hò kết bạn, hò se dun. Đây là giai
đoạn chính của cuộc hị, rất sơi nổi, hồi hộp và hết sức hào hứng. Chặng ba là
hò giã từ, hẹn nhau trong mùa cấy khác.
21
Mở đầ u là phầ n gơ ̣i mở, ướm lời của chàng trai:
Bạc với vàng con đen, con đỏ.
Đôi đứa mình cịn nhỏ thương nhiều.
Vừa nghe tiếng em là anh muốn như anh Kim Trọng,
Anh Kim Trọng thương chị Thúy Kiều thuở xưa.
Cô gái đáp lại ngay:
Ớ người không quen ơi,
Nghe anh, em cũng muốn thương nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ...
Cũng khó chiều dạ anh.
Dễ gì chịu rút lui, chàng trai tiếp lời:
Chim kia còn thỏ thẻ trên cành
Nghe em nói vậy,
Dạ khơng đành rẽ phân.
Cơ gái tỏ ra phân vân:
Bình bồng giữa chốn giang tân,
Bên tình bên nghĩa biết thân bên nào?
Cậu trai được thế, nhào vô:
Nhứt lê, nhì lựu, tam đào.
Bên tình bên nghĩa...
Bên nào cũng đồng thân.
Thấy chàng trai có vẻ "xơm vơ", cơ gái liền làm cao:
Gió thổi hiu hiu, lục bình trơi riu ríu,
Anh đừng bận bịu, bớ điệu chung tình.
Con nhạn bay cao khó bắn,
Mà con cá ở ao quỳnh cũng khó câu ơ...
Bị thách thức, chàng trai đâu dễ chịu thua:
22
Ớ nầy em hai ơi, hãy nghe cho kỹ,
Xưa nay gái khơng cưới chồng, trai khơng ở giá.
Anh đối thương nàng xinh đã quá xinh
Buông lời cất tiếng nỉ non,
Nếu như nàng lo việc cháu con,
Sao không kiếm chốn trao thân gởi thế?
Trên đời bá công bá nghệ, dưới lại là tứ thứ tứ dân.
Làm người sao khỏi chữ lương nhân,
Mà nàng đành chịu để phịng khơng chiếc bóng?
Sách có chữ: phụ nhân nan hóa, ít kẻ u vì,
Nên lấy chồng phải luận phải suy,
Phải xem trong lóng đục.
Đây đã đến thời, phải lúc,
Hay nàng còn cúc dục cù lao?
Hơ... ơ... để anh ngơ ngẩn ra vào,
Thầm yêu trộm nhớ, dạ nào bỏ anh ơ...
Anh chàng hí hửng tưởng mình đã ở thế thượng phong, nhưng cô nàng
đáp lại ngay:
Ớ nầy anh nó ơi, Phận em giao phó cho trời xanh,
Lấy anh thì em khơng lấy,
nhưng cũng khơng đành làm ngơ...
Vốn em cũng chẳng bơ thờ,
Em đã từng chọn trong lóng đục,
nhưng vẫn cịn ngờ nợ dun...
Vốn em cũng muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,
nhưng em lại sợ ổng hay gia hay giảm
Em cũng muốn lấy ông thầy pháp cho ra đám,
23
nhưng sợ ổng hét la ghê gốc.
Em muốn lấy chú thợ mộc,
nhưng sợ chú hay đục khoét rầy rà.
Em muốn lấy ông thợ cưa cho thật thà,
nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt.
Em muốn lấy người hạ bạc,
nhưng lại sợ mang lưới mang chài.
Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,
nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới.
Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,
nhưng sợ ảnh hay nói tức nói êm.
Em muốn lấy anh đặt rượu làm men,
nhưng lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi.
Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,
nhưng sợ ổng hay giọng quyển giọng kèn.
Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,
nhưng lại sợ nó nhiều điều thá, ví.
Em muốn lấy ơng lái bn thành thị,
nhưng sợ ổng kêu rêu mắc rẻ khó lịng.
Em muốn lấy anh thợ đóng cột, đóng thùng,
nhưng sợ ảnh hay trật niềng, trật ngõng.
Em muốn lấy ông hương, ông tổng,
nhưng lại ghê việc chống, việc gông.
Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,
nhưng lại sợ đầu treo, đầu quảy.
Em muốn lấy anh thợ đát, thợ đan,
nhưng sợ ảnh hay bắt phải, bắt lỗi.
24
Em muốn lấy anh kép hát bội,
nhưng lại sợ giọng rỗi, giọng tuồng.
Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,
nhưng sợ ảnh hay dằn, hay thúc.
Hò ơ... Mấy lời trong đục,
chẳng dám nói ra.
Có thày giáo tập dạy ở làng ta,
hay khuyên hay điểm,
hay dạy, hay răn.
So đức hạnh ai bằng,
Lại con nhà văn học,
Sử kinh thày thường đọc,
biết việc thánh hiền.
Gặp nhau em kết nghĩa liền,
Không chờ chẳng đợi,
cho phỉ nguyền phụng loan ơ
Mỗi thành viên của cối hò theo chủ đề của mình luân phiên diễn xướng
đối đáp với nhau mà các nghệ nhân đã quy ước.
Cuô ̣c thoa ̣i trong ca dao thâ ̣t sự là mô ̣t nô ̣i dung hấ p dẫn, cho ta thấ y
đươ ̣c những nét tinh tế , duyên dáng trong lời nói của nam nữ thời xưa, những
lời trao gửi tình cảm vừa đầ y ắ p ân tình, vừa vô cùng có duyên.
2.2.2. Cuô ̣c thoa ̣i không hoàn chỉnh
Theo lý thuyế t hô ̣i thoa ̣i, mô ̣t cuô ̣c thoa ̣i ngắ n nhấ t cũng đủ hai vế đố i
thoa ̣i là trao lời và đáp lời. Tuy nhiên, các công trình biên soa ̣n ca dao dân ca
từ trước đế n nay cho thấ y các cuô ̣c thoa ̣i đầ y đủ trong ca dao rấ t ít mà đa số
tồ n ta ̣i dưới da ̣ng không đầ y đủ. Da ̣ng đó chính là cuô ̣c thoa ̣i không hoàn
chin̉ h, hay còn go ̣i là “mảnh vỡ hội thoại trong ca dao” [16,tr.189].
25
Cuộc thoại khơng hịa chỉnh có ba dạng. Đó là dạng cuộc thoại bị cắt
bớt, dạng cuộc thoại chỉ có một vế, dạng lời thoại bị xé nhỏ hoặc bị cắt bớt.
Dạng cuộc thoại bị cắt bớt là bài những ca dao chỉ có lượt lời của một
bên, lượt lời của bên còn lại bị cắt bớt nhưng vẫn tồn tại ở dạng cuộc thoại.
Trong thực tế hát đối đáp, cuộc thoại giữa hai phe nam và nữ nhằm để giao
duyên, thử tài nhau có thể kéo dài hàng giờ, thậm chí thâu đêm. Trong cuộc
thoại đó đương nhiên sẽ có sự luân phiên lượt lời giữa bên nam và bên nữ.
Thế nhưng, khá nhiều bài ca dao chỉ có một lượt lời của người nam hoặc
người nữ mà không có phần lượt lời của người cịn lại. Chẳng hạn như trong
bài ca dao thách cưới:
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hịn ngọc, hai mươi tám ơng sao trên trời
Tráp trịn dẫn đủ trăm đơi
Ống thuốc bằng bạc, ống vơi bằng vàng...
… Cưới em chin chĩnh mật ong
Mười cót xơi trắng, mười nong xơi vị
Cưới em tám vạn trâu bị
Bảy vạn dê lợn, chín vị rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lịng
Chàng mà lo được, thiếp cùng theo chân.
Lời ca trên là lời thách cưới của cô gái con nhà giàu đối với chàng trai.
Những lễ vật mà cơ đưa ra thật tình đã làm khó cho chàng trai rất nhiều. Nào
là lụa đào, ngọc, vàng, bạc rồi tới trâu, bò. Song những thứ ấy thì cịn có thể