Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

Một số giải pháp vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh ở trung tâm GDNN GDTX hậu lộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.08 KB, 19 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Tại bất kì đất nước nào, những đổi mới giáo dục ở phổ thơng mang tính cải
cách giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét, điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những
kì vọng mới về mẫu người học sinh có được sau q trình giáo dục. Đổi mới dạy
học nói chung và đổi mới dạy học Lịch sử nói riêng là một quá trình được thực hiện
thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau .
Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là
điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo chúng ta. Muốn thế phải đổi mới phương
pháp, biện pháp dạy và học. Người giáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các
hoạt động của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc giờ học, từ cách ổn định
lớp, kiểm tra bài cũ đến cách học bài mới, củng cố, dặn dị. Những hoạt động đó
giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo và
ngày càng u thích, say mê mơn học.
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng
được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải chuyển từ
phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận
dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh
nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học.
Hiện nay đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp
dạy học. Nhiều giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện
đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học cũng như trong kiểm tra, đánh giá. Một số
giáo viên đã vận dụng được các phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá tích cực
trong dạy học, kỹ năng sử dụng và khai thác thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ
thông tin – truyền thông trong tổ chức hoạt động dạy học được nâng cao, vận dụng
được quy trình kiểm tra, đánh giá mới. Nhưng nhìn chung, hoạt động đổi mới
phương pháp dạy học ở các mơn thuộc trường trung học phổ thơng nói chung, mơn
Lịch sử nói riêng chưa thực sự mang lại hiểu quả cao. Số giáo viên thường xuyên
chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng


các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
cịn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống
thực tiễn cho học sinh thơng qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự
được quan tâm.
Thực tế trong những năm học qua, phần lớn giáo viên đã được tiếp cận với
các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như dạy học nêu vấn đề, dạy học
theo dự án… Phương pháp “bàn tay nặn bột” với các kỹ thuật dạy học tích cực: kỹ
thuật “khăn trải bàn”, kỹ thuật “các mảnh ghép”, kỹ thuật động não, kỹ thuật tia
chớp, kỹ thuật “3 lần 3”… Tuy nhiên, qua việc dự giờ thăm lớp, qua buổi thao
1


giảng liên môn ở trường, qua việc dạy thể nghiệm theo nghiên cứu bài học minh
họa ở các môn học, dạy học chủ đề, trao đổi với giáo viên của trường bạn thì việc
vận dụng các phương pháp dạy học cũng như kỹ thuật dạy học cịn hạn chế, khơng
thường xuyên vì vậy hiệu quả chưa cao. Các hình thức kiểm tra kết quả học tập của
học sinh còn lạc hậu và mang tính chủ quan, chủ yếu đánh giá việc ghi nhớ các sự
kiện lịch sử mà chưa đánh giá được khả năng vận dụng sáng tạo, kỹ năng thực hành
và năng lực giải quyết vấn đề của các em. Đây cũng là nguyên nhân chưa tạo được
động lực cho việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Chương trình lịch sử trường Trung học phổ thơng trình bày và cung cấp cho
học sinh tiến trình ra đời và phát triển của xã hội loài người trên mọi mặt đời sống
xã hội bằng các loại bài về chính trị, chiến tranh cách mạng, kinh tế, văn hóa, khoa
học – kỹ thuật...
Người giáo viên trước khi chuẩn bị bài cho một tiết lên lớp không thể không
lưu ý tới các dạng bài với những đặc trưng riêng của nó để xác định nội dung và
phương pháp cho phù hợp, trong đó sự hiểu biết và vận dụng các kiến thức liên
ngành là yếu tố quan trọng, đảm bảo thành công cho bài giảng.
Về mặt phương pháp trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng,
việc sử dụng các phương pháp truyền miệng là cần thiết. Nhưng sẽ hấp dẫn hơn nếu

ta kết hợp với đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo của các khoa học khác. Dạy
học liên môn bằng cách sử dụng nội dung và phương pháp các bộ môn khác như
văn học, nghệ thuật kiến trúc, địa lý, ... là hết sức cần thiết nhằm tăng thêm tính hấp
dẫn trong dạy học lịch sử.
Với mong muốn hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, giúp
đỡ các em về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các
em trong học tập. Thực hiện mơi trường phát triển tồn diện các phong cách, nhân
cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm
chuẩn bị cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề của cuộc sống và nghề
nghiệp. Mặt khác, để khắc phục hạn chế chủ động sáng tạo xây dựng nội dung dạy
học phù hợp với phương pháp cũng như kỹ thuật dạy học tích cực. Tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Một số giải pháp vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học
lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh ở Trung tâm GDNN- GDTX Hậu
Lợc” để góp phần tăng thêm hiệu quả, nâng cao hơn chất lượng dạy và học.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Việc vận dụng kiến thức liên mơn giữa dạy học lịch sử với văn học, địa lý, xuất
phát từ nhiều mục đích:
Góp phần đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để tìm
ra biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh: hình
thành và phát triển một số phẩm chất và năng lực nói chung cho học sinh trong quá
trình dạy học như phẩm chất nhân ái và khoan dung, làm chủ bản thân, thực hiện
nghĩa vụ học sinh. Cũng như năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện
2


và giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ
thông tin và truyền thông. Riêng đối với bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ
thơng, trong q trình dạy học giáo viên cần chú trọng hình thành và phát triển
năng lực chung – cơ bản, chú ý phát triển năng lực chuyên biệt cho học sinh đó là:
tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Năng lực thực hành bộ môn; Năng

lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện
tượng lịch sử với nhau; Năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa;
Năng lực nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện tượng, vấn
đề lịch sử, nhân vật; Năng lực vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải
quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra; Năng lực thơng qua sử dụng ngơn ngữ lịch sử
thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử.
Vì vậy, có nhiều năng lực hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy
học như ở trên nhưng trong số đó phát triển năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện
và giải quyết vấn đề của học sinh là mục tiêu quan trọng. Qua đó góp phần thúc đẩy
sự hình thành và phát triển của các năng lực khác
Việc tích hợp kiến thức có liên quan giữa các mơn học nhằm giúp học sinh
hiểu được sâu sắc các vấn đề lịch sử, nhận thức được sự phát triển xã hội một cách
liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống
xã hội, củng cố thêm những hiểu biết của mình ở nhiều mơn học khác. Góp phần
tạo nên sự gắn kết giữa lịch sử với các môn học khác, giữa nội dung học tập với
thực tiễn cuộc sống, kích thích sự tìm tòi hứng thú học tập của học sinh, làm cho
các em say mê và thêm u thích mơn lịch sử hơn. Góp phần bồi đắp tâm hồn, tình
cảm của học sinh đối với quê hương và đất nước. Biết tự hào về những chiến cơng
hiển hách của dân tộc, góp phần nâng cao năng lực tự học, tự tìm tịi, đào tạo ra
những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết những vấn đề của
cuộc sống hiện tại.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh ở Trung tâm GDNN-GDTX Hậu Lộc
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này tơi đã thực hiện các phương pháp sau.
Khảo sát tình hình thực tế, thu thập thơng tin.
.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
Phương pháp trao đổi với đồng nghiệp, rút kinh nghiệm và ứng dụng vào quá
trình giảng dạy

Đọc tài liệu tham khảo, phân tích, giải thích, so sánh, rút ra kết luận

3


2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Vị trí, ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử
nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
Mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thơng là nhằm thay đổi cách
dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh. Một trong những
phương pháp để tích cực hóa hoạt động dạy và học đó là việc dạy học liên mơn.
Dạy học liên mơn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở trường
phổ thơng nói chung, mơn lịch sử nói riêng, góp phần bổ sung lượng kiến thức các
mơn học khác cho bài học, giúp học sinh hứng thú say mê học tập, góp phần nâng
cao hiệu quả bài học. Việc vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học lịch sử là một
vấn đề bổ ích về lí luận cũng như thực tiễn, nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng
cao chất lượng bộ môn, giúp học sinh phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng
vận dụng kiến thức vào những tình huống khác trong học tập và thực tiễn. Đây là
một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử
nói riêng ở Trung tâm GDNN-GDTX. Có thể nói dạy học liên môn là sự vận dụng
những nội dung và phương pháp các lĩnh vực, các mơn học có liên quan để nhằm
tăng hiệu quả dạy học môn lịch sử.
Vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học lịch sử làm cho nhận thức được
phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa
các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính tồn diện của lịch sử, khắc phục
được tính rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh.
Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn trong dạy học lịch sử là việc thực
hiện tính kế thừa trong nhận thức các khóa trình lịch sử dân tộc và cả thế giới từ cổ

đại đến hiện đại, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách liên
tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã
hội, tính tồn diện của lịch sử
2.1.2 Ý nghĩa việc vận dụng kiến thức văn học trong dạy học lịch sử nhằm phát
triển năng lực cho học sinh .
*Về giáo dưỡng
Nói đến lịch sử là nói đến sự kiện, khơng gian, thời gian. Vì vậy, trong quá
trình giảng dạy lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của giáo viên là cung cấp cho học sinh
kiến thức cơ bản đủ để khôi phục lại quá khứ và hiểu biết quá khứ. Các tác phẩm
văn học góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng
thú học tập cho học sinh. Bởi vì, các tác phẩm thực sự có giá trị đều phản ánh cuộc
sống một cách chân thực. Vì vậy, trong q trình dạy học ngồi việc sử dụng các
phương pháp khác nhau như: phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng bài
tập nhận thức, sử dụng dạy học nêu vấn đề... thì việc sử dụng tài liệu văn học để bổ
sung vào bài học là rất quan trọng. Qua việc sử dụng tài liệu văn học để minh họa
4


cho bài học lịch sử, giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức lịch sử, góp
phần nhất định vào việc khơi phục, tái hiện hình ảnh q khứ. Việc sử dụng tài liệu
văn học cịn có thêm cơ sở cho học sinh nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành
khái niệm, hiểu rõ quy luật, bài học của lịch sử.
*Về giáo dục
Các tác phẩm văn học bằng những hình tượng cụ thể, có tác động mạnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm của người học, từ đó làm nảy sinh những hành động đúng
đắn. Ngoài ra, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch học lịch sử cịn góp phần
giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề
giáo dục tư tưởng, đạo đức càng đặt ra một cách cấp thiết. Nền kinh tế thị trường
với những mặt tích cực ngày càng được khẳng định trong quá trình đổi mới tồn
diện của đất nước, song nó cũng có mặt tiêu cực cần phải hạn chế và khắc phục.

Trong bối cảnh chung ấy, giáo dục lịch sử cần phải khai thác những giá trị tiến bộ,
đích thực để làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta, cần phải
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc
mình.
*Về phát triển năng lực cho học sinh.
Tài liệu văn học trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao năng lực tư duy
của học sinh thể hiện ở các mặt sau:
- Rèn luyện kỹ năng tưởng tượng để tái hiện lại khơng khí, khơng gian xảy ra các
sự kiện, hiện tượng lịch sử.
- Rèn luyện kỹ năng so sánh, phân tích, đối chiếu các nguồn tài liệu trên cơ sở đó
có kết luận khách quan chính xác.
- Mặt khác, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử góp phần phát triển cho
học sinh thói quen và kỹ năng tự làm việc với tài liệu phục vụ cho bài học, phát huy
năng lực tự học cho học sinh
2.1.3. Ý nghĩa việc vận dụng kiến thức Địa lí trong dạy học lịch sử nhằm phát
triển năng lực cho học sinh .
Môn lịch sử và môn Địa lí có mối quan hệ với nhau. Mơn Địa lí chú ý đến
tính khơng gian lãnh thổ của các sự vật hiện tượng đang diễn ra hiện nay. Còn lịch
sử chú ý đến quá trình hình thành và phát triển của xã hội, giữa lịch sử và địa lí
thuộc nhóm khoa học xã hội nhân văn đều nghiên cứu những vấn đề của con người.
Vì vậy giữa chúng có tác động qua lại với nhau bởi các sự kiện lịch sử bao giờ
cũng diễn ra trong một khoảng không gian nhất định với các điều kiện cụ thể trong
đó có các điều kiện Địa lí. Lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử địa
phương đều gắn với những điều kiện tự nhiên mà con người sinh sống. Khi học tập
lịch sử xã hội phải phân tích các yếu tố của môi trường tự nhiên và thông qua nội
dung lịch sử để hiểu rõ hơn môi trường tự nhiên đồng thời thực hiện giáo dục môi
trường.
5



Vận dụng kiến thức mơn Địa lí vào dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng,
giúp học sinh hiểu sâu sắc và cụ thể địa danh việc xác định điều kiện tự nhiên, khí
hậu, địa hình của một khu vực đóng vai trị vơ cùng quan trọng đối với lịch sử của
khu vực đó. Đặc điểm đồi núi hiểm trở thực sự là một lợi thế cho quân và dân ta khi
tiến hành kháng chiến cũng là một bất lợi lớn cho quân địch. Điều quan trọng hơn
từ việc dạy học và vận dụng kiến thức cho môn Địa lí vào giảng dạy lơi cuốn được
học sinh hăng say học bài, rèn luyện kỹ năng sử dụng các phương tiện trực quan
như bản đồ, tranh ảnh... từ đó giúp các em hình thành và hồn thiện nhân cách.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Về phía giáo viên
Ở Trung tâm GDNN- GDTX Hậu Lộc, trong giảng dạy nói chung và giảng
dạy mơn Lịch sử nói riêng, số giáo viên thường xuyên chủ động sáng tạo trong việc
vận dụng kiến thức liên môn nhằm phát huy được năng lực tự học, năng lực giải
quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh khả năng vận dụng tri thức nhiều môn
học chưa thực sự được quan tâm, chưa phổ biến. Vì vậy trong các tiết dạy – học
lịch sử thường không thu hút và gây hứng thú đối với học sinh, nặng về cung cấp
kiến thức, liệt kê sự kiện lịch sử.
Bên cạnh đó điều kiện dạy học ở Trung tâm GDNN- GDTX Hậu Lộc cịn
thiếu thốn: Đồ dùng trực quan mơn lịch sử như tranh ảnh, lược đồ, bản đồ, hiện vật
còn rất cồng kềnh, số lượng phòng máy còn hạn chế nên cơ hội dạy học với việc
ứng dụng công nghệ thông tin khơng phải lúc nào cũng thực hiện được, do đó đã
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học.
2.2.2. Về phía học sinh
Ở Trung tâm GDNN- GDTX Hậu Lộc, chất lượng tuyển vào rất thấp, học
sinh thiếu động cơ học tập, sự quan tâm của gia đình cịn nhiều hạn chế. Học sinh
khi tiếp thu bài học thường ghi nhớ bài học một cách rời rạc, máy móc, khơng nắm
được mối quan hệ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội về kiến thức liên
mơn. Chính vì vậy dẫn tới hiệu quả khơng cao, học sinh khơng u thích mơn lịch
sử
2.2.3. u cầu của việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm

phát triển năng lực cho học sinh
2.2.3.1 Đối với giáo viên
Để vận dụng kiến thức liên mơn có hiệu quả trong bài dạy bộ môn Lịch sử,
giáo viên cần:
- Phân tích nội dung chương trình mơn lịch sử ở các bậc học và tìm ra những
mạch nội dung để vận dụng dạy học tích hợp
- Ln chú ý mối quan hệ chặt chẽ giữa các phần, chương, bài, mục trong
chương trình mơn lịch sử. Mối quan hệ giữa mơn lịch sử với các mơn học khác.
- Chuẩn bị cho mình vốn kiến thức rộng trên các lĩnh vực khác nhau, thực
hiện học tập suốt đời.
6


- Học sinh hay quên những kiến thức cũ, do vậy giáo viên phải hướng dẫn
các em chuẩn bị bài bằng những câu hỏi cụ thể. Lựa chọn nội dnug phù hợp với
trình độ của học sinh.
- Lựa chọn phương pháp, phương tiện phù hợp để phối hợp trong quá trình
dạy học. Hướng dẫn học sinh biết cách vận dụng những kiến thức đã học để tiếp
thu kiến thức mới. Luôn chú ý kiểm tra, đánh giá công việc chuẩn bị của học sinh.
Như vậy việc vận dụng kiến thức liên mơn trong dạy học lịch sử địi hỏi
người giáo viên khơng chỉ có những kiến thức vững chắc về bộ mơn lịch sử mà cịn
phải nắm vững những nội dung, kiến thức cơ bản về mơn được tích hợp.
- Vận dụng linh hoat nhẹ nhàng, đúng nội dung bài giảng, không làm nặng nề
hoặc rối tiết học, tránh biến môn lịch sử thành môn học khác.
2.2.3.2. Đối với học sinh
Để bài học đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý nhắc nhở học sinh các yêu
cầu sau:
- Chuẩn bị bài theo sự hướng dẫn của giáo viên, khâu chuẩn bị bài của học
sinh là một yếu tố rất quan trọng, quyết định sự thành công của phương pháp này
- Tích cực tham gia q trình học trên lớp theo yêu cầu của giáo viên: Phát

biểu ý kiến, trình bày kết quả chuẩn bị của mình
- Ngồi ra, học sinh phải thường xuyên sưu tầm các tác phẩm văn học, tranh
ảnh, lược đồ, sơ đồ có liên quan đến bài giảng, tự đọc và tìm kiếm cho mình những
kiến thức quan trọng khác.
- Các em được ôn tập, củng cố, tổng hợp ở mức cao hơn và được vận dung
thông minh hơn trong học tập.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề
2.3.1. Một số nguyên tắc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử
nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
2.3.1.1. Đảm bảo nguyên tắc liên môn
Giáo viên phải xác định loại tài liệu văn học, địa lí, được sử dụng phù hợp
với mục đích yêu cầu của bài giảng và tính chất của từng sự kiện, hiện tượng lịch
sử, không nên quá ôm đồm sa đà nhiều vào các tác phẩm văn học, kiến thức địa lí,
giáo dục cơng dân, biến các giờ lịch sử thành giờ dạy văn học, địa lí, giáo dục cơng
dân.
Ngồi ra, giáo viên cần phải loại bỏ những tài liệu xuyên tạc lịch sử, có ảnh
hưởng xấu đến việc hình thành tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm cho học
sinh.
2.3.1.2. Đảm bảo tính vừa sức của học sinh
7


Kiến thức về văn học, địa lí, được sử dụng trong dạy học lịch sử phải phù
hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh, phải phù hợp với hoàn cảnh và trình độ nhận
thức của học sinh. Tài liệu đưa vào phải khúc chiết, rõ ràng, trong sáng, phản ánh
rõ sự kiện đang trình bày
Việc vận dụng kiến thức văn học, địa lí, giáo dục cơng dân, âm nhạc trong
dạy học lịch sử phải đảm bảo tính khoa học, tính cơ bản vào nội dung của bài, gắn
chặt với tính vừa sức đối với việc lĩnh hội của học sinh về khối lượng kiến thức

giúp học sinh có thể độc lập và hứng thú tự mình lĩnh hội kiến thức, tránh trường
hợp đưa tài liệu quá khó làm học sinh không thể tiếp thu được hoặc sử dụng tài liệu
quá đơn giản đối với học sinh gây nên một cảm giác nhàm chán lơ là.
2.3.1.3. Đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng giáo viên phải phát huy
được tính tích cực hóa của học sinh, “một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển
biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức
sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập”. Vì vậy trong quá
trình dạy học, giáo viên phải tổ chức để người học - đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập
do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thơng qua đó tự lực khám phá những điều mình
chưabiết. Giáo viên phải biết hướng dẫn, giới thiệu cho học sinh những tài liệu có
giá trị bổ ích, phục vụ cho bài học lịch sử, từ đó để học sinh có thêm tư liệu hiểu
sâu sắc hơn bài học lịch sử. Kích thích lòng ham học của học sinh, khơi dậy nội lực
vốn có trong mỗi cá nhân học sinh nhằm nâng cao hiệu quả học tập, phát triển năng
lực cho học sinh.
2.3.1.4 Đảm bảo đặc trưng môn học
Nét nổi bật nhất của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực
tiếp những gì thuộc về quá khứ. Đảm bảo được tính khách quan đó trong nhận thức
lịch sử là một quá trình lâu dài và phức tạp. Đây cũng là một nét đặc thù của khoa
học lịch sử. Vì vậy, trong dạy học lịch sử giáo viên phải tái tạo lịch sử, tức là cho
học sinh tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở
học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng
lịch sử, những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời
gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
Vận dụng kiến thức liên mơn (văn học, địa lí) trong dạy học lịch sử nhằm
phát triển năng lực cho học sinh yêu cầu phải chắt lọc những yếu tố lịch sử được
phản ánh trong đó, gạt bỏ những yếu tố hư cấu để đảm bảo tính khách quan chân
thực của việc nhận thức lịch sử. Giáo viên phải dùng lời nói sinh động, giàu hình
ảnh để tường thuật, miêu tả, kể chuyện... tạo cho học sinh các biểu tượng cụ thể,

tránh xuyên tạc lịch sử, tránh sa đà vào các tài liệu của kiến thức liên môn
2.3.2. Phương pháp vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm
phát triển năng lực cho học sinh .
8


2.3.2.1. Minh họa về một sự kiện lịch sử
Sự kiện lịch sử đóng vai trị là cơ sở cho nhận thức lịch sử. Nó diễn ra trong
thời gian, khơng gian nhất định, có nguyên nhân, diễn biến cụ thể, có kết quả... Tuy
nhiên một vấn đề gây trở ngại cho học sinh là sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá
khứ, cách xa thời điểm hiện tại đồng thời nó lại được phản ánh gián tiếp qua các
nguồn tư liệu. Do vậy nó trở nên xa lạ, khó khơi phục, khó ghi nhớ nếu khơng có
các biện pháp dạy và học chủ động, tích cực. Việc khéo léo bổ sung, minh họa sự
kiện lịch sử bằng các loại tài liệu văn học, địa lí giúp khắc phục được tính khơ khan
của sự kiện; hình thành những hình ảnh, biểu tượng liên quan mật thiết với sự kiện
lịch sử. Qua đó, giúp học sinh dễ dàng nắm được sự kiện lịch sử hơn. Ví dụ, trong
bài 21 khi dạy về mục 2: Phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960) giáo viên có thể sử
dụng tài liệu văn học để tạo biểu tượng về các sự kiện lịch sử sau:
Nói về những khó khăn của cách mạng Miền Nam khi Ngơ Đình Diệm ban
hành đạo luật 10/59, đặt cộng sản ngồi vòng pháp luật, hàng vạn cán bộ đảng viên
bị giết hại, hàng chục vạn đồng bào yêu nước bị tù đày.
Giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau:
“Đợt tố cộng như một cơn gió chướng
Mạng con người như lá rụng cành khơ
Đợt dinh điền tiếp theo: dịng nước cuốn
Người sống không nơi, người chết không mồ”
2.3.2.2. Tạo biểu tượng về một nhân vật lịch sử
Biểu tượng nhân vật lịch sử là những hình ảnh chung nhất về nhân vật đó.
Muốn tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, giáo viên phải khắc họa nét cơ bản về ngoại
hình, tính cách; nhất là những hoạt động, đóng góp, dấu ấn của họ đối với quá trình

lịch sử. Trong dạy học bộ môn, để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử thì giáo viên
chủ yếu sử dụng các loại tài liệu lịch sử. Tuy vậy, do họ là những con người có thật
– phản diện hay chính diện nên đều có những nết riêng, tình cảm tâm tư hành động,
cuộc đời khác nhau. Và những nội dung này phần nào được văn học phản ánh, nhất
là trong các thể loại văn học như: Hồi ký, tiểu thuyết lịch sử... Gạt bỏ những yếu tố
hư cấu của nhà văn, giáo viên và học sinh có thể chọn lọc những tình tiết liên quan
đến nhân vật lịch sử để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử đó.
Ví dụ : Giáo viên có thể tạo biểu tượng cho học sinh về nhân vật Nguyễn Văn Trỗi:
đó là thái độ khảng khái hiên ngang của anh trước kẻ thù, thể hiện ý chí quyết đánh,
quyết thắng giặc Mĩ.
“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi lời ca
Có con người như chân lí sinh ra”
2.3.2.3. Làm rõ một khái niệm lịch sử
9


Khái niệm lịch sử là hình thức của tư duy trừu tượng. Nó phản ánh những
nét đặc trưng, bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Qua đó giúp học sinh hiểu
sâu sắc các nội dung lịch sử. Để hình thành khái niệm lịch sử, học sinh phải dựa
vào các nguồn tài liệu có tính chất sự kiện, phải dựa trên cơ sở tái hiện sự kiện, tạo
biểu tượng. Đây được coi là giai đoạn đi trước, mang tính nhận thức cảm tính, làm
cơ sở cho nhận thức lí tính, bắt đầu bằng việc định hình các khái niệm lịch sử. Giáo
viên có thể sử dụng tài liệu văn học vốn giàu tính biểu trưng, hình ảnh sẽ giúp học
sinh dễ dàng hình thành các khái niệm lịch sử.
Ví dụ : Giáo viên có thể làm rõ khái niệm “Việt Nam hóa chiến tranh”,
“Dùng người Việt đánh người Việt” qua các dẫn chứng cụ thể như: Bùi Văn Năm,
đại úy đeo mề đay đầy ngực. Nó nói: “Mề đây gì nhiều thế này biết khơng? Mề đây
giết cộng sản đó!”. “Cứ giết thật nhiều cộng sản là lên đại úy thơi!”. Nó chỉ vào cột

cờ nhà lao: “cột cờ này cao bao nhiêu thì tội ác thằng Năm này cao bấy nhiêu. Tội
ác thằng này nhiều quá, thừa thiếu tá rồi đó mà vẫn đeo lon đại úy thơi, muốn lên
nữa, cần giết nhiều cộng sản nữa đây!”.
2.3.2.4. Dẫn dắt bài mới
Chuẩn bị nghiên cứu kiến thức mới là khâu chủ đạo trong bài ngiên cứu kiến
thức mới. Trong đó khâu dẫn dắt học sinh, chuẩn bị tâm thế cho việc hình thành
một đơn vị kiến thức mới có vai trò quan trọng. Để thực hiện khâu này, giáo viên
có thể sử dụng cách truyền thống – theo phương pháp trình bày, thơng báo. Tuy
nhiên cách này sử dụng thường xuyên sẽ tạo nên cảm giác đơn điệu, nhàm chán đối
với học sinh. Do đó, trong phần dẫn dắt hoặc mở đầu một số đơn vị kiến thức quan
trọng, giáo viên có thể sử dụng các mức độ khác nhau của dạy học nêu vấn đề.
Trong đó, yêu cầu học sinh độc lập, trực tiếp tham gia giải quyết các nhiệm vụ học
tập. Giáo viên phải xây dựng các tình huống nêu vấn đề.
Ngồi những biện pháp đó, để dẫn dắt học sinh vào bài mới hay một đơn vị
kiến thức mới, giáo viên có thể sử dụng kiến thức địa lí, âm nhạc để học sinh tiếp
nhận, hình thành kiến thức mới
Ví dụ: Khi dạy bài 28: Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thời
phong kiến, giáo viên cho học sinh nghe bài hát “Dòng máu lạc hồng” để tạo ra
hứng thú, động cơ giúp người học thể hiện tính tích cực ngay từ khâu đầu tiên.
Tuy nhiên việc sử dụng kiến thức liên môn trong khâu dẫn dắt bài mới cần
được giáo viên chọn lọc kỹ và phải kết hợp các cách xây dựng tình huống, câu hỏi
nêu vấn đề khác thì mới có hiệu quả.
2.3.2.5. Củng cố kiến thức
Vận dụng kiến thức liên môn để củng cố kiến thức có thể được tiến hành
linh hoạt: Có thể được thực hiện ở cuối bài hoặc ngay sau mỗi mục khó, quan
trọng. Đây là thời điểm giáo viên cùng học sinh tìm ra những nội dung trọng yếu
của bài học, giúp học sinh nắm ngay vấn đề cốt lõi của các đơn vị kiến thức vừa
học. Thế nên giáo viên phải giúp học sinh chốt ý thông qua các thao tác tư duy như
10



khái quát hóa, tổng hợp, so sánh... và trong một số trường hợp cụ thể có thể kết hợp
với tài liệu văn học để góp phần khắc sâu các đơn vị kiến thức vừa hình thành.
Việc sử dụng tài liệu văn học để củng cố bài là một cách làm thiết thực và hiệu quả
nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài học.
Ví dụ ở bài 21, khi dạy xong mục 2. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Sau khi cung cấp cho học sinh những thắng lợi cụ
thể của quân dân Miền Nam trên các mặt trận bình định, qn sự, chính trị, giáo
viên có thể đọc mấy câu thơ sau để củng cố và kết thúc bài học:
“ Khi nghe tin chiến thắng Phước Thành
Tơi cảm động như chính mình giết giặc
Tơi sung sướng nghe chiến công ấp Bắc".
2.3.3. Thực nghiệm sư phạm
2.3.3.1. Mục đích thực nghiệm
Trên cơ sở thực tiễn của việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông hiện nay, tôi vận dụng kiến thức liên mơn của các mơn văn
học, địa lí, trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh ở trung tâm
GDNN-GDTX Hậu Lộc.
Tiến trình thực nghiệm sư phạm với mục đích nhằm xác định tính khả thi của
việc vận dụng kiến thức liên môn văn học, địa lí trong dạy học lịch sử trong dạy
học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh ở trung tâm GDNN-GDTX Hậu
Lộc.
Kết quả thực nghiệm là bằng chứng đáng tin cậy để tôi khẳng định sự cần
thiết của việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả dạy và học hiện nay ở trung tâm GDNN-GDTX Hậu Lộc.
2.3.3.2. Nội dung thực nghiệm
Lớp 12: Bài 20(tiết 2) Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp
kết thúc (1953-1954)
2.3.3.3. Giáo án thực hiện: Giáo án lớp 12
Bài 20 (tiết 2)

CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
KẾT THÚC 1953-1954
I. Mục tiêu:
1. Kiến thức: Giúp học sinh nắm được
- Thấy được âm mưu của Pháp-Mĩ tại Điện Biên Phủ 1954
- Nắm được những nét chính về diễn biến, kết quả và ý nghĩa nhiều mặt của
chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
- Trình bày được nội dung của Hiệp định Giơnevơ 1954
11


- Hiểu được ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Pháp (1945-1954)
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá rút ra nguyên nhân, ý nghĩa của các
sự kiện lịch sử
- Củng cố kỹ năng khái quát, đánh giá, nhận định về những nội dung lớn của
lịch sử
- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng khai thác tranh ảnh, tư liệu lịch sử, sử dụng lược
đồ, sơ đồ để nhận thức lịch sử.
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng tư liệu tham khảo liên môn để nhận thức sâu
sắc thêm kiến thức lịch sử
3. Thái độ:
- Thấy được bản chất phản động của thực dân Pháp, bọn can thiệp Mĩ và bè
lũ tay sai
- Khắc ghi niềm tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong
sự nghiệp kháng chiến, xây dựng tổ quốc.
- Bồi dưởng lòng quý trọng và tự hào với những chiến thắng to lớn của các vị
Anh hùng dân tộc về mọi mặt của cuộc kháng chiến chống Pháp
4. Định hướng các năng lực hình thành:

- Năng lực chung: Năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề,
năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ.
- Năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực thực hành bộ mơn: Khai thác kênh hình, khai thác lược đồ, khai
thác thơng tin để trình bày diễn biến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954
+ Năng lực tái hiện các sự kiện lịch sử.
+ Năng lực giải quyết mối quan hệ ảnh hưởng, tác động, vận dụng kiến thức
liên mơn có liên quan để nhận thức sâu sắc hơn nội dung bài học lịch sử.
II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
1. Giáo viên:
- Tranh ảnh, lược đồ có liên quan .Máy tính, máy chiếu
- Các tư liệu tham khảo, hình ảnh và phim tư liệu .Phiếu học tập
2. Học sinh:
- Đọc và nghiên cứu nội dung bài học.
- Sưu tầm những gương anh hùng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
(nhất là ở quê hương em), những bài thơ, bài hát có liên quan đến chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ
- Tìm hiểu vai trị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ 1954
III . Tiến trình tổ chức dạy học.
Bài mới:
12


A. Khởi động:
- GV Cho học sinh nghe nhạc không lời bài hát “ giải phóng Điện Biên” của
Đỗ Nhuận.
- HS lắng nghe và suy nghĩ câu hỏi.
Bản nhạc trên đã gợi cho em nhớ đến chiến thắng nào của nước ta trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp( 1945-1954)

-HS trao đổi, thảo luận, báo cáo kết quả.
-Giáo viên nhận xét , kết luận.
B. Hình thành kiến thức mới:
Hoạt động của giáo viên- học sinh.
Kiến thức cơ bản
*Hoạt động1: Tìm hiểu hồn cảnh lịch II. Cuộc tiến cơng chiến lược Đông
sử ta mở chiến địch Điện Biên Phủ – Xuân 1953-1954 và chiến dịch
năm 1954.
Điện Biên Phủ 1954.
- Giáo viên cho học sinh quan sát lược 2.Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
đồ: Điện Biên Phủ 1954, sau đó giao 1954
nhiệm vụ cho học sinh:
a Âm mưu của địch
+ Học sinh đọc và nghiên cứu thông tin - Thung lũng nằm ở Phía Tây vùng
kết hợp với quan sát lược đồ chiến dịch núi phía Bắc.
Điện Biên Phủ 1954 để thấy được vị trí - Âm mưu của Pháp- Mĩ: xây dựng
của Điện Biên Phủ
thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất
+ Học sinh trao đổi, thảo luận câu hỏi :
Đông Dương, Điện Biên Phủ trở
Nhận xét vị trí chiến lược quan thành trung tâm của kế hoạch Nava
trọng của Điện Biên Phủ và âm mưu mới b. Chủ trương của ta:
của địch?
- Học sinh báo cáo kết quả thảo luận
- Giáo viên nhận xét và kết luận.
*Hoạt động 2: Tìm hiểu công tác chuẩn
bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
- Nhiệm vụ:
+ Học sinh quan sát kênh hình: xe thồ,
bộ đội ta kéo pháo vào Điện Biên Phủ,

cho học sinh đọc một đoạn trong bài thơ
Hò kéo Pháo
+ Thảo luận câu hỏi:
Nêu những chiến công của quân dân ta
chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ - Quyết định mở chiến dịch ĐBP để
1954?
tiêu diệt lực lượng địch, giải phóng
- Giáo viên: Kể tên một số gương anh Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng
hùng đã tích cực chuẩn bị cho chiến Điện Bắc lào
Biên Phủ.
- Sự chuẩn bị của ta: kỹ lưỡng về
13


- Giáo viên hỏi: Nhận xét về tinh thần và
quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân ta trước khi bước vào chiến dịch
Điện Biên Phủ1954?
- Học sinh báo cáo kết quả.
- Giáo viên: Nhận xét và kết luận.
*Hoạt động 3: Tìm hiểu diễn biến
chiến dịch Điện Biên Phủ1954.
- Nhiệm vụ:
+Giao nhiệm vụ học sinh các nhóm tìm
đọc bài tài liệu trước ở nhà.
Nhóm 1:
Vì sao ta chọn cụm cứ điểm Him
lam mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ?
Cuộc chiến tại Him lam diễn ra
như thế nào? Em biết gì về anh hùng

Phan Đình giót?
Nhóm 2: Tìm hiểu đợt 2 của chiến dịch
(30/3 đến 26/4/1954), quan sát lược đồ
chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 Kết hợp
trả lời câu hỏi:
Vì sao đây là đợt quan trọng nhất ,
kéo dài nhất, quyết liệt nhất?
Em hãy kể về cuộc chiến quyết liệt
giữa ta và địch trên đồi A1.
Nhóm 3: Tìm hiểu đợt 3(1 đến 7/5/1954
+ Giáo viên cung cấp tư liệu: cuộc tiến
công tiêu diệt cứ điểm đồi A1.
+ Học sinh trả lời câu hỏi:
Sự mưu trí, dũng cảm và phối hợp
chặt chẽ của các quân binh chủng như thế
nào tại cao điểm A1?
- Đại diện các nhóm báo cáo kết quả
- Học sinh nhóm khác nhận xét
- Giáo viên đánh giá và cho điểm. Giáo
viên trích dẫn 2 câu thơ trong bài “ Hoan
hô chiến sĩ Điện Biên”(Tố Hữu) để khắc
sâu về hình ảnh chiến đấu dũng cảm của
bộ đội :
“ Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm

mọi mặt

c. Diễn biến
- đợt 1: từ 13 -> 17-3-1954: tiêu diệt
phân khu Bắc, cứ điểm Him Lam

- đợt 2 từ 30-3 -> 26-4-1954: tấn
công các cứ điểm phía Đơng phân
khu trung tâm; A1, E1, C1, D1,…
- đợt 3 từ 1->7-5-1954: tiêu diệt các
cứ điểm còn lại

14


vắt.
Máu trộn bùn non, gan khơng núng, chí
khơng mịn.”
*Hoạt động 4: Tìm hiểu kết quả,ý
nghĩa chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ 1954:
- Nhiệm vu:
+ Thảo luận câu hỏi: vì sao nói
Chiến thắng Điện Biên Phủ Là mốc son
chói lọi, góp phần kết thúc thắng lợi 9
năm kháng chiến chống Pháp xâm lược?
- Học sinh báo cáo kết quả
- Giáo viên nhận xét và kết luận(cho HS
đưa ra một số nhận định của người nước
ngồi nói về tầm vóc của chiến thắng
Điện Biên Phủ đã chuẩn bị trước ở nhà)
*Hoạt động 5: Tìm hiểu về nội dung,
tiến bộ và hạn chế của hiệp định Giơ
ne vơ.
-Nhiệm vụ:
+ Học sinh tự đọc thông tin về nội

dung hiệp định Giơ ne vơ trong SGK
+Thảo luận câu hỏi:
Nội dung nào của hiệp định Giơ ne
vơ thể hiện thắng lợi lớn nhất của ta? Vì
sao?
So với hiệp định sơ bộ ngày
6/3/1946, hiệp định Giơ ne vơ1954 có
điểm gì giống và khác nhau?
- HS báo cáo kết quả
- Giáo viên nhận xết và kết luận
* Hoạt động 6: Tìm hiểu về nguyên
nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của
cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp(1945-1954).
- Nhiệm vụ:
+ Học sinh đọc thông tin trong
sách giáo khoa
+ Thảo luận câu hỏi:
Nhóm 1,2: Lập sơ đồ tư duy về nguyên

* kết quả, ý nghĩa
- diệt 16.200 tên địch; bắn cháy và
phá hủy 62 máy bay; buộc địch phải
chấp nhận đàm phán với ta tại Hội
nghị Giơnevơ
- Đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava,
giáng một địn quyết định vào ý chí
xâm lược của thực dân Pháp.
- Làm xoay chuyển cục diện chiến
tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện

thuận lợi cho ác cuộc đấu tranh
ngoại giao.
III. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1954
VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH
LẬP LẠI HỊA BÌNH Ở ĐƠNG
DƯƠNG
1. Hội nghị Giơnevơ( Học sinh tự
học)
2. Hiệp định Giơnevơ
- Nội dung hiệp định
- Nhận xét;
+ Thắng lợi
+ Hạn chế
- ý nghĩa:
Buộc Pháp kết thúc chiến tranh xâm
lược Đông Dương. Mĩ thất bại trong
âm mưu quốc tế hóa chiến tranh xâm
lược Đơng dương
IV. NGUN NHÂN THẮNG
LỢI, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP
1. Ý nghĩa lịch sử
-Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm
lược của thực dân Pháp
-Giải phóng hồn tồn miền Bắc, tạo
15


nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến

chống Thực dân Pháp (1945-1954)
Nhóm 3,4: Lập sơ đồ tư duy về ý nghĩa
lịch sử của cuộc kháng chiến chống Thực
dân Pháp (1945-1954)
+ Đại diên các nhóm báo cáo kết
quả
+ Học sinh nhóm khác nhận xét
+ Giáo viên đánh giá và kết luận:
Chú ý lí giải nguyên nhân chủ
quan mang tính quyết định thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp
(1945-1954)

cơ sở để nhân dân ta giải phóng hồn
tồn miền Nam thống nhất đất nước.
-Giáng đòn nặng nề vào tham vọng
xâm lược và âm mưu nô dịch của
chủ nghĩa đế quốc,
-Cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc
ở Á, Phi, Mĩ la tinh.
2. Nguyên nhân thắng lợi
-Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng,
đứng đầu là Hồ Chí Minh.
- Hậu phương vững chắc.
-Tinh thần đồn kết chiến đấu giữa
3 dân tộc Đơng Dương, sự ủng hộ
của Trung Quốc, Liên xô, và các
nước XHCN khác

C. Hoạt động luyện tập:

Giáo viên có thể tổ chức trị chơi để kiểm tra hoạt động, nhận thức của học sinh:
- Chia thành 4 đội
- Yêu cầu học sinh hãy thể hiện những gì các em ấn tượng nhất về chiến dịch
Điện Biên Phủ 1954.
- Các đội cử đại diện lên trình bày.
- Giáo viên đánh giá, cho điểm
D.Hoạt động vận dụng: (Học sinh làm ở nhà)
Viết một bài luận ngắn về nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
“Cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta mà đỉnh cao nhất là Điện Biên
Phủ đã chứng minh hùng hồn một chân lí của thời đại là: Trong điều kiện thế giới
ngày nay, một dân tộc dù nhỏ, khi đã đoàn kết đứng dậy, theo một đường lối đúng
đắn, kiên quyết chiến đấu cho độc lập và tự do, thì có đầy đủ khả năng chiến thắng
quân đội xâm lược của bọn Đế quốc thực dân hung hãn nhất.”
E. Hoạt động tìm tịi và mở rộng
- Giới thiệu tài liệu cho học sinh đọc: Nghiên cứu tài liệu của ban khoa giáo đài
truyền VN, 2005, VCD “Những điều chưa được biết đến về chiến tranh Việt”tập
I,II,III.

16


2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục ,với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy ở 2 lớp 12A1 và
12A2
Ở mỗi lớp được trình bày hai giáo án khác nhau cùng một bài. Đối với lớp
thực nghiệm 12A2 tiến hành bằng phương pháp dạy học vận dụng kiến thức liên
môn môn (văn học, địa lí) trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học
sinh. Đối với lớp đối chứng 12A1 tôi sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, ít
đổi mới. Kết quả cho thấy, học sinh ở lớp thực nghiệm 12A2 học sinh có hứng thú

học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo, mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất
linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng.
Khơng khí học tập sơi nổi, nhẹ nhàng và học sinh u thích mơn học hơn. Đối với
lớp đối chứng 12A1 tôi nhận thấy học sinh nắm kiến thức trọng tâm nhưng khơng
khí lớp học chưa sơi nổi, học sinh chưa thật tích cực tham gia vào các hoạt động
học.
*Kết quả khảo sát sau khi áp dụng sáng kiến là:
Kết quả các bài khảo sát
Năm học

Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL %
12A1
30
2
7
20
67
8
26
0 0

2020- 2021
12A2
45
5
11
35
78
5
11
0 0
Qua bảng tổng hợp kết quả ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng cho thấy: Số
học sinh đạt loại giỏi, khá ở lớp thực nghiệm cao hơn hẳn so với lớp đối chứng.
Điều đó cho thấy việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm
phát triển năng lực cho học sinh đạt hiệu quả cao. Đánh giá đúng năng lực của học
sinh, phát huy tính tích cực, sáng tạo, khả năng tự học và vận dụng kiến thức đã học
để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Kết quả thực nghiệm đã đánh giá đúng khả năng của học sinh, khuyến khích
học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản thân.Vì vậy, việc vận dụng kiến thức liên
môn vào dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh đã đảm bảo độ tin
cậy và có giá trị.
Lớp

Sĩ số

17


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Để góp phần đổi mới nội dung, phương pháp dạy học các bộ mơn học nói

chung, bộ mơn Lịch sử nói riêng thì xu thế tất yếu mang tính khách quan là phải
vận dụng kiến thức liên mơn vào bài học. Do đó trong nhiều tiết dạy, tôi đã từng
bước vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực
cho học sinh ở Trung tâm GDNN-GDTX Hậu Lộc. Qua việc áp dụng sáng kiến đã
khơi dậy và kích thích sự hào hứng cho học sinh trong học quá trình học tập. Mang
lại nhiều kết quả tốt trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp dạy
học của giáo viên.
Dạy học vận dụng kiến thức liên mơn văn học, địa lí vào dạy học lịch sử góp
phần tạo tư duy logic cho học sinh,giúp cho kiến thức của học sinh mang tính hệ
thống và ln có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Vận dụng kiến thức liên mơn văn học, địa lí trong dạy học lịch sử còn tăng
cường khả năng hiểu bài, khả năng huy động những kiến thức đã học để hiểu sâu,
toàn diện các kiến thức lịch sử cho học sinh. Trên cơ sở đó học sinh được ơn tập,
củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức cao hơn và biết vận dụng sáng tạo trong học
tập. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng. Điều
quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thơng qua vị trí địa lí, tác
phẩm văn học hay những ca khúc hào hùng thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri
thức. Hướng dẫn học sinh phát huy những kiến thức đã học, rèn luyện các kĩ năng
học tập, phát huy tính tích cực và gây hứng thú học tập cho học sinh.
Vận dụng kiến thức liên mơn văn học, địa lí trong dạy học lịch sử ở Trung
tâm GDNN-GDTX Hậu Lộc tạo khơng khí sơi nổi trong hoạt động dạy và học, góp
phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bộ mơn Lịch sử nói riêng, các mơn
học khác nói chung.
3.2 Kiến nghị:
- Với sở GD- ĐT tỉnh Thanh Hóa:
Để tiến hành thực hiện có tính phổ biến, hiệu quả cao trong việc vận dụng
kiến thức liên mơn trong dạy học Lịch sử nói riêng và dạy học các mơn khoa học
khác nói chung nhằm phát triển năng lực cho học sinh, giải quyết được những vấn
đề trong thực tiễn thì Sở giáo dục và đào tạo cần tổ chức cho giáo viên học tập
thêm các đợt chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng

hiệu quả dạy học. Đồng thời cần phổ biến các sáng kiến kinh nghiệm liên môn có
chất lượng để đội ngũ giáo viên học tập, áp dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục.
- Với ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc
Thực hiện có hiệu quả vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học nhằm phát
triển năng lực cho học sinh, các cấp có thẩm quyền huyện Hậu Lộc cần có biện
18


pháp để tăng cường cơ sở vật chất, phòng học theo hướng hiện đại hóa, các trang
thiết bị để giáo viên, học sinh dễ dàng thực hiện các hoạt động dạy học.
Hiện nay, việc vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học có ý nghĩa thiết
thực. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian thực nghiệm bản thân đã nỗ lực cố gắng
thật nhiều nhưng không thể tránh khỏi những sai sót. Vậy kính mong các q thầy
cơ giáo, đồng nghiệp góp ý kiến bổ sung để hồn thiện, vận dụng tốt cho những
năm học tiếp theo.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, các em học sinh Trung tâm GDNNGDTX Hậu Lộc đã giúp đỡ tơi hồn thành đề tài này. Tơi rất mong tiếp tục nhận
được góp ý của quý thầy cô, đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2021
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, khơng sao chép nội dung của
người khác.
Người Thực hiện

Hoàng Thị Thơm

19




×