BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRỊNH TAM ANH
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRỊNH TAM ANH
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC CHINH
Đà Nẵng – Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trịnh Tam Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 3
5. Bố cục đề tài........................................................................................... 4
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ............................................................... 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA
DANH HỌC ..................................................................................................... 7
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH ..................................................... 7
1.1.1. Định nghĩa địa danh ......................................................................... 7
1.1.2. Phân loại địa danh ............................................................................ 9
1.1.3. Các phương diện nghiên cứu địa danh và hướng tiếp cận đề tài....... 13
1.2. NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ........................ 15
1.2.1. Giới thiệu chung về Quảng Ninh ................................................... 15
1.2.2. Vài nét về lịch sử, địa lý của địa bàn nghiên cứu .......................... 19
1.3. KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LỌAI ĐỊA DANH THỊ XÃ
QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH ............................................................ 21
1.3.1. Kết quả thu thập địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh ........ 21
1.3.2. Kết quả phân loại địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh....... 22
1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 .......................................................................... 25
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG
YÊN................................................................................................................. 27
2.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG
YÊN ................................................................................................................. 27
2.1.1. Vài nét khái quát về phức thể địa danh.......................................... 27
2.1.2. Mơ hình cấu trúc phức thể địa danh thị xã Quảng Yên ................. 28
2.2. VẤN ĐỀ THÀNH TỐ CHUNG .............................................................. 30
2.2.1. Vài nét về khái niệm ...................................................................... 30
2.2.2. Cấu tạo thành tố chung trong địa danh thị xã Quảng Yên............. 31
2.2.3. Khả năng chuyển hóa của thành tố chung ..................................... 32
2.2.4. Khả năng chuyển hóa thành tố chung ở thị xã Quảng Yên ........... 32
2.3. ĐỊA DANH (TÊN RIÊNG) ..................................................................... 33
2.3.1. Khái niệm địa danh ........................................................................ 33
2.3.2. Số lượng yếu tố cấu tạo địa danh ................................................... 34
2.3.3. Các kiểu cấu tạo địa danh .............................................................. 35
2.3.4. Các phương thức cấu tạo địa danh................................................. 40
2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2........................................................................... 44
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA ĐỊA DANH VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA
TRONG ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN ............................................ 46
3.1. Ý NGHĨA ĐỊA DANH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH Ý NGHĨA .. 46
3.1.1. Vấn đề ý nghĩa địa danh ................................................................ 46
3.1.2. Phương pháp xác định ý nghĩa địa danh ........................................ 47
3.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG
ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN .............................................................. 49
3.2.1. Phạm vi hiện thực mà địa danh phản ánh ...................................... 49
3.2.2. Tính rõ ràng về ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh.................. 49
3.2.3. Các yếu tố trong địa danh thị xã Quảng n phản ánh tính đa
dạng loại hình các đối tượng địa lý ................................................................. 51
3.3. PHÂN LOẠI Ý NGHĨA ĐỊA DANH ...................................................... 54
3.3.1. Nhóm địa danh phản ánh hiện thực khách quan ............................ 55
3.3.2. Nhóm địa danh có ý nghĩa phản ánh tâm lý, nguyện vọng của
chủ thể định danh ............................................................................................ 64
3.3.3. Nhóm chưa xác định được ý nghĩa ................................................ 68
3.4. Ý NGHĨA VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN ... 68
3.4.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa ......................................... 68
3.4.2. Một số đặc điểm văn hóa thể hiện trong địa danh thị xã Quảng
Yên .................................................................................................................. 72
3.4.3. Các phương diện văn hóa trong địa danh ...................................... 77
3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3........................................................................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
CL
Xã Cẩm La
ĐDNV
Địa danh nhân văn
ĐDĐHTN
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên
ĐDĐVHC
Địa danh đơn vị hành chính
HH
Xã Hiệp Hịa
HT
Xã Hồng Tân
LH
Xã Liên Hịa
LV
Xã Liên Vị
PCH
Phường Cộng Hịa
PĐM
Phường Đơng Mai
PHA
Phường Hà An
PNH
Phường Nam Hòa
PPC
Phường Phong Cốc
PPH
Phường Phong Hải
PQ2
Phường Quảng Yên
PTA
Phường Tân An
PMT
Phường Minh Thành
PYG
Phường Yên Giang
PYH
Phường Yên Hải
SK
Xã Sông Khoai
TA
Xã tiền An
TP
Xã Tiền Phong
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
1.1
Kết quả thu thập địa danh thị xã Quảng Yên
22
1.2
Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí địa hình tự
23
nhiên và khơng tự nhiên
1.3
Kết quả phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ
25
2.1
Kết quả thống kê thành tố chung của thị xã Quảng Yên
29
2.2
Kết quả thống kê thành tố riêng thị xã Quảng n
29
2.3
Mơ hình tổng qt
30
2.4
Thống kê địa danh theo số lượng yếu tố
35
3.1
Thống kê địa danh theo các nhóm ý nghĩa phản ánh
54
3.2
Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa trong tiểu
56
nhóm phản ánh đặc điểm, tính chất của đối tượng địa
danh
3.3
Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa nhóm phản
59
ánh mối liên hệ giữa đối tượng được định danh và các
đối tượng liên quan
3.4
Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa trong nhóm
64
phản ánh tâm lý, tình cảm, nguyện vọng của chủ thể
định danh
3.5
Số lượng địa danh có ý nghĩa phản ánh đời sống tín
ngưỡng tơn giáo
65
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
Trang
1.1
Bản đồ thị xã Quảng Yên – Tỉnh Quảng Ninh
19
3.1
Bãi cọc Bạch Đằng
63
3.2
Đền Trần Hưng Đạo
67
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Địa danh học (Toponymie) tuy mới được phát triển gần đây, nhưng địa
danh học, nhất là ở nước ngoài, đã đạt được những kết quả khả quan và trở
thành một khoa học độc lập. Đối tượng nghiên cứu của địa danh học thật
phong phú, nhưng hiện nay các quan niệm cũng chưa thật thống nhất. Địa
danh học rất phức tạp và bao gồm các ngành nhỏ như: Địa danh địa lý, Địa
danh lịch sử và Địa danh văn hóa. Riêng địa danh trong địa danh địa lý cũng
khá rộng vì nội dung nghiên cứu gồm tên gọi các hiện tượng địa lý như: núi,
sông, hồ… và các đối tượng địa lý kinh tế xã hội như làng mạc, quận, huyện,
tỉnh, thành phố...
Địa danh là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, có nguồn gốc và ý nghĩa
riêng biệt, là đối tượng của bộ môn từ vựng học. Nghiên cứu địa danh giúp ta
soi sáng nhiều mặt cho các ngành khác nhau của khoa học ngôn ngữ như: ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp… và còn cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học
khác như: dân tộc học, địa lý học, lịch sử học… Từ đó địa danh được coi như
một bức tranh khắc họa lại những giá trị như văn hóa, lịch sử... của một cộng
đồng người.
Nghiên cứu địa danh góp phần soi sáng sự phát triển của tiếng Việt, tiếng
địa phương trên các bình diện như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau
như: lịch sử, địa lý, văn hóa, khảo cổ, dân tộc học, ngôn ngữ học. Tuy nhiên,
mỗi ngành nghiên cứu địa danh dưới một góc độ khác nhau. Địa danh phản
ánh những đặc điểm văn hóa, tâm lý, tín ngưỡng của con người.
Quảng Ninh là một trong những trung tâm phát triển kinh tế của đất
nước. Đây có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế như: Điện - đường -
2
trường - trạm. Quảng Ninh trữ lượng khống sản vơ cùng q giá.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh cịn có vịnh Hạ Long được UNESCO công
nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Ngồi ra, Quảng Ninh cịn là nơi có dịng
sơng Bạch Đằng ba lần chiến thắng qn thù, cịn có khu du lịch Yên Tử nơi
xưa kia các vị vua đời Trần tu ở đây. Quảng Ninh còn đa dạng về địa hình:
khơng chỉ có núi non hùng vĩ mà Quảng Ninh cịn có hàng nghìn hịn đảo lớn
nhỏ và cả những cánh đồng. Quảng Ninh là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh
em như: Tày, Dao, Sán Chỉ, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Chăm. Chính những
điều kiện như vậy đã tạo nên sự đa dạng, phức tạp về nguồn gốc, đặc điểm
cấu tạo và phương thức định danh.
Quảng Ninh có một sự khác biệt so với các địa phương khác là sự phân
biệt vùng, sự khác biệt giữa miền đơng và miền tây về địa hình, dân tộc, kinh
tế, văn hóa, ngơn ngữ, phong tục tập qn.
Về mặt địa hình, miền đơng là đồi núi, sơng, suối, khơng có đảo và đồng
bằng thì rất nhỏ. Miền tây thì có đồng bằng rộng lớn, có hàng nghìn hịn đảo
lớn nhỏ và hang động.
Về ngôn ngữ, dân tộc, miền đông phần lớn là đồng bào thiểu số nên chi
phối trực tiếp đến đời sống, văn hóa, kinh tế và địa danh của miền đông.
Ngược lại, miền tây dân tộc Kinh chiếm số lượng lớn từ đó ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nhiều mặt. Vì vậy, xét về mặt bằng chung thì kinh tế, văn hóa, đời
sống sinh hoạt của người dân miền tây cao hơn rất nhiều so với miền đông.
Những đặc điểm khác biệt về lịch sử, ngôn ngữ, và văn hóa địa danh thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh sẽ mang lại một hướng phát triển kinh tế mới
như: du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử.
Đó là lý do tơi chọn đề tài “Đặc điểm địa danh thị xã Quảng Yên, tỉnh
Quảng Ninh” để nghiên cứu.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc thu thập, khảo sát hệ thống địa danh trên phạm vi địa
bàn thị xã Quảng Yên, luận văn hướng đến những mục tiêu sau:
- Chỉ ra những đặc điểm chính của địa danh thị xã QuảngYên.
- Làm sáng tỏ một phần nào đó về những nét đặc thù như: nguồn gốc,
cấu tạo, ý nghĩa (từ vựng) các địa danh.
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng văn hóa thơng qua mối quan hệ của địa
danh với lịch sử, địa lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hệ thống địa danh thị xã Quảng Yên,
bao gồm địa danh hành chính, địa danh chỉ địa hình tự nhiên và địa danh nhân
văn. Địa danh chỉ địa hình tự nhiên bao gồm (núi, đồi, gị, sơng, suối…), địa
danh nhân văn (cầu, đường, đình, chùa…), địa danh hành chính (xã, phường,
xóm, làng…).
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đặc điểm địa danh thị
xã Quảng Yên trên các mặt: cấu tạo địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa và sự
biến đổi, cũng như đặc trưng văn hóa của địa danh thị xã Quảng Yên, tỉnh
Quảng Ninh.
4. Phương pháp nghiên cứu
A. v. Supeeranskaia cho rằng: “cần phải nghiên cứu địa danh bằng
phương pháp tổng hợp, lấy phương pháp ngơn ngữ là chính, vận dụng các
phương pháp bổ trợ như lịch sử học, địa lý học, khảo cổ học, nhân chủng
học...”.
Chúng ta có thể khẳng định địa danh học phát triển được là dựa vào ba
ngành khoa học chủ yếu là: ngôn ngữ học, lịch sử, địa lý. Vì vậy, khi muốn
nghiên cứu về địa danh phải dùng phương pháp tổng hợp là điều tất yếu.
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp
4
nghiên cứu sau:
Phương pháp điền dã: phương pháp này đã gúp cho tác giả thu thập
toàn bộ địa danh từ người dân địa phương và cơ quan hành chính, nhất là
những địa danh mang tính nhân gian khơng có ghi chép trong văn bản hành
chính, phương pháp điền dã đã cung cấp một phần thông tin về nguồn gốc, ý
nghĩa và sự hình thành của địa danh đó.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: muốn nghiên cứu một vấn đề một
cách tồn diện, có tính thuyết phục cao, trình bày một cách khoa học thì
phương pháp phân tích là một yếu tố rất quan trọng.
Phương pháp so sánh đối chiếu: là một phương pháp rất quan trọng
trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này sử dụng nghiên cứu những sự
biến đổi mang tính quy luật. Phương pháp so sánh đối chiếu cũng cho ta thấy
sự khác nhau về một số đặc điểm của địa danh vùng này với địa danh vùng
khác.
5. Bố cục đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của
luận văn có bố cục 3 chương như sau:
Chương 1: Những cơ sở lý thuyết về địa danh và địa danh học
Chương 2: Một số đặc điểm địa danh thị xã Quảng Yên
Chương 3: Ý nghĩa địa danh và ý nghĩa văn hóa trong địa danh thị xã
Quảng Yên
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu địa danh trên thế giới
Địa danh được thế giới nghiên cứu từ những năm đầu công nguyên,
việc nghiên cứu này chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu mà chỉ dừng lại ở
việc sưu tầm địa danh. Những cơng trình đi đầu trong quá trình nghiên cứu
địa danh như: “Hán Thư” của Ban Cố đời Đơng Hán (32-92) có 4000 địa
5
danh; “Thủy Kinh Chú sớ” của Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy có 20000
địa danh, số được giải thích ngữ nguyên là trên 2300 ; “Thánh Kinh” của
Thiên Chúa giáo có rất nhiều địa danh như cuốn “Ptolemy” có đến 8100 địa
danh. [3].
Theo tài liệu của Trung Quốc thì ở các nước phương tây bộ mơn địa
danh học chính thức được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX. Năm 1872, J.J.
Eghi (Thụy sĩ) viết về “Địa danh học”. Những tác phẩm này đã bắt đầu chú
trọng vào việc khảo chứng nguồn gốc địa danh.
Địa danh chỉ thực sự được nghiên cứu một cách khoa học vào thế kỷ
XIX – XX Các cơng trình có giá trị lớn phải kể đến như: “Địa lý học từ
nguyên” (T.A. Gison).
Địa danh học được nghiên cứu một cách mạnh mẽ vào thế kỷ XX với các
cơng trình như: A. Duzat “Nguồn gốc và sự phát triển địa danh”; A. I. Popov
“Bàn về địa danh học đồng đại”; A. V Superanskaja “Địa danh học là gì”.
6.2 . Sơ lược về nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Địa danh ở Việt Nam cũng được quan tâm từ rất sớm. Nhưng không
phải người Việt nghiên cứu mà do người Hán viết để phục vụ cho việc xâm
lược nước ta thời bấy giờ. Theo các tài liệu Tiền Hán thư, Dư địa chí, Hậu
Hán thư, Tấn thư thì trong thời kỳ Bắc thuộc đã đề cập đến địa danh ở Việt
Nam. Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam chỉ thưc sự bắt đầu từ thế kỷ XV.
Trong thời gian này, địa danh mới chỉ được các tác giả thu thập, tìm hiểu về
nguồn gốc và ý nghĩa. Một số cuốn sách ra đời như: “Dư địa chí” của Nguyễn
Trãi (1435), “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1821),
“Phương đình dư địa chí” của Nguyễn Văn Siêu (1900)... [4]. Điều quan trọng
là Lê Quý Đôn đã góp một phần rất lớn vào việc nghiên cứu địa danh của Việt
Nam. Điều này được chứng minh qua một số cơng trình như: “Phủ biên tạp
lục”, “Kiến văn tiểu lục” và “Vân đài loại ngữ” của ông.
6
Hoàng Thị Châu là người đưa vấn đề nghiên cứu địa danh của Việt
Nam lên một tầm cao mới. Với cơng trình “Mối quan hệ về ngơn ngữ cổ đại ở
Đông Nam Á qua một vài tên sông” (1964) công trình này được xem như đi
đầu trong quá trình nghiên cứu địa danh ở Viêt Nam dưới góc nhìn ngơn ngữ.
Sau Hoàng Thị Châu là Lê Trung Hoa với “Địa danh thành phố Hồ Chí
Minh” (1991) đã sản sinh ra những lý thuyết làm cơ sở cho sự phân tích và
chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa… địa danh thành phố
Hồ Chí Minh. Tiếp theo là Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS những đặc
điểm chính về địa danh Hải Phịng (1996), đã hồn thiện hơn những gì mà Lê
Trung Hoa cịn thiếu. Nguyễn Văn Âu cũng là một người có cơng rất lớn đối
với vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam [4]. Ngồi ra cịn phải kể đến các
tác giả như Lê Hồng Chương [9], Phạm Xuân Đạm [12], Từ Thu Mai [25],
Hồng Hải Đường… có những cơng trình nghiên cứu về địa danh và có
những đóng góp to lớn về địa danh học dưới góc nhìn ngơn ngữ.
6.3. Sơ lược về nghiên cứu địa danh ở Quảng Ninh
Đối với Quảng Ninh vấn đề nghiên cứu về địa danh học vẫn còn là một
đề tài mới. Là một miền đất mới cho những ai muốn nghiên cứu về địa danh
Quảng Ninh dưới góc nhìn ngơn ngữ học. Hiện nay mới chỉ có một vài cơng
trình nghiên cứu về địa danh của một vài địa phương như: “Địa chí Quảng
Ninh” (2002), chứ chưa có cơng trình nào mang tính bao qt tồn bộ địa
danh Quảng Ninh dưới góc nhìn ngơn ngữ học. Vì thế, thơng qua luận văn
này chúng tơi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé để ngày càng hồn thiện hơn
về bức tranh địa danh Quảng Ninh dưới góc nhìn ngơn ngữ học nhằm góp
phần phát triển kinh tế và du lịch.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ
ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.1.1. Định nghĩa địa danh
Địa danh học là một bộ môn khoa học mà được nhiều ngành nghiên
cứu khác nhau. Tuy nhiên, mỗi ngành lại nghiên cứu một khía cạnh, một góc
độ khác nhau. Từ đó mỗi ngành lại có một định nghĩa khác nhau về địa danh.
Không những thế, mỗi một quốc gia, hay một nhà nghiên cứu lại đưa ra
một khái niệm riêng cho mình. Như trong cuốn “Từ Điển Hán Việt”, Đào
Duy Anh giải thích: “Địa danh là tên gọi các miền đất”, cịn từ điển Hán Việt
do Hồng Phê chủ biên coi “Địa danh là tên đất, tên địa phương”.
Thực tế vấn đề định nghĩa địa danh cho đến bây giờ vẫn chưa có sự
thống nhất, mỗi nhà nghiên cứu tùy theo hướng tiếp cận mà họ có một định
nghĩa khác nhau. Sau đây là một số định nghĩa về địa danh của các tác giả
trong và ngoài nước.
Theo A.V. Superanskaja: “địa danh là tên gọi các địa điểm được biểu
thị bằng những từ riêng. Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponymia”
[32, tr.1]. Theo bà lý giải: “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật
thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ
những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ
nhất (những ngôi nhà vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [32, tr.13].
Quan điểm của G. M. Kert thì: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các
đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi
một cộng đồng dân cư, một tộc người. Chúng là một phần không thể thiếu
được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị- xã hội ở nơi đó”.
8
Ở trong nước, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa riêng theo
cách hiểu của riêng mình.
Nguyễn văn Âu cho rằng “Địa danh học (tôpnymie) là một môn khoa
học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương” [4, tr.5], “Địa danh là
tên đất , gồm tên sông, núi, làng mạc… hay tên các địa phương, tên các dân
tộc” [5, tr.5].
Theo Hồng Thị Châu thì: “Địa danh hay tên địa lý (toponym,
geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa
hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… được con người đặt ra” [5].
Tác giả Lê Trung Hoa đã phân loại địa danh theo các đối tượng địa lý
(theo tiêu chí tự nhiên và khơng tự nhiên), theo nguồn gốc ngữ nguyên của
địa danh, đã đúc kết ra định nghĩa về địa danh như sau: “địa danh là những từ
hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị
hành chính, các vùng lãnh thổ và các cơng trình xây dựng thiên về khơng gian
hai chiều” [20, tr.18].
Hoàng Tất Thắng qua bài địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các
tỉnh Trung Trung Bộ, tác giả cho rằng: “Địa danh là tên gọi của địa hình thiên
nhiên, các cơng trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào
đó” [34].
Một số từ điển trong nước cũng giải thích về địa danh như sau: Đào
Duy Anh với cuốn từ điển Hán Việt từ điển cho rằng địa danh là “tên các
miền đất (nom de tere)”.
Hoàng Phê với cuốn Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Địa danh
là tên đất tên địa phương” [26, tr.314].
Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích như sau: “Địa danh là tên gọi
các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, thành phố), các điểm kinh tế,
(vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, núi, đèo, cao
9
nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển,
đại dương có tọa độ nhất định ghi lại trên bản đồ. Địa danh có thể phản ánh
quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên và lịch sử với những
nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [39, tr.780].
Như vậy, qua những định nghĩa trên cho ta thấy có rất nhiều cách lý
giải thế nào là địa danh. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi cách lý giải
theo từ điển của Hoàng Phê, Đào Duy Anh và Từ điển bách khoa Việt Nam
thì quá đơn giản và chưa thật sự tồn diện. Theo chúng tơi, cách định nghĩa
của Lê Trung Hoa là phù hợp với địa bàn chúng tôi nghiên cứu.
1.1.2. Phân loại địa danh
Cũng như cách định nghĩa về địa danh thì phân loại cũng có nhiều cách
phân loại khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi nhà nghiên cứu khác
nhau. Vì mỗi nhà nghiên cứu khi đưa ra một cách phân loại hay một khái
niệm thì họ lại có cái lý riêng của mình và cái khái niệm hay cách lý giải của
họ phần nào cũng đáp ứng được tính chất khách quan của nhân loại. Tuy
nhiên, mỗi cách lý giải có những ưu và nhược điểm khác nhau. Sau đây là
một số cách phân loại của một số nhà nghiên cứu như sau:
Theo tài liệu của Lê Trung Hoa [20, tr.9-11], hai nhà địa danh học
người Pháp là A. Dauzat và Charles Rostaing không phân loại địa danh một
cách cụ thể nhưng các tác giả đều chia địa danh thành nhiều loại dựa vào tiêu
chí ngữ nguyên. A. Dauzat trong cuốn La toponymie francaise đã chia địa
danh làm bốn phần:
- Vấn đề những cơ sở tiền Ấn- Âu;
- Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học;
- Các từ nguyên Gô- loa- La Mã của vùng Auvergne và Velay;
Còn Chatles Rostaing trong cuốn Les noms lieux ngoài việc dựa vào ngữ
nguyên Chatles Rostaing còn kết hợp với đối tượng địa lý để chia như sau:
10
- Những cơ sở tiền Ấn- Âu;
- Các lớp tiền Xên- tich;
- Lớp Gô- loa;
- Những phạm vi Gô- loa- La Mã;
- Các sự hình thành La Mã;
- Những đóng góp của tiếng Giecs- manh;
- Các hình thức của thời phong kiến;
- Những danh từ có nguồn gốc tơn giáo;
- Những hình thái đại diện;
- Các địa danh và tên đường phố;
- Tên sơng và núi.
Cịn G. P. Smolicnaja và Gorbaevskij trong cuốn Toponimija Moskvy
chia địa danh làm bốn loại như sau:
- Phương danh (tên các địa phương);
- Sơn danh (tên núi, đồi, gò…);
- Thủy danh (tên những dòng chảy, ao, vũng…);
- Phố danh (tên những đối tượng trong thành phố);
Và A. V. Superanskaja với Chto takoe toponimaka chia địa danh như sau:
- Phương danh;
- Thủy danh;
- Sơn danh;
- Phố danh;
- Viên danh (tên các quảng trường);
- Lộ danh (tên các đường phố);
- Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước và
trên không).
Từ những cách chia trên cho ta thấy vẫn cịn thiếu tính khái quát, chưa
11
xác định rõ tiêu chí phân loại.
Ở Việt Nam, người bàn về phân lọai địa danh đầu tiên là phải nói đến
Đặng Xuân Bảng (1828- 1910) qua cuốn “Sử học bị khảo”, phần Địa lý khảo.
Sau đó, Hồng Thị Châu với bài viết việc tìm sử liệu trong ngơn ngữ dân tộc
[5, tr.44-47] cũng đề cập đến vấn đề phân loại địa danh thành hai hệ thống là
tiểu địa danh (gồm: tên thơn xóm, gị đồi, khe suối, đầm hồ…) và đại địa danh
(gồm: tên lục địa, đại dương, nước, vùng, thủ đô, thành phố…).
Trần Thanh Tâm trong “Thử bàn về địa danh Việt Nam” [33, tr.60-73]
phân loại địa danh Việt Nam làm 6 loại như sau:
a. Loại đặt theo địa hình và đặc điểm ( gồm 4 nhóm:………);
b. Loại đặt theo vị trí khơng gian và thời gian;
c. Loại đặt theo tín ngưỡng tơn giáo;
d. Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu;
e. Loại đặt theo đặc sản nghề nghiệp;
f. Loại đặt theo sinh hoạt xã hội.
Nguyễn Văn Âu [3], [4] chia địa danh thành 3 cấp: loại, kiểu và dạng.
Trong đó, có 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế- xã hội.
Các kiểu: Thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành
phố và quốc gia.
Các dạng: Sơng ngịi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông, bản,
làng, xã, huyện, quận, thị trấn, tỉnh, tỉnh, thành phố,và quốc gia.
Lê Trung Hoa trong cơng trình “các ngun tắc và phương pháp nghiên
cứu địa danh” [20, tr.24-27] và “Địa danh học Việt Nam” [21, tr.14-16] phân
loại như sau:
Căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và khơng tự nhiên
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên;
Địa danh chỉ các cơng trình xây dựng;
12
Địa danh hành chính;
Địa danh vùng;
Căn cứ vào ngữ nguyên địa danh gồm các loại:
Địa danh thuần Việt;
Địa danh Hán Việt;
Địa danh gốc Pháp;
Địa danh gốc Khơ me.
Theo Nguyễn Kiên Trường phân loại địa danh Hải Phòng dựa vào ba
tiêu chí. Thứ nhất, loại hình gồm nhóm địa danh chỉ nhóm đối tượng địa lý tự
nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (có các tiểu nhóm: 1.
Nhóm địa danh cư trú - hành chính, các địa danh gắn với hoạt động con
người, do con người tạo nên; 2. Nhóm địa danh đường phố và cơng trình xây
dựng). Theo tiêu chí nguốn gốc ngữ ngun, tác giả chia địa danh làm các tiểu
loại có nguồn gốc khác nhau như: nguồn gốc Hán Việt, nguồn gốc thuần Việt,
nguồn gốc từ tiếng Pháp, nguồn gốc từ phương ngữ Quảng Đông, nguồn gốc
khác như Tày- Thái, Việt- Mường…nguồn gốc hỗn hợp và địa danh chưa xác
định được nguồn gốc. Ngồi ra, tác giả cịn bổ sung thêm tiêu chí thứ ba là
chức năng giao tiếp và theo hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại [35, tr.41- 50].
Như vậy, chúng ta thấy có rất nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài
nước đưa ra những phương pháp nghiên cứu, cách phân loại, khái niệm khác
nhau. Từ đó, dẫn đến khơng có sự nhất qn trong q trình nghiên cứu về
các mặt như: khái niệm thế nào là địa danh và địa danh học; cách phân loại
địa danh thế nào cho phù hợp, đúng đắn và hợp lý nhất.
Trong luận văn này, chúng tôi đã cố gắng tiếp thu những quan điểm của
những nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước, để khi nghiên cứu địa danh thị
xã Quảng Yên cần có một tiêu chí thống nhất sao cho phù hợp với địa bàn
nghiên cứu. Khi nghiên cứu, chúng tôi vận dụng quan điểm của A. V.
13
Superanskaja và nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu của Lê Trung Hoa và
một số tác giả khác.
Như vậy, vận dụng phương pháp và nguyên tắc của Lê Trung Hoa hệ
thống địa danh thị xã Quảng Yên được chúng tôi chia làm hai loại: loại thứ
nhất là dựa trên đối tượng, loại thứ hai là dựa trên ngữ nguyên.
a. Lọai dựa trên đối tượng
Địa danh thị xã Quảng Yên dựa theo đối tượng được chúng tôi chia như
sau:
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên;
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên gồm: sơn danh, thủy danh, vùng đất nhỏ.
Địa danh không tự nhiên được chúng tôi chia làm 2 loại: địa danh hành
chính (tên phường, xã, thành phố...), địa danh nhân văn (tên đình, chùa, cầu,
cống...)
b. Loại dựa trên ngữ nguyên
Địa danh thị xã Quảng Yên dựa trên ngữ nguyên được chúng tơi phân
chia như sau:
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt;
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt;
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp và chưa xác định được nguồn gốc.
Như vậy, địa danh thị xã Quảng Yên phân theo ngữ nguyên gồm 4
nhóm: nhóm địa danh thuần Việt (được cấu tạo bởi những yếu tố có nguồn
gốc thuần Việt); nhóm địa danh Hán Việt (được cấu tạo bởi các yếu tố có
nguồn gốc Hán Việt); nhóm có nguồn gốc hỗn hợp (được cấu tạo bởi những
yếu tố có nguồn gốc từ nước ngoài) và những địa danh chưa xác đinh nguồn
gốc (được cấu tạo bởi những yếu tố mà chưa xác định rõ được nguồn gốc).
1.1.3. Các phương diện nghiên cứu địa danh và hướng tiếp cận đề tài
Địa danh được rất nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu. Tuy
14
nhiên, mỗi ngành lại nghiên cứu dưới góc độ khác nhau. Như lịch sử đi sâu
nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, sự phân bố địa danh dưới góc độ
mối quan hệ giữa các tộc người với tộc người, giữa dân tộc này với dân tộc
kia. Địa lý địa danh nghiên cứu sự phát triển, sự hình thành nhưng dưới góc
độ địa lý học. Nhân học nghiên cứu địa danh để tìm hiểu mối quan hệ giữa
những tộc người với nhau, hay mối quan hệ chính trong nội bộ của một cộng
đồng người nhất định.
Địa danh là một ngành của ngôn ngữ học. Theo Nguyễn Đức Tồn, việc
khảo sát định danh nói chung cần khảo sát 3 thơng số:
a. Nguồn gốc các định danh: định danh có thể theo cách sáng tạo mới
hoặc vay mượn từ ngôn ngữ khác, theo nguồn gốc có thể chia thành
định danh thuần Việt và định danh vay mượn.
b. Kiểu ngữ nghĩa: có thể phân loại nghĩa định danh là trực tiếp hay
gián tiếp, nghĩa rộng hay nghĩa hẹp.
c. Cách thức biểu thị: cần tìm hiểu đó là cách biểu thị hịa kết hay phân
tích, mức độ rõ tính lý do, cách chọn đặc trưng [35, tr.220].
Như vậy, khi nghiên cứu địa danh cần kết hợp nhiều ngành khoa học
khác nhau như: dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, văn hóa... từ đó, việc nghiên
cứu địa danh sẽ có cái nhìn khách quan hơn. Khi nghiên cứu địa danh có tính
hệ thống thì cần phải làm rõ những vấn đề như: nguồn gốc ngữ nghĩa, mơ
hình địa danh, các phương thức định danh...
Để nghiên cứu địa danh thị xã Quảng Yên một cách thuận lợi và tồn
diện nhất, chúng tơi đi tìm hiểu về nguồn gốc ngôn ngữ, cấu tạo, phương thức
định danh, đặc điểm ý nghĩa và một số vấn đề văn hóa được phản ánh qua địa
danh.
Với những hướng tiếp cận của đề tài trên, chúng tơi hy vọng có thể làm
rõ được những đặc trưng địa danh thị xã Quảng Yên cũng như thông qua địa
15
danh, văn hóa sẽ được tái hiện lại một cách sinh động nhất.
1.2. NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.2.1. Giới thiệu chung về Quảng Ninh
a. Về mặt địa lý
Theo sách Đại Nam Nhất Thống chí tập 4 “Hình Thể” Quảng Ninh
được viết như sau:
“Tỉnh Quảng n đơng tây cách nhau 151 dặm, nam bắc cách nhau 82
dặm, phía đơng đến cửa biển suối 143 dặm, phía tây đến sơng huyện Thủy
Đường tỉnh Hải Dương 8 dặm, phía nam đến của biển Bạch Đằng 25 dặm,
phía bắc đến sơng huyện n Bác tỉnh Lạng Sơn 57 dặm, phía đơng nam đến
biển 137 dặm, phía tây nam đến sơng hai huyện An Dương và Nghi Dương
tỉnh Hải Dương 16 dặm, phía đơng bắc đến địa giới Khâm Châu tỉnh Quảng
Đơng nước Thanh 225 dặm, phía tây bắc đến sơng huyện Thủy Đường tỉnh
Hải Dương 10 dặm, từ tỉnh lị đi về phía nam đến kinh thành 254 dặm”.
“Đất nhân thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để dựa,
có biển vịng quanh, địa thế xa lánh mà xung yếu, trong thì giữ vững cương
vực, ngồi thì khống chế đất Thanh. Núi cao có Lơi Âm, sơng lớn có Bạch
Đằng, 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc,
cũng là nơi then chốt ở ven biển”.
Hay khi nói đến Quảng Ninh ta nhớ đến câu “Từ mũi Cà Mau đến địa
đầu Móng Cái”. Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đơng bắc của tổ quốc. Quảng
Ninh là một tỉnh có đa dạng về địa hình. Bao gồm cả rừng, đồi núi thấp, đồng
bằng nhỏ, biển và đặc biệt là có hàng nghìn hịn đảo lớn nhỏ.
Quảng Ninh là tỉnh có biên giới giáp với Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa và giáp các tỉnh như Hải Phòng, Hải Dương, Lạng Sơn, Bắc Giang.
Địa giới Quảng Ninh từ 106º 26’ đến 108º 33’ kinh đông và từ 20º 40’
đến 22º 40’ vĩ độ bắc.
16
Quảng Ninh có diện tích tự nhiên là 5.900 km², gồm 3 thành phố (Hạ
Long, ng Bí, Móng Cái), 2 thị xã (thị xã Quảng Yên, thị xã Cẩm Phả) và 9
huyện (Đơng Triều, Hồnh Bồ, Vân Đồn, Cơ Tơ, Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình
Liêu, Đầm Hà, Hải Hà).
Địa hình Quảng Ninh rất đa dạng và phong phú, vừa có đồi núi, đồng
bằng ven biển, hệ thống biển đảo và thềm lục địa. Với địa hình như vậy thì
đây vừa là khó khăn nhưng đồng thời cũng là một thế mạnh cho Quảng Ninh
phát triển kinh tế. Diện tích đồng bằng ở đây rất thấp chỉ chiếm một số
lượng rất nhỏ là 18%, được bồi đắp bởi con sông Thái Bình. Đồi và núi thấp
chiếm tỉ lệ rất lớn là 80%. Số cịn lại là diện tích đá vơi và hải đảo. Ngoài ra,
vùng biển Quảng Ninh rất đa dạng như: có diện tích sú, vẹt rất lớn, trên biển
có vịnh Hạ Long là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng với hơn 2000 hòn đảo
lớn nhỏ.
Quảng Ninh là tỉnh có nhiệt độ vào mùa đơng thấp hơn các tỉnh khác.
Bởi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đơng bắc.
Hệ thống sơng ngịi của Quảng Ninh cũng rất đa dạng và phong phú, rất
nhiều hồ, đập từ đó tạo nên sự đa dạng của địa hình.
Than là khống sản có trữ lượng lớn nhất cả nước chiếm 90%. Hệ
thống giao thông vận tải phât triển thuận lợi cho phát triển về kinh tế - văn
hóa - xã hội.
b. Về mặt lịch sử
Quảng Ninh có lịch sử rất lâu đời. Trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn
Trãi, thời Hùng Vương (2.622 năm), vùng Quảng Ninh thuộc bộ Hải Ninh,
nước Văn Lang.
Trong thời kỳ Bắc thuộc- thời nhà Hán, Quảng Ninh thuộc quận Giao
Chỉ, đến thời Tiền Lý và nhà Triệu, vùng Quảng Ninh thuộc quận Hải Ninh
của nước Vạn Xuân.