Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Đặc sắc tản văn gáy người thì lạnh của nguyễn ngọc tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (838.57 KB, 73 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

LÊ THỊ LINH

ĐẶC SẮC TẢN VĂN GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

ĐẶC SẮC TẢN VĂN GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Bùi Bích Hạnh

Người thực hiện


LÊ THỊ LINH

Đà Nẵng, tháng 05/2014


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu “Đặc sắc tản văn Gáy người thì
lạnh của Nguyễn Ngọc Tư” do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi
Bích Hạnh. Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về nội dung khoa học của
cơng trình này.
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Lê Thị Linh


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành bày tỏ lịng tri ân và kính trọng sâu sắc đối
với các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã
tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến TS. Bùi Bích Hạnh đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian xây dựng và hồn thành khóa luận.
Cuối cùng tơi xin được cảm ơn bạn bè, gia đình và những người thân đã động
viên giúp đỡ tơi trong suốt q trình thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014
Sinh viên


Lê Thị Linh


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 4
5. Bố cục khóa luận ............................................................................................ 4
Chương 1. NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỨC TRANH TẢN VĂN
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI ............................................................................... 5
1.1. Nguyễn Ngọc Tư và hành trình sáng tạo tản văn........................................ 5
1.1.1. Người phụ nữ nuôi cô đơn để viết văn..................................................... 5
1.1.2. Nguyễn Ngọc Tư - “Gió lạ” của tản văn Việt Nam sau đổi mới ............. 9
1.2. Tản văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại ........................... 12
1.2.1. Tản văn - “Viện bảo tàng của cuộc sống”.............................................. 13
1.2.2. Diện mạo tản văn Việt Nam đương đại ................................................. 16
Chương 2. GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH - TỪ NHỮNG SUY NGẪM THẾ SỰ
ĐẾN NHỮNG SUY NGHIỆM PHẬN NGƯỜI........................................... 20
2.1. Suy ngẫm về chân giá trị của cuộc sống ................................................... 21
2.1.1. Tâm niệm “hạn chế sân hận, trải rộng tình thương” .............................. 21
2.1.2. Trăn trở về sự phai nhạt những giá trị cuộc sống .................................. 25
2.2. Đau đáu cái nhìn nuối tiếc về một thời xưa cũ ......................................... 29
2.2.1. Kí ức của một “thời đứng ngó” .............................................................. 29
2.2.2. Hồi niệm về con người cũ và vùng đất cũ............................................ 32
2.3. Suy nghiệm về thân phận con người ......................................................... 37
2.3.1. Nỗi ám ảnh trước những số phận trẻ thơ bất hạnh ................................. 37
2.3.2. “Tiếng thở dài” trước sự đeo bám của cái nghèo................................... 41



Chương 3. GÁY NGƯỜI THÌ LẠNH - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NGHỆ THUẬT ............................................................................................... 44
3.1. Kết cấu....................................................................................................... 44
3.1.1. Ý nhằng ý (chêm xen ý) ......................................................................... 45
3.1.2. Kết thúc bỏ ngỏ ...................................................................................... 48
3.2. Ngôn ngữ trần thuật .................................................................................. 51
3.2.1. Ngôn ngữ đặc sệt Nam Bộ ..................................................................... 52
3.2.2. Ngơn ngữ đời thường góc cạnh .............................................................. 55
3.3. Giọng điệu ................................................................................................. 57
3.3.1. Giọng “tưng tửng”, nhẩn nha ................................................................. 58
3.3.2. Giọng bất an, dự cảm ............................................................................. 60
3.3.3. Giọng chao chát chiêm nghiệm.............................................................. 61
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 65


1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong văn học Việt Nam đương đại, nếu như các thể loại văn học khác
như thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn… tiếp tục phát triển và dần hồn thiện trên
đà vốn có, đồng thời tiếp thu, chịu sự ảnh hưởng của các trào lưu, trường phái
văn học hậu hiện đại trên thế giới mạnh mẽ kể từ sau năm 1975 thì tản văn,
thể loại dường như bị lãng quên ở thời đoạn văn học trước đó lại trở về, bứt
phá trong văn học đương đại. Cùng với các thể loại khác, tản văn chọn cho
mình một điểm tựa để quay về, đó chính là những góc riêng trong tâm hồn
con người, những tâm tư tình cảm qua chính sự va chạm, quan sát và thể

nghiệm của nhà văn trong cuộc sống. Tản văn chính là một trong những thể
loại phù hợp nhất để nhà văn trải lòng. Nhiều tác giả đã tạo được dấu ấn với
thể loại này như Mạc Can, Dương Thụy, Phan Thị Vàng Anh và đặc biệt là
Nguyễn Ngọc Tư… Tuy nhiên, viết tản văn hay không phải là điều đơn giản
để tạo được sức hút đối với người tiếp nhận và thực tế đã chứng minh không
phải nhà văn nào viết tản văn cũng tạo được dấu ấn đặc biệt trong lòng bạn
đọc như nhà văn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư.
Được đánh giá là một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại, cái
tên Nguyễn Ngọc Tư được biết đến như một cây bút nữ đầy nội lực, một
người phụ nữ viết văn, sáng tác và thành công trên nhiều thể loại văn học
khác nhau. Với Nguyễn Ngọc Tư, nếu ở thể loại truyện ngắn, truyện dài khó
thể hiện mình, tiểu thuyết bộc lộ đơi chút thì tản văn chính là nơi để chị giãi
bày những cảm xúc đầy ứ trong lịng mà các thể loại khác khó có thể chạm
tới. Đọc tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, bạn đọc dường như lạc vào một thế
giới nội cảm đầy tinh tế, sâu sắc; bị hấp dẫn bởi lối viết tưng tửng, cười trong
cay xót với chất giọng đặc sệt Nam Bộ. Nối tiếp tập tản văn Yêu người ngóng
núi, Gáy người thì lạnh cuốn bạn đọc vào những câu chuyện tản mạn không


2
đầu không cuối về đời sống hiện đại ngày càng đậm đặc cô đơn, nơi mà con
người luôn ngơ ngác đi tìm lời giải cho những câu hỏi bất tận. Lựa chọn đề tài
nghiên cứu “Đặc sắc tản văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư”,
chúng tơi mong muốn góp thêm một góc nhìn về phong cách tản văn Nguyễn
Ngọc Tư và khẳng định quá trình vận động trong hành trình sáng tác của nữ
nhà văn này nhìn từ phương diện thể loại.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tư khi xuất hiện trên văn đàn, được đánh giá là gương
mặt tiểu biểu của văn học Việt Nam đương đại, là một hiện tượng văn học
đáng lưu tâm; tác phẩm của nữ nhà văn này, khi ra đời dù ở thể loại nào ít

nhiều cũng gây được sự chú ý và xôn xao đối với những người bạn văn, giới
nghiên cứu phê bình và đơng đảo bạn đọc yêu mến văn chương. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư phần nhiều nghiêng về quan niệm văn
chương của tác giả cũng như hành trình sáng tạo của cây bút trẻ mà ít có các
cơng trình nghiên cứu chun sâu về những tác phẩm cụ thể. Trong quá trình
nghiên cứu, tác giả khóa luận đã tập hợp được một số nghiên cứu có liên quan
trực tiếp đến đề tài.
Cụ thể, Trần Thị Hương với đề tài “Nét đặc sắc trong tản văn Yêu
người ngóng núi của Nguyễn Ngọc Tư” đã đi sâu vào nghiên cứu và khám
phá “vẻ đẹp ẩn đằng sau những câu chuyện tưởng chừng vụn vặt, tủn mủn”
[8, tr.67] của thể loại tản văn trong tập tản văn u người ngóng núi; đem lại
một cái nhìn khách quan hơn về một nhà văn trẻ đang dần khẳng định nội lực
của mình ở thể loại này. Bên cạnh đó, Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm sáng tác
của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phương đã có những khai thác khái
quát về quan điểm sáng tạo của nữ nhà văn. Trên cơ sở khảo sát, phân tích các
tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ở các thể loại như truyện ngắn, tản văn, luận
văn đi vào tìm hiểu đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Đó


3
là thế giới nhân vật đa dạng, là những biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Từ đó
khẳng định vị trí của nữ nhà văn trên văn đàn văn học Việt Nam [20].
Ngoài ra, trong một số bài viết về đặc điểm tản văn, nhiều tác giả cũng
đã đề cập đến vài nét về phong cách tản văn Nguyễn Ngọc Tư, trong đó có tản
văn Gáy người thì lạnh. Đó là Điểm sáng tản văn 2011 - Tản văn trong thời
đại mạng internet và chuyển đổi cơ chế thị trường, tác giả Dã Thảo đã có
những nhận định khái quát về sự trở lại của thể loại tản văn trong văn chương
đương đại với những gương mặt tiêu biểu trong đó có Nguyễn Ngọc Tư. Tác
giả đã phần nào nhìn thấy “những tâm hồn trống rỗng, nhạt nhẽo, vô vị, là
những con người sống ở trên cõi đời mà không biết đến đâu là điểm dừng,

điểm đến, cũng chẳng biết dừng biết đủ” trong tản văn Gáy người thì lạnh của
đặc sản Nam Bộ [23]. Hay Tản văn, thể loại không dành cho người viết trẻ
của tác giả Hồng Nga lại tiếp cận thể loại này từ nguồn gốc xuất phát và
chứng minh rằng, tản văn ngày nay không phải là câu chuyện thiên tào, bông
phèn của “những vị cây đa cây đề” mà là mảnh đất để trải lòng của cả những
người trẻ tuổi, trong đó có Nguyễn Ngọc Tư [18].
Tất cả những bài viết nêu trên, ở một mức độ nào đó cũng đưa ra một
cách khái quát về tản văn Nguyễn Ngọc Tư; tuy nhiên chưa đi sâu vào khai
phá tản văn Gáy người thì lạnh. Vì thế, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc sắc tản
văn Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là tản văn Gáy người thì lạnh của
Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Thời đại, 2012).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận là đặc sắc tản văn Gáy người thì
lạnh của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện tư duy nghệ thuật và phương
thức biểu hiện.


4
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu loại hình
Vận dụng những lí thuyết chung về tản văn với các đặc trưng thẩm mĩ
của thể loại này vào tác phẩm Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư, để
khai thác những nét đặc sắc về tư duy nghệ thuật cũng như phương thức biểu
hiện trong tản văn này.
4.2. Phương pháp hệ thống - cấu trúc
Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình
lịch sử văn học đương đại, qua đó thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các

hiện tượng văn học với nhau. Từ đó, chúng tơi có thể sắp xếp tác phẩm trong
chỉnh thể nghiên cứu, sắp xếp các vấn đề một cách logic và phù hợp để làm
nổi bật các luận điểm.
4.3. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Từ những biểu hiện về đặc sắc trong tản văn Gáy người thì lạnh, chúng
tôi khái quát thành những luận điểm cơ bản, từ đó đúc kết thành những nhận
xét, đánh giá và khái quát vấn đề tiêu biểu của phong cách tản văn Nguyễn
Ngọc Tư qua tác phẩm này.
4.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành so sánh và đối chiếu
phong cách tản văn của Nguyễn Ngọc Tư với một số nhà văn khác trong dòng
chảy tản văn đương đại, nhằm phát hiện ra những nét đặc sắc có trong tản văn
Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư.
5. Bố cục khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của
khóa luận gồm có 3 chương.
Chương 1. Nguyễn Ngọc Tư trong bức tranh tản văn Việt Nam đương đại
Chương 2. Gáy người thì lạnh - Từ những suy ngẫm thế sự đến những suy
nghiệm phận người
Chương 3. Gáy người thì lạnh - Nhìn từ phương diện nghệ thuật


5
Chương 1. NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỨC TRANH TẢN VĂN
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Nhà văn Hemingway từng cho rằng sự rèn luyện tốt nhất để tạo nên
một tài năng văn chương lớn là có một tuổi thơ dữ dội. Điều này vận vào
trường hợp của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư thật rất phù hợp. Bởi với những
gì đã trải qua trong suốt năm tháng thiếu thời nhiều vất vả, cực nhọc, đã nuôi

lớn và ấp ủ cái duyên nghiệp văn chương trong tâm hồn tác giả. Ln gắn cái
nhìn của mình vào con người và cuộc sống, lặng lẽ đi qua những thâm trầm
và biến động của nhân gian, nữ nhà văn đã lao động cật lực trên từng trang
viết để mang đến cho bạn đọc những trang văn thật sự giá trị. Miệt mài sáng
tạo và trưởng thành ở truyện ngắn, đến với tản văn, Nguyễn Ngọc Tư ngày
càng thể hiện được “độ chín” trong phong cách văn chương của mình để hịa
nhập vào dịng chảy sơi động của tản văn đương đại. Như một con gió lạ đầy
cuốn hút, Nguyễn Ngọc Tư với quan niệm văn chương thật giản dị; góp phần
tích cực vào q trình hồn thiện và phát triển mạnh mẽ của tản văn Việt Nam
đương đại.
1.1. Nguyễn Ngọc Tư và hành trình sáng tạo tản văn
1.1.1. Người phụ nữ nuôi cô đơn để viết văn
“Cuộc sống, sự vận động mãnh liệt, khơng gì kiềm hãm nổi của nó
khơng những tạo nên sự vận động trong tư tưởng sáng tạo của nhà văn mà cịn
có tác động sâu sắc tới sự phát triển những quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của
nhà văn nói chung. Thế giới quan của nhà nghệ sĩ không phải là một cái gì bất
động; nó ln có những biến đổi và những biển đổi đó thường hết sức quan
trọng” [9, tr.27]. Để hoà nhập vào nền văn học đương đại, nhiều nhà văn đã
nhập thân trong chính thế giới chủ quan của mình; đưa bản thân đến với cơ
đơn bất tận; đến với sự lạc lõng vô vị, sự nhạt nhẽo tận cùng của cuộc đời. Họ
trải nghiệm trong ám ảnh của khắc khoải lo âu, nơm nớp trước bộn bề của


6
cuộc sống. Khi người nghệ sĩ khơng tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội
thì cơ đơn đến với họ như một điều tất yếu. Với Nguyễn Ngọc Tư, “ni cơ
đơn” là một cách để che giấu mình trong văn chương.
Mang trong mình sự nhạy cảm của một người phụ nữ, Nguyễn Ngọc
Tư càng cần phải đắm chìm vào cơ đơn để tìm cho mình cảm hứng đi vào thế
giới rất người - nơi mà niềm tin về lòng nhân, lòng thiện, về giá trị truyền

thống, về tương lai đều bị đánh đổ. Một thế giới mà ở đó xuất hiện nhiều con
người với đủ sắc thái, cung bậc cảm xúc, nếm đủ mọi đau khổ cuộc đời;
những con người ln mệt mỏi đấu tranh với chính mình trong hành trình
sống. Họ ngơ ngác, bơ vơ, quằn quại ngay giữa đồng loại; họ bốp chát, gào
thét, hoang hoải trong cuộc chạy đua với những giá trị vật chất. Nắm bắt được
hiện thực đó, Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu cuốn mình vào những cơ đơn, lạc
lõng; cuốn mình vào những chiều sâu tâm lí, bản năng, vào thế giới nội cảm
của con người để tạo ra một bứt phá lớn về khả năng bóc tách kĩ xảo nội tâm
của con người. Với quan niệm văn chương vị cuộc đời, tác giả đã nhìn thấu
suốt con người từ chiều sâu của nội tâm. Trên tinh thần cảm quan hậu hiện
đại, tâm thế bất tín nhận thức với thực tại đã tạo ra một khoảng khơng vơ tận
cho những hồi nghi và hoang mang; và cô đơn nảy sinh như một kết quả tất
yếu minh chứng cho sự vô nghĩa và trống rỗng đang tồn tại trong con người.
Nhà văn từng chia sẻ: “Nghề viết, dù nam hay nữ thì độ bất trắc, sự rủi ro, sự
cô đơn nặng nề cũng như nhau. Tơi thấy chẳng khác biệt gì lớn lắm. Chỉ là…
thí dụ nghen, tơi viết xong phải nấu cơm, chăm sóc con thì anh nhà văn X nào
đó vừa viết xong ảnh đi… nhậu. Nhưng tơi chẳng lấy đó làm buồn, sống trong
thế giới phụ nữ, rất dễ nuôi cơ đơn để viết” [7]. Có lẽ là phụ nữ, nên cảm giác
chông chênh và bất an luôn thường trực trong tâm thế của Nguyễn Ngọc Tư.
Cho dù chủ thể đứng ở một vùng mênh mang sông nước hay lạc giữa một con
đường miền Nam đơng vui tấp nập thì nhà văn vẫn cảm thấy mình đang chơ
vơ, lạc lõng, hoang hoải trong hành trình của chính mình. Chính vì vậy, khi


7
bất cứ ai gặp tác giả ngoài đời hay trên mỗi trang văn cũng đều nhìn thấy
đằng sau nụ cười của Nguyễn Ngọc Tư là một nỗi buồn dấm dẳng, bất tận.
Buồn song có lẽ khơng tái tê, Nguyễn Ngọc Tư chỉ buồn bất lực và lúc rảnh
thì ni buồn để viết.
Đặc trưng của văn học hậu hiện đại là sự trở lại của con người bản ngã,

con người đời tư, con người với vô số những chấn thương, bi kịch. Nếu ở văn
học giai đoạn 1930 - 1945, khi con người rơi vào tận cùng của cơ độc thì gào
thét để tìm lối thốt thì con người trong văn học sau năm 1975 lại chấp nhận
và sống chung với cô đơn để sáng tạo. Cô đơn trở thành một phạm trù thẫm
mĩ khi “nỗi lo của thế kỉ về sự cơ đơn, sự phân thân, sự tha hóa của con
người; nỗi lo về thân phận con người là dấu hiệu đặc trưng của văn học
phương Tây thế kỉ XX” [12, tr.96] đến văn học đương đại Việt Nam đã trở
thành mối quan tâm chính. Cũng sống, cũng hịa nhập với cộng đồng nhưng
dễ gì con người tìm thấy ở nhau tiếng nói chung, tiếng nói đồng điệu. Sống
chỉ để căng ra mà hốt hoảng, mà vật vã, cuống cuồng chạy tìm giá trị thực của
cuộc sống; tìm tình yêu thương của những người xung quanh hay tìm chính
mình trong quan hệ tự thân. Nguyễn Ngọc Tư cũng như bao số phận người ở
vùng sông nước Cà Mau, cũng mong tìm được gương mặt cá thể. Hiển hiện
đậm đặc trong các trang tản văn của chủ thể sáng tạo, mỗi nhân vật, mỗi câu
chuyện mà tác giả đề cập đến dường như chưa bao giờ bước chân ra khỏi
vòng tròn của cô độc và bất lực khi con người không làm chủ được chính
mình, khơng hịa nhập bản thân vào đời sống xã hội. Đó là một thế giới ám
ảnh buồn và ngập ngụa cô đơn. Nguyễn Ngọc Tư sợ mình lạc mất chính
mình; mình khơng cịn là mình, khơng còn là Tư giản dị, đơn sơ mà tinh tế
đến mức cảm nhận được cuộc sống của những con người bên hơng nhà mình,
hay xa hơn là những số phận người lam lũ ngoài kia. Tác giả cũng như họ,
sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người mênh mông nhưng ln có cảm
giác như bị bỏ rơi. Chỉ một cơn gió, một gợn sóng, một sự biến đổi nho nhỏ


8
cũng đủ làm tâm hồn nữ nhà văn bất an và chênh chao. Khi đó, nhân vật của
“đặc sản Nam Bộ” khơng cịn là một sự áp đặt của văn học mà trở thành một
trải nghiệm tinh tế của tác giả khi viết cho nhân vật nhưng đồng thời cũng viết
cho chính mình.

Chịu khó nghiên cứu và tiếp cận cuộc sống từ nhiều điểm nhìn khác
nhau, từ nhu cầu cũng như trách nhiệm của một người cầm bút có tâm huyết
và tài năng, Nguyễn Ngọc Tư đã không ngừng khai phá cuộc sống theo cách
riêng của mình; đem lại cho bạn đọc những trang tản văn mang phong vị là lạ
nhưng rất gần gũi, đồng điệu với tâm hồn. Nuôi cơ đơn, ni buồn để có thể
trải nghiệm, có thể lẩn quẩn vào trong nhưng cảm xúc ấy mà nghĩ, mà suy về
con người đi ra từ đời sống thật, cái cô đơn của Nguyễn Ngọc Tư cũng giống
như cô đơn của con người trong thời kì hiện đại này. Cảm giác cô đơn đến với
họ không phải là họ muốn tách mình ra khỏi cộng đồng mà trái lại họ muốn
hịa nhập với xã hội nhưng lại khơng thể chen chân vào đời sống và kết nối
với đồng loại. Họ như độc bước giữa một cõi hư vô không có dấu chân của
con người, nhưng thực ra họ lại đang tồn tại trong chính bản thân họ với nhiều
mâu thuẫn giằng xé. Trong chính cái xã hội lợi danh, vật chất, khó nhận ra
tình u thương giữa con người với con người.
Với một tâm hồn trong trẻo nhưng nặng trĩu nỗi niềm của một người
phụ nữ ln nhìn mọi người trong sự cô độc đồng thời cũng thấy được những
quy luật của cuộc sống được phản ánh qua ngòi bút của mình, tản văn Nguyễn
Ngọc Tư mang đến cho người đọc cảm giác buồn đến mênh mang, là lạ; cái
buồn âm ỉ, không thể làm cho người ta bật khóc, song cũng khơng thể chóng
qn. Chỉ là những chuyện bình dị trong cuộc sống, vậy mà khi vào văn của
Nguyễn Ngọc Tư lại nghe hồ như một lời thốt lên, tưng tửng, nhẹ tênh của
những người trẻ “vơ tình” gặp bất hạnh trên đường đời song vẫn ni hồi hi
vọng. Đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc như cảm thấy có một bàn
chân vơ hình nào đó đang chầm chầm đi theo, nhìn sát sạt vào gáy, làm lành


9
lạnh sống lưng; bàn chân đó như giẫm đạp vào lịng mình chỉ để vết thương
cứ âm ỉ chứ khơng rỉ máu, cảm xúc ngột ngạt chứ không giải toả. Càng đọc
càng cảm thấy đang ngẩn ngơ với chính xã hội, với cuộc đời, với gia đình và

với chính bản thể; để rồi giật thốt lên, thấy mình sao lạc lõng q, cơ đơn q
giữa cuộc đời. Đây có thể xem là nỗi cô đơn hiện sinh, là cái buồn nhuốm dư
vị triết lí trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư.
1.1.2. Nguyễn Ngọc Tư - “Gió lạ” của tản văn Việt Nam sau đổi mới
Kể từ cuộc vận động sáng tác sau năm 1986, văn học Việt Nam đương
đại bắt đầu bước thật sự vào một cuộc nhận đường mới, nhiều cơ hội nhưng
đồng thời đứng trước khơng ít thách thức, rủi ro. Các văn nghệ sĩ một mặt tiếp
tục con đường sáng tạo nghệ thuật văn chương theo định hướng mới, mặt
khác lại loay hoay, trăn trở và đấu tranh để tìm ra một con đường mới, thốt
khỏi khuôn mẫu đã cũ ở những giai đoạn văn học trước đó. Dân chủ trở thành
nguyện vọng bức thiết và lan rộng trong tồn giới văn học nói riêng và các
ngành nghệ thuật khác nói chung. Văn học phải thực sự sát thực với từng hơi
thở, từng chuyển động tế vi của cuộc sống. Nhà văn cầm bút trên nhiều tư
cách khác nhau. Có thể đó là một cái nghề cái nghiệp của cuộc đời trao vào
tay; có thể là thiên chức, trách nhiệm của một người nghệ sĩ thực sự có ý thức
nghệ thuật để phản ánh cuộc sống đúng bản chất của nó chứ khơng thuần nhất
chỉ là một chiều như vốn có với những kết thúc có hậu. Ai cũng hăng say
trong cuộc nhận đường đó, và Nguyễn Ngọc Tư cũng khơng đứng ngồi cuộc
khi là một trong số ít những gương mặt thật sự cá tính trên con đường sáng
tạo nghệ thuật. Những thành tựu ở thể loại tản văn mà nữ nhà văn này đã
đóng góp cho văn học đương đại là điều khơng thể bàn cãi.
Là một cây bút nội lực, Nguyễn Ngọc Tư ngày càng khẳng định được
tư chất cầm bút của mình và được nhà văn Nguyên Ngọc hết lời khen ngợi:
“Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái
cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vây, tươi tắn lạ


10
thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất,
chân chất mà tinh tế, đặc biệt Nam Bộ một cách như không” [17]. Bắt đầu ghi

dấu ấn trong lòng bạn đọc mộ đạo văn chương ở thể loại truyện ngắn, trưởng
thành hơn sau mỗi trang viết và khẳng định được cá tính sáng tạo của mình
trên văn đàn, người phụ nữ viết văn này ngày càng “chất” và dày dặn hơn ở
tản văn. “Cơn gió lạ” này đã quyện một luồng gió mới, trong lành và đầy hứa
hẹn cho tản văn Việt giai đoạn sau này.
Xuất phát từ chính nhu cầu khám phá và hịa mình vào cuộc sống, bằng
sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trên tinh thần nhân bản của văn học, Nguyễn
Ngọc Tư đã bản lĩnh thể hiện một cái tôi rất “riêng” với thể loại tản văn. Như
Turghênev từng viết: “cái quan trọng trong tài năng văn học… và tơi nghĩ
rằng cũng có thể trong bất kỳ một tài năng nào, là cái mà tơi muốn gọi là tiếng
nói của mình. Đúng thế, cái quan trọng là tiếng nói của mình, cái quan trọng
là cái giọng riêng biệt của chính mình khơng thể tìm thấy trong cổ họng của
bất kỳ một người nào khác… Muốn nói được như vậy và muốn có được cái
giọng ấy thì phải có cái cổ họng được cấu tạo một cách đặc biệt, giống như
của lồi chim vậy. Đó chính là đặc điểm phân biệt chủ yếu của một tài năng
sống độc đáo” [9, tr.90]. Cái cổ họng đặc biệt của Nguyễn Ngọc Tư, cái làm
cho nhà văn này dù đứng giữa một rừng những cá tính nổi trội vẫn bật lên một
cách rạng rỡ, chính là cái chất giọng Nam Bộ ln nói thẳng, sống thật một
cách tận hiến trước tiên cho niềm đam mê của bản thân. Vì ý thức được
những điều trên, mỗi lần xuất hiện với một tuyển tập tản văn mới, Nguyễn
Ngọc Tư lại làm cho bạn đọc hồi hộp và mong đợi khi không biết tác giả sẽ
cho mình thưởng thức thêm một món gì “mới”. “Mới” với Nguyễn Ngọc Tư
không chỉ đơn thuần là đề tài mới, nóng bỏng mang tính thời sự, mà cái mới
của chị còn là cái mới của một sự giản dị, chân phương khi viết về những vấn
đề đã quá quen thuộc và bình thường nhưng rất lạ, rất dễ lấy lịng người. Bắt
đầu thử sức với tập tản văn đầu tiên in chung với nhà văn Lê Thiếu Nhơn


11
Sống chậm thời @ (2006); bằng chính sự đằm thắm và chân thật trong cảm

xúc, trong suy nghĩ và sự tinh tế trong mỗi liên tưởng đã tạo nên sức hấp dẫn
kì lại trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư. Đều đặn cho ra mắt những tập tản
văn thời gian sau đó, Ngày mai của những ngày mai (2007), Biển của mỗi
người (2008), Yêu người ngóng núi (2009) và Gáy người thì lạnh gần đây là
những tác phẩm tạo được chiều sâu suy tư và càng khẳng định “độ chín”
trong phong cách tản văn của Nguyễn Ngọc Tư. Với bút lực dồi dào, cộng với
sự mẫn cảm và tinh tế, “đặc sản Nam Bộ” đã soi chiếu vào bề rộng những vấn
đề xã hội và bề sâu của số phận con người. Mỗi trang tản văn dù viết về
những đề tài quen thuộc, song dưới cách nhìn nhận và lí giải của Nguyễn
Ngọc Tư luôn trở nên mới mẻ và đầy cuốn hút.
Trước những cây tản văn gạo cội như Mạc Can hay Mai Văn Tạo, tản
văn Nguyễn Ngọc Tư cũng mang nhiều nét tương đồng trong lối viết; bởi nhà
văn Nam Bộ nào cũng thấm đẫm cái chất quê hiền lành, chất phác nhưng hào
sảng và chịu chơi của miền đất này. Nhưng nếu Mạc Can và Mai Văn Tạo
mang chất giọng gần gũi, sắc sảo song lịch lãm của những người đã đi qua
gần hết cuộc đời thì tản văn của Nguyễn Ngọc Tư lại mang cái chất giọng
chân phương, tự nhiên nhưng sâu sắc đến vô cùng. Chính điều này tạo nên cái
chất lạ mà quen trong mỗi trang viết và tản văn của tác giả dường như lúc nào
cũng mới. Khơng lẫn lộn với bất kì một chất giọng nào, vẫn cái sắc lạnh,
dửng dưng nhưng luôn tràn đầy những nỗi niềm tâm sự và sâu sắc đến vô
cùng, Nguyễn Ngọc Tư dường như luôn làm chủ được chính mình. Khước từ
mọi lối bắt chước cuộc sống thơng thường, chị để mình đắm chìm trong thế
giới chủ quan của tâm hồn mà mặc sức sáng tạo, mặc sức giải tỏa những bức
bối vọng về từ cõi lịng.
Lao động nỗ lực qua từng trang viết, khơng ngủ quên sau những chiến
thắng, nữ nhà văn trẻ tuổi dường như đã khuấy động bầu khơng khí của văn
học nước nhà bằng một phong vị viết khác lạ, độc đáo với những điều hết sức


12

giản dị mà khơng ít người cố gắng tiếp cận một cách khó khăn. Cũng đa dạng
trong các đề tài quen thuộc của tản văn đương đại, chị còn làm mới mình khi
đi sâu vào khai phá vùng đất nội tâm của con người với những biến động, bất
an đầy dự cảm khi niềm tin vào cuộc sống bị vơi đi từng ngày theo cơn lốc
của cơ chế thị trường. Luôn nắm bắt kịp thời và nhanh nhạy các vấn đề nóng
hổi trong đời sống xã hội, Nguyễn Ngọc Tư khơng chỉ đơn thuần giữ cho
mình cái chất giọng tâm tình tha thiết của tản văn thời kì đổi mới mà còn đem
đến cho bạn đọc sự phẫn uất, đau đớn. Cơn gió lạ ngày càng tung hồnh và
thể hiện sự chiếm lĩnh của mình khi tiếp tục cho ra một loạt những tác phẩm
mới trong thể loại tạp văn, tản văn.
Bằng văn phong của một người sống “từng trải” ngay từ khi cịn thơ ấu,
Nguyễn Ngọc Tư ln xem văn chương với mình là một cái duyên mà trời
trao vào tay không thể không nhận và khi đã nhận rồi thì phải làm sao cho
thật xứng đáng. Chính quan niệm viết văn thật và chất đúng như cuộc sống,
Nguyễn Ngọc Tư đã xác lập vị thế của mình giữa một rừng các cây bút viết
tản văn. Sự độc đáo và chân phương trong lối viết của người phụ nữ yêu văn
chương đã thổi mát tâm hồn bạn đọc giữa những bộn bề của cuộc sống mưu
sinh.
1.2. Tản văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại
Trong những năm trở lại đây, văn học đương đại đứng trước sự vận
động của thời đại đã cựa mình đổi mới trên mọi phương diện, đặc biệt là
phương diện thể loại. Sự bùng vỡ của tiểu loại tản văn trong thể loại ký được
xem như một hiện tượng đáng chú ý trong lịch sử phát triển của ký văn học;
góp mặt đáng kể vào khn mặt gia đình ký Việt Nam.
“Nhìn lại đời sống văn học hơn mười năm qua, thấy bên cạnh những
thể loại được coi là chủ chốt trên văn đàn như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ,…
tản văn đã thực sự có chỗ đứng trong ý thức tiếp nhận của cơng chúng. Nó
vươn dậy tự nhiên trong nhu cầu mạnh mẽ muốn góp những tiếng nói chân



13
thực và biểu lộ chính kiến của các nhà văn về tất cả các vấn đề trong cuộc
sống, bởi tản văn là thể loại bộc lộ trực tiếp “cái tôi” của người sáng tác” [12,
tr.285]. Trong đó, Nguyễn Ngọc Tư là một luồng sinh khí góp mặt vào mơi
trường tản văn đương đại đang vận động và phát triển.
1.2.1. Tản văn - “Viện bảo tàng của cuộc sống”
Tản văn hay còn được gọi với tên gọi khác như nhàn đàm, phiếm luận
hay đoản văn là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học nằm trong
thể ký. Mặc dù xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học, nhưng qua rất nhiều
lăng kính nghiên cứu thì người ta vẫn chưa hiểu một cách đồng nhất, thuần
nhất về thể loại này.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “tản văn là loại văn xi ngắn gọn,
hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân
vật. Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, khơng nhất
thiết địi hỏi phải có cốt truyện phức tạp, nhân vật hồn chỉnh nhưng có cấu tứ
độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân. Điều cốt yếu là tản văn tái hiện
được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình
cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả. Tản văn là loại văn tự do,
dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến
và cá tính của tác giả, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ” [4,
tr.295 ].
Rộng lớn ở phương diện đề tài, tản văn khơng bỏ sót một ngóc ngách
nào của đời sống xã hội, đặc biệt là những biến động của đời sống tâm hồn
con người thời kinh tế thị thường. Là tiểu loại “bộc lộc trực tiếp “cái tôi” của
người sáng tác” [12, tr.285], mỗi trang tản văn là một thái độ, một quan điểm,
nếp nghĩ của tác giả khi nằm trong lòng cuộc sống và đối diện với cuộc sống.
Theo đó, giáo sư Hồng Ngọc Hiến cũng có một cách hiểu tương tự: “Tản văn
là một tiểu loại ký ngắn gọn, hàm xúc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ
trữ tình, tự sự hay nghị luận mà thường là cả mấy thứ đan quyện vào



14
nhau…ngòi bút của tản văn chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở
những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ… mang đậm dấu ấn cảm nhận và cảm
nghĩ rất riêng của tác giả” [5, tr.235]. Khá gần với thể loại essay, tản văn vừa
kể chuyện tản mạn vừa thể hiện rõ nét tư tưởng và quan điểm của nhà văn về
những vấn đề xã hội, đời tư nhiều biến đổi. Có thể thấy, với dung lượng khá
ngắn gọn của mình, tản văn vừa phải kể được “chuyện”, vừa cung cấp một
lượng thông tin xác thực đến bạn đọc, đồng thời phải thể hiện được cái “tôi”
của tác giả ở đấy. Đứng trước mỗi vấn đề, tùy người sẽ có cách nhìn nhận,
đánh giá và thể hiện quan điểm theo cách riêng của mình. Bản lĩnh và sự độc
lập trong suy nghĩ chính là vấn đề cốt yếu để cái “tôi” ấy được đứng vững,
thuyết phục và nhận được sự đồng cảm của bạn đọc. Và vấn đề về dung lượng
cũng là một điều tạo ra sự đặc biệt cho thể loại này khi với hình thức ngắn
gọn như vậy, tản văn lại được đánh giá như là một viện bảo tàng, cuốn bách
khoa toàn thư về cuộc sống.
Trước đây, trong quan niệm của rất nhiều người viết văn thì tản văn
thường là những câu chuyện tản mạn bông phèng của các vị cây đa, cây đề
trong giới văn chương. Nhưng sự thật, cũng bình đẳng như tất cả các thể loại,
tiểu loại khác, tản văn chính là con mắt cuộc đời mà nhiều người lựa chọn để
ghi lại những vận động dù nhỏ, dù lặt vặt trong đời sống để mang đến cho bạn
đọc nhiều thể nghiệm mới lạ hơn đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa văn học
và đời sống. Nếu hiểu văn học là “lương tri của thời đại” [12, tr.89] thì tản
văn chính là nguồn cung cấp dồi dào nhất nguồn lương tri đó cho bạn đọc khi
rõ ràng, với dung lượng khá khiêm tốn của mình, tản văn lại có thể đủ sức
dung chứa những câu chuyện xô bồ của cuộc sống, sự nhập nhằng của xã hội
để từ đó cài cắm nguồn thơng tin văn hóa xã hội vào quan điểm, thái độ cũng
như cảm xúc của người viết. Tập tản văn Nhân trường hợp chị Thỏ Bông của
Phan Thị Vàng Anh năm 2004 là một ví dụ khi đây là những kiến giải của nhà
văn về cuộc sống, nhân tình thế thái hay sự nhạy cảm và ý thức trách nhiệm



15
khi đứng trước những vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm như hôn nhân,
giáo dục, giao thông, môi trường và đặc biệt là đạo đức của con người. Tản
văn khơng cịn đơn thuần là những câu chuyện tâm tình của những nhà văn
đứng tuổi mà cịn là nơi để các nhà văn ở mọi lứa tuổi suy nghiệm về cuộc
đời. Dù là trữ tình hay là chính luận hoặc có sự kết hợp hồn hảo của cả hai
thì trên mỗi trang viết, tác giả luôn nỗ lực đào sâu, dấn thân trải nghiệm để từ
đó chia sẻ với bạn đọc những góc nhìn mới sâu sắc và tồn diện hơn về những
vấn đề thân thuộc, gần gũi trong đời sống.
Văn học đương đại đã vắt mình qua hai thế kỉ, chính vì thế mà những
biến đổi về mọi mặt xã hội ln ln có sức quyến rũ và hấp dẫn với những
người cầm bút. Dù biến đổi không ngừng qua các môi trường xã hội và lịch
sử khác nhau, văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay vẫn đi sâu khai thác
những mặt cơ bản nhất là sự thật và giá trị nhân văn trong cuộc sống con
người . Ln có một cách nhìn hết sức thực tế và hịa quyện giữa cái hiện có
và nên có, khiến con người nhận chân được thực trạng nhân thế, nhà văn
không thể nào không dấn thân vào cuộc sống. Viết văn với mỗi nhà văn
không chỉ đơn thuần là cái nghề mà còn là một thứ nghiệp, mà mỗi người lại
mang một duyên nghiệp. Có người viết truyện ngắn rất hay, rất giỏi nhưng lại
không thể viết hay ở các thể loại khác. Thơ, tiểu thuyết hay ký cũng vậy. Sự
lựa chọn của văn chương luôn bất ngờ và thú vị. Với tản văn, bức tranh cuộc
sống luôn ngồn ngộn trước mắt, tái hiện lại cuộc sống trở thành một như cầu
thúc bách từ thế giới nội tâm, từ chính trải nghiệm đã tích lũy để giãi bày suy
tư hay ghi dấu những hiện tượng xã hội mà người nghệ sĩ khơng thể lờ đi. Tản
văn nói đủ thứ chuyện trên đời, từ những câu chuyện vụn vặt, chuyện gia
đình, tình yêu, lối sống cho đến những chuyện to tát như chính trị, văn hóa…
Người viết tản văn vì thế tự do phóng bút theo những trải nghiệm của mình.
Viết từ nhà ra phố, từ nông thôn đến thành thị, đến cả những vùng đất nơi

cuối cùng Tổ quốc hay lăn bút đến những thân phận nhỏ bé nghèo khổ, rồi trở


16
về quá khứ với chút dư âm của tiếc nuối. Đâu đó là một bữa cơm gia đình, là
một thói quen, là những cảm xúc nghẹn ứ trong lòng mà không thể chảy tràn
trong tản văn của Nguyễn Thị Hậu. Cũng có thể là những hồn cảnh mưu
sinh, bn gánh bán bưng hay cách đối nhân xử thế giữa người với người, rồi
lăn tăn khi nhớ đến một miền đất trong kí ức xa xơi, trước thân thương giờ trở
nên xa lạ dù chỉ cần bước một bước chân nữa là chạm đến của tản văn Mạc
Can, Kim Quyên hay Nguyễn Ngọc Tư. Lắm khi, tràn ngập trong tản văn
hình ảnh của thiên nhiên lúc căng tràn sức sống đến lúc giãy chết đành đạch
vì chính bàn tay con người. Và cũng có thể là cảm nhận của nhà văn khi đứng
trước chân - thiện - mĩ của cuộc đời nhân vơ thập tồn… Những điều tưởng
như q nhỏ bé, vặt vãnh này lại trở thành cái căn cớ để nhà văn “than thở” và
chia sẻ sự đồng cảm với bạn đọc yêu mến văn chương. Bạn đọc dễ dàng tìm
thấy một góc cuộc đời mình trên những trang viết, kỉ niệm dường như sống
dậy đối diện với chính mình rồi lắng đọng, tâm hồn được thả trơi trong dịng
chảy của suy tư. Với nhà văn, viết tản văn như một liệu pháp trị liệu cho tâm
hồn, giãi bày những cảm xúc đầy ứ hay những giây phút tìm lại mình giữa
cuộc đời đầy biến động. Bước chân vào tản văn, chính là mở cánh cửa viện
bảo tàng cuộc sống với những hỉ nộ ái ố của của cảm xúc. Đây có thể xem là
lí do mà ngày càng nhiều người tìm đến với tản văn hơn, bởi ở đó con người
nhận ra mình rõ nhất; được sống thật nhất và thấy bức tranh cuộc sống hiển
hiện gần gũi hơn.
1.2.2. Diện mạo tản văn Việt Nam đương đại
Sáng tạo văn chương mang đặc thù riêng của sáng tạo nghệ thuật. Bắt
nguồn từ chính nhu cầu cá nhân của mỗi nghệ sĩ, lựa chọn một hình thức nắm
bắt sợi dây kết nối tâm hồn với độc giả, chấp nhận sự va chạm và thu nhặt trải
nghiệm để từ đó cho ra một tác phẩm có chất lượng ln là mong mỏi của

nhiều người cầm bút có tư cách. Với những người viết tản văn, trong thời gian


17
gần đây, sự bùng vỡ của tiểu loại này là một động lực thúc đẩy nhiều thế hệ
nhà văn không đứng ngồi lề.
Trên các báo, tạp chí, văn đàn, tản văn xuất hiện khá nhiều, đều đặn và
thường xuyên, nhất là từ sau những năm 90 trở lại. Đây là một tín hiệu khả
quan cho sự phát triển mạnh mẽ của ký văn học. Sự phát triển phong phú và
đa dạng của các tiểu loại trong thể ký, nhất là tản văn, trong thời kì đổi mới là
một minh chứng sinh động về tính dân chủ trong văn học. Bởi đã từng có giai
đoạn, nhiều người quy chụp cho tản văn là những câu chuyện thiên tào, dành
riêng cho những nhà văn không chuyên với vài ba câu chuyện nhỏ vụn kết nối
và man mác buồn, hoặc là vài lần lia bút tránh nhàm chán của các nhà văn
lớn. Đây là cách nhìn khá phiến diện.
Tản văn đương đại ngày càng có nhiều những thương hiệu thật sự chất
lượng. Nhiều nhận xét cịn cho rằng đây chính là “thời của tản văn” khi giữa
sự phát triển ồ ạt và căng cứng của truyện ngắn, thơ hay tiểu thuyết, ln địi
hỏi mỗi ngày một mới, một “chất” hơn thì ở tản văn, chầm chậm lấn sân và
thể hiện bản lĩnh cái riêng của mình, trở thành nơi nương náu an tồn cho
những cảm xúc khó chia sẻ.
Tản văn Việt Nam đương đại xoay quanh những câu chuyện tản mạn
về nhân gian thế sự, về mn mặt cuộc đời mà ở đó con người ln hiện diện
với vị trí trung tâm. “Thời kinh tế thị trường đã chỉnh lại nhiều thước đo giá
trị con người, đặt con người trước những thử thách không kém phần khốc liệt
so với thời kháng chiến. Trước miếng cơm manh áo, trước những đòi hỏi của
cuộc sống vật chất, sự tư lợi cá nhân giằng co với ý thức nghĩa vụ, trách
nhiệm, lợi nhuận cọ xát với đạo đức, lương tâm, liêm sỉ…” [12, tr.285].
Người cầm bút đặt mình trước những vấn đề cuộc sống với một tinh thần
nhạy bén và tinh tế, biết nắm bắt, thu lượm và lắp ghép tất cả thành một bức

tranh cuộc sống sinh động nhất có thể. Bên cạnh đó, nhà văn còn tạo cho bạn
đọc cơ hội trải nghiệm những cung bậc thăng trầm của cảm xúc, lúc đượm


18
buồn, lúc hụt hẫng, lúc nhớ thương, lúc thù hận, lúc chua chát, mỉa mai, lúc
hứng khởi, rạng ngời trên trong từng con chữ. Chính sự tự do và khống đạt
trong cách trình bày mà tản văn đương đại thu hút nhiều hơn các cây bút trẻ
giàu nội lực. Cái tơi rất “riêng” mang cá tính của tác giả là điểm nhấn để
người viết dũng cảm phơi bày những sự thật và thể hiện chính kiến của mình
hay nhiều khi chỉ là một sự chia sẻ đơn thuần song thấm thía.
Tiếp nối mạch nguồn từ những cây bút tản văn của giai đoạn trước đó,
tản văn đương đại ngày càng làm làm mới mình trong sự đa dạng của đề tài.
Khơng chỉ cịn là những câu chuyện tâm sự tha thiết của chủ thể xuất phát từ
sự gắn bó và niềm yêu sống cuộc đời, từ ấn tượng sâu đậm với cảnh sắc quê
hương hay những phong vị của cái đẹp hiện hữu, tản văn đương đại đặc biệt
chú ý tiếp cận bạn đọc từ những diễn biến của đời sống nội tâm với những
hoang mang, lo lắng, thậm chí bất an dữ dội về những bất trắc của xã hội hiện
đại. Đó có thể là cách ứng nhân xử thế giữa con người với con người, giữa
con người với quê hương, đất nước và những giá trị truyền thống, hoặc là nỗi
niềm cảm hoài quá khứ, niềm bi cảm với những vấn đề nóng hổi của thời đại.
Pha lẫn chất tự sự đời thường với chất triết luận sâu sắc, tản văn giai
đoạn này đã mang một diện mạo riêng. Bên cạnh tính chất tản mạn nhẹ nhàng
với những hình ảnh biểu tượng đẹp, gợi cảm thường thấy ở các tác giả quen
thuộc như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Vũ Bằng, là những chính kiến, biện giải
mang tính thời sự, là sự trăn trở, chiêm nghiệm lại cuộc sống nhân sinh của
tác giả được lồng ghép vào cái khung hình thức phù hợp với hoàn cảnh xã
hội. Tản văn đương đại tiếp thu tinh thần, tinh hoa của tản văn trong các giai
đoạn văn học trước đó. Thời của tản văn Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường
được bắt nhịp cầu mới với Mai Văn Tạo, Băng Sơn, Nguyễn Thị Hậu,…

Càng về sau này, các gương mặt tản văn mới xuất hiện càng nhiều đã khằng
định vị trí của tiểu loại tản văn trước các thể loại, tiểu loại khác với Đỗ Chu “Tản mạn trước đèn” được nhận giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt


19
Nam, hay “Người đã cho khơng nhớ” của Hồng Việt Hằng. Đặc biệt là bộ
sách “Sài Gòn tản văn” (Nxb. Hội nhà văn 2011) quy tụ đông đủ các cây bút
ở nhiều độ tuổi khác nhau, từ những cây bút chín mùi trong lối bút cho đến
những người cịn khá trẻ trong nghề viết. Bộ sách đã tập hợp tất cả những
hiểu biết về văn hóa Sài Gịn nói riêng và Nam Bộ nói chung qua những nét
đặc trưng riêng của văn hóa vùng miền, các tác giả thường xuyên ln phiên
góc nhìn về đời sống và tâm lí của người dân sống nơi đô thị lẫn nông thôn
giữa thời đại hội nhập và giao lưu văn hóa, kinh tế, chính trị tồn cầu.
Nhìn chung, tản văn đương đại tuy còn khiêm tốn về thành tựu, nhưng
lại dày dặn và trưởng thành hơn trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.
Sự sôi động trong đời sống xã hội và sự phát triển không ngừng của văn học
ngày càng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tản văn phát triển mạnh mẽ. Dù
còn mang dáng dấp của tản văn giai đoạn trước đó, “cái tơi” của tác giả cịn
chưa thật sự “đậm nét” với những trang viết còn “nhạt”, nhưng với những gì
mà nó đã thể hiện và nỗ lực bức phá, tản văn đương đại ngày càng trở thành
mảnh đất “phúc” cho rất nhiều cây bút lựa chọn để “chuyển kênh”.


×