Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập đảng cộng sản việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (783.94 KB, 62 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
*****

Đề tài:
SỰ KẾT HỢP GIỮA YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ
YẾU TỐ THỜI ĐẠI TRONG CÔNG CUỘC VẬN
ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

SVTH: Trần Thị Nga
Lớp 10SLS, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Giang
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

- Đà Nẵng, 5/2014 -


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................7
6. Đóng góp của đề tài............................................................................................7
7. Cấu tạo đề tài ...................................................................................................... 8
NỘI DUNG............................................................................................................9
Chương 1. YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ THỜI ĐẠI TRONG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN
THỨ NHẤT ..........................................................................................................9


1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước sau Chiến tranh thế giới Lần thứ
nhất ........................................................................................................................9
1.1.1. Tình hình thế giới .........................................................................................9
1.1.1.1. Chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất ........................9
1.1.1.2. Cách mạng tháng Mười Nga và ảnh hưởng của nó đối với phong trào
giải phóng dân tộc ................................................................................................11
1.1.1.3. Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và phong trào giải
phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất ..........................................13
1.1.2. Tình hình Việt Nam ...................................................................................16
1.1.2.1. Công cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp ..............16

1


1.1.2.2. Tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào giải phóng dân
tộc trên thế giới đối với Việt Nam .......................................................................19
1.1.2.3. Những chuyển biến của xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần
thứ nhất .................................................................................................................22
1.2. Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong phong trào yêu nước cách
mạng Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất .................................26
1.2.1. Phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất .....26
1.2.2. Phong trào công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất ...28
Chương 2. SỰ KẾT HỢP GIỮA YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ
THỜI ĐẠI TRONG QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ TIẾP THU CHỦ
NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở VIỆT NAM ............................................................31
2.1. Nguyễn Ái Quốc với việc khảo sát, lựa chọn và quyết định con đường
cứu nước giải phóng dân tộc .............................................................................31
2.1.1. Nguyễn Ái Quốc với việc khảo sát, tìm kiếm, lựa chọn con đường cứu
nước ......................................................................................................................31
2.1.2. Nguyễn Ái Quốc với việc quyết định con đường cứu nước giải phóng dân

tộc Việt Nam ........................................................................................................35
2.2. Chủ nghĩa yêu nước và phong trào công nhân trong việc truyền bá và
tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam ....................................................38
2.2.1. Chủ nghĩa u nước đóng vai trị quan trọng trong việc tiếp xúc và truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam .................................................................38
2.2.2. Phong trào cơng nhân đóng vai trò trung tâm trong việc truyền bá và tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam ...............................................................45
2.3. Sự kết hợp giữa phong trào yêu nước và phong trào công nhân trong
việc xúc tiến nhanh sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam .............49
2.4. Vai trò của yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận
động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam........................................................53
KẾT LUẬN .........................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................58

2


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những cuộc đấu tranh kiên cường, bất
khuất để giữ vững độc lập dân tộc. Giữ nước vốn là một trong những đỉnh cao
của trí tuệ Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là sức mạnh thần kì của nhân dân ta, là
yếu tố truyền thống cao đẹp trong nền văn hóa bản địa. Trải qua những thăng
trầm của lịch sử nước nhà, với biết bao kẻ thù hung ác nối tiếp nhau giày xéo đất
nước, nhưng khơng lần nào chúng thắng nổi ý chí và sức mạnh của con người
Việt Nam. Chính vì vậy, tinh thần yêu nước ngày càng ngấm sâu vào tư tưởng,
tình cảm của mỗi người dân Việt Nam, tạo nên những bước phát triển tiếp nối
trong phong trào yêu nước của dân tộc.
Bước vào thời cận đại, nhân dân ta lại một lần nữa đối đầu với kẻ thù xâm

lược vô cùng nham hiểm đến từ phương Tây - thực dân Pháp. Đây cũng là thời
kì mà truyền thống yêu nước của dân tộc tiếp tục được phát huy cao độ. Song kẻ
thù của chúng ta ngày càng mạnh, có trình độ phát triển cao, trang bị kĩ thuật
hiện đại, do vậy muốn giải phóng dân tộc địi hỏi cần phải có giai cấp tiên phong
được trang bị lí luận sắc bén. Để chủ nghĩa yêu nước được phát huy sức mạnh tối
đa thì cần kết hợp với phong trào cơng nhân mới có thể đánh thắng kẻ thù.
Đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, cùng với quá trình đẩy
mạnh bành trướng xâm lược của các nước đế quốc là quá trình phát triển mạnh
mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Với sự xuất hiện của
các trào lưu tư tưởng tiến bộ, hình thức giải phóng dân tộc ở mỗi nước ngày càng
đa dạng, diễn ra với nhiều khuynh hướng khác nhau. Ở nước ta, đầu thế kỉ XX,
phong trào yêu nước của tư sản và tiểu tư sản phát triển rầm rộ, song hầu hết thất
bại do khơng tìm ra con đường đúng đắn, sự nghiệp giải phóng dân tộc không
thể phát triển theo con đường này. Yêu cầu đặt ra lúc đó phải có giai cấp tiên
phong lãnh đạo, có đảng chân chính đứng đầu mới có thể đưa cách mạng đi đến
thắng lợi. Nhiệm vụ trọng đại này đặt lên vai của thế hệ yêu nước mới dưới ngọn
cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga

3


(1917) đã trở thành ngọn đuốc soi đường, mở ra con đường mới đầy hấp dẫn,
đầy triển vọng là con đường cách mạng vô sản cho các dân tộc bị áp bức trên thế
giới cũng như ở Việt Nam đứng lên tự giải phóng mình.
Với quyết tâm tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc, nhà yêu nước
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với tư tưởng cách mạng
tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở đó con đường cứu nước, cứu dân, giải
phóng nhân dân lao động. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước kết hợp
hài hòa với chủ nghĩa quốc tế, hiện thân của đạo đức cách mạng kết hợp hài hòa
với đạo đức dân tộc truyền thống. Người trở thành nhân vật đóng vai trị trung

tâm, là chiếc cầu nối nối liền chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và
phong trào công nhân ở Việt Nam. Để từ đó đặt nền móng cho sự ra đời của tổ
chức đảng đại diện cho giai cấp vô sản. Đảng ra đời là một bước ngoặt lớn trong
lịch sử dân tộc, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước. Từ đây, phong trào yêu nước đã có ánh
sáng dẫn đường, từng bước lớn mạnh, kết hợp với phong trào công nhân tạo nên
những chuyển biến to lớn trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
Xuất phát từ những lí do trên, tơi xin chọn đề tài: “Sự kết hợp giữa yếu tố
truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong cách mạng Việt Nam là một đề
tài khá quen thuộc và hấp dẫn, được bàn luận khá sôi nổi trong nghiên cứu lịch
sử. Chính vì thế số lượng các cơng trình nghiên cứu của các học giả trong và
ngoài nước khá nhiều. Liên quan đến đề tài: “Sự kết hợp giữa yếu tố truyền
thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam” có những cơng trình sau:
Trong tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1945” của tác giả Nguyễn
Đình Lễ đã đề cập đến tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
với những hậu quả nặng nề; những thay đổi vị trí, tương quan lực lượng giữa các
nước đế quốc; tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ

4


đại giành thắng lợi. Chính thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã có ảnh
hưởng lớn tới phong trào cách mạng thế giới: cao trào cách mạng vô sản bùng
lên sơi nổi, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh
mẽ. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đã đề cập đến cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ
hai của thực dân Pháp và những biến đổi về kinh tế - xã hội của Việt Nam; hoạt

động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc; sự phát triển của phong trào yêu nước và
phong trào công nhân Việt Nam từ 1919 - 1930; sự ra đời của ba tổ chức cộng
sản.
Hay trong các giáo trình: “Đại cương Lịch sử Việt Nam”, tập II (1858 1945) của tác giả Đinh Xuân Lâm; “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Quang Ngọc; “Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay” của tác giả Trần Bá
Đệ cung cấp khá đầy đủ những vấn đề thông sử Việt Nam liên quan tới nội dung
đề tài.
Đề cập tới các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc có nhiều tác phẩm liên quan
như: “Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917 - 1923” của tác giả Nguyễn Phan Quang
tìm hiểu rất cụ thể về các hoạt động của Người trên chính mảnh đất của kẻ thù
dân tộc. Trong các tác phẩm “Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 1890 - 1929”, tập 1
của tác giả Đặng Xn Kỳ; “Hồ Chí Minh tồn tập”, tập 1, tập 2, tập 9, tập 10;
“Con đường dẫn Mác đến chủ nghĩa cộng sản và con đường dẫn Bác Hồ đến
chủ nghĩa Mác - Lênin” của tác giả Nguyễn Văn Phùng, Kỷ yếu hội thảo khoa
học toàn quốc “Một thế kỉ Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5 - 6 - 1911 đến 5
- 6 - 2011)” đã cung cấp nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với Người từ hành
trình bơn ba ở nước ngồi, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường
đúng đắn giải phóng dân tộc; cũng như các hoạt động của Người trong quá trình
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước, quá trình vận động thành lập Đảng
Cộng sản ở nước ta.
Nghiên cứu về những biến động của con đường cứu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam (1904 - 1925), sự chuyển hóa của các tổ chức
yêu nước theo khuynh hướng cộng sản có các tác phẩm: “Sự chuyển biến của
phong trào yêu nước và mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong 30 năm đầu

5


thế kỉ XX” của tác giả Đinh Trần Dương và “Sự lựa chọn con đường phát triển
của lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ XX và quá trình phát triển của lịch sử

dân tộc từ 1930 đến nay” của tiến sĩ Nguyễn Thị Đàm.
Trong khóa luận tốt nghiệp “Tính truyền thống và thời đại trong con đường
cứu nước phát triển xã hội của Phan Bội Châu” của tác giả Nguyễn Thế Hà
cũng cung cấp một số thông tin cần thiết về yếu tố truyền thống và yếu tố thời
đại liên quan đến đề tài. Ngồi ra cịn có các Tạp chí, tài liệu trên Internet đề cập
khá nhiều về nội dung nghiên cứu.
Nhìn chung, khối lượng sách báo, cơng trình Nghiên cứu khoa học về yếu
tố truyền thống và yếu tố thời đại, phong trào yêu nước và phong trào cơng nhân
tương đối nhiều, nhưng chưa có một cơng trình nghiên cứu nào tìm hiểu một
cách sâu sắc về sự kết hợp giữa hai yếu tố này trong quá trình vận động thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu q báu, đáng
tin cậy giúp tơi hồn thành tốt đề tài này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu:
- Phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỉ XX.
- Quá trình lựa chọn con đường cứu nước và hoạt động truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc.
- Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn trong việc tìm hiểu về các yếu tố thời đại xuất hiện đầu thế kỉ XX
để kết hợp với yếu tố truyền thống tạo nên sự phát triển trong phong trào yêu
nước và phong trào công nhân ở Việt Nam, hình thành nên các tổ chức cộng sản,
tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Hiểu rõ về sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong quá
trình phát triển của phong trào yêu nước và phong trào công nhân để tất yếu ra

6



đời một chính đảng của giai cấp vơ sản. Đồng thời thấy được vai trò và sự cần
thiết của sự kết hợp hai yếu tố này.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên tơi đã thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát về tình hình thế giới, tình hình Việt Nam và phong trào
yêu nước, phong trào công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất,
để thấy được yêu cầu lịch sử của cách mạng nước ta.
Thứ hai, xác định rõ yếu tố thời đại - phong trào công nhân xuất hiện ở Việt
Nam đầu thế kỉ XX.
Thứ ba, rút ra những nhận xét, đánh giá về vai trò của sự kết hợp yếu tố
truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các nguồn tư
liệu khác nhau: Các cơng trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước,
các sách chuyên khảo, các tài liệu liên quan đang được lưu trữ tại các Thư viện
như các Tạp chí nghiên cứu lịch sử. Ngồi ra cịn có nhiều trang web, các Luận
văn tốt nghiệp có liên quan đến đề tài…
- Phương pháp nghiên cứu:
Để hồn thành cơng trình khóa luận tốt nghiệp này, tơi dựa trên ngun tắc:
Phương pháp luận sử học: đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch
sử và phương pháp luận biện chứng của sử học Mácxít.
Phương pháp lịch sử: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
đối chiếu, logic…
6. Đóng góp của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu về một giai đoạn quan trọng của lịch sử dân tộc, đề
tài đã khắc họa một cách rõ nét về ý chí kiên cường đấu tranh giành độc lập dân

tộc của nhân dân ta được thể hiện trong phong trào yêu nước và phong trào công
nhân.

7


Qua đó, thấy được vai trị của sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố
thời đại trong cơng cuộc vận động thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản,
rút ra bài học kinh nghiệm đấu tranh cách mạng cho những thời kỳ sau.
Đồng thời cũng đánh giá cao về tầm nhìn của nhà yêu nước Nguyễn Ái
Quốc, ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước và đường lối đúng đắn để giải
phóng dân tộc.
Mặt khác, đề tài cũng góp một phần tài liệu học tập, tham khảo cho những
ai quan tâm về lịch sử phong trào giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.
7. Cấu tạo đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai
chương:
Chương 1. Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong cách mạng Việt
Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất.
Chương 2. Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong quá
trình truyền bá và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam.

8


NỘI DUNG
Chương 1
YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ THỜI ĐẠI TRONG CÁCH
MẠNG VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT


1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước sau Chiến tranh thế giới Lần thứ
nhất
1.1.1. Tình hình thế giới
1.1.1.1. Chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra một thời kì mới trong lịch
sử phát triển của thế giới nói chung và chủ nghĩa tư bản nói riêng. Kết cục của
chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình thế giới, đặc biệt là đối với châu
Âu tư bản chủ nghĩa: “Sau bốn năm chiến tranh, các nước châu Âu bị tàn phá
nặng nề, hoàn toàn kiệt quệ về kinh tế, tài chính, đồng thời phải đối mặt với
những vấn đề chính trị - xã hội nan giải. Chi phí cho chiến tranh của Pháp là
24,2 tỉ USD; Anh - 35,3 tỉ USD; Italia - 12,4 tỉ USD; Đức - 37,7 tỉ USD; Áo Hung - 20,6 tỉ USD. Những khoản chi phí khổng lồ cho chiến tranh đã biến phần
lớn các nước châu Âu, kể cả những nước thắng trận, thành con nợ của Mĩ” [45;
tr.79].
Trong khi đó các nước tư bản ở ngồi châu Âu như Mỹ và Nhật, khơng bị
tàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, trở thành các cường quốc có
tốc độ phát triển nhanh, vượt qua nhiều nước tư bản ở châu Âu.
Chiến tranh đã tàn phá châu Âu, làm châu Âu tụt hậu và mất đi vai trò tiên
phong trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản. Vai trò này đã được chuyển
giao cho Mĩ - một nước tư bản ngoài châu Âu.
Đồng thời, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa tư bản
khơng cịn tồn tại như một hệ thống chính trị thế giới nữa. Sự ra đời và phát triển
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức
to lớn đối với chủ nghĩa tư bản. Các nước tư bản châu Âu đều phải tìm cách đối

9


phó với phong trào cách mạng trong nước cũng như làn sóng đấu tranh của nhân
dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Trong bối cảnh đó, để giải quyết vấn đề sau chiến tranh, các nước tư bản đã
tổ chức Hội nghị hịa bình ở Vécxai (1919 - 1920) và Oasinhtơn (1921 - 1922)
để kí kết các hịa ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi. Một trật tự thế giới
mới được thiết lập thông qua các văn kiện được kí kết, thường được gọi là hệ
thống Vécxai - Oasinhtơn, phản ánh tương quan lực lượng mới giữa các nước tư
bản. Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật Bản giành
được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước
bại trận, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Đồng thời, ngay giữa các
nước tư bản thắng lợi cũng nảy sinh những bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi.
Chính vì thế, quan hệ hịa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là
tạm thời và mỏng manh.
Nhằm duy trì trật tự thế giới mới, các nước tư bản đã thành lập Hội Quốc
liên - một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên, với sự tham gia của 44
nước thành viên.
Trong những năm 1918 - 1923, phần lớn các nước tư bản (trừ Mĩ) đều lâm
vào cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị. Cuộc khủng hoảng bắt đầu biểu hiện ở
sự suy sụp về kinh tế và cao trào cách mạng bùng lên mạnh mẽ ở châu Âu cũng
như ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc.
Đến những năm 1924 - 1929, các nước tư bản bước vào thời kì tạm thời ổn
định về chính trị và đạt mức tăng trưởng cao về kinh tế. Nhiều ngành công
nghiệp vượt xa mức trước chiến tranh, như khai thác nhiên liệu, luyện kim... Một
số ngành công nghiệp mới, như điện lực, sản xuất ơ tơ, máy bay, hóa chất... phát
triển nhanh chóng. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế diễn ra không đồng đều giữa
các nước tư bản. Hơn nữa, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng thiếu kế hoạch,
không tương xứng với sự cải thiện đời sống của đa số nhân dân, đã dẫn tới
khủng hoảng kinh tế.
Qua đây thấy rằng, bước vào thập niên đầu sau Chiến tranh thế giới thứ
nhất, chủ nghĩa tư bản trải qua những bước thăng trầm đầy kịch tính trên các

10



phương diện kinh tế - xã hội và văn hóa. Để khắc phục hậu quả chiến tranh, hầu
hết các nước tư bản đều tiến hành khôi phục nền kinh tế, đẩy mạnh xâm lược
thuộc địa để mở rộng thị trường. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự xác lập một
trật tự thế giới mới và là thời kì phát triển mới của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
1.1.1.2. Cách mạng tháng Mười Nga và ảnh hưởng của nó đối với phong trào
giải phóng dân tộc
Kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại,
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu
cầu bức bách của lịch sử đặt ra, xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, đưa “một bóng
ma ám ảnh châu Âu” trở thành hiện thực ở nước Nga, mở ra chân trời mới cho
mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Cách mạng vô sản tháng Mười Nga giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trọng
đại đối với nước Nga và thế giới. Chẳng những đã giải phóng nước Nga tư bản một nước “chính quốc”, mà cịn giải phóng cho nhiều nước khác, là những nước
thuộc địa của Nga. Cách mạng tháng Mười đã lật đổ ách áp bức bóc lột của chế
độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản tồn tại từ lâu ở nước Nga. Thắng lợi của cách
mạng nếu chưa phải là hồi chuông báo tử đối với toàn bộ thế giới cũ - một thế
giới áp bức, bóc lột và bất cơng thì chí ít cũng đã cứu sống trên 1/6 diện tích địa
cầu, chẳng những thoát khỏi cảnh hổn bang tàn khốc của cuộc Chiến tranh thế
giới thứ nhất mà còn tạo cho họ một gương mặt mới: Đó là gương mặt, là tư thế
của người đầu tiên làm chủ vận mệnh mình. Chính quyền Xơ viết - nhà nước của
liên minh cơng nơng dưới sự lãnh đạo của Đảng Bơnsêvích Nga ra đời chứng tỏ
q trình hiện thực hóa của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời mở đầu một thời
đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi, cuộc Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914 - 1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ phát triển mới
trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.
Tiếng vang của Cách mạng tháng Mười Nga đã vượt qua biên giới của nó, tác
động mạnh mẽ đến hầu khắp các quốc gia - dân tộc trên hành tinh. Trong đêm

dài đen tối đầy bất công của các chế độ: phong kiến, tư bản thực dân, nhất là qua

11


những năm tháng khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918),
nhân dân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, những người phải chịu đựng
nhiều tai họa nhất của chiến tranh đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười những
niềm hi vọng to lớn đối với mình, thúc đẩy họ vùng dậy đấu tranh giành quyền
sống, giành độc lập dân tộc.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười đã thức tỉnh và cổ vũ phong trào giải
phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, Phi và Mĩ Latinh,
chỉ ra con đường đấu tranh đúng đắn cho họ là giải phóng dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản. Cách mạng tháng Mười cũng đã cổ vũ mạnh mẽ phong
trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân trong các nước tư bản, chỉ ra
cho họ con đường chống chủ nghĩa tư bản.
Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: Cách mạng tháng Mười như tiếng sét đã
đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Người đánh giá rất cao
về Cách mạng tháng Mười: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng
Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột
trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý
nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [24; tr.13].
Cách mạng tháng Mười Nga đã góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kì mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và khu vực
Mĩ Latinh. Đó là thời kì mà đường lối cách mạng mới đúng đắn hình thành trong
phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước, với những nhận thức mới: Cách
mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, đi theo
ngọn cờ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo; cách mạng giải phóng
dân tộc gắn liền với cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; cách

mạng giải phóng dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vơ
sản thế giới; phải kết hợp chặt chẽ giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù
chung là chủ nghĩa tư bản đế quốc.

12


Từ sau Cách mạng tháng Mười, cách mạng các nước thuộc địa và nữa thuộc
địa trở thành một bộ phận không thể tách rời của cách mạng vô sản thế giới và
có liên hệ mật thiết với cuộc cách mạng của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc
chủ nghĩa. Làn sóng cách mạng dâng cao trên tồn thế giới. Cũng từ phong trào
đó, giai cấp vơ sản ở nhiều nước bắt đầu bước lên vũ đài chính trị và cùng với
lực lượng cách mạng các nước, tập hợp nhau lại để thành lập tổ chức riêng của
mình ở từng nước và trên phạm vi thế giới, đứng trên lập trường của chủ nghĩa
Mác - Lênin. ““Khẩu hiệu chiến đấu vang dội của Lênin “Giai cấp vô sản và
các dân tộc bị áp bức tất cả các nước, đoàn kết lại” đã mở ra con đường mới,
đầy ánh sáng cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ
thuộc”” [1; tr.16-17]. Nhờ vậy, phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước đã
phát triển mạnh mẽ và từng bước giành được những thắng lợi quan trọng.
Một tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản - Quốc tế Cộng sản được thành lập
(3 - 1919) đã đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng thế giới.
Tiếp đó, một loạt các Đảng Cộng sản nối tiếp nhau ra đời ở các nước tư bản cũng
như các nước phụ thuộc đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin và ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng thế giới sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Cách mạng tháng Mười đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin
đối với các trào lưu tư tưởng cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, cung cấp nhiều bài học kinh nghiêm quý báu cho phong trào cách
mạng tế giới.

1.1.1.3. Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và phong trào giải
phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
- Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới:
Do hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng
tháng Mười Nga năm 1917, một cao trào cách mạng đã bùng nổ ở khắp các nước
tư bản châu Âu trong những năm 1918 - 1923. Phong trào đấu tranh không chỉ
dừng lại ở những yêu sách kinh tế mà còn nhằm ủng hộ nước Nga Xô viết. Đỉnh
cao của cao trào là sự thành lập các nước Cộng hịa Xơ viết ở Hung-ga-ri (3 -

13


1919), ở Ba-vi-e (Đức, 4 - 1919), thể hiện khát vọng của quần chúng lao động về
một xã hội công bằng, dân chủ. Tuy không giành được thắng lợi nhưng phong
trào đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân.
Trong cao trào cách mạng 1918 - 1923, các Đảng Cộng sản đã được thành
lập ở nhiều nước, như ở Đức, Áo, Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan, Ác-hen-ti-na,...
Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới địi hỏi phải có một tổ chức
quốc tế để tập hợp lực lượng và chỉ đạo cùng một đường lối đúng đắn. Thắng lợi
của Cách mạng tháng Mười Nga và sự tồn tại của Nhà nước Xô viết là điều kiện
thuận lợi để thực hiện yêu cầu đó. Với những nỗ lực của Lênin và một số nhà
hoạt động quốc tế, Đại hội thành lập Quốc tế cộng sản được tiến hành tại Mátxcơ-va tháng 3 - 1919. Trong thời gian tồn tại (1919 - 1943), Quốc tế cộng sản
đề ra nhiều đường lối cách mạng phù hợp với từng thời kì phát triển của cách
mạng thế giới.
Sau cao trào cách mạng 1918 - 1923, từ năm 1924, các nước tư bản bước
vào thời kì tạm thời ổn định, phong trào công nhân dần lắng xuống. Tuy thế, các
cuộc bãi cơng địi cải thiện điều kiện làm việc, chế độ tiền lương, đòi tự do, dân
chủ vẫn tiếp diễn. Cuộc tổng bãi công của công nhân Anh tháng 5 - 1926 với sự
tham gia của 5 triệu người, làm tê liệt các khu công nghiệp lớn của nước Anh là

một sự kiện điển hình.
Có thể thấy rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào cách mạng
thế giới có bước phát triển hơn so với trước, thể hiện khát vọng đấu tranh cho sự
công bằng, bình đẳng trong xã hội nhằm đem đến cuộc sống ổn định cho quần
chúng nhân dân lao động.
- Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc:
Phong trào giải phóng dân tộc sau Cách mạng tháng Mười Nga với những
nhân tố khách quan và chủ quan tác động, thúc đẩy nên có những bước phát triển
nhanh chóng. Một xu hướng mới đã xuất hiện trong phong trào giải phóng dân
tộc - xu hướng vơ sản, trong khi xu hướng tư sản vẫn tồn tại, phát triển, mở rộng
và khẳng định mình.

14


Xu hướng vô sản ra đời và phát triển khá độc lập do sự trưởng thành của
giai cấp vô sản và sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin ở thuộc địa. “Cùng với sự
thức tỉnh của các dân tộc bị áp bức dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng
Mười, trong thập kỉ 20 của thế kỉ XX, bằng nhiều con đường khác nhau, chủ
nghĩa Mác - Lênin đã đến với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trên
cơ sở kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước, hàng loạt các Đảng Cộng sản đã được thành lập ở khắp các châu lục
trên thế giới. Ở châu Á, Đảng Cộng sản Inđônêxia ra đời sớm nhất (5 - 1920)
được xem là sự kiện tiêu biểu, đánh dấu xu hướng vô sản xuất hiện sớm nhất ở
khu vực các nước thuộc địa” [4; tr.153].
Với sự ra đời của các Đảng Cộng sản, giai cấp vơ sản đã khẳng định được
vai trị của mình như một lực lượng chính trị độc lập. Thơng qua các chính đảng
của mình, giai cấp vơ sản trẻ trung ở các nước Á, Phi và Mĩ Latinh đã tích cực
tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và ở một số nước họ đã đóng vai
trò là người lãnh đạo phong trào, như Đảng Cộng sản Inđônêxia trong thập niên

20 của thế kỉ XX.
So với giai đoạn trước, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào giải
phóng dân tộc có những thắng lợi bước đầu. Trước hết là thắng lợi của cuộc cách
mạng nhân dân Mông Cổ (1921 - 1924), đưa đến thành lập Nhà nước Mông Cổ
độc lập - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á. Cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc ở Thổ Nhĩ Kì (1919 - 1922) thắng lợi đã thủ tiêu chế độ phong
kiến quân chủ, gạt bỏ sự thống trị của Anh và Hi Lạp, thành lập nước cộng hòa,
tạo điều kiện để Thổ Nhĩ Kì trở thành một quốc gia độc lập và ổn định nhất ở
khu vực Cận Đông. Cách mạng Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kì là hai cuộc cách mạng
duy nhất thắng lợi trọn vẹn trước năm 1945, do hai giai cấp khác nhau (vô sản và
tư sản) lãnh đạo và đi theo hai định hướng khác nhau. Ở Châu Phi, nước Cộng
hòa Rip (ở Marốc thuộc Tây Ban Nha) ra đời sau cuộc khởi nghĩa của nhân dân
do Apđen Kêrim lãnh đạo, tồn tại từ năm 1921 đến năm 1926. Có thể thấy rằng,
khi cuộc đấu tranh chống thực dân vào những thập niên đầu thế kỉ XX còn bị
bọn thực dân thẳng tay đàn áp và thất bại thì sự ra đời và tồn tại của các nhà

15


nước độc lập có ý nghĩa lớn lao. Nó chứng tỏ rằng, dù phải hi sinh gian khổ
nhưng cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc chắc chắn sẽ thắng
lợi.
Nhìn chung, cao trào cách mạng giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ ở
khắp các châu lục, tấn công vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
trong nước, đồng thời góp phần bảo vệ cách mạng Nga và nhà nước vô sản đầu
tiên trên thế giới. Đặc điểm của cao trào cách mạng này là giai cấp vơ sản non trẻ
đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và ở nhiều nước, họ đã
đóng vai trị lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Trong điều kiện đó,
các Đảng Cộng sản lần lượt được thành lập: Đảng Cộng sản Inđônêxia (1920),
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Aicập (1921), Đảng Cộng sản

Brazin (1922), Đảng Cộng sản Cuba (l925),… nhanh chóng quy tụ mọi tầng lớp
vào quỹ đạo đấu tranh giải phóng dân tộc.
1.1.2. Tình hình Việt Nam
1.1.2.1. Công cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho các
nước tư bản châu Âu. Nước Pháp bị thiệt hại nặng nề nhất với hơn 1,4 triệu
người chết và thiệt hại về vật chất lên tới 200 tỉ Phơrăng. Chiến tranh đã tàn phá
hàng loạt các nhà máy, cầu cống, đường sá và làng mạc trên khắp đất nước.
Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc biệt các vùng cơng nghiệp phát triển,
bị tàn phá nặng nề; nhiều ngành sản xuất cơng nghiệp bị đình trệ; hoạt động
thương mại sa sút nghiêm trọng. “Trong khi những khoản tiền lớn chi phí cho
chiến tranh và những số vốn lớn đầu tư ở nước ngoài (riêng ở nước Nga Sa
hoàng là 14 tỉ Phơrăng) bị mất trắng, thì số nợ quốc gia của Pháp, chủ yếu nợ
Mĩ, tăng từ 170 tỉ Phơrăng (năm 1918) lên tới 300 tỉ Phơrăng (năm 1920). Đồng
Phơrăng ngày càng mất giá, giá cả leo thang, đời sống khó khăn đã làm tăng
thêm nỗi bất bình, đấu tranh chống Chính phủ của các tầng lớp nhân dân lao
động Pháp” [24; tr.15]. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng trong thế giới tư bản
chủ nghĩa sau chiến tranh càng gây khó khăn cho nền kinh tế Pháp.

16


Nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển
nền kinh tế, khôi phục và củng cố địa vị trong thế giới tư bản, đồng thời vừa để
tránh nạn phá giá đồng Phơrăng của Pháp, đế quốc Pháp đã tìm mọi biện pháp
vừa tăng cường bóc lột nhân dân để thúc đẩy nền sản xuất trong nước; vừa đẩy
mạnh đầu tư khai thác, bóc lột thuộc địa. Do vậy, Pháp nhanh chóng vạch ra kế
hoạch khai thác thuộc địa Lần thứ hai ở Đông Dương, mà chủ yếu ở Việt Nam
trong thời gian từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới (1929 - 1933).

Cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai về mục tiêu cũng giống như cuộc khai
thác thuộc địa Lần thứ nhất, đó là: “bịn rút thuộc địa để làm giàu cho chính
quốc nhưng khơng cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc” [31;
tr.247]. Trong cuộc khai thác lần này đã chấm dứt tình trạng nhỏ giọt về đầu tư,
tình trạng thờ ơ chần chừ của tư bản tư nhân trong việc kinh doanh khai thác ở
Việt Nam.
Để khai thác được nhiều kho tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân
công dồi dào, rẽ mạt và độc chiếm thị trường Đông Dương, tư bản tài chính Pháp
tăng cường đầu tư vốn vào các ngành kinh tế ở Đông Dương, chủ yếu là Việt
Nam với quy mô và tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với thời kì trước chiến tranh.
“Chỉ trong vịng 6 năm (1924 - 1929), tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng gấp
6 lần số vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1918)” [11; tr.85].
Khác với cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ nhất, lĩnh vực đầu tư chủ yếu
của tư bản Pháp là khai khống thì đến cuộc khai thác thuộc địa lần này vị trí đó
thuộc về nơng nghiệp, tiếp sau là cơng nghiệp.
Về nông nghiệp, năm 1924, số vốn đầu tư vào nông nghiệp là 52 triệu
Phơrăng, đến năm 1927 lên tới 400 triệu Phơrăng. Cao su là mặt hàng đang được
giá cao trên thị trường thế giới nên đã thu hút các nhà tư bản Pháp đổ xô vào đầu
tư kinh doanh. Thực dân Pháp thực hiện chính sách ăn cướp ruộng đất, lập đồn
điền cao su. “Tính đến năm 1930, diện tích đồn điền do chủ người Pháp nắm giữ
chiếm tới 1,2 triệu hécta đất đai, bằng 1/4 tổng diện tích đất đai canh tác ở Việt
Nam. Riêng diện tích trồng cao su tăng từ 15 ngàn hécta năm 1918 lên tới 120

17


ngàn hécta năm 1930” [11; tr.85]. Các chủ đồn điền thực hiện phương thức canh
tác và bóc lột kiểu phong kiến và tiền tư bản, chủ yếu là bóc lột lao động sống, ít
đầu tư về kĩ thuật.
Những chính sách đầu tư của tư bản Pháp đã góp phần chuyển đổi cơ cấu

cây trồng phù hợp với khí hậu miền nhiệt đới. Làm xuất hiện nhiều đồn điền
trồng lúa, cà phê, hồ tiêu... bên cạnh đồn điền cao su. Trong kinh doanh cao su,
nhiều công ty lớn ra đời: Công ty đất đỏ, Công ty Misơlanh, Công ty trồng cây
nhiệt đới,... 95% sản lượng cao su thu hoạch hằng năm và hầu hết khối lượng
cao su xuất khẩu đều đưa sang Pháp.
Về cơng nghiệp, so với thời kì trước đã có bước tiến mới về chất với hai bộ
phận cơng nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Trong ngành công nghiệp nặng,
thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác mỏ, chủ yếu là mỏ than. Các cơng ty than có
từ trước, nay được bỏ vốn thêm và hoạt động mạnh hơn. Nhiều công ty than mới
nối tiếp nhau ra đời, như: Công ty than Hạ Long – Đồng Đăng, Công ty than và
kim khí Đơng Dương, Cơng ty than Tun Quang, Cơng ty than Đơng Triều...
Ngồi than, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn,
tăng thêm nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác.
Cùng với sự điều chỉnh trong khu vực công nghiệp nặng, khu vực công
nghiệp nhẹ cũng trở nên sôi động hơn. Tư bản Pháp mở thêm một số cơ sở công
nghiệp khơng có khả năng cạnh tranh với cơng nghiệp Pháp, chủ yếu là công
nghiệp chế biến nông sản tại chỗ, như các nhà máy sợi Hải Phòng, Nam Định;
rượu Hà Nội, Nam Định, Hà Đông; diêm Hà Nội, Hàm Rồng, Bến Thủy; đường
Tuy Hịa, gạo Sài Gịn,... Nhìn chung, ngành sản xuất chế biến khơng phát triển
gì nhiều, vì Pháp muốn duy trì sự độc quyền của mình trong sản xuất cũng như
trong việc tiêu thụ hàng hóa.
Về thương nghiệp, có bước tiến mới. Hoạt động bn bán trong nước được
đẩy mạnh với việc xuất hiện các chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gịn), chợ
Đơng Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội).
Về ngoại thương, Pháp nắm độc quyền. Để nắm chặt hơn thị trường Việt
Nam và Đông Dương cũng như bảo hộ hàng hóa chính quốc, Pháp ban hành đạo

18



luật đánh thuế nặng hàng ngoại nhập, nhất là hàng Trung Quốc và Nhật Bản;
miễn thuế hoặc đánh thuế nhẹ đối với hàng hóa Pháp. Do đó hàng hóa Pháp
nhanh chóng tràn ngập trên thị trường Việt Nam. Trước chiến tranh, hàng hóa
Pháp mới chỉ chiếm 37% tổng số hàng nhập nhưng chỉ mấy năm sau chiến tranh
đã lên tới 63%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, nông sản. Nhập
khẩu chủ yếu là những mặt hàng tiêu dùng, công nghiệp, kĩ thuật từ Pháp.
Về giao thông vận tải, được chú ý đầu tư xây dựng ngay từ đầu nhằm phục
vụ đắc lực cho khai thác và chuyên chở nguyên vật liệu cũng như cho lưu thông
hàng hóa trong nội địa và với nước ngồi. Trên cơ sở đó, Pháp tăng cường đầu tư
mở thêm nhiều tuyến đường mới (cả đường sắt, đường bộ và đường thủy). Có
thể nói, vào thời điểm những năm 30 của thế kỉ XX, Đơng Dương là một trong
những nơi có hệ thống giao thông tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á.
Ngân hàng Đông Dương - đại diện thế lực của tư bản tài chính Pháp, nắm
quyền chỉ huy các ngành kinh tế ở Đông Dương, độc quyền phát hành giấy bạc
và cho vay lãi. Với chức năng thương mại và đầu tư, ngân hàng Đông Dương đã
trở thành kẻ nắm tài khoản hiện hành của ngân khố Đông Dương. Bên cạnh
nguồn lãi suất của ngân hàng và các công ty tư bản, thì ngân sách chính quyền
thực dân tiếp tục được tăng cường nhờ chính sách tăng thuế.
Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách khai thuộc địa Lần thứ hai của Pháp
vượt xa so với Lần thứ nhất, đã góp phần giải quyết những khó khăn về mọi mặt
cho chính quốc. Đối với Việt Nam, nền kinh tế có sự chuyển biến sâu sắc theo
hướng đa ngành, đa lĩnh vực song nhìn chung nền kinh tế nước ta phát triển
chậm chạp, què quặt và lạc hậu.
1.1.2.2. Tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới đối với Việt Nam
“Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Việt Nam vẫn đang chìm
đắm trong đêm dài nơ lệ. Các cuộc khởi nghĩa thất bại, tình hình đất nước đen
tối như khơng có đường ra. Đường lối của các sĩ phu yêu nước, tiến bộ khơng
phù hợp với tình hình đất nước và xu thế của thời đại” [18; tr.337]. Con đường
theo khuynh hướng phong kiến, tư sản đã từng nổ ra và tạo được tiếng vang


19


nhưng cuối cùng đều thất bại và tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đều bị
dìm trong biển máu do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự
lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng
hoảng trầm trọng về con đường giải phóng dân tộc. Giữa lúc đó, Cách mạng
tháng Mười Nga thành công đã mở ra con đường cứu nước mới cho nhân dân ta
trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện
một Nhà nước bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
đây cũng là mơ hình Nhà nước mà dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm.
Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười đến Việt Nam thơng qua vai trị của
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sau bao năm bơn ba tìm đường cứu
nước, cuối năm 1917, Người trở lại Pháp hoạt động. Như tiếng sấm mùa xuân,
Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và các dân tộc bị áp bức trên tồn thế giới vùng dậy đấu tranh, giải phóng dân
tộc và gây sự chú ý đối với Nguyễn Ái Quốc.
Cách mạng tháng Mười có ảnh hưởng lớn đến con đường phát triển của
cách mạng Việt Nam: Cách mạng Tháng Mười như một mẫu mực tuyệt vời về
khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền; về phương pháp cách mạng - phương
pháp dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và chế độ phong kiến địa
chủ, xây dựng một xã hội hồn tồn mới - xã hội khơng cịn người bóc lột
người,...
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã
nhận thức đúng thời đại mới là thời kí quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Người khơng chỉ nhìn thấy Cách mạng tháng
Mười là một cuộc cách mạng vô sản, lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng
chủ nghĩa xã hội mà còn nhận thấy chỉ có cuộc cách mạng này, vấn đề dân tộc
mới được giải quyết. Đây chính là cơ sở cho sự lựa chọn con đường độc lập dân

tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “Muốn cứu nước, giải phóng dân
tộc, khơng có con đường nào khác con đường cách mạng vơ sản” [29; tr.314].
Từ đó, Người chủ trương đưa cách mạng Việt Nam vào đúng quỹ đạo của thời
đại.

20


Tháng 3 - 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế
Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào giải phóng dân
tộc ở Việt Nam. “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa” của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào
năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa,
mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô
sản. Quốc tế cộng sản cịn có vai trị quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc không
những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế cộng sản đối với phong trào cách
mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng
Việt Nam: “An Nam muốn cách mệnh thành cơng, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc
tế”.
Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có bước phát triển mới mẻ dưới
tác động của Cách mạng tháng Mười Nga. Xu hướng vơ sản dần chiếm vị trí
quan trọng trong q trình đấu tranh của các nước thuộc địa và phụ thuộc. Với
sự ra đời của các Đảng Cộng sản và Nhà nước độc lập một số nước ở châu Á,
Phi và Mĩ Latinh đã tác động mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam. Là động lực
thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta vươn lên cùng hòa nhập với
phong trào cách mạng vô sản thế giới, để tiến tới thành lập một chính đảng của
giai cấp vơ sản ở Việt Nam, từng bước đưa cách mạng đi đến thắng lợi cuối
cùng.
Như vậy, với những tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong

trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam đã có sự
thay đổi về ý thức hệ, chuyển từ ý thức hệ dân chủ tư sản sang ý thức hệ vô sản
trong những nhà yêu nước đầu thế kỉ XX, tiêu biểu nhất là nhà yêu nước Nguyễn
Ái Quốc. Họ đã li khai con đường cũ để chuyển sang một con đường mới tiến bộ
hơn. Từ sự chuyển biến này đã có sự thay đổi cả về nội dung, cả về phương
pháp, phương hướng, mục tiêu tiến lên của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX.

21


1.1.2.3. Những chuyển biến của xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần
thứ nhất
Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính
sách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu
sắc, nhanh chóng và thuần thục.
- Về kinh tế: Nền kinh tế của tư bản Pháp tiếp tục được mở rộng và bao
trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam. “Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai của thực dân Pháp ở Việt Nam khơng chỉ là q trình đầu tư vốn và mở rộng
quy mơ khai thác, mà kèm theo đó là sự đầu tư vào các nhân tố kĩ thuật và con
người sản xuất nên cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
trong chừng mực nhất định, đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển. Những vấn
đề như vốn, máy móc kĩ thuật, cơng cụ mới, phân bón, giống cây trồng, kinh
nghiệm sản xuất đã có những cải tiến rõ rệt. Cùng với đó, sự du nhập phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu theo hướng tư bản chủ nghĩa, làm
tan rã dần nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc ở nông thơn và tạo điều kiện cho nền
kinh tế hàng hóa phát triển” [www.bachkhoatrithuc.vn].
Cơ cấu kinh tế Việt Nam có chuyển biến ít nhiều, song chỉ có tính chất cục
bộ ở một số vùng, cịn phổ biến vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn. Quá
trình thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Việt Nam cũng đã làm kiệt quệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm hao mòn sức lực của nhân dân ta. Kinh tế

Đông Dương ngày càng bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị
trường độc chiếm của tư bản Pháp. Chính sách thống trị hà khắc cùng với những
thủ đoạn bóc lột tàn bạo đã làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ.
- Về xã hội: Cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có những chuyển biến
mới.
Giai cấp địa chủ phong kiến: Tiếp tục phân hoá và vẫn chia ra hai bộ phận,
mỗi bộ phận có thái độ chính trị khác nhau trước kẻ thù và trong cuộc đấu tranh
dân tộc. Bộ phận nhỏ là đại địa chủ, giàu có lên nhờ dựa vào Pháp; do có thế lực
mạnh về kinh tế, lại nắm chính quyền ở nơng thơn và tham gia vào chính quyền
của thực dân ở hàng tỉnh, hàng xứ (Hội đồng Dân biểu, Hội đồng Quản hạt...),

22


nên bộ phận này đã câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp thống trị, bóc lột nhân
dân ta, chống lại cách mạng. Bộ phận lớn là trung và tiểu địa chủ bị đế quốc
chèn ép, do có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi nên đã tham gia đấu tranh
chống thực dân và bọn phản động tay sai.
Giai cấp nông dân: Chiếm khoảng 90% dân số. Họ tiếp tục là nạn nhân trực
tiếp của chính sách chiếm đoạt ruộng đất, chính sách sưu thuế, địa tơ, phu phen,
tạp dịch dưới chế độ thực dân phong kiến. Ruộng đất của nông dân bị bọn tư bản
thực dân chiếm đoạt. Cuộc sống của họ hết sức bấp bênh. Một bộ phận bị bần
cùng hóa. Một bộ phận nhỏ rời quê lên thành thị vào làm trong các nhà máy,
hầm mỏ, đồn điền, còn bộ phận lớn phải ở lại quê sống cuộc đời tá điền với chủ
điền mới ngay trên mảnh ruộng cũ của mình.
Bị mất nước và mất ruộng đất nên nơng dân có mâu thuẫn với đế quốc và
phong kiến. Giai cấp nông dân - một giai cấp có tinh thần cách mạng dồi dào,
lực lượng cách mạng to lớn - khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội
tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp đấu
tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Đây chính là lực lượng hăng hái và đơng đảo

nhất của cách mạng.
Giai cấp tư sản: Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất mới chỉ là một tầng
lớp nhỏ bé, chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp, hoạt động sản
xuất còn hạn hẹp. Nhưng“tư sản Việt Nam đã từ một tầng lớp trở thành một giai
cấp xã hội thực sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất” [31; tr.252]. Trong cuộc
khai thác thuộc địa Lần thứ hai, tầng lớp tư sản, phần đông là lớp người làm
trung gian cho tư bản Pháp, khi đã kiếm được số vốn khá, họ đứng ra kinh doanh
riêng, hoạt động kinh doanh được mở rộng và có quy mơ lớn hơn. Họ kinh
doanh trong hầu hết các ngành kinh tế từ xay xát, nhuộm, dệt, in ấn, vận tải đến
sản xuất nước mắm, đường, xà phòng, đồ gốm... Một số tư sản đã có trong tay
một sản nghiệp lớn như mỏ, đồn điền, các công ty thương mại… Một số cơ sở
sản xuất đã có khả năng thu hút vài trăm cơng nhân.
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam chia thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản và tư sản dân tộc.

23


Bộ phận tư sản mại bản số lượng ít, là những nhà đại lí cho tư bản nước
ngồi, những nhà thầu khoán và những tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản
Pháp... có quyền lợi gắn với đế quốc, nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng,
chống lại dân tộc.
Đại bộ phận là tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập, phát
triển kinh tế dân tộc, nhưng thế lực kinh tế nhỏ bé, chủ yếu về thương nghiệp,
không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của tư bản Pháp. Vốn của tư bản Việt
Nam chỉ bằng 5% vốn tư bản nước ngoài. Họ bị tư sản Pháp và tư sản ngoại kiều
chèn ép, vì thế, để tồn tại và phát triển, bộ phận này đã cố kết với nhau trong
kinh doanh và do đó ít nhiều có tinh thần dân tộc. Nhưng thế lực chính trị yếu
đuối, lập trường của họ khơng kiên định, dễ dàng thỏa hiệp hay cải lương khi đế
quốc mạnh.

Giai cấp tiểu tư sản: Sau chiến tranh có sự nhảy vọt về số lượng. Bao gồm
nhiều tầng lớp khác nhau: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ cơng, viên chức, trí thức,
học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do. Họ có tinh thần yêu nước
nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẽ nên rất hăng
hái cách mạng. Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên có điều kiện tiếp
xúc với các trào lưu tư tưởng, văn hóa tiến bộ bên ngoài, nên nhạy cảm với thời
cuộc và tha thiết canh tân đất nước, có tinh thần cách mạng, hăng hái đấu tranh.
Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh
vì độc lập tự do của dân tộc.
Giai cấp công nhân: Ngày càng đông đảo theo đà mở rộng đầu tư về kinh tế
của tư bản Pháp sau chiến tranh, là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác
thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng
nắm giữ. Trong cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ nhất, giai cấp công nhân đã ra
đời, đến cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai có sự phát triển nhanh cả về số
lượng và chất lượng, từ 10 vạn người năm 1914 tăng lên 22 vạn năm 1929.
Do một phần lớn giai cấp công nhân tuyển mộ bằng con đường cưỡng bức,
nhất là số công nhân đồn điền nên trình độ văn hóa của cơng nhân Việt Nam rất
thấp, số người mù chữ khá đơng. Tính chất vô sản hiện đại của họ cũng bị hạn

24


×