Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Chỉ dẫn lập luận trong văn chính luận hồ chí minh sau cách mạng tháng tám

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (691.45 KB, 99 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ KIỀU DUYÊN

CHỈ DẪN LẬP LUẬN
TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH
SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số

: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRƯƠNG THỊ DIỄM

Đà Nẵng, Năm 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.

Tác giả luận văn

Lê Kiều Duyên



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 2
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................ 3
5. Bố cục đề tài ........................................................................................... 4
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ................................................................ 4
7. Đóng góp của luận văn ........................................................................... 8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT............................................................. 10
1.1. LÝ THUYẾT LẬP LUẬN ....................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm lập luận ......................................................................... 10
1.1.2. Vị trí và sự hiện diện của luận cứ, kết luận .................................... 11
1.1.3. Phân biệt lập luận, miêu tả, logic và thuyết phục .......................... 13
1.1.4. Đặc tính của quan hệ lập luận ........................................................ 16
1.1.5. Lẽ thường, cơ sở của lập luận ........................................................ 23
1.1.6. Vai trò của lập luận ........................................................................ 24
1.2. VẤN ĐỀ PHÂN ĐOẠN VĂN BẢN THÀNH CÁC ĐOẠN VĂN LẬP
LUẬN .............................................................................................................. 25
1.2.1. Khái niệm “đoạn văn” .................................................................... 25
1.2.2. Cơ sở phân chia văn bản thành đoạn văn lập luận ......................... 26
1.3. VĂN BẢN CHÍNH LUẬN ...................................................................... 28
1.3.1. Khái niệm ....................................................................................... 28
1.3.2. Đặc trưng văn bản chính luận ........................................................ 29
1.4. VĂN CHÍNH LUẬN CỦA

HỒ CHÍ MINH SAU CÁCH MẠNG

THÁNG TÁM ................................................................................................. 31



TIỂU KẾT ....................................................................................................... 32
CHƯƠNG 2. TÁC TỬ LẬP LUẬN TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ
CHÍ MINH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ....................................... 34
2.1. HIỆU LỰC NHẤN MẠNH CỦA TÁC TỬ ........................................... 34
2.1.1. Tác tử nhấn mạnh sự đánh giá mức độ hạn định ........................... 39
2.1.2. Tác tử nhấn mạnh sự so sánh đối chiếu ......................................... 41
2.1.3. Tác tử nhấn mạnh điều kiện, hệ quả: nếu … thì..., có …mới..., vì…
nên… ........................................................................................................ 44
2.1.4. Tác tử nhấn mạnh sự bác bỏ........................................................... 46
2.2. HIỆU LỰC TĂNG CƯỜNG CỦA TÁC TỬ .......................................... 50
2.2.1. Hiệu lực tăng cường của tác tử xét trong cùng một luận cứ .......... 50
2.2.2. Hiệu lực tăng cường của tác tử xét trong các luận cứ khác nhau .. 52
2.3. HIỆU LỰC ĐẢO HƯỚNG LẬP LUẬN CỦA TÁC TỬ ........................ 55
2.3.1. Hiệu lực đảo hướng lập luận của tác tử chỉ quan hệ đối nghịch .... 55
2.3.2. Hiệu lực đảo hướng lập luận của tác tử chỉ quan hệ nhượng bộ tăng tiến .................................................................................................... 57
TIỂU KẾT ....................................................................................................... 59
CHƯƠNG 3. KẾT TỬ LẬP LUẬN TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ
CHÍ MINH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ....................................... 61
3.1. KẾT TỬ TRONG CÁC DẠNG CẤU TRÚC LẬP LUẬN CỦA VĂN
CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM .......... 62
3.1.1. Kết tử trong cấu trúc lập luận đơn.................................................. 62
3.1.2. Kết tử trong các dạng cấu trúc lập luận phức................................. 64
3.1.3. Kết tử trong các dạng cấu trúc biến thể mở rộng ........................... 66
3.2. KẾT TỬ TRONG QUAN HỆ LẬP LUẬN CỦA VĂN CHÍNH LUẬN
HỒ CHÍ MINH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM .................................... 68


3.2.1. Kết tử đồng hướng với việc tổ chức lập luận trong văn chính luận

Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám ............................................... 69
3.2.2. Kết tử nghịch hướng với việc tổ chức lập luận trong văn chính
luận Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám ....................................... 76
TIỂU KẾT ....................................................................................................... 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 91
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giao tiếp xã hội, con người luôn cần dùng tới lập luận. Lập luận
khơng chỉ xuất hiện trong lời của các chính trị gia, trong các văn bản nghị
luận mà có mặt ngay cả trong giao tiếp thường nhật. Lập luận luôn được sử
dụng như là một phương thức trao đổi thông tin: để thanh minh, để giải thích
một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác hay đơn giản chỉ để bác bỏ ý
kiến của ai đó.
Trong một lập luận, bên cạnh nội dung miêu tả cịn có các dấu hiệu hình
thức giúp người nghe nhận ra được cái đích của hành vi lập luận như là một
hành động ở lời. Chúng là các dấu hiệu hình thức giúp người nghe nhận ra
được hướng lập luận và đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ
lập luận. Chúng được gọi chung là chỉ dẫn lập luận.
Gần đây, một số luận văn, khóa luận đã có đề cập đến các chỉ dẫn lập
luận, nhưng chưa có cơng trình nào tập trung đi sâu miêu tả thật đầy đủ về các
chỉ dẫn lập luận và phân tích giá trị của nó trong văn chính luận dưới góc nhìn
ngữ dụng học.
Vì lý do trên, chúng tơi chọn khảo sát chỉ dẫn lập luận trong văn chính
luận Hồ Chí Minh nhằm góp phần bổ sung và làm rõ thêm tác động, hiệu lực

của chúng trong lập luận. Cụ thể, đề tài luận văn của chúng tôi là “Chỉ dẫn
lập luận trong văn chính luận Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám”.
Chúng tơi chọn văn chính luận để khảo sát bởi lẽ văn chính luận là thể
loại đặc trưng chứa nguồn ngữ liệu phong phú về các kiểu quan hệ lập luận;
chọn các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chủ tịch bởi lẽ nơi đây không chỉ
hàm chứa những tư duy sắc bén, trí tuệ siêu phàm, lý luận vững chắc mà còn


2

mang đậm những lẽ thường dân tộc để đưa “lập luận” đến gần với “thuyết
phục”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, thông qua việc khảo sát, thống kê, phân loại, phân
tích các hình thức chỉ dẫn lập luận trong các văn bản chính luận của Hồ Chí
Minh sau Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi muốn làm rõ bản chất của các
dấu hiệu lập luận; tính quy ước của hành vi lập luận; đánh giá vai trò, sự tác
động của chúng trong mỗi cấu trúc lập luận. Đồng thời, qua đó, chúng tơi
muốn góp phần khẳng định tài sử dụng ngơn ngữ cũng như tầm trí tuệ của vị
lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.
Triển khai đề tài này, chúng tôi tự đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu cần
giải quyết như sau:
- Tổng kết vấn đề lý thuyết liên quan đến lập luận, chú trọng đến lý
thuyết về chỉ dẫn lập luận.
- Thống kê các hình thức chỉ dẫn lập luận của các đoạn văn lập luận
trong 30 tác phẩm chính luận của Hồ Chí Minh từ sau Cách mạng Tháng
Tám.
- Miêu tả, phân tích, nhận xét đặc tính của các yếu tố chỉ dẫn lập luận đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát và nghiên cứu các hình
thức chỉ dẫn lập luận trong văn chính luận Hồ Chí Minh sau Cách mạng
Tháng Tám.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khn khổ có hạn, luận văn tập trung nghiên cứu hai hình thức chỉ
dẫn lập luận là tác tử và kết tử lập luận trong 30 tác phẩm văn chính luận Hồ
Chí Minh từ sau Cách mạng Tháng Tám.


3

Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh mang trọng trách của một
người đứng đầu một quốc gia vừa giành được độc lập, đang chồng chất những
khó khăn, tình thế có lúc tưởng như “ngàn cân treo sợi tóc”. Chính trong giai
đoạn này, nghị lực cách mạng phi thường và tài năng xuất chúng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã bộc lộ và phát huy rực rỡ. Các tác phẩm chính luận đã nắm
bắt hiện thực cuộc sống, thể hiện thành những nội dung quan trọng liên quan
đến vận mệnh dân tộc và số phận mỗi con người Việt Nam. Những lời kêu
gọi, thư, bài báo, bài phát biểu... đã thể hiện rõ tư duy nhạy bén, lựa chọn
sáng suốt của Người trong việc đưa ra quyết sách giải quyết nhiệm vụ phức
tạp, lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, từng bước
tiến lên.
Khảo sát văn chính luận sau Cách mạng Tháng Tám của Người chúng
tơi muốn làm rõ hơn tầm văn hóa, tư duy sắc sảo, giàu tính lý luận và tài năng
lớn trong việc sử dụng ngôn từ của Bác.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Tuyển tập văn chính luận của Hồ Chí Minh, Lữ Huy Nguyên tuyển
chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, 1997.
- Hồ Chí Minh tồn tập, từ tập 4 đến tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 2009.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại;
- Phương pháp phân tích, miêu tả;
- Phương pháp so sánh.


4

5. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển
khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Tác tử lập luận trong văn chính luận Hồ Chí Minh sau Cách
mạng Tháng Tám
Chương 3: Kết tử lập luận trong văn chính luận Hồ Chí Minh sau Cách
mạng Tháng Tám
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1. Vấn đề về chỉ dẫn lập luận
Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên đề cập đến chỉ dẫn lập luận. Trong cơng
trình Đại cương ngơn ngữ học, khi bàn về quan hệ giữa các luận cứ (p, q) với
kết luận (r), ông cho rằng: chúng có hiệu lực lập luận khác nhau. Giữa các
luận cứ có thể có quan hệ đồng hướng hoặc nghịch hướng. Nhờ có chỉ dẫn lập
luận mà người nghe nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận. Chỉ
dẫn lập luận không chỉ là các từ hư (tác tử, kết tử lập luận) mà ngay nội dung
miêu tả, từ ngữ được dùng (từ thực) để thể hiện nội dung miêu tả và vị trí luận
cứ cũng có giá trị như là các chỉ dẫn lập luận. Theo tác giả, tác tử lập luận là
một yếu tố khi đưa vào nội dung nào đấy thì sẽ làm thay đổi tiềm năng lập

luận của nó, độc lập với thơng tin miêu tả. Với việc chỉ ra tác tử lập luận là
những từ hư, những tiểu từ tình thái, Đỗ Hữu Châu đã gợi mở hướng nghiên
cứu mới về ý nghĩa của hư từ trong tiếng Việt. Về kết tử lập luận, tác giả cũng
phân loại theo quan hệ: đồng hướng, nghịch hướng; theo vị trí: kết tử hai vị
trí, kết tử ba vị trí; theo chức năng: kết tử dẫn nhập luận cứ, kết tử dẫn nhập
kết luận. Tuy nhiên, dưới góc độ một cơng trình có tính chất đại cương, tác
giả đã không đi sâu vào vấn đề này [5, tr.177].


5

Hồng Phê, trong cơng trình Tốn tử - Logic tình thái xem chỉ dẫn lập
luận là những toán tử trong logic, tác động đến những đơn vị thuộc một cấp
độ nào đó nhất định, để tạo ra những đơn vị mới.
Tác giả Nguyễn Đức Dân [8, tr.216] bước đầu lý giải rõ ràng hơn về
thang độ và định hướng lập luận của các tác tử “ít/chút ít”, “kia/ thơi”, “những
- chỉ - có”, “mới... đã”, “cịn... đã”, “chưa... đã”, “đã... vẫn”, “đã... cịn/vẫn
cịn”... Tác giả khẳng định, từ hư có vai trị quan trọng trong sự hình thành
nghĩa của câu nhưng nghĩa đó độc lập với thực từ. Theo tác giả, “trong ngôn
ngữ tồn tại một lớp từ định hướng lập luận. Mỗi khi có một từ của lớp này
xuất hiện trong câu, người ta có thể rút ra một kết luận về sự kiện được đề cập
trong câu theo hướng nào đó mà khơng thể rút ra kết luận theo hướng ngược
lại” [8, tr.219].
Vấn đề chỉ dẫn lập luận cũng được các luận văn, luận án nghiên cứu
nhưng chủ yếu là kết tử lập luận, như: Tìm hiểu kết tử đồng hướng trong tiếng
Việt (Luận văn thạc sĩ, Trần Thị Lan, 1994), Kết tử lập luận “thực ra/thật
ra”, “mà” và các quan hệ lập luận (Luận văn thạc sĩ, Kiều Tuấn, 1996), Hiệu
lực lập luận của nội dung miêu tả, của thực từ và các tác tử “chỉ”, “những”,
“đến” (Luận văn thạc sĩ, Lê Quốc Thái, 1997)...
Ngoài ra, vấn đề này cịn được trình bày trong một số bài báo của tạp chí

Ngơn ngữ như: Logic - ngữ nghĩa của từ “mà”, Logic - ngữ nghĩa của từ
“thì” (Nguyễn Đức Dân); Kết tử “vì” trong lập luận tiếng Việt, Kết tử nghịch
hướng “tuy vậy/tuy thế” trong tiếng Việt (Nguyễn Thị Thu Trang)...
Cho đến nay, chưa có cơng trình nghiên cứu về chỉ dẫn lập luận trong thể
loại văn chính luận. Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiếp thu thành
quả của các cơng trình nghiên cứu trên làm cơ sở cho hướng nghiên cứu
của mình.


6

6.2. Vấn đề về văn chính luận Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một tác gia lớn để lại cho hậu thế một khối lượng đồ sộ
các tác phẩm thuộc nhiều thể loại, được viết với nhiều phong cách khác nhau.
Hơn ba mươi năm nay, đã có rất nhiều bài viết, bài bình luận của các nhà hoạt
động chính trị, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu trong và ngồi nước bàn về các
giá trị tư tưởng, giá trị giáo dục, giá trị nghệ thuật trong các trước tác của
Người.
Các tác giả nước ngoài đã đánh giá rất cao khi nhận xét về các tác phẩm
văn chính luận Hồ Chí Minh: “Với lối văn xi gọn gàng và chặt chẽ, trong
đó việc tước bỏ những tình tiết rườm rà khơng cần thiết cho việc thể hiện đã
làm cho bút pháp của Người thêm duyên dáng và bóng bẩy... Người đã viết
tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp và ra tờ báo Người cùng
khổ... Các bài báo này đã cho chúng ta thấy nghệ thuật viết văn bậc thầy của
tác giả, và hơn thế nữa, chúng ta thấy mầm mống của quan điểm chính trị - tư
tưởng ln nổi lên và hòa quyện với những giá trị thuần văn hóa” (Phêlich
Pita Rodrighetx – Cuba) [28, tr.247]. Hay: “Một đặc điểm của Hồ Chủ tịch là
người trình bày những việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn,
dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được”
(U. Bơcset - Úc) [28, tr.249].

Trong “Hồ Chí Minh, Tác gia - Tác phẩm - Nghệ thuật ngơn từ” [34] đã
có rất nhiều bài viết nghiên cứu về văn chính luận Hồ Chí Minh, trong đó có
một số bài liên quan đến lập luận. Đi sâu nghiên cứu phong cách ngơn ngữ Hồ
Chí Minh trong văn chính luận về mặt cách dùng từ, đặt câu, về nghệ thuật
ngôn ngữ..., các bài viết vừa chỉ ra vừa phân tích những đặc sắc về ngơn ngữ.
Tác giả Nguyễn Phan Cảnh, “bước đầu tìm hiểu ngơn ngữ Hồ Chí Minh
qua những lời kêu gọi” đã chỉ ra “trong cách diễn đạt, điều trước tiên là các
bài viết của Hồ Chủ tịch có một tính logic chặt chẽ phù hợp với yêu cầu của


7

phong cách chính luận - người viết phải chú ý trước hết sự trình bày một cách
đúng đắn hệ thống luận điểm, trong trình tự logic, tránh sự phức tạp, chủ yếu
là chú ý đến nội dung. Hồ Chủ tịch đã dùng rộng rãi trong các bài viết của
mình các hình thức suy lý diễn dịch, nhất là suy lý tỉnh lược và tam đoạn luận
phức hợp” [34, tr.176].
Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã viết về Tuyên ngôn độc lập: “Tun
ngơn độc lập là một áng văn chính luận - văn chính luận thuyết phục người ta
bằng những lý lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh bằng những lập luận chặt chẽ,
bằng những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng
đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm
cho sự thuyết phục bằng lý lẽ mà thôi” [25, tr.16].
Tác giả Nguyễn Kim Thản “Một số suy nghĩ trong khi tìm hiểu di sản
của Hồ Chủ tịch về ngôn ngữ” cũng đã chỉ ra đặc điểm trong cách nói, cách
viết của Người “Về mặt nội dung, lời nói, bài viết của Người bao giờ cũng sơi
nổi, có tính chiến đấu cao, sâu sắc, chính xác, chắc nịch về logic, đồng thời
ln tốt ra thái độ ung dung, thư thái, giàu tinh thần lạc quan và nhân đạo
cộng sản chủ nghĩa...” [34, tr.210].
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong “Một vài suy nghĩ về các phương thức tổ

chức trong văn bản ngôn ngữ của Bác” đã khẳng định: trong các bài viết của
Hồ Chí Minh, khơng có một bài nào khơng có tính mục đích. Tác giả đề cập
đến một cách lập luận phổ biến trong các văn bản Hồ Chí Minh: “để nêu bật
một vấn đề trọng tâm trong hàng loạt vấn đề có liên quan với nhau, Bác bao
giờ cũng trình bày, sắp xếp chúng theo kiểu xâu chuỗi. Chỉnh thể trên câu
như vậy được gọi là chỉnh thể với cấu trúc mắt xích: (A->B. B->C. C->D...).
Một dạng cụ thể của mơ hình này mà Bác dùng là: “Để (muốn) A thì B. Để
(muốn)B thì C. Để (muốn) C thì D...” [41].


8

Tác giả Nguyễn Như Ý khi “thử nghiên cứu phong cách ngơn ngữ Chủ
tịch Hồ Chí Minh trên quan điểm lý thuyết giao tiếp ngơn ngữ”, có nêu một
kiểu lập luận mà Bác đã sử dụng “đoạn lập luận tăng cấp để diễn đạt logic
nhận thức về quá trình thực hiện một nhiệm vụ hay quá trình tác động lên một
đối tượng để đạt mục đích” [34, tr.153].
Như vậy, phong cách ngơn ngữ Hồ Chí Minh trong tác phẩm nghệ thuật
cũng như trong văn chính luận rất phong phú đa dạng đã được nhiều cơng
trình nghiên cứu. Những cơng trình trên đi vào nghiên cứu phong cách ngơn
ngữ văn chính luận nói chung về mặt sử dụng từ ngữ đặt câu và bước đầu
nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến lập luận.
Những cơng trình này đã đóng góp vào việc phát hiện giá trị to lớn về di
sản ngơn ngữ Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vấn đề về chỉ dẫn lập luận trong văn
chính luận chưa được tập trung nghiên cứu trong cơng trình cụ thể nào. Trong
luận văn này, kế thừa thành quả của các cơng trình đi trước, chúng tơi tìm
hiểu chỉ dẫn lập luận trong văn chính luận Hồ Chủ tịch sau Cách mạng
Tháng Tám.
7. Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau:

- Giới thiệu và phân tích các hình thức chỉ dẫn lập luận trong văn chính
luận của Hồ Chí Minh.
- Qua khảo sát, phân loại, phân tích, miêu tả chỉ dẫn lập luận trong văn
chính luận Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám, luận văn sẽ góp phần
chỉ ra hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố (hư từ, trợ từ, quan hệ từ...) để
thay đổi hiệu lực lập luận.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho việc giảng dạy bộ mơn
Ngữ dụng học, Tiếng Việt thực hành, Tập làm văn... trong nhà trường.


9

- Đối với công việc hiện tại, việc thực hiện luận văn sẽ giúp người viết
nâng cao khả năng vận dụng chỉ dẫn lập luận trong xây dựng văn bản hành
chính thuộc lĩnh vực chun mơn được giao.


10

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Để tìm hiểu “Chỉ dẫn lập luận trong văn chính luận Hồ Chí Minh sau
Cách mạng Tháng Tám”, chúng tôi sử dụng các vấn đề thuộc về lý thuyết
lập luận.
1.1. LÝ THUYẾT LẬP LUẬN

1.1.1. Khái niệm lập luận
Lập luận (argumentation) là đưa ra những lý lẽ (luận cứ) nhằm dẫn dắt
người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người
nói muốn đạt tới [5, tr.155].

Lý lẽ là nội dung được diễn đạt bằng các phát ngôn. Lý lẽ của lập luận,
gọi là luận cứ, ký hiệu là p, q. Kết luận, ký hiệu là r.
Có thể kí hiệu quan hệ lập luận (công thức lập luận) như sau:
p, q → r
Ví dụ 1:
“Cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là chính nghĩa. Nó
được nhân dân u chuộng hịa bình trên khắp thế giới ủng hộ. Vậy có thể
đoán chắc rằng: Mỹ - Diệm nhất định sẽ thua, nhân dân miền Nam nhất định
sẽ thắng” [28, tr.193].
Đoạn văn trên là một lập luận gồm hai luận cứ:
Luận cứ thứ nhất: Cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là
chính nghĩa
Luận cứ thứ hai: Nó được nhân dân u chuộng hịa bình trên khắp thế
giới ủng hộ
Từ đó rút ra kết luận: Mỹ - Diệm nhất định sẽ thua, nhân dân miền Nam
nhất định sẽ thắng.


11

Lập luận có thể xuất hiện trong một diễn ngơn đơn thoại, trong một phát
ngôn hoặc trong một văn bản viết một chiều. Lập luận cũng có thể nằm trong
lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật hội thoại với nhau (song thoại, tam
thoại).
Ví dụ 3: [5, tr.157]
Sp 1: Đi Đồ Sơn làm gì, vừa đơng vừa chật chội, nước biển lại đục.
Sp 2: Gần thành phố, thực phẩm ở đó đắt lắm. Giá khách sạn cao mà
chưa chắc đã còn phòng mà thuê.
Sp 3: Năm nào cũng đi biển, chán lắm rồi.
Sp 4: Khơng đi Đồ Sơn thì đi đâu? Sa Pa nhé!

Sp 2, sp3: Hoan hô Sa Pa.
Cả 3 người đều đi đến kết luận: không đi Đồ Sơn.
1.1.2. Vị trí và sự hiện diện của luận cứ, kết luận
a) Trong một lập luận, kết luận (r) có thể đứng ở đầu, ở giữa hoặc
cuối các luận cứ.
Ví dụ:“Anh em phải làm sao cho dân mến. Phải nhớ rằng dân là chủ.
Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là ở dân hết. Phải làm sao
cho dân mến, khi sắp đến dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan
cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ” [33, T4, tr.41]
Kết luận (r) chính là mệnh đề thứ nhất được đặt ở đầu đoạn văn: cán bộ
phải được lòng dân. Kết luận được chứng minh bằng hai luận cứ:
Luận cứ 1: Dân có vai trò quan trọng đối với cách mạng nước ta. Luận
cứ này được thể hiện qua các câu: “Dân là chủ”, “Dân như nước mình như
cá”, “Lực lượng bao nhiêu là ở dân”.
Luận cứ hai: Nhiệm vụ của người cán bộ là phải được lòng dân: “Phải
làm sao cho dân mến, khi sắp đến dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm
quan cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”


12

b) Các thành phần của luận cứ, kết luận có thể hiện diện tường minh.
Tuy nhiên khơng ít trường hợp trong đó một luận cứ hay kết luận có thể
hàm ẩn , người nghe phải tự suy ra.
Ví dụ: “Địch chỉ hoạt động được mấy tháng. Sau mùa mưa thì chúng
hết thiên thời. Việt Bắc có địa thế hiểm trở qn địch khơng có địa lợi. Địch
càng lan rộng thì càng thiếu người, sức càng mỏng chúng càng dễ bị làm cho
đồng bào ta ở miền xuôi cũng như miền ngược đồn kết chống lại chúng, địch
càng khơng có nhân hịa” [29, tr.328].
Đoạn văn trên có năm câu, là một lập luận ẩn kết luận. Dựa vào các ý

nhỏ được nêu trong mệnh đề luận cứ: “chúng hết thiên thời”, “khơng có địa
lợi”, “ địch càng khơng có nhân hịa” và tiền giả định là một lẽ thường được
ông cha ta đúc kết từ lâu là: Muốn thành công việc gì cũng cần hội đủ ba yếu
tố: thiên thời, địa lợi, nhân hịa, trong chiến tranh cũng vậy. Từ đó có thể rút
ra kết luận 1: Địch (Thực dân Pháp) khơng thể thắng được. Từ kết luận 1 có
thể nhận ra thêm kết luận hàm ẩn thứ hai của lập luận này: “Chúng ta nhất
định thắng”, bởi những gì địch khơng có, địch gặp khó khăn lại chính là
những điều kiện thuận lợi của chúng ta để đi đến giành thắng lợi.
Hành vi ở lời gián tiếp thường là kết luận mà nội dung của những phát
ngôn ngữ vi tường minh là luận cứ.
Có những lập luận đơn (lập luận chỉ có 1 kết luận). Có những lập luận
phức hợp. Có 2 mơ hình lập luận phức hợp:
p1, q1 → r1 → r2 → r3 → R
p1, q1 → r1
p2, q2 → r2

R

p3, q3 → r3
Ở mơ hình này, R là kết luận chung, r1, r2, r3 là những kết luận bộ phận.


13

Khơng có diễn ngơn nào khơng phải là lập luận. Mỗi diễn ngôn, hoặc là
một lập luận đơn giản, hoặc là một lập luận phức hợp. Tư tưởng chủ đề của
tồn bộ diễn ngơn có thể xem là R lớn và tư tưởng chủ đề của từng đoạn hợp
thành diễn ngôn là những r. Một đoạn là một lập luận bộ phận, tất cả hợp lại
thành lập luận lớn chung cho tồn bộ diễn ngơn.
Tiêu chí để xác định một lập luận là kết luận. Hễ tìm ra được một kết

luận là ta có một lập luận.
1.1.3. Phân biệt lập luận, miêu tả, logic và thuyết phục
a) Lập luận và miêu tả
Các phát ngôn với nội dung phản ánh một hiện thực khách quan, sự kiện
bên ngồi ngơn ngữ bằng lời nói gọi là phát ngơn miêu tả hay phát ngôn khảo
nghiệm. Nội dung của các phát ngôn này (nội dung miêu tả, lõi miêu tả) là
một hành động xác tín và được đánh giá theo tiêu chuẩn logic đúng, sai.
Ví dụ :
- Trời mưa.
- Nhà ơng ấy có 5 tầng.
Trong thực tế, rất ít khi các phát ngơn miêu tả này chỉ dùng để miêu tả
mà người nói thường hướng người nghe đến một cái gì đó bên ngồi những
nội dung miêu tả. Nói cách khác, cái gì mà thông tin miêu tả hướng tới là một
kết luận nào đó rút ra từ thơng tin miêu tả và phát ngôn miêu tả trở thành một
luận cứ của lập luận. Người ta đưa miêu tả vào trong các quan hệ lập luận.
Giá trị của nội dung miêu tả trong lập luận không phải được đánh giá theo
tiêu chuẩn đúng sai logic mà giá trị đích thực của nó là giá trị lập luận.
Ví dụ:
(1) Đã 8 giờ rồi→ Khẩn trương lên.
(2) Mới 8 giờ thôi → Từ từ thôi.


14

Về mặt thơng tin thì hai phát ngơn này như nhau nhưng do các chỉ dẫn
lập luận khác nhau mà dẫn tới hiệu lực lập luận khác nhau và không thể khác
được.
Cũng có những nội dung miêu tả mà tự nó đã có giá trị lập luận, định
hướng lập luận nhất định, khơng cần phải có chỉ dẫn lập luận bổ sung.
Ví dụ: thơng minh, đẹp trai, cần cù, trung thực→ đánh giá tốt; đần độn,

xấu trai, lười biếng, dối trá→ đánh giá xấu.
Và vì ý nghĩa đích thực của các nội dung miêu tả là các giá trị lập luận
của chúng cho nên bất kì ngơn bản nào, qua các lựa chọn chi tiết, sắp đặt
câu,… người viết đều cố ý dẫn người đọc đến kết luận nào đó .
Một văn bản (một đoạn văn) thường là 1 lập luận đơn hay phức, bất kể là
văn bản viết theo phong cách nào. Kết luận chính là chủ đề của ngơn bản. Hay
nói cách khác, tư tưởng chủ đề chính là kết luận tường minh hay hàm ẩn của
ngôn bản. Tính lập luận là sợi chỉ đỏ bảo đảm tính mạch lạc của ngôn bản.
[15, tr.70]
b) Lập luận và chứng minh suy diễn logic
Trong logic, chúng ta có phép quy nạp và diễn dịch. Quy nạp hay diễn
dịch cũng là căn cứ vào các lập luận (quy nạp: luận cứ cục bộ để đi đến kết
luận khái quát; diễn dịch: kết luận khái qt đóng vai trị luận cứ tiên đề để đi
đến kết luận cục bộ - kết luận hệ quả). Vì vậy, nói đến lập luận là ta thường
nghĩ ngay đến logic, đến lý luận, đến các văn bản nghị luận.
Thật ra, khơng chỉ có mặt trong văn bản nghị luận, lập luận có mặt ở
khắp nơi, trong bất cứ ngôn bản nào, trong các hoạt động giao tiếp đời thường
(mua bán, đặt lịch hẹn…).
Trong logic, quan hệ lập luận chỉ có thể xuất hiện giữa các mệnh đề
logic, tức là các câu xác tín. Cịn trong lập luận thường ngày, quan hệ lập luận
có thể diễn ra giữa các hành động ở lời.


15

Ví dụ: - Bố đi làm sắp về rồi. Đi nấu cơm đi! (Kết luận là một mệnh lệnh)
- Anh có lời mời, nhất định tơi sẽ đến. (Kết luận là một hành động hứa)
Phân biệt lập luận với chứng minh, suy diễn logic:
- Lập luận là hoạt động ngôn ngữ thuộc ngữ dụng; suy diễn, chứng
minh là thao tác của logic.

- Chứng minh, suy diễn có tính tất yếu, dựa trên các quy tắc logic, trên
những chân lý được đánh giá đúng, sai. Trong lập luận, kết luận chỉ là sự
chiêm nghiệm thực tế, khơng có tính tất yếu.
Ví dụ: So sánh suy diễn logic với lập luận ngôn ngữ
Suy diễn logic:
- Tất cả mọi người đều phải chết (đại tiền đề): đúng
- Sosrate là người (tiểu tiền đề): đúng
- Sosrate phải chết (kết luận): đúng
Lập luận ngôn ngữ:
- Kiến leo lên cao. p: đúng
- Chân đau khớp. q: đúng
- Trời sẽ mưa.

r: có thể đúng hoặc sai

Suy diễn logic khơng có tính tranh biện vì kết luận của suy diễn logic
tất yếu phải đúng nếu tiền đề đúng. Ngược lại lập luận có tính tranh biện. Lập
luận có thể có phản lập luận.
Ví dụ: Xe này rẻ q, khơng nên mua.
Xe này rẻ q, nên mua.
Ví dụ: Mẹ sắp đi chợ về rồi. Thích thật!
Mẹ sắp đi chợ về rồi. Chán thật!
Ví dụ: Lão này cù lần lắm. Ai mà ưng cho được!
Lão này cù lần lắm. Ưng mấy lão thế này là yên tâm!
Lập luận đời thường có thể chấp nhận kết luận có vẻ phi logic.


16

Ví dụ: Đang bận bù đầu đây, nhưng đi uống cà phê một chút cũng

được!
c) Lập luận và thuyết phục
Lập luận và vận động lập luận là hành động ở lời có đích thuyết phục.
Tuy nhiên khơng nên đồng nhất lập luận với thuyết phục. Không phải cứ lập
luận là thuyết phục được người tiếp nhận. Aristote nói tới 3 nhân tố phải đạt
được để lời nói của mình thuyết phục được người nghe. Đó là:
- Logos: nhân tố lý lẽ. Muốn thuyết phục được phải có lý lẽ.
- Patos: nhân tố cảm xúc. Lời nói phải gây ra được tình cảm, thiện cảm
của người tiếp nhận.
- Ethos: nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lý dân tộc, văn hóa của người
tiếp nhận. Lời nói chẳng những phải có lý, phải có tình cảm, gây được thiện
cảm mà cịn phải phù hợp với sở thích, tính cách hoặc truyền thống dân tộc,
văn hóa của người tiếp nhận.
Khả năng thuyết phục của lời nói, của sự nói năng (kể cả điệu bộ, cử chỉ)
của mình tùy thuộc vào chỗ chúng có hội đủ 3 nhân tố trên hay không.
Lập luận chỉ là một điều kiện để thuyết phục vì lập luận chỉ đưa ra kết
luận, cịn kết luận có thuyết phục được người nghe hay khơng thì lại là điều
khác. Hiệu quả thuyết phục của lập luận là nhân tố thuộc hành vi mượn lời.
1.1.4. Đặc tính của quan hệ lập luận
a) Quan hệ định hướng lập luận
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ p, q... và các kết luận r.
Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p và q
được đưa ra để hướng tới một r nào đấy.
Có hai quan hệ:
a1) Quan hệ đồng hướng lập luận khi các luận cứ đều đưa đến một kết
luận chung.


17


Ký hiệu:
p→r
q→r
p, q có thể có quan hệ tương hợp vì chúng cùng nhóm luận cứ, thuộc
cùng một phạm trù.
p, q có thể có quan hệ tương hợp vì chúng cùng một nhóm luận cứ,
thuộc cùng 1 phạm trù.
Ví dụ : Chiếc xe này rẻ , lại mới chạy có 9000 km, mua đi .
p
q
r
p, q cũng có thể có quan hệ độc lập với nhau, không cùng phạm trù
nhưng vẫn đồng hướng lập luận.
Chiếc xe này rẻ, anh vừa nhận được tiền nhuận bút, mua đi.
p
q
r
a2) Quan hệ nghịch hướng lập luận khi luận cứ này hướng đến kết luận
cịn luận cứ kia phủ định kết luận đó
p→r
q→-r
Ví dụ: Bà mẹ nói với con gái về chàng rể tương lai:
Anh ta có quyền lực lớn và giàu có nhưng anh ta lại nhẫn tâm.
p: anh ta có quyền lực lớn
q: anh ta giàu có

--> r Nên lấy anh ta

z: anh ta nhẫn tâm


--> – r Không nên lấy anh ta

a3) Hướng lập luận (kết luận) là do luận cứ có hiệu lực mạnh nhất
quyết định.
Xét theo quan hệ định hướng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập
luận khác nhau, có nghĩa là p có sức mạnh đối với kết luận + r (hoặc – r) lớn
hơn q hoặc ngược lại. Thường thường luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn
được đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn.


18

Ví dụ: Ngơi nhà này rộng rãi, lại ở mặt phố, rất thuận lợi cho việc buôn
bán.
Luận cứ “ở mặt phố” có hiệu lực lập luận mạnh hơn luận cứ “ngôi nhà
này rộng rãi”. Hai luận cứ này đồng hướng lập luận, cùng hướng đến kết luận
+ r: “thuận lợi cho việc bn bán”.
Sự thay đổi vị trí của luận cứ dẫn tới sự khác nhau về hiệu lực của chúng
đối với kết luận. Hiệu lực của sự thay đổi này sẽ càng rõ hơn đối với các luận
cứ nghịch hướng lập luận.
Ví dụ: - Khuya rồi nhưng xe có đèn (về được)
- Xe có đèn nhưng khuya rồi (khơng nên về)
Vì vậy, hướng lập luận, kết luận của lập luận là do luận cứ có hiệu lực
mạnh nhất trong các luận cứ quyết định.
b) Chỉ dẫn lập luận
Chỉ dẫn lập luận là các dấu hiệu hình thức nhờ chúng người nghe nhận ra
được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan
hệ lập luận.
b1) Tác tử lập luận
Tác tử lập luận là những yếu tố tác động vào một phát ngôn sẽ tạo ra một

định hướng nghĩa làm thay đổi tiềm năng lập luận của phát ngơn. [8, tr.176]
Ví dụ: So sánh 2 phát ngơn sau:
(1)

Chiếc bình này giá mười cây vàng

(2)

Chiếc bình này giá những mười cây vàng

Phát ngơn (1) là phát ngôn miêu tả sự kiện. Phát ngôn (2), nhờ có từ
“những” mà có thêm thái độ đánh giá, bình luận của người nói. Ở đây sự đánh
giá là “cao”, là “nhiều” do đó là “đắt” hay một thuộc tính có chất lượng cao.
Vì có thêm thái độ đánh giá nên nó có thể làm luận cứ cho một định hướng
lập luận. Khơng ai muốn mua đắt vật gì. Vì vậy phát ngơn (2) có định hướng


19

cho lập luận mà kết luận là “không nên mua”. “Những” là một tác tử lập luận
vì có định hướng nghĩa nên có định hướng lập luận.
Theo Nguyễn Đức Dân: “Trong ngôn ngữ tồn tại một lớp từ định hướng
lập luận. Mỗi khi có một từ thuộc nhóm này xuất hiện trong câu, người ta có
thể rút ra một kết luận về sự kiện được đề cập trong câu đó theo một hướng
nào đó mà khơng thể rút ra kết luận theo hướng ngược lại” [8, tr.219]. Tác tử
lập luận thường có hai định hướng: định hướng dương (+) tích cực và định
hướng âm (-) tiêu cực.
Nguyễn Đức Dân cũng đã phân tích thang độ định hướng qua các tác tử
lập luận sau:
(1)


Những/chỉ, có
Ví dụ: Chiếc bình cổ này có giá những 10 cây vàng
Những: nhiều, (giá) cao, đắt → KL: khơng nên mua
Chiếc bình cổ này có giá chỉ (có) 10 cây vàng → KL: rẻ, nên mua

(2)

Kia/ thơi
Ví dụ: Chiếc bình cổ này giá 10 cây thơi! (thơi: ít, thấp, rẻ)
Chiếc bình cổ này giá 10 cây kia (kia: nhiều, cao, đắt)

(3)

còn… đã
mới… đã
chưa…đã
Cả 3 cặp tác tử này đều đảo hướng lập luận và thể hiện thái độ đánh
giá: q sớm
Ví dụ: Cịn bé mà đã biết giúp mẹ. Con cái nhà ai thật là giỏi.
Chưa ráo máu đầu đã cãi lại mẹ. Tôi thật vô phước.
Mới cưới ba hôm đã cãi nhau. Đôi ấy rồi sẽ khơng ra gì.

(4)

đã… vẫn
đã… cịn


20


đã… vẫn còn
Đây là những cặp tác tử đảo hướng lập luận + thái độ đánh giá: muộn
Ví dụ:
Đã tám giờ tối mà vẫn chưa ăn cơm. Bà sao chậm chạp thế!
Đã khuya rồi mà vẫn còn hát inh ỏi. Không cho ai ngủ chắc!
Đã ba ngày rồi con bé vẫn chưa về. Tơi nóng ruột q!
Đã thi rồi, cịn học mơn này làm gì. Thật là hâm q!
(5)

mới/đã
mới: sớm, ít về thời gian
đã: muộn, nhiều về thời gian
Tôi mới 22 tuổi. Tôi chưa muốn lấy chồng
Tôi đã 22 tuổi. Tơi sẽ lấy chồng vì sợ ế.
Bây giờ mới tháng 10.
Nó tập mới 5 tháng >< Nó tập đã 5 tháng

(6)

ít/chút ít, đơi chút
Ít: định hướng âmChút ít, đơi chút: định hướng dương+
Ví dụ:
Nam ơn ít. Có thể nó trượt đại học
Nam có ơn thi chút ít. Nó có thể đậu đại học
Hai từ ít và chút ít được xếp trên thang độ nhiều – ít. Từ ít được so sánh

với nhiều, cịn chút ít được so sánh với “khơng gì cả”. Do vậy tuy ít có thể
xếp cao hơn chút ít, nhưng chúng tạo ra những định hướng lập luận khác
nhau. Từ ít định hướng theo chiều âm [-], cịn chút ít định hướng theo chiều

dương [+].
b2) Kết tử lập luận


×