Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Chuyen de hoc tap va lam theo tam guong dao ducHo Chi Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (237.3 KB, 27 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỂU CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP VÀ </b>
<b>LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 2012</b>
<i><b>Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh suốt đời phấn đấu</b></i>
<i><b>cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư, làm người cơng bộc tận tụy, trung thành</b></i>


<i><b>của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị.</b></i>


I. TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH SUỐT
ĐỜI PHẤN ĐẤU CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, CHÍ CƠNG VƠ TƯ, LÀM NGƯỜI
CƠNG BỘC TẬN TỤY, TRUNG THÀNH CỦA NHÂN DÂN, ĐỜI TƯ TRONG
SÁNG, CUỘC SỐNG RIÊNG GIẢN DỊ


<b>1. Suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư </b>


<b>- ý thứ nhất, nói về đạo đức và sự tu dưỡng, rèn luyện suốt đời của người cán</b>
<b>bộ đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh.</b>


Là người sáng lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vấn đề xây dựng đạo
đức của cán bộ, đảng viên. Cho nên, Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục và nhắc nhở cán bộ,
đảng viên phải giữ gìn đạo đức của người cách mạng, nhằm chống sự sự suy thoái trong
Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng đã nắm chính quyền.


Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đề cập đó là "cần, kiệm, liêm, chính, chí
cơng vơ tư". Và, Người cũng đề ra ngun tắc để rèn luyện đạo đức là phải rèn luyện suốt
đời, rèn luyện giữ gìn hằng ngày, hằng giờ. Như mỗi sáng người dậy phải rửa mặt.


Người cho rằng, người cán bộ, đảng viên, dù tài giỏi đến đâu đi nữa mà nếu khơng
có đức thì khơng thể làm điều gì có lợi cho dân, cho nước, thậm chí cịn phá hoại sự nghiệp
cách mạng. Và Người là tấm gương suốt đời phấn đấu rèn luyện thực hiện cần, kiệm, liêm,
chính, chí cơng vơ tư.



<b>Hồ Chí Minh khẳng định </b>đạo đức cách mạng khơng phải tự nhiên mà có:


: Đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết:


<b>“Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện</b>
<b>bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,</b>
<b>vàng càng luyện càng trong”1<sub>. Có gì sung sướng và vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức</sub></b>
<b>cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải</b>
<b>phóng lồi người".</b>


- Người quan niệm: đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai
cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, khơng
tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái
xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện thường xuyên trong mọi
hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan
hệ của mình.


- Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện
thường xuyên, để vật chất cám dỗ, vi phạm đạo đức thì người cán bộ, đảng viên sẽ khơng
được xã hội, nhân dân tơn kính, u mến nữa. Như thế là không tập hợp lãnh đạo được


nhân dân. Bác Hồ thường dạy: <b>“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hơm</b>


<b>qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được</b>
<b>mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ</b>
<b>nghĩa cá nhân”2<sub>. </sub></b>


1<sub>. Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr. 293. Sau đây chú thích nguồn dẫn từ bộ sách</sub>


này chỉ ghi tên tác giả, tác phẩm, số tập, số trang (BT).



</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Bác ví dụ rất cụ thể: Có những người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành,
khơng sự kẻ địch, khơng sự nguy hiểm, nghĩa là có cơng với cách mạng. Song, khi có chút
quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ơ, lãng phí, quan liêu... mà
thành có tội với cách mạng. Cho nên trong việc tu dưỡng, rèn luyện, Bác yêu cầu là phải tu
dưỡng, rèn luyện suốt đời.


Đó là nội dung thứ nhất nói về đạo đức và sự tu dưỡng rèn luyện đạo đức của cán
bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh.


<b>* ý thứ hai cần làm rõ là nội hàm và tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí</b>
<b>cơng, vơ tư theo tư tưởng Hồ Chí Minh.</b>


Chính tấm gương đạo đức trong sáng, suốt đời phấn đấu <b>cần, kiệm, liêm, chính,</b>
<b>chí cơng, vơ tư</b> là sự quy tụ đặc sắc nhất những giá trị của đạo đức cách mạng của Người.
Đặc biệt, việc Hồ Chí Minh giải thích <b>cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng, vơ tư </b>và bằng
thực tiễn, bằng tấm gương rèn luyện đạo đức cần mẫn hằng ngày của Người đã củng cố
thêm giá trị những phẩm chất này, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống nhân dân.


- Bác yêu cầu, ở bất cứ vị trí cơng tác nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải rèn
luyện, tu dưỡng những phẩm chất nói trên. Bởi vì ở bất kỳ cương vị nào, những chuẩn
mực đạo đức<b> cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng, vô tư</b> luôn cần thiết và phải luôn được tu
dưỡng, rèn luyện để người cán bộ ln thể hiện mình có đủ đức, đủ tài.


- Thứ nhất về <b>Cần</b>:


<b>Theo Hồ Chí Minh, cần có nghĩa là cần cù, siêng năng, chăm chỉ trong học</b>
<b>tập, trong lao động, trong chiến đấu và trong sản xuất; cần cịn có nghĩa là làm việc</b>
<b>có phương pháp, có khoa học và có trí tuệ; làm việc có chương trình, kế hoạch, có</b>
<b>kiểm tra, giám sát... mới có hiệu quả.</b>



- Bác nói, con người nếu chun cần thì việc gì dù khó khăn mấy cũng làm được.
Bác ví dụ:


Ruộng nếu siêng làm cỏ thì lúa tốt.
Siêng nghiên cứu, học tập thì mau biết.
Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.
Siêng làm việc thì nhất định thành cơng.
Siêng luyện tập thể dục thì có sức khỏe.


Và Bác khuyên: <b>Cần là luôn cố gắng, luôn chăm chỉ cả năm và cả đời.</b>


+ Vậy trái với cần là gì? Bác nói: trái với <b>cần</b> là <b>lười biếng</b>, Bác cho rằng <b>lười</b>
<b>biếng</b> là kẻ thù của <b>cần</b>. <b>Lười biếng</b> cũng là kẻ địch của <b>dân tộc</b>.


Một người lười biếng của thể ảnh hưởng, tác hại đến hàng nghìn người khác, có
thể ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước. Vậy, <b>cần</b> là không chây lười, chểnh mảng,
đùn đẩy công việc trong thực hiện công vụ của người cán bộ, đảng viên. <b>Đó là cần</b>.


- Thứ hai là K<b>iệm</b>


<i><b>Kiệm là tiết kiệm thời gian, tiền bạc, của cải vật chất cho nhân dân, khơng</b></i>
<b>lãng phí, tiêu dùng hợp lý nhằm mục đích mở rộng sản xuất và khơng ngừng nâng</b>
<b>cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. </b>


Theo Bác, <b>cần</b> và <b>kiệm</b> phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Bác
nói, <b>cần</b> mà khơng <b>kiệm</b> "thì làm chừng nào xào chừng ấy". Cũng như một cái thùng
khơng có đáy, nước đổ vào bao nhiêu chảy ra hết bấy nhiêu, khơng lại hồn khơng!.


<b>Kiệm</b> mà khơng <b>cần, </b>thì khơng tăng thêm, khơng phát triển được. Mà việc gì


khơng tiến ắc phải thối.


+ Bác cũng nói rõ tiết kiệm khơng phải là bủn xỉn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>Như thế mới đúng là Kiệm.</b>


+ Việc đáng chi tiêu mà không chỉ tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.


+ Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài
hai, ba giờ là thiếu <b>cần</b> và đó là <b>xa xỉ</b>.


+ Ăn sướng, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ. Ăn
không, ngồi rồi trong lúc đang cần kháng chiến và xây dựng là xa xỉ.


Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ Quốc, với nhân dân.


Ơng bà ta cũng có câu: Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa. sang đâu đến kẻ say sửa tối
ngày.


Đó là <b>Kiệm</b>


- Thứ ba là <b>Liêm</b>


<i><b>+ Liêm là liêm khiết, trong sáng, trong sạch, không tham của cải vật chất,</b></i>
<b>không tham địa vị, không tham sung sướng; không nịnh hót kẻ trên và cũng khơng</b>
<b>thích người khác tâng bốc mình. </b>


Bác nói, ngày xưa dưới chế độ phong kiến, những người làm quan khơng đục
kht của dân, thì gọi là <b>Liêm</b>, chữ <b>Liêm</b> ấy có nghĩa hẹp.



Cũng như ngày xưa trung hiếu là "Trung quân Vương, Hiếu phụ mẫu" - <b>trung</b> là


<b>trung</b> với vua, <b>hiếu</b> là <b>hiếu</b> với cha mẹ mình mà thơi.


Ngày nay, nước ta là dân chủ cộng hịa, chữ <b>Liêm</b> có nghĩa rộng hơn là mọi người
đều phải <b>liêm.</b> Cũng như <b>Trung</b> là <b>Trung</b> với Tổ quốc, <b>Hiếu</b> là <b>Hiếu</b> với <b>Nhân Dân</b>. Ta
thương cha mẹ ta, mà ta còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều phải
biết thương cha mẹ. (Ngày nay có hiện tượng rất lạ la' có những người bất hiếu với cha mẹ
mình nhưng lại có hiếu với cha mẹ người khác..., nhứt nhối lắm các đồng chí). Trong khi
Bác dạy phải hiếu với cha mẹ mình và phải thương cha mẹ người.


Đặc biệt là cán bộ, đảng viên phải biết thương và có hiếu với nhân dân.


Khi nói về <b>Đức Liêm</b> của người cán bộ, đảng viên, Bác yêu cầu chữ <b>Liêm </b>phải đi
đôi với chữ <b>Kiệm, </b>cũng như chữ <b>Kiệm</b> đi đôi với chữ <b>cần.</b> <b>Có Kiệm</b> mới <b>Liêm</b> được. Vì
xa xỉ mà sinh tham lam, mà tham lam thì khơng thể giữ <b>liêm</b> được.


- Những kẻ tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon thường là
những kẻ Bât Liêm.


Tiền do chính mồ hơi cơng sức mình làm ra, địa vị danh tiếng do tự thân phấn đấu
lớn lên bằng tài năng của mình là tốt, chứ vì lịng tham tiền, tham địa vị, thanh danh mà tìm
mọi cách đê( ăn của đút, đụt khoét của Nhà nước, chạy chọt mua bằng cấp, mua chức, xin
chức là <b>Bất Liêm</b>, vô đạo đức, chẳng ai coi ra gì?


- Bác cũng chỉ rõ: người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc
trộm của công dân làm của tư, lợi dụng sơ hở của Nhà nước mà tham nhũng, lãng phí là


<b>Bất Liêm</b>.



- Người bn bán, mua một bán mười hoặc mua gian bán lận, chợ đen chợ đỏ, tích
trữ đầu cơ là <b>Bất Liêm</b>.


- Người có tiền cho vay cắt cổ, bóp hầu, bóp họng đồng bào là <b>Bất Liêm</b>.


- Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.
Người cờ bạc chỉ mong xoay của người làm của mình là <b>Bất Liêm</b>.


- Hoặc: Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là
trộm) ...đều trái với <b>liêm.</b>


Do <b>Bất Liêm</b> mà đi đến tội ác trộm cắp. Bác Hồ trích dẫn câu nói của Khổng
Tử... <b>"Người mà không liêm, không bằng súc vật".</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>Liêm </b>sẽ tác động tốt hoặc xấu đến niềm tin của nhân dân đối với chế độ, với Đảng cầm
quyền.


Việc cán bộ, đảng viên giữ <b>liêm </b>hoặc <b>bất liêm</b> nó vô cùng quan trọng. Do <b>bất</b>
<b>liêm</b> mà dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, gây bức xúc
trong dư luận, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.


Để thực hành chữ liêm, cần có sự tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp
luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.


Bác Hồ khun cán bộ muốn giữ được liêm thì ít lịng ham của, chớ tham sắc,
tham sắc thì dễ bị mỹ nhân kế, chứ tham danh vọng, tham danh vọng dẫn đến kèn cựa địa
vị..., thì sẽ mất liêm. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ <b>liêm</b> trước để làm gương mẫu cho
dân. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ <b>bất liêm</b>, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào.


Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội


với nước, với dân.


Đánh giá ý nghĩa của cần, kiệm, liêm, Hồ Chí Minh viết: "Một dân tộc <b>biết cần,</b>
<b>kiệm, </b>biết<b> liêm</b> là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn
minh, tiến bộ". Đó là <b>Liêm.</b>


<b>-</b> Thứ tư là<b> chính:</b>


<i><b>- Chính</b></i>là luôn đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, lên án những cái xấu, cái sai trái.
Đối lập với <b>chính</b> là <b>tà</b>. Vậy <b>chính</b> là khơng <b>tà</b>, là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì
khơng thẳng thắn, đứng đắn là <b>tà</b>.


Theo Bác thì bốn đức <b>cần, kiệm, liêm, chính</b> có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bác nói: <b>Cần, Kiệm, Liêm</b> là gốc rễ của <b>Chính. </b>Như một cái cây cần có gốc, rễ,
lại phải có cành, lá, hoa, quả mới hoàn toàn. Một con người phải <b>Cần, Kiệm, Liêm</b>,
nhưng cịn phải <b>Chính</b> mới là người hồn tồn.


Bác nói trên đời chỉ có hai loại người: Người <b>thiện</b>, người <b>ác</b>. Việc thì có hàng
trăm, nghìn việc nhưng quy tụ lại chỉ có hai việc: Việc <b>thiện</b>, việc <b>tà</b>, làm việc <b>chính</b> là
người <b>thiện</b>, làm việc <b>ác</b> là người <b>tà</b>.


Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.


Để thực hiện chính, Bác đặt chính trong 3 mối quan hệ cần giải quyết đó là: với
người, với mình, với việc. Đối với mình, tự mình phải chỉnh trước mới giúp người khác
chính. Đối với người; trừ việt gian, bán nước, phát xít, thực dân, đế quốc xâm lược là ác
qũy ta phải đánh đổ; với tất cả mọi người khác thì ta phải trân trọng, giúp đỡ.


Chớ nịnh hót người trên, chớ xem khinh người dưới. Thái độ chân thành, khiêm
tốn, phải thật thà đoàn kết, phải học người và giúp người tiến bộ.



Đối với việc: phải đặt việc công, việc nước lên trước, trước việc tư, việc nhà. Đã
là thiện thì việc gì nhỏ mấy cũng phải làm, đã là ác thì việc gì nhỏ mấy cũng phải tránh.
Việc gì dù lợi cho mình mà hại cho người thì quyết khơng làm.


- Thứ năm là <b>Chí cơng, vơ tư:</b>


<i><b>Chí cơng vơ tư</b></i> là mình vì mọi người; ln ln đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc,
của nhân dân lên hàng đầu; khi khó khăn thì đi trước, khi hưởng thụ thì sau; khơng tham
tiền tài, địa vị, danh vọng, <b>chỉ có một mục đích cao nhất là làm sao để cuộc sống của</b>
<b>nhân dân no đủ, hạnh phúc, đất nước phồn vinh. </b>


<i><b>- Chí cơng</b></i> là rất mực công bằng, công tâm; <i><b>vô tư</b></i> là không được có lịng riêng,
thiên tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước,
khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn <b>chí cơng</b>
<b>vơ tư</b> thì phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là thứ vi trùng rất độc hại đẻ ra hàng
trăm thứ bệnh: Tham ô (đụt khoét của công, lãng phí, ăn xài xa xỉ), hủ hóa (mất phẩm chất
tốt đẹp), tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành; tự cao, tự đại, coi thường tập thể,
xem khinh quần chúng, độc đoán, độc quyền, quan liêu, mệnh lệnh, ăn chơi xa đoạ, bè
phái.


Muốn giữ được <b>chí cơng, vơ tư</b> thì bản thân phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân
với những thứ bệnh nguy hiểm trên.


<b>Bác chỉ rõ: Người đảng viên, người cán bộ tốt, muốn trở nên người cách</b>
<b>mạng chân chính, khơng có gì là khó cả. Điều đó hồn tồn do lịng mình mà ra.</b>
<b>Lịng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí</b>
<b>cơng, vơ tư.</b> Mình đã chí cơng vơ tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít,...mà những tính


tốt ngày càng thêm.


- Như vậy, <b>cần, kiệm, liêm, chính</b> có quan hệ chặt chẽ với nhau và với <b>chí cơng,</b>
<b>vơ tư</b>.<b> Cần, kiệm, liêm, chính</b> sẽ dẫn đến <b>chí cơng, vơ tư</b>. Ngược lại, đã <b>chí cơng vơ tư</b>,
một lịng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được <b>cần, kiệm, liêm, chính.</b>


Như vậy <b>cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng, vơ tư </b>là những đức tính, những phẩm
chất hết sức quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức, nhưng không phải dễ dàng ai cũng
hội tụ đủ các phẩm chất cao quí này.


Hiện nay, tham nhũng, lãng phí đã trở thành vấn đề nghiêm trọng, gây bức xúc
trong nhân dân, cần loại bỏ; tình trạng vi phạm pháp luật, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu
nhân dân... do suy thoái đạo đức tạo nên cũng gây nhức nhối trong dư luận, cần phải ngăn
chặn, đẩy lùi.


Cho nên, hơn ai hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần học tập, tu dưỡng và rèn luyện
những phẩm chất này sẽ là điều kiện để hoàn thiện các phẩm chất cần thiết khác.


Như Bác đã dạy <b>"đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do</b>
<b>đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng</b>
<b>mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".</b>


- Đó là những đức tính mà người cán bộ, đảng viên phải phấn đấu rèn luyện để giữ
mình trong sạch, trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay.


- ý thứ ba,<b> Tấm gương Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng, vơ tư.</b>


Hồ Chí Minh khơng chỉ dạy, u cầu cán bộ, đảng viên tu dưỡng rèn luyện mà Hồ
Chí Minh thực hành triệt để tất cả những quan niệm đạo đức mình đưa ra, thậm chí Người
cịn làm nhiều hơn, tốt hơn những gì Người nói. Hồ Chí Minh là một tấm gương tu rèn cần


mẫn, tận tụy với nhiệm vụ của mình, với mọi cơng việc của mình.


+ Trong cơng việc, Hồ Chí Minh sắp xếp có kế hoạch, giờ nào việc ấy và bằng
mọi cách duy trì thời gian biểu đã vạch ra. Người thường xuyên suy nghĩ để đổi mới cách
nghĩ, cách làm, tìm tịi những biện pháp tối ưu để cơng việc được tiến hành nhanh chóng,
đạt hiệu quả cao nhất.


Khơng chỉ xây dựng kế hoạch làm việc của cá nhân, Hồ Chí Minh cịn phân cơng
hợp lý cơng việc cho mọi người, để ai cũng có thể làm đúng năng lực, phát huy sở trường,
khắc phục hạn chế của mình.


Bác nói, khơng có cán bộ tồi, chỉ có người sử dụng cán bộ có biết cách dùng hay
khơng. Dùng cán bộ không đúng chỗ, không đúng tài năng của họ sẽ không phát huy
được.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Người tin tưởng động viên tính tự giác và tinh thần trách nhiệm của mọi người,
nhưng không bao giờ sao nhãng việc kiểm tra, đánh giá công việc của từng người, khen
thưởng, động viên kịp thời những cá nhân cần cù, sáng tạo trong công việc.


Nghĩa là Bác không chỉ thực hiện tốt việc cần, đưa cần, để làm gương mà còn
hướng dẫn, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên thực hiện tốt các đức cần để hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.


+ Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm, <i>giữ liêm khiết, trong</i>
<i>sạch</i> trở thành phong cách riêng của Người ở mọi lúc, mọi nơi. Người sống trung thực,
chân thành với chính mình và với người khác.


Hồ Chí Minh là một tấm gương đấu tranh không mệt mỏi chống lại cái ác, cái xấu
trong xã hội, trong mỗi con người, chống lại những biểu hiện tiêu cực, nhất là căn bệnh
tham ơ, lãng phí, quan liêu trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước để các cơ quan


đảng, cơ quan nhà nước thật sự trong sạch, đại diện cho nhân dân. (Trong tác phẩm nâng
cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Bác dành hẳn một phía nói về chống
tham ơ, lãng phí, quan liêu)


Hồ Chí Minh có thái độ rõ ràng, công minh trước công và tội của từng cá nhân.
Người viết nhiều bài báo giáo dục, cảnh tỉnh cán bộ, đảng viên không được phép làm
“quan cách mạng”, phịng tránh những cám dỗ đời thường để khơng bị ngã gục trước
những “viên đạn bọc đường”.


Người đã trực tiếp chỉ đạo xét xử những vụ án lớn;xử tử đại tá Trần Dụ Châu)
phân tích thấu tình đạt lý những nguyên nhân dẫn đến lỗi lầm của cán bộ, đảng viên, trong
đó có đảng viên có chức, có quyền. Người chỉ ra hậu quả kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức
mà các hành vi phạm tội gây ra, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào luật pháp, vào
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ ta.


<i><b>Tóm lại, </b></i>Bác Hồ không chỉ yêu cầu cán bộ, đảng viên rèn luyện được cần, kiệm,
liêm, chính, chí cơng, vơ tư. mà Bác còn là tấm gương thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí
cơng, vơ tư để cho cán bộ, đảng viên học tập, noi theo (biết bao mẫu chuyện về tấm gương
cần, kiệm, liên, chính, chí cơng, vơ tư của Bác mà chúng ta đã được nghe).


<b>2. Xin chuyển qua nội dung thứ hai là: Suốt đời vì dân, vì nước, làm người</b>
<b>cơng bộc tận tụy, trung thành của nhân dân.</b>


<b>* Truyền thống gia đình, quê hương đã làm nên nhân cách Hồ Chí Minh</b>


Sinh ra, lớn lên trong một gia đình nhà nho, ở xứ nghệ, thuộc huyện Nam Đàn, là
quê hương nhà cách mạng Phan Bội Châu. Sinh ra ở một vùng quê nghèo khổ nhưng giàu
truyền thống u nước, văn hiến, Hồ Chí Minh được ni dưỡng, thấm nhuần sâu sắc triết
lý sống của cha ông: Muốn dựng làng và giữ nước phải bắt đầu từ việc làm người một
cách thành thật, đúng nghĩa.



Người cũng bộc lộ rất sớm một nét tính cách lớn: Sống có lý tưởng, có hồi bão
lớn va' trung kiên.


Ngay từ thuở nhỏ Hồ Chí Minh đã có ý thức gắn vận mệnh cá nhân mình với vận
mệnh chung của đồng bào, đất nước, luôn đau đáu một nỗi niềm: trước cảnh mất nước,
nhà tan, đồng bào lầm than, đói khổ.


Đấy chính là những biểu hiện ban đầu của một nhân cách lớn, một trí thức chân
chính: ln ln trăn trở, đau đớn trước nỗi nhục mất nước, đồng bào nô lệ, lầm than, suy
nghĩ về những vấn đề liên quan đến số phận con người và các giá trị làm người.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

- ý 2: <b>Trọn một đời vì dân, vì nước, làm cơng bộc tận tụy của nhân dân</b>


- Hồ Chí Minh ln tâm niệm: Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tơi,
đó là tất cả những gì tơi muốn, đó là tất cả những gì tơi hiểu, mang khát khao, hồi bão lớn
đó, Bác Hồ quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.


- Yêu nước, thương dân, tất cả vì dân, vì nước là suy nghĩ thường trực, nhất quán
trong con người Hồ Chí Minh.


Người đi sang Pháp, sang các nước phương Tây nhằm mục đích học hỏi xem bên
ngoài người ta làm thế nào để rồi về nước giúp đồng bào mình giải phóng khỏi gơng cùm
nơ lệ, áp bức.


Và Hồ Chí Minh đấu tranh khơng ngừng, khơng nghỉ, thậm chí phải hy sinh bằng
mọi giá giành được độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.


Chính lịng u nước, thương dân của Bác mới là động lực vĩ đại để làm nên sự
nghiệp cách mạng phi thường của Người.



+ 30 năm, với biết bao phong ba, bão táp đã không ngăn nỗi, không làm chùn ý
chí của một con người yêu nước, thương dân vô bờ bến. Hai lần ngồi tù, một lần mang án
tử hình vắng mặt, 25 năm hoạt động bí mật, lúc ở Châu Âu, khi về Châu á. Phải làm những
việc mà một người có chút trí thức khơng bao giờ làm: Bồi tàu, quét tuyết, rửa chén, xúc
than, bồi bàn, bán báo... Bác làm mọi nghề để sống để tìm đường cứu nước, cứu dân.


Rồi bao nỗi đau về tinh thần, những dày dị về tình cảm gia đình, con người bình
thường khơng thể vượt qua nổi, mà Bác Hồ chúng ta trong thời gian dài phải chịu đựng tất
cả. Có lúc bị quốc tế cộng sản nghi kỵ, vơ hiệu hóa khơng cho hoạt động. Nhờ đâu mà Bác
vượt qua được đó là Bác có một lý tưởng chính trị, nhưng quan trọng hơn đó là đạo đức,
nguyện một đời vì nước, vì dân.


+ Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh phát biểu mục đích cuộc sống mà
Người đeo đuổi là: “Tơi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”1<sub>. </sub>


Nói chuyện với đồng bào trước khi sang thăm Pháp
(30-5-1946), Hồ Chí Minh khẳng định: “Cả đời tơi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho
quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non,
hoặc ra vào chốn tù tội, xơng pha sự hiểm nghèo. Là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc
dân đồn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tơi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng
đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tơi
cũng chỉ đeo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”2<sub>.</sub>


Điểm nổi bật ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy xuyên suốt trong tư tưởng của người
là yêu nước phải gắn liền với u dân, u đồng bào. Khơng thể nói u nước mà lại
không thương dân, không lấy nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu của dân làm nguyện
vọng, ham muốn của mình, mà đã thương dân thì phải đem hết sức mình để lo cho dân.



+ Là lãnh tụ của dân tộc, là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh
nhận thức rất rõ trách nhiệm của cá nhân là lo cho dân, cho nước từ những việc lớn đến
việc nhỏ: từ việc tìm đường cứu nước, bảo vệ, đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng,
phát triển mọi mặt xã hội, đến việc tương, cà, mắm, muối... để thỏa mãn các nhu cầu thiết
yếu nhất của dân, để mọi người đều có cơm ăn, có áo mặc, có chỗ ở, được học hành, có
điều kiện khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe.


Bác từng nói: Người xưa nói: <b>quan là cơng bộc của dân</b>, ta có thể nói: <b>Chính</b>
<b>Phủ là công bộc của dân vậy</b>. Các công việc của Chính Phủ phải làm nhằm vào mục đích


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

duy nhất là mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính Phủ nhân dân bao giờ
cũng đặt lợi ích nhân dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì có hại
cho dân thì tránh. "Chúng ta u dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta".


<b>Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính Phủ từ tồn quốc cho đến</b>
<b>các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ</b>
<b>không phải để đè đầu, cởi cổ dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Nhật,</b>
<b>Pháp. </b>


Ngày nay, dù đã đi xe nhưng chắc Bác rất đau lòng, một bộ phận cán bộ,
đảng viên ở cơ quan công quyền, được học hành, giáo dục đàng hoàng, nhưng lại bất hiếu
với dân, bắt nạt, sách nhiễu, cửa q uyền khi dân đến nhờ việc; nhiều người vô cảm trước
nỗi đau của nhân dân...)


- Là người đứng đầu Chính Phủ, Người ln thể hiện tấm gương là công bộc của
dân, và yêu cầu tất cả cán bộ trong bộ máy từ trung ương đến cơ sở phải thật sự là công
bộc của dân, u dân, kính dân.


- Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh ln day dứt với một suy nghĩ: Người


chưa làm tròn nghĩa vụ cách mạng với dân, với nước. Vì thế, Hồ Chí Minh từ chối mọi
danh hiệu, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, bạn bè quốc tế dành riêng
cho Người1<sub>.</sub>


- Tự nhận là công bộc của dân, Hồ Chí Minh dồn hết tâm lực, trí tuệ cùng Đảng và
Chính phủ lãnh đạo nhân dân xây dựng, phát triển đất nước, làm cho Việt Nam trở nên
giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu.


Trong <i>Di chúc</i>, Hồ Chí Minh viết: <b>“VỀ VIỆC RIÊNG - Suốt đời tơi hết lịng</b>
<b>hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt</b>
<b>thế giới này, tôi khơng có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục</b>
<b>vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”2<sub>. </sub></b>


+ Một con người khi sống trọn cuộc đời chỉ có một ham muốn, ham muốn đưa tột
bật là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hồn tồn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, có mặc, ai cũng được học hành. Đến khi sắp lìa khỏi cõi đời chỉ có một
điều tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa" (ngày nay
có nhiều người khi sắp về hưu lại tiếc không được ở lại lâu hơn nữa, để với vét nhiều hơn
nữa).


<b>Và điều mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đồn</b>
<b>kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hịa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ</b>
<b>và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”2<sub>.</sub></b>


- Nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm của Người và hành động của Người, chúng ta
thấy: Đối với Hồ Chí Minh <b>phạm trù Nhân Dân</b> là một phạm trù cao quý nhất, là một
phạm trù chính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng của Người. Hồ Chí Minh đã nhìn
thấy sức mạnh của nhân dân khơng chỉ đơn thuần là sức mạnh chính trị mà cịn là chiều
sâu của tư tưởng nhân văn: <b>“Trong bầu trời khơng gì quý bằng nhân dân. Trong thế</b>



1<sub>. Năm 1963, khi biết tin Quốc hội định trao tặng Người Huân chương Sao vàng cao quý, Hồ Chí Minh đã phát biểu rất chân</sub>


thành: “Tôi vừa nhận được một tin tức làm cho tơi rất cảm động và sung sướng. Đó là tin Quốc hội có ý định tặng cho tơi Hn
chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lịng biết ơn Quốc hội. Nhưng tơi xin Quốc hội cho phép
tơi chưa nhận Hn chương ấy. Vì sao? Vì Hn chương là để tặng thưởng người có cơng hn; nhưng tơi tự xét chưa có cơng
hn xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội”. Và Người mong muốn: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn tồn giải
phóng, Tổ quốc hịa bình thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi
Huân chương cao quý. Như vậy thì tồn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng” (Hồ Chí Minh: Tồn tập, t.11, tr. 61-62). Hồ Chí
Minh bao giờ cũng muốn niềm vui riêng của mình hịa trong niềm vui chung của tồn dân tộc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<b>giới khơng gì mạnh bằng lực lượng đồn kết của nhân dân”1<sub>.</sub></b><sub> Đó là một minh chứng</sub>


điển hình về niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định, dân khí mạnh thì
binh lính nào, súng ống nào cũng khơng địch nổi.


- Từ đó, Người quan niệm cái gì có lợi cho nhân dân, cho dân tộc là chân lý, và
Người xem phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý; làm công bộc cho dân là một việc làm
cao thượng.


Người tâm niệm: Nhà nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, dân
vẫn cứ chết đói, chết rét thì độc lập ấy chẳng có nghĩa gì. Là cơng bộc, là đầy tớ của dân thì
Đảng, Chính phủ và mỗi cán bộ phải chăm lo cho đời sống của nhân dân.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban
Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:


“1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành”3<sub>.</sub>



- Người cịn nói “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã
tranh được rồi... Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự
do, độc lập cũng khơng làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân
được ăn no, mặc đủ”2<sub>. </sub>


Khi bàn về mục tiêu hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng khơng
có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng phải
thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy, Đảng phải làm tròn trách nhiệm là người
đầy tớ của nhân dân. Người đã viết thật sâu sắc: Người xưa nói: quan là cơng bộc của dân,
ta cũng có thể nói: Chính phủ là cơng bộc của dân vậy.


Các cơng việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là đem lại tự
do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng đặt quyền lợi dân
lên trên hết thảy”3<sub>. Người nói: “Làm Chủ tịch nước mệt lắm. Trăm việc đều phải lo. Trời</sub>
mưa, trời nắng, gió bão, v.v., chưa ai lo, mình đã phải lo. Các cháu choẹt mắt, chưa ai lo,
mình đã phải lo”2<sub>. </sub>


(Nếu tất cả cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở thực hiện đầy đủ trách
nhiệm như Bác Hồ dạy nêu trên thì tuyệt vời)


Người căn dặn và giáo dục nhận thức cho cán bộ, đảng viên rằng, cơm chúng ta
ăn, áo chúng ta mặc đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, nên chúng ta phải đền bù
xứng đáng cho dân.


Bác yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xơng xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương
mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải ln quyết tâm, bền
bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu
cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh
phúc của nhân dân.



Qua nội dung trên, những gì Bác nói, những gì Bác viết, những gì Bác đã hành
động suốt cuộc đời từ lúc đi tìm đường cứu nước cho đến khi làm lãnh đạo tối cao của
Đảng, Chính phủ, của dân tộc đã thể hiện một cách trọn vẹn trong cuộc đời vì nước, vì dân,
làm trịn trách nhiệm là cơng bộc của nhân dân.


* Xin chuyển qua nội dung thứ ba, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị, hết
mực khiêm tốn.


1<sub>. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t.8, tr. 276. </sub>
2<sub>. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, tr. 152.</sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

<b>3. Đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và khiêm tốn hết mực</b>


Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được thể hiện trong cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày, <b>đó là đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và đức khiêm tốn hết mực.</b>
<b>Người coi khinh sự xa hoa để sống một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần,</b>
<b>kiệm, liêm, chính một cách cần mẫn.</b>


Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sôi nổi và oanh liệt,
tiếng thơm vang vội khắp năm Châu bốn bể. Cụ là lãnh đạo tối cao của Đảng, Chính phủ,
của dân tộc được cán bộ, đảng viên và của dân tộc tơn vinh, kính mến, nhưng đời sống của
cụ rất bình thường, vơ cùng giản dị, khiêm tốn, tính giản dị, khiêm tốn của Bác được ca
tụng hết lời.


Trăm người viết về Hồ Chí Minh thì trăm người ca ngợi tính giản dị của Cụ. Ngàn
người tiếp xúc, biết cụ thì nói Cụ giản dị.


Giản dị là tính tự nhiên của Cụ Hồ. Người giản dị thì có nhiều; nhưng lại có ít, rất
ít người đã đạt tới thành công to lớn nhất trong sự nghiệp xã hội và cá nhân, đã đạt tới đỉnh


của sự vinh quang cả trong nước và thế giới mà tính giản dị tự nhiên vẫn không thay đổi.


Suốt 79 mùa xuân, suốt 60 năm hoạt động đều như vậy. Trong mấy chục năm đầu
giản dị là bản tính, mấy chục năm sau tính giản dị của Bác có nhằm mục đích giáo dục và
làm gương cho cán bộ, đảng viên.


Khi Bác mất, báo Pháp Bằng chứng Thiên chúa giáo viết: Vinh quang đến tột
đỉnh, nhưng con người Cụ vẫn như trước kia, nghĩa là vẫn ghét xa hoa hào nhúng, vẫn giản
dị về ăn mặc, sinh hoạt. Khi Cụ đã cho các em học sinh vuốt râu mình, lúc cụ đến thăm
trường, hoặc như Cụ đi đôi dép cao su, thì đều khơng có chút gì là mị dân hoặc giả tạo cả".


- Còn báo Anh viết: Cụ Hồ xem khinh mọi vinh hoa và quyền cao chức trọng. Cụ
sống không phải trong Chủ tịch Phủ mà trong một căn nhà nhỏ bây giờ. Cụ mặc bộ quần
áo Kaki bạc màu, đi đôi dép cao su. Đây không phảI là hình ảnh nhằm phục vụ mục đích
tun truyền hay chính trị; cụ khơng phải là con người như vậy.


- Tính giản dị của Bác, những đồng chí gần gũi Bác, những anh em nhiều năm bảo
vệ phục vụ, kể rất nhiều.


+ Về ăn "Bữa cơm của Bác thanh đạm lắm. Cá kho khô, canh cua đồng, điểm chút
rau thơm, rau ghém, qủa ớt đỏ, cơm nóng dẻo là được rồi. Nếu đổi món thì rau muốn luộc
cho xanh, cho mềm, trứng luộc vừa chín lịng đỏ, thêm mấy quả cà pháo muối kiểu xứ
nghệ là được rồi.


+ Về mặc, về ở thì chúng ta đã biết rồi, cho nên trong cách ăn, cách ở, cách mặc
của Bác đều rất giản dị, chính trong sự giản dị ấy đã tốt lên cái vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.


Chủ tịch Chính phủ ChiLê, khi đến thăm nơi ở, làm việc của Bác, phải thốt lên
"khơng bao giờ chúng tơi thấy sự giản dị và sự vĩ đại đi liền với nhau như vậy".



- Khó kiếm thay một người cơng lao to lớn đã đạt được sự cao nhất của vinh
quang mà vẫn giữ tính khiêm tốn, giản dị y như thở hàn vi hoạt động trong vòng vây dày
đặc của kẻ thù. Đời tư của Bác thật giản dị, khiêm tốn, trong sáng như pha lê; gương sáng
chói ấy khơng có một hạt bụi nào có thể bám được.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

tính giản dị cả. Người dạy làm sao thì chính bản thân người làm gương như vậy.


- Hồ Chí Minh ln ln nói đi đơi với làm. Trong hành trình tìm đường cứu
nước, dù ở đâu, làm gì, Hồ Chí Minh chấp nhận mọi cơng việc, miễn là việc đó có lợi cho
tổ chức, cho cách mạng. Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị
trí cao nhất nhưng ln trung thành, tận tụy vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, khơng
mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân và gia đình. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ


tịch nước: <b>“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ</b>


<b>phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tơi phải gắng sức làm, cũng như</b>
<b>một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào</b>
<b>cho tơi lui, thì tơi rất vui lịng lui. </b>


<b>Tơi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được</b>
<b>hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn tồn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,</b>
<b>ai cũng được học hành. Riêng phần tơi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh,</b>
<b>nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn</b>
<b>trâu, không dính líu gì với vịng danh lợi”1<sub>. </sub></b>


- Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút
nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước Kỳ họp thứ hai Quốc
hội khóa I (31-10-1946):



"Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tơi phụ trách Chính phủ một lần
nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tơi
hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội,
trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh khơng phải là kẻ tham quyền cố vị,
mong được thăng quan phát tài”2<sub>. </sub>


- Trong lời tuyên bố của Hồ Chí Minh, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc
đảm nhận chức vụ trong một hồn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi


<b>“Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất”.</b> Chức vụ đó là do Quốc hội
(nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Cịn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về
cuộc sống của một người dân bình thường.


Người luôn khẳng định: Sự nghiệp anh hùng cách mạng Việt Nam là của tồn
Đảng, tồn dân, tồn qn ta; cịn khuyết điểm thì Người nhận về mình. Hiếm có một lãnh
tụ nào trên thế giới đứng trước toàn dân để <i>Tự phê bình</i>, nhận lấy khuyết điểm của mình và
cho rằng do mình “tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của
đồng bào”3<sub>. (Sai lầm trong cải cách ruộng đất, Bác đã xin lỗi quốc dân, đồng bào)</sub>


Có lẽ, Hồ Chí Minh là lãnh tụ duy nhất trên thế giới có nhiều đóng góp vĩ đại cho
Tổ quốc mình, nhưng khi đi vào cõi vĩnh hằng trên ngực áo khơng hề có bất kỳ một tấm
huân, huy chương nào.


II. YÊU CẦU RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


<b>1. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, nêu cao tinh thần phụng</b>
<b>sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân</b>


- Bác từng dạy: Đạo đức cách mạng là trong mọi hoàn cảnh, điều kiện người cán


bộ, đảng viên ln đặt lợi ích của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết
và tuyệt đối trung thành với sự nghịêp cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc,


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

phục vụ nhân dân.


Người cán bộ, đảng viên phải thấu hiểu và thấm nhuần một cách triệt để: Trung
thành với cách mạng chính là trung thành với sự nghiệp của nhân dân. Hồ Chí Minh nhắc
nhở, dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước
hết. Cán bộ phải ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức trung thành phục
vụ nhân dân.


Có trung thành và quyết tâm phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của
dân tộc thì mới dám dũng cảm hy sinh quên mình vì nghĩa lớn.


- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy mỗi cán bộ rằng: “Trong xã hội khơng có gì tốt
đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”1<sub>. Thấm nhuần lời dạy của Người,</sub>
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: <b>“Cán bộ, đảng viên phải</b>
<b>nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hết lòng, hết</b>
<b>sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”3<sub>. </sub></b><sub>Làm sao tinh thần đó phải quán triệt cho</sub>


trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi cán bộ, đảng viên phải sống và hành động với tinh
thần ấy.


- Cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng, với đất nước phải được thể hiện
trong cơng việc hằng ngày, đó là: hướng tới phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Bảo
vệ thành quả chính đáng của cách mạng cũng có nghĩa là phải bảo vệ quyền tự do, dân chủ
rộng rãi cho nhân dân lao động. Đó là đạo đức chân chính của người cách mạng mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dày cơng vun đắp.


- Đó là yêu cầu thứ nhất về rèn luyện đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng


viên trong giai đoạn hiện nay.


<b>2. Yêu cầu thứ hai là kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu, thực hành</b>
<b>dân chủ.</b>


- Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, tham nhũng, lãng phí, quan
liêu đang làm cản trở cơng cuộc kiến thiết đất nước, cản trở sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, là kẻ thù nguy hiểm của cách mạng.


+ Với quyết tâm đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã thông qua


<i>Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát</i>


<i>triển năm 2011)</i>. Cương lĩnh chỉ rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước


ta là <b>“xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc</b>
<b>thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành</b>
<b>một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”2</b><sub>. </sub>


Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát này, Đại hội đặc biệt chú trọng đến
việc đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí một cách có hiệu quả.
Trong cuộc đấu tranh này, cần phải: <b>“Nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ công</b>
<b>chức; công khai, minh bạch tài sản của cán bộ, công chức. Tăng cường công tác giám</b>
<b>sát, thực hiện dân chủ, tạo cơ chế để nhân dân giám sát các cơng việc có liên quan</b>
<b>đến ngân sách, tài sản của Nhà nước”3<sub>.</sub></b>


Rõ ràng, chống tham nhũng là một quyết tâm chính trị lớn của Đảng. Để thực hiện
quyết tâm đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác trong phòng chống tham
nhũng, thực hiện triệt để, đồng bộ các giải pháp, thì một yếu tố quan trọng và cần kíp là



1<sub>, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, tr. 276; t.4, tr. 22.</sub>


3<sub>. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,</sub>


2011, tr. 258.


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

chống tham nhũng.


- Đi liền với tham nhũng là nạn lãng phí, đó cũng là một thứ giặc nội xâm. Muốn
xây dựng thành cơng chủ nghĩa xã hội thì phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.


Trong thời gian qua, do cách tổ chức quản lý chưa tốt của cán bộ nên có khơng ít
nơi để xảy ra tình trạng lãng phí của cơng đến mức phải cảnh báo. Hồ Chí Minh quan niệm
lãng phí của cơng tuy khơng lấy của công cho riêng cá nhân như tham nhũng, song kết quả
cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ, có khi tai hại hơn cả nạn tham nhũng và trộm
cướp.


Lãng phí của cơng điển hình là các cơ quan công quyền dùng vật liệu, điện nước
một cách phí phạm; các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không đúng mức; các cơ
quan dùng xe vào mục đích cá nhân, khơng tiết kiệm xăng dầu; các dự án đầu tư dàn trải,
không hiệu quả,... nhất là lãng phí trong đầu tư xây dựng, trong sử dụng ngân sách Nhà
nước, trong mua sắm tài sản công).


Cho nên nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước là phải
triệt để loại bỏ những căn bệnh đó và tăng cường thực hành tiết kiệm; có như thế mới thực
hiện được đạo đức mới, đạo đức cách mạng, mới làm cho dân cường, nước thịnh.


Vì vậy, chống tham ơ, lãng phí phải gắn với chống quan liêu và là việc làm cần
thiết, thường xuyên.



Bệnh quan liêu làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta. Nó
phá hoại những phẩm chất đạo đức cách mạng mà chúng ta đang xây dựng là: Cần, kiệm,
liêm, chính.


- Yêu cầu thứ hai, chống tham ơ, lãng phí, quan liêu là để giữ gìn phẩm chất đạo
đức của cán bộ, đảng viên; đặc biệt là góp phần xây dựng đất nước ta cơ bản đạt mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội vào năm 2050.


<b>- ý 3: Thực hành dân chủ để chống lãng phí, quan liêu, tham nhũng.</b>


Theo Bác, muốn chống quan liêu, tham nhũng, lãng phi thì phải thực hành dân
chủ.


Nguyên nhân sinh ra quan liêu, từ đó sinh ra tham nhũng, lãng phí là do xa dân,
xa rời cuộc sống của nhân dân; Vì quan liêu, xa rời cuộc sống của nhân dân nên lãng quên
trách nhiệm của mình đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, vì coi thường dân, không
thương dân; không chi xẻ nỗi khổ cực của nhân dân để có tiền đóng thuế để ni mình,
khơng nhớ đồng lương mình hưởng là do nhân dân đóng góp.


- Để thực hành dân chủ chống lãng phí, quan liêu thì phải dựa vào dân, phát động
phong trào để nhân dân tích cực tham gia.


Từ lâu Bác đã yêu cầu phát huy dân chủ, thực hiện dân chủ để phát huy sức mạnh
trí tuệ của nhân dân trong xây dựng đất nước, đặc biệt là trong phịng, chống lãng phí, quan
liêu, tham nhũng. Đảng ta có chủ trương về thực hành dân chủ (Chỉ thị 30 của Bộ Chính
trị, Nhà nước ban hành quy chế dân chủ cơ sở. Vấn đề còn lại là phải tổ chức thực hiện cho
tốt thì nhân dân sẽ tham gia tích cực.


<b> 3. Ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của</b>
<b>Đảng </b>



Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đưa ra quyết tâm trong nhiệm kỳ này
phải “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa”1<sub>. </sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

Đại hội xác định bảy nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo:
(1) Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.


(2) Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức và hoạt
động của doanh nghiệp, sinh hoạt của nhân dân.


(3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng u cầu của cơng cuộc cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước.


(4) Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hệ thống giao
thông.


(5) Đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động; khắc phục tình trạng bất hợp lý và tác động tiêu cực của
quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập hiện nay.


(6) Tập trung giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc (suy thoái đạo đức, lối sống,
tệ nạn xã hội, trật tự, kỷ cương xã hội).


(7) Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng
phí để thực sự ngăn chặn, đẩy lùi được tệ nạn này.


<i><b>Chú ý:</b></i>



- Song vấn đề quan trọng là để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề ra thì phải:


- Một, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là
góp phần thiết thực và trực tiếp thực hiện tốt cả bảy nhiệm vụ nêu trên, góp phần thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.


- Hai, mỗi cá nhân tự giác trong tự tu dưỡng, rèn luyện, tự đặt ra nhu cầu cho chính
bản thân mình trong học tập và làm theo, là vì sự tiến bộ của mình và tập thể.


- Ba, mỗi ngành, địa phương chọn một số vấn đề bức xúc để chỉ đạo giải quyết,
củng cố niềm tin của nhân dân. (Báo chí nêu: Tịa án xử nay đúng, mai sai, chiều mai lại
đúng).


- Bốn, Mỗi ngành, địa phương, cơ quan tùy đặc điểm mà xây dựng chuẩn mực
đạo đức cho phù hợp dễ nhớ, dễ thực hiện,


III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


<b>1. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu</b>
<b>với dân”, nâng cao nhận thức về trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân</b>


- Một, tập trung tuyên truyền tấm gương đạo đức tận trung với nước, tận hiếu với
dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


- Hai, tuyên truyền giáo dục mọi đảng viên phải ý thức thực hiện hết lòng, hết sức
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cụ thể là làm tốt những việc hàng ngày của mỗi
người.



- Ba, kịp thời và kiên quyết phê phán những kẻ khát vọng quyền lực, chạy quyền,
mua chức, sách nhiễu, bắt nạt nhân dân, gây cho nhân dân đau khổ, than ốn.


<b>2. Hiện thực hóa và quyết tâm tổ chức thực hiện là “người công bộc tận tụy,</b>
<b>trung thành của nhân dân” trong tất cả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,</b>
<b>trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương</b>


<i>- ý thứ nhất: </i><b>Quyết tâm đẩy mạnh thực hiện và làm theo tấm gương đạo đức</b>


<b>Hồ Chí Minh, "nói đi đơi với làm".</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

đạo đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.


- Mỗi cán bộ phải thực hiện nghiêm "nói đi đơi với làm" người dân chán cảnh cán
bộ "nói mà khơng làm", nói hay nhưng làm dỡ… mà cần kiên quyết trừng trị và loại trừ
những kẻ hành dân, khinh dân, lừa đảo và ăn cắp của dân.


- Mỗi cán bộ đảng viên phải hiện thực hóa việc học tập, làm theo trên từng vị trí
cơng tác hàng ngày của mình.


<b>- ý 2: Mỗi người phải có kế hoạch cho cá nhân trong việc học tập và làm theo</b>
<b>tấm gương đạo đức của Bác và tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát.</b>


Trong đợt học tập chuyên đề lần này, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
công tác ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cán bộ lãnh đạo chủ trì, chủ chốt, cần <b>xây dựng</b>
<b>kế hoạch cá nhân học tập và làm theo Bác với những việc làm cụ thể, định kỳ báo cáo</b>
<b>trước chi bộ, cơ quan, đơn vị.</b>


+ Để hỗ trợ mỗi cá nhân thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí


Minh, mỗi tập thể đảng, chính quyền, đồn thể xây dựng các chương trình hành động, giúp
đỡ, giám sát và kiểm tra việc tự giác làm theo của cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên
của mình. Định kỳ yêu cầu các cá nhân báo cáo những việc đã làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.


<b>3. Phát huy vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức</b>
<b>Hồ Chí Minh</b>


- Một trong những nguyên tắc thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là
phải nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người đều phải nêu gương về đạo
đức. Ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho
em, đảng viên nêu gương cho quần chúng...Bí thư nêu gương cho Phó bí thư, Ban Bí thư
nêu gương cho Uỷ viên Ban Thường vụ, cấp ủy viên. Phát huy vai trị nêu gương trong
thực hành đạo đức có ý nghĩa to lớn khơng chỉ trước mắt mà cịn mãi mãi sau này.


- Người đứng trên bụt, người đi rao gương đạo đức trước hết phải nêu gương về
đạo đức, khơng phải đứng trên bụt nó hay mà người ta nghe, nhưng phải có chức phận
đứng trên bụt giáo lý mà người ta nghe, bây giờ người ta cịn nhìn thấy chứ khơng chỉ
nghe. (một chú cán bộ hưu trí khuyên tôi…)


Nên cán bộ, đảng viên chưa biết nêu gương thì chưa xứng đáng là người cán bộ,
đảng viên dưới là cờ Hồ Chí Minh.


Việc nêu gương về đạo đức không chỉ là sự vận động, mà phải trở thành những
quy định, sự ràng buộc trách nhiệm để mỗi người đều tự giác và cần phải thực hiện. Các
cấp, các ngành cần chủ động tổ chức thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của
cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt.


Trên đây là toàn bộ nội dung chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh "Suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng, vơ tư, làm người công


bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Bác.


Với khả năng có hạn của bản thân, có lẽ chưa chuyển tải minh họa một cách đầy
đủ về tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác về nội dung trên. Rất mong sự thông cảm
và sự tiếp tục nghiên cứu của các đồng chí.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

----Nghiên cứu phong cách Hồ Chí Minh là nghiên cứu theo nghĩa rộng của
khái niệm phong cách. Như vậy, phong cách Hồ Chí Minh khơng phải chỉ thể hiện
qua các tác phẩm văn thơ của Người, mà phong cách Hồ Chí Minh là sự tổng hợp
của:


- Phong cách tư duy.
- Phong cách làm việc.
- Phong cách diễn đạt.
- Phong cách ứng xử.
- Phong cách sinh hoạt.


Năm mặt chủ yếu trên tạo nên phong cách Hồ Chí Minh.


Việc xác định hệ thống phong cách Hồ Chí Minh xuất phát từ những hoạt
động hết sức đa dạng và phong phú của Hồ Chí Minh - một người đã sống ở nhiều
nơi, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau.


Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách của một người thầy vĩ đại của cách
mạng Việt Nam, một lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc, một chiến sĩ lỗi lạc của
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và cơng nhân quốc tế, một nhà
văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Phong cách Hồ Chí Minh cũng là phong cách của
một nhà chính trị già dặn, một nhà ngoại giao từng trải, một trí thức uyên bác, một
hiền triết "đại trí, đại nhân, đại dũng".



Hồ Chí Minh đã thuyết phục, chinh phục mọi người bằng chính phong cách
của mình khi Người cịn sống. Sức thuyết phục, chinh phục của phong cách Hồ
Chí Minh vẫn tiếp tục còn ảnh hưởng khi Người đã đi xa. Bất cứ ai được gặp
Người hoặc đến tìm hiểu những gì mà cuộc đời thường của Người còn để lại đều
cảm nhận cái vĩ đại của Hồ Chí Minh khơng tách rời cái bình thường. Nhưng cái
bình thường của Hồ Chí Minh lại hồn tồn khơng phải cái tầm thường mà là cái
bình thường có sức sáng toả, hấp dẫn, lơi cuốn để vươn tới cái cao đẹp.


Phong cách Hồ Chí Minh tiêu biểu cho phong cách của những người cách
mạng, những người cộng sản, những con người chân chính. Phong cách Hồ Chí
Minh khơng phải ở trên cao, khơng thể vươn tới mà luôn gần gủi với chúng ta.


Hệ thống phong cách Hồ Chí Minh là một chỉnh thể bắt đầu từ suy nghĩ
(phong cách tư duy) đến hoạt động thực tiễn (phong cách làm việc, phong cách
diễn đạt, phong cách ứng xử) và cuối cùng là sinh hoạt thường ngày (phong cách
sinh hoạt).


<b>I. PHONG CÁCH LÀM VIỆC</b>


Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến phong cách làm việc của cán bộ,
đảng viên. Về mặt này, người đã để lại cho chúng ta nhiều giáo huấn rất quan
trọng, đặc biệt trong tác phẩm <i>Sửa đổi lối làm việc</i>, một trong những tác phẩm
quan trọng của Người sau Cách mạng Tháng Tám.


Mỗi người đều có phong cách làm việc của mình, Đối với cán bộ, đảng
viên, đó là phong cách cơng tác, phong cách lãnh đạo. “ Sửa đổi lối làm việc”, theo
tinh thần Hồ Chí Minh là sửa đổi những gì sai trái, khơng đúng, khơng tốt đã có
trong phong cách công tác và lãnh đạo của cán bộ, đảng viên.


Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung rất phong


phú. Dưới đây là những nội dung chủ yếu nhất.


<b>1. Tác phong quần chúng</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

- <b>Sâu sát quần chúng</b>, chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng,
quan tâm đến mọi mặt đời sống của quần chúng.


- <b>Tin yêu và tôn trọng con người</b>, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết
những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần
chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình.


- <b>Giáo dục, lãnh đạo quần chúng</b>; đồng thời không ngừng học hỏi quần
chúng, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng theo tinh thần: lãnh đạo là đầy tớ,
nhân dân là chủ.


- <b>Tự bản thân mình phải mực thước</b> để xứng đáng với sự tin cậy của
quần chúng nhân dân.


Hồ Chí Minh thường yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “ từ nơi quần chúng
ra, trở lại nơi quần chúng”. Người đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên
mặt “ quan cách mạng”, khơng thấy mình là người đầy tớ, người học trị của nhân
dân; những thói mệnh lệnh, cửa quyền đối với quần chúng, cưỡng bức, ức hiếp
quần chúng, không chú ý lắng nghe ý kiến phê bình, những kiến nghị của quần
chúng, bỏ mặt không xem xét những yêu cầu, khiếu nại của quần chúng là hoàn
toàn xa lạ với quan điểm và tác phong quần chúng của Người.


Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm rất rõ: không phải cứ viết lên trán hai
chữ cộng sản thì đương nhiên sẽ được mọi người quý trọng. Quần chúng nhân dân
chỉ quý trọng những người có đức, có tài, hết lịng phục vụ nhân dân. Phải u dân,
kính dân thì dân mới dành sự u kính cho mình.Điều này có ý nghĩa rất quan


trọng đối với cán bộ, đảng viên. Làm cho dân kính, dân tin, dân yêu, dân phục là
vấn đề thuộc về lịng người. Ỷ vào quyền lực chỉ có thể làm cho người ta sợ, ngại,
xa lánh và khinh ghét, chứ khơng thể giành được sự tin u, kính phục của người
khác.


Nhân dân từ già đến trẻ, thuộc mọi tầng lớp, dân tộc, mọi thế hệ đều gọi Hồ


Chí Minh bằng hai tiếng <i>Bác Hồ</i>, ai cũng thấy Người gần gũi với mình như chính


người thân trong gia đình. Dù bận rất nhiều việc lớn của Đảng và Nhà nước, nhưng
đến với quần chúng, đến với những con người bình thường là nhu cầu thường trực
của Bác Hồ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Đã hàng trăm lần người đi thăm các cơ sở của Hà Nội, hàng trăm lần
Người đến thăm các đơn vị của các lực lượng vũ trang nhân dân thuộc đủ các binh
chủng, ngay trên bãi tập hay ngồi trận địa. Người đã có mặt ở hàng trăm công
truờng, nhà máy, nông trường, hợp tác xã, bệnh viện, trường học, nhà giữ trẻ, lớp
mẫu giáo và nhiều nơi ở của công nhân, cán bộ bình thường.


Dấu chân Người đã để lại ở nhiều địa phương - từ thành phố đến nông
thôn, từ trung du đến đồng bằng, từ miền núi đến vùng duyên hải và các đảo xa.
Đến năm 1968, Người còn muốn đi vào miền Nam để hỏi thăm và động viên đồng
bào, chiến sĩ bằng cách “ làm công trên chiếc tàu thuỷ”, giống như anh Ba hồi đầu
thế kỷ. Nhưng rất tiếc, Người đã không kịp thực hiện được mong muốn thiết tha
đó.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

Năm 1961, khi về thăm lại Pắc Bó, Cao Bằng, thấy đồng bào tổ chức đón
tiếp, Người nói: “ Tơi về thăm nhà mà sao lại phải đón tơi!”.


Khi đi thăm dân, Người khơng muốn có nhiều bảo vệ vì nhân dân đã bảo


vệ Người. Khi đến một cơ sở, Người không muốn tiệc tùng tốn kém theo kiểu “
khách ba, chúa nhà bảy” để mang tiếng với dân. Vì vậy, một bữa cơm nắm ở một
ven đồi hay dưới gốc cây cổ thụ trước khi gặp dân, thăm dân là chuyện thường tình
ở Hồ Chí Minh, điều chưa thấy ở bất cứ một vị Chủ tịch nào khác.


Nhiều khi Người đến nơi này, nơi khác không cần báo trước, hoặc báo rồi
đến ngay để mọi người đỡ mất thì giờ chuẩn bị, bố trí và Người có thể hiểu được
đúng tình hình.


Người gặp gỡ bà con nông dân ngay trên đồng ruộng, bỏ dép, sắn quần lội
xuống nơi bà con đang cấy, hoặc cũng đạp nước, tát nước như một lão nông dân
quen việc đồng áng.


Đi thăm tàu hải quân, Người cầm tay lái, không khác một thuỷ thủ lão luyện.
Đến với dạ hội thanh niên, Người đứng vào vị trí chỉ huy dàn nhạc, bắt
nhịp cho hàng ngàn thanh niên cùng hát bài hát “ Kết đồn”.


Những hình ảnh ấy cịn lại mãi với thời gian, có ý nghĩa sâu sắc.


Tác phong quần chúng rất tự nhiên, bình dị ấy như có sức cuốn hút kỳ lạ,
làm cho quần chúng đến với Người khơng chút e ngại, cũng bình dị, tự nhiên như
họ vẫn sống hàng ngày. Tác phong ấy làm cho lãnh tụ và quần chúng dễ dàng hoà
nhập với nhau trong sự đồng cảm sâu sắc nhất. Nhờ vậy, mọi người có thể nói hết
những suy nghĩ, trăn trở của mình, cịn Người thì lắng nghe để có thể hiểu nhịp đập
của cuộc sống xung quanh.


- Tác phong quần chúng không chỉ là tác phong cần thiết của cán bộ, đảng
viên trong quan hệ với dân, mà còn là tác phong của cấp trên với cấp dưới, của cán
bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Đối với người lãnh đạo cấp trên,
hiểu dân và hiểu cấp dưới đều có tầm quan trọng đặc biệt. Hiểu dân là để hiểu cấp


dưới được chính xác hơn; hiểu cấp dưới là để hiểu dân được đầy đủ hơn. Càng hiểu
dân và hiểu cấp dưới, người lãnh đạo cấp trên càng hiểu chính mình và càng rút ra
được những điều bổ ích để bổ sung cho chủ trương, chính sách đã được đề ra. Bất
cứ cán bộ, đảng viên nào đã được tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều có thể thấy rõ
điều đó.


<b>2. Tác phong tập thể - dân chủ</b>


Xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân, đồng thời, xuất phát từ bản tính tốt đẹp vốn có của mình, Hồ Chí Minh
thường xun có một phong cách làm việc rất tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập
thể, tơn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể - tinh thần ấy thấm sâu vào
suy nghĩ và hành động của Người.


- Người vẫn thường nói: khơng một người nào có thể hiểu được mọi thứ,
làm hết được mọi việc. Ngay đến anh hùng, lãnh tụ cũng vậy: “ Đem so với công
việc của cả lồi nguời trên thế giới, thì những đại anh hùng xưa nay cũng chẳng
qua làm tròn một bộ phận mà thôi”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

- Với tác phong tập thể - dân chủ, Hồ Chí Minh hết sức chú ý việc thực
hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng cũng như đối với quần chúng, phát
huy tinh thần làm chủ tập thể của mọi người.


Khi bàn cách làm và xuất bản loại sách <i>Người tốt, việc tốt</i> với một số cán
bộ, Người nói: “ Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì
cứ cãi, nhất trí rồi về mới làm tốt được. Khơng nên: Bác nói gì, các chú cứ ghi vào
sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua
loa”.


Tác phong tập thể - dân chủ của Hồ Chí Minh ln ln tạo ra được khơng


khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Nhiều lần, Người đã
phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ khơng dân chủ, do đó mà người có ý
kiến khơng dám nói, người muốn phê bình khơng dám phê bình, làm cho cấp trên,
cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, khơng cịn sáng kiến,
khơng còn hăng hái trong khi làm việc:


- Dù ở cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, có uy tín tuyệt đối trong
Đảng và trong nhân dân, Hồ Chí Minh vẫn giữ tác phong tập thể - dân chủ với Bộ
Chính trị, với các cơ quan Đảng và Nhà nước, chú ý lắng nghe ý kiến của cán bộ,
đảng viên và người dân bình thường. Đến những năm cuối đời, Người vẫn thường
làm việc với Bộ Chính trị vào những ngày “sóc vọng” ( tức là ngày 1 và 15) hàng
tháng, để bàn bạc trao đổi tập thể về những cơng việc của Đảng và Nhà nước, cùng
góp ý kiến phê bình một cách nhẹ nhàng, thoải mái, nhưng rất hiệu quả.


Những bài viết của Người đã được chuyển đến các đồng chí lãnh đạo chủ chốt
đọc và góp ý kiến trước khi cơng bố. Người cịn trao đổi với cả các đồng chí phục vụ
hàng ngày về những bài báo ngắn, để sửa chữa những chỗ cịn khó hiểu trước khi đăng.
Người trân trọng ý kiến của mọi người không phân biệt chức vụ, cấp bậc cao hay thấp.
Đầu óc đẳng cấp là hoàn toàn xa lạ với Hồ Chí Minh.


Đối với cán bộ, đảng viên, trước hết với những người ở cuơng vị lãnh đạo,
Người đòi hỏi phải có tác phong tập thể - dân chủ thực sự chứ khơng phải giả tạo,
hình thức để che lấp ý đồ xấu của cá nhân. Bởi vì, mọi sự giả tạo đều làm suy yếu,
thậm chí phá vỡ tập thể, mọi hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mịn, thậm
chí triệt tiêu dân chủ.


Tác phong tập thể - dân chủ, cùng với tác phong quần chúng là đặc trưng
của phong cách làm việc Hồ Chí Minh.


<b>3. Tác phong khoa học</b>



Trong công tác cũng như trong lãnh đạo, Hồ Chí Minh ln u cầu cán bộ,
đảng viên phải xây dựng tác phong khoa học, “ cách làm việc có khoa học”.


Tác phong khoa học của Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu
dưới đây:


- Làm việc phải <i>đi sâu, đi sát, điều tra nghiên cứu</i>, nắm việc, nắm người,
nắm tình hình cụ thể.


Biết sử dụng bộ máy, sử dụng những người cộng sự, những cơ quan giúp
việc để nắm được những thơng tin cần thiết, chính xác, sàng lọc những thông tin
sai lệch, những báo cáo dối trá, những phản ánh lựa chiều thiếu trung thực.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Kết hợp việc điều tra, nghiên cứu của bộ máy giúp việc và của người lãnh
đạo; người lãnh đạo phải tỉnh táo, khách quan để đề ra yêu cầu với bộ máy giúp
việc và chính bản thân mình: “ <i>phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây…</i>”.


Phải dựa vào kết quả điều tra, nghiên cứu chính xác, phải nắm chắc, phải “<i>hiểu</i>
<i>thấu</i>” vấn đề mới đi đến quyết định đúng đắn. Như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn lãnh
đạo đúng, trước hết “phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng”.


- Làm việc phải có mục đích rõ ràng, tập trung: chương trình, kế hoạch đặt
ra phải sát hợp: “ Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích q thì loạn mắt,
khơng bắn trúng đích nào”.


Người vẫn thường dạy cán bộ phải đặt kế hoạch cho sát, cho phù hợp. Kế
hoạch đặt ra để mình và mọi người thực hiện chứ khơng phải để chiêm ngưỡng,
tránh trình trạng đánh trống bỏ dùi.



Cán bộ, đảng viên thường gặp một khuyết điểm là đầu tư nhiều cơng sức
vào việc vạch ra chương trình, kế hoạch to tát, nhưng lại ít tìm cách để tìm cách để
thực hiện cho được kế hoạch, chương trình, đã đề ra. Hơn nữa, chương trình, kế
hoạch này chưa xong, chưa biết kết quả thực hiện ra sao đã nghĩ đến chương trình,
kế hoạch khác.


Vì vậy, Người thường nhắc nhở cán bộ: kế hoạch một, biện pháp mười,
quyết tâm phải hai, ba mươi, muốn lãnh đạo đúng thì “ phải tổ chức sự thi hành
cho đúng”. Nếu chương trình, kế hoạch có hay đến mấy, nhưng tổ chức thi hành
khơng đúng, thiếu biện pháp thích hợp, bản thân người thi hành thiếu quyết tâm
hoặc không biến quyết tâm của lãnh đạo thành quyết tâm của quần chúng, thì mọi
chương trình kế hoạch đều khơng trở thành hiện thực.


<i>Phải kiểm tra việc thực hiện</i> của cấp duới và quần chúng. Đó chính là tinh


thần mà Lênin đã đề ra: lãnh đạo mà khơng kiểm tra, có nghĩa là khơng lãnh đạo.
Hồ Chí Minh đã đề ra: “ Hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và
thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ khơng biết gì đến những
nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những khó khăn trở ngại gì, dân chúng có
ra sức tham gia hay khơng. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế
mà “ đầy túi quần thơng cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”


- Tác phong khoa học đòi hỏi “ lãnh đạo phải <i>cụ thể</i>, phải <i>kịp thời</i>, phải


<i>thiết thực</i>, phải <i>có trọng điểm</i> và <i>nắm điển hình</i>”, “ phải chân đi, mắt thấy, <i>tai</i>


<i>nghe, miệng nói, tay làm</i>, óc nghĩ”, “ cần phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể”, “phải


<i>cẩn thận</i> mà <i>nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn</i>”. Hồ Chí Minh đã phê



phán bệnh “ hữu danh vô thực”, ở không ít cán bộ, đảng viên: “ Làm việc không
thiết thực, khơng từ chỗ gốc, chỗ chính, khơng từ dưới làm lên. Làm cho có
chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai,
nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch… Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm
việc khơng thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”.


- Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm:
“ Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm.


Trong cơng tác lãnh đạo, Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề để tổng kết thực tiễn
để rút kinh nghiệm từng việc, từng chủ trương, thấy rõ hay - dở, đúng – sai. Từ đó,
Người đã bổ sung kịp thời những chủ trương chưa đúng, chưa đủ, và quan trọng hơn là
rút ra những kết luận mới để bổ sung cho lý luận.


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

hiện đại. Phong cách này rất cần thiết đối với tất cả cán bộ, đảng viên, nhất là
những người lãnh đạo.


<b>II. PHONG CÁCH ỨNG XỬ</b>


Trong cuộc đời hoạt động vơ cùng phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã
để lại những ấn tượng hết sức sâu sắc trong tất cả những ai đã từng được gặp
Người. Giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, Người đã có một phong cách ứng
xử ở tầm nghệ thuật gần như hồn thiện, làm cho mọi người có thể cảm nhận thấy
đầy đủ cái đẹp của cuộc sống cũng như cái cao thượng của nhân cách con người.


Phong cách ứng xử bắt nguồn từ nhân cách, từ cuộc đời của chủ thể. Chính
nhân cách lớn và cuộc đời oanh liệt của Hồ Chí Minh đã tạo ra phong cách ứng xử
rất mẫu mực ở Hồ Chí Minh.


Đã có nhiều ý kiến đánh giá phong cách ứng xử Hồ Chí Minh với nhiều lời



ca ngợi khác nhau, nhưng bao trùm nhất là hai chữ <i>văn hóa</i>. Phong cách ứng xử


Hồ Chí Minh thực sự là <i>một phong cách ứng xử văn hóa</i>.


Ở đây, văn hóa dùng như một tính từ có thể nói lên đầy đủ nhất về phong
cách ứng xử Hồ Chí Minh.


- Hồ Chí Minh có cách ứng xử rất <i>tự nhiên, bình dị</i>, rất <i>cởi mở, chân tình</i>,


vừa <i>chủ động, linh hoạt</i>, lại vừa <i>ân cần, tế nhị</i> đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí,


anh em, dù đó là những ngun thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng hay chỉ là những nông
dân, công nhân bình thường. Đã nhiều lần Người tiếp khách quốc tế ngay trên sàn
gỗ của ngôi nhà nhỏ bên ao cá. Người có thể bỏ dép, xắn quần lội ruộng, ngồi đạp
guồng nước hay đứng kéo gầu giai cùng bà con nông dân. Người cũng rất vui cùng
múa hát với các cháu thiếu nhi trên thảm cỏ xanh trong khu Phủ Chủ tịch. Trong
giao tiếp, Người trở thành một người thân thiết nhất đối với mọi người.


Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh đã làm cho bất cứ ai gặp Người cũng đều
thấy thoải mái, tự nhiên, xua tan đi mọi sự e ngại hay sợ sệt. Những buổi họp mặt,
những cuộc mít tinh, những lễ đón tiếp… khi có Hồ Chí Minh là có ngay một
khơng khí <i>chan hịa, ấm cúng</i>, làm cho các nghi thức đều như khơng cịn cần thiết.


Chỉ cần một lời chào hỏi thân tình, một thái độ giao tiếp niềm nở, một cử
chỉ vượt ra ngồi quy cách thơng thường, những trao đổi ngắn gọn, thiết thực và
đầy ý nghĩa với những người chung quanh, Hồ Chí Minh đã xóa bỏ mọi sự cách
biệt về cấp bậc, chức vụ, giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân và bình dân.
Qua giao tiếp, Hồ Chí Minh đem đến cho mọi người ý thức về sự bình đẳng hồn
tồn giữa những con người tự do, đưa đến những rung động, những xúc cảm mạnh


mẽ và để lại những ấn tượng bền vững trong ký ức mọi người.


Thí dụ: Có lần nhà thơ Qch Mạc Nhược, viện trưởng viện Khoa học
Trung Quốc, sang thăm Việt Nam: Bác mời vào thăm nơi ở của Bác, và đưa khách
đi thăm vườn cây, ao cá, rồi Bác nắm tay khách cùng đi lên nhà - ngồi ngay xuống
sàn nhà mà uống rượu.


Được Bác Hồ đối xử như người anh em tri kỷ, khơng có vẽ gì là một chủ
tịch nước – Nhà thơ xúc động, sáng tác bài, thơ ca ngợi vẻ đẹp trong cách ứng xử
của Bác.


“Thân thiết mà không văn vẻ
Cởi mở mà chân thật


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

Vào nhà vui hân hoan


Rượu ngon trong chén ngọc
Ba chén một hơi tròn


Rằng gặp người tri kỷ
Ngàn chén chẳng từ nan”


Ân cần, chu đáo, luôn quan tâm đến mọi người, đó là nét nổi bật trong văn
hóa ứng xử Hồ Chí Minh.


- Trong phong cách ứng xử của Người, khơng có chỗ cho sự giả tạo hay


gượng ép. Bình dị, tự nhiên đến mức <i>hồn nhiên</i>, Người thường làm cho mọi người


ngỡ ngàng khi ai nấy vẫn đang ở trong tâm thế chờ đợi những ngôn từ, những cử


chỉ trang trọng, coi như những gì tất yếu phải có của một nguyên thủ quốc gia. Thí
dụ: Trong một buổi lễ đón tiếp, Người đã rời khỏi hàng danh dự của những vị
thượng khách để đến bắt tay chào hỏi một người quen biết từ lâu đang đứng ở phía
sau, trước sự ngạc nhiên của đoàn ngoại giao và sự lo sợ của những nhân viên an
ninh, lễ tân của nước chủ nhà. Hay, trong tiệc chiêu đãi, Người đã chọn những
bông hồng đẹp nhất để tặng những đại biểu nữ có mặt, hoặc có lần Người đã lấy
phần một quả táo để về làm quà cho cháu nhỏ ở nơi Người đang ở.


Tiếp một đồn khách trong mùa đơng, thấy có một vị khách ho, Người đã
tặng khăn quàng của mình cho khách, dặn giữ cho ấm cổ để khỏi bị viêm họng.


<b>Phong cách ứng xử</b> ấy đã làm cho nhà nghiên cứu người Mỹ Đavít Hanbớcxtam


đi đến nhận định: <b>tồn thể con người của Ơng tỏa lên một phong thái bình dị và</b>


<i><b>tế nhị bẩm sinh.</b></i> <b>Văn minh châu Âu tác động bằng lưỡi lê và rượu cồn giấu</b>
<b>dưới áo thung đen của cha cố Cơng giáo. Cịn Ơng tiêu biểu cho một nền văn</b>
<b>hóa, khơng phải là nền văn hóa châu Âu, mà có lẽ tiêu biểu cho nền văn hóa</b>
<b>tương lai.</b>


Giây phút Người dừng lại giữa chừng bản <i>Tun ngơn độc lập</i> để hỏi: "Tơi
nói đồng bào nghe rõ không?" thật là bất ngờ, nhưng cũng thật bình dị hồn nhiên,
tiêu biểu cho phong cách giao tiếp của Hồ Chí Minh với quần chúng nhân dân, với
cả dân tộc. Giao tiếp đã trở thành mối <i>giao hòa</i>, trong đó, chủ thể và đối tượng đã
hóa thân vào nhau. Chỉ một câu nói mà mọi người xiết bao cảm động. Nó có giá trị
hơn biết bao nhiêu bản tun bố hay những lời hứa hẹn, bởi vì nó còn lại mãi trong
lòng dân tộc về một kiểu giao tiếp hoàn toàn mới giữa lãnh tụ và quần chúng nhân
dân.


- Thái độ <i>khiêm nhường</i> cũng là một trong những nét nổi bật của phong



cách ứng xử văn hóa mà mọi người đều thấy ở Hồ Chí Minh. Khiêm nhường thực
sự là một phẩm chất văn hóa, càng có văn hóa lại càng khiêm nhường. Trong đời
thường, chúng ta vẫn thấy một nghịch lý: những kẻ dốt nát lại hay cao ngạo, còn
những người tài giỏi lại thường rất khiêm nhường.


Nếu những điều trình bày ở trên là thái độ ứng xử hướng ngoại thì khiêm
nhường là thái độ ứng xử hướng nội, thái độ của chủ thể đối với bản thân trong
quan hệ với đối tượng mà mình giao tiếp.


<b>Đó là thái độ khơng tự đặt mình cao hơn người khác để địi hỏi một sự</b>
<b>tâng bốc, suy tơn. Đó là thái độ khơng tỏ ra vĩ đại để địi hỏi mọi người thừa</b>
<b>nhận mình là vĩ đại. Đó cũng là điều mà Lão Tử thường nhấn mạnh: thánh</b>
<b>nhân cao hơn thiên hạ vì biết đứng sau thiên hạ.</b>


Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh Giơn Gơlăng đã có nhận xét sâu sắc:


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

<b>tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại, nhưng khơng</b>
<b>bao giờ Người tỏ ra mình là một người vĩ đại"</b>. <i>Phong cách giấu mình</i> đó đã làm
cho Người càng được quần chúng tín nhiệm vì đó là phong cách vừa hiếm có, vừa
rất đáng tin.


Cịn báo <i>Tin nhanh</i> Ấn Độ ra ngày 7/2/1958 đã đánh giá: Hồ Chí Minh, con


người bình dị, khiêm tốn và hiền từ, mới nhìn đã mến yêu ngay. Thật là một điều vĩ đại
trên thế giới này. Một con người tầm cỡ mà có sự khiêm nhường đến như vậy, thì sự
khiêm nhường ấy là sức cuốn hút tình yêu từ mọi hướng.


Càng khiêm nhường, Hồ Chí Minh càng được mọi người kính trọng. Nhân
dân đã đặt Người ở đỉnh cao nhất của sự tơn vinh, đến mức thiêng liêng nhưng


hồn tồn khơng phải là sùng bái mê tín, bởi vì Người bao giờ cũng là con người
thật gần gũi, thân thiết với mọi người.


- Ở Hồ Chí Minh, phong cách ứng xử văn hóa là phong cách chứa đựng
những giá trị nhân văn nhất của con người, thể hiện cái đẹp với tính cách là lý


tưởng thẩm mỹ mà con người mong muốn. Chính vì vậy, nó có sức <i>cuốn hút</i> là


<i>cảm hóa</i> mọi người, tạo nên sự <i>cảm phục, ngưỡng mộ</i> và <i>thôi thúc</i> con người


hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, phấn đấu để ngày càng đẩy lùi và loại trừ
được cái giả, cái ác, cái xấu trong quan hệ giữa người và người.


Tất cả những người dân bình thường đi theo Người, đặt niền tin tuyệt đối ở
Người không phải thông qua việc nghiên cứu tư tưởng, lý luận, mà là thông qua
cảm nhận trực tiếp từ con người, đức độ, phong cách của Hồ Chí Minh.


<b>III. PHONG CÁCH SINH HOẠT</b>


Mỗi người đều có cuộc sống riêng, được thể hiện trong phong cách sinh
hoạt hay phong cách sống thường ngày từ ăn, mặc, ở, quan hệ gia đình, bạn bè đến
nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí v.v… Cuộc sống riêng của Hồ Chí Minh đã hịa làm
một với sự nghiệp mà Người đã hiến dâng tất cả cho dân, cho nước, cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.


- Phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại,
không phải chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà còn đối với cả thế giới. Khi bước
vào cõi vĩnh hằng. Người vẫn mặc bộ quần áo ka ki và đi đôi dép lốp cao su quen
thuộc, ngôi nhà sàn của Người vẫn soi bóng bên ao cá, tất cả vẫn mãi mãi làm cho
mọi người phải suy ngẫm ngưỡng mộ.



Đã có khơng ít lời ca phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, lúc Người cịn
sống cũng như sau khi đã đi xa. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh
hoạt hàng ngày. Đó là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, rất
q trọng thời gian, khơng có bất cứ một ham muốn danh lợi nào cho riêng mình
vì Người đã dành ham muốn tột bậc cho độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân,
hạnh phúc của mỗi người.


- Khi trở thành Chủ tịch nước, Người không chấp nhận một cuộc sống cách
biệt so với mức sống của đa số nhân dân. Những năm tháng ở Việt Bắc, nơi ở của
Người là một ngôi nhà sàn nhỏ bé; trên đường hành quân, di chuyển, có khi chỉ là
một mái lán đơn sơ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

Trong phòng làm việc cũng như phịng ngủ chỉ có những đồ vật rất thơng
thường. Người rất ghét thói xa hoa, lãng phí, và càng xa lạ với thói thích phơ trương,
hình thức, vương giả, vẫn thấy khơng ít ở những kẻ quyền cao chức trọng.


- Bữa ăn hàng ngày của Người thường chỉ ba bốn món. Tương, cà, dưa
muối, cá khơ với lá gừng… là những món quen thuộc với người dân thường mà
Người rất thích. Khi ở cương vị Chủ tịch nước mời cơm khách tại "nhà riêng".
Người cũng chỉ dặn nhân viên phục vụ chuẩn bị thêm vài món theo khẩu vị của
khách.


Người có thói quen đã ăn thì khơng để thừa, để tránh lãng phí. Nếu có
người khác cùng ăn thì cùng chia sẽ ăn cho hết. Nếu biết ăn khơng hết thì san bớt
từ trước để người khác có thể dùng hoặc để lại bữa sau. Ăn xong, Người thường
xếp gọn bát đũa để những đồng chí phục vụ khi thu dọn dỡ vất vả.


- Cái mặc của Người cũng giản dị như cái ở, cái ăn, Khi ở Cao Bằng. Người mặc
bộ đồ chàm như một ông Ké. Trong những năm kháng chiến, Người thường mặc như


một lão nông. Khi đi ra mặt trận, đi thăm bộ đội hay thanh niên xung phong, Người mặc
bộ quần áo lính. Khi về Hà Nội, Người vẫn thích bộ quần áo màu gụ nhẹ nhàng, dân dã,
có nghi lễ mới vận bộ ka ki, nhưng vẫn đi đôi dép lốp cao su quen thuộc. Quần áo trong
ngoài cũng chỉ vài bộ, tất và ba đơi, sờn rách thì mạng, khi khơng dùng được mới thay
cái mới. Phải chăng câu nói: "Tơi vẫn là tơi ngày trước", khơng phải chỉ để nói về tấm
lòng yêu nước của Người, mà còn thể hiện cả phong cách sinh hoạt thường ngày. Dù ở
cương vị nào, Người vẫn sống bình dị như một người dân, một chiến sĩ.


Trong sinh hoạt hàng ngày, Người luôn đặt cho mình một kỷ luật chặt chẽ,
giữ nếp trật tự, ngăn nắp, gọn gàng, chú ý rèn luyện sức khỏe, sắp xếp thời gian
tiến hành mọi việc thật hợp lý và có hiệu quả nhất.


Tại nơi ở của Người, tất cả đều được sắp xếp gọn gàng, trật tự. Từ tài liệu,
sách báo đến các đồ dùng hàng ngày, mỗi thứ đều có vị trí nhất định. Chỉ cần nhìn
vị trí, các đồng chí giúp việc đã có thể biết những tài liệu, sách báo nào Người đã
đọc, đã duyệt, đã ký, những gì chưa đọc hoặc cần phải suy nghĩ, cân nhắc thêm…


Người thích tự mình đánh máy những bài báo Người viết, những thư Người
gửi đi các nơi. Những việc cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày. Người tự làm là
chính, khơng muốn làm phiền người khách khi không cần thiết. Người tự chuẩn bị
chăn màn khi đi ngủ, xếp dọn gọn ghẽ khi thức dậy. Khi trời mưa, Người vẫn xắn
quần đi đến chỗ ăn cơm, không muốn để các đồng chí phục vụ phải vất vả vì mình.
Trong cuộc sống của mình, Người rất <i>yêu thiên nhiên và gắn bó với thiên nhiên</i>.
Đây cũng là một đặc trưng rất nổi bật của phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh.


Ở Hồ Chí Minh, tình u thiên nhiên gắn liền và xuất phát từ tình yêu đất
nước, tình yêu con người; vì hạnh phúc của con người, vì sự phồn vinh của đất
nước, mà đặt vấn đề bảo vệ mơi trường sinh thái. Vì vậy, Người đã gắn việc trồng
cây với trồng người, sự nghiệp mười năm phải kết hợp với sự nghiệp trăm năm,
một tư tưởng lớn có ý nghĩa chiến lược khơng những đối với dân tộc mà cịn đối


với cả lồi người.


Chính tình u con người và tình yêu thiên nhiên rộng lớn đã tạo nên tinh
thần lạc quan, tâm hồn thư thái, khoáng đạt, phong cách ung dung tự tại của Hồ
Chí Minh, trong mọi hoàn cảnh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

thời, đúng hoàn cảnh”, không chạy theo danh lợi không say mê quyền lực, vì
những ham muốn ấy sớm muộn sẽ làm con người hư hỏng. Những tệ nạn như tham
nhũng, dối trá, bè cánh, tranh giành địa vị, vơ lợi ích về cho những người thân
trong gia đình, họ hàng v.v.. đều xuất phát từ những ham muốn xấu xa và thấp hèn,
đã được Người chỉ ra từ rất sớm. Những ham muốn ấy có thể làm cho một con
người, thậm chí một đảng, một dân tộc, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn
lớn, nhưng chưa chắc hơm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, tin cậy
và ca ngợi. Nhận định ấy của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn xác nhận. Theo
Người, “ ham học, ham làm, ham tiến bộ” là những ham muốn chính đáng nhất
trong đời thường, mà mỗi người dù có “ say mê” đến mấy cũng không bao giờ thấy
đủ.


Vào thăm nơi ở của Người, mọi người đều nhận thấy nơi đây khơng có chỗ
cho sự xa hoa và cũng khơng có chỗ cho sự tầm thường. Cuộc sống khiêm tốn,
cuộc đời thanh bạch của Người luôn xứng đáng là một tấm gương cho mọi người
trong mọi thời đại.


Cuộc đời Hồ Chí Minh khơng cần đến bất cứ một sự <i>trang sức</i> nào. Người


không phải cố ý sống khác đời để cho mọi người ca ngợi. Cách sống của Người
xuất phát từ một triết lý nhân sinh: lấy khiêm tốn giản dị làm nền, lấy chuẩn mực
điều độ là chuẩn. lấy trong sạch thanh cao làm vui, lấy gắn bó với con người, với
thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.



Sau khi Lênin mất, Hồ Chí Minh đã viết những dịng xúc động: “ Không
phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao
động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của
người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim
của họ hướng về Người, khơng gì ngăn cản nổi”. Đến lượt mình, Hồ Chí Minh
cũng đã sống như vậy và đã trở thành một trong những người có ảnh hưởng sâu
rộng nhất đối với nhân dân các nước trong thế kỷ XX.


Phong cách sinh hoạt của Hồ Chí Minh đã làm cho Người trở thành một
con người <i>toàn vẹn</i>, với một cuộc sống <i>trọn vẹn</i> từ khi bước vào đời cho đến khi ra
khỏi cuộc đời. Nếu sự toàn vẹn đã khó tìm thấy trên đời này, thì sự trọn vẹn lại
càng khó hơn. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã trở thành bất tử trong lòng dân tộc, mãi mãi
là tấm gương cho mọi lớp người đang phấn đấu cho một thế giới ngày càng tốt đẹp
hơn.


<b>I.V. Phong cách Hồ Chí Minh </b>


Phong cách Hồ Chí Minh có thể khái qt và thể hiện ở những đặc trưng
chủ yếu sau đây: Phong cách quần chúng, phong cách làm việc khoa học, phong
cách làm việc thiết thực, cụ thể, phong cách nêu gương.


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với
quần chúng, thì ta phải bỏ hoặc sửa lại…”


Với lịng nhân ái bao la đối với quần chúng, Bác Hồ thâm nhập vào quần
chúng bằng phong cách thật sự của người cán bộ quần chúng, với nụ cười hiền
hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở.


Bác thường nhấn mạnh: “ Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc
gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.



Chúng ta phải u dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.


2 – Phong cách làm việc khoa học: Bác Hồ dạy: “ Gặp mỗi vấn đề phải suy tính
kỹ luỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy”.


Muốm quyết định đúng mọi vấn đề, trước hết phải “ điều tra nghiên cứu rõ
ràng”. Có nắm chắc tình hình thì đề ra chính sách mới đúng.Và mỗi khi làm xong
một cơng việc, dù thành công hay thất bại, phải biết tổng kết rút kinh nghiệm để
làm “khuôn phép” cho những công việc khác, coi đó là “ chìa khóa phát triển cơng
việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.


Để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác, Bác dạy phải biết lựa chọn
cán bộ và sử dụng cán bộ. Bác căn dặn phải chí cơng vơ tư trong tuyển chọn, xem
xét cán bộ, bố trí cán bộ. Bác phê phán gay gắt những bệnh ưa nịnh nót, ghét
những người chính trực… Khi giao cơng tác cho cán bộ thì phải làm cho họ an tâm
công tác, vui thú công tác. Quá trình người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thì phải tổ
chức kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ trên xuống và từ dưới lên một cách có hệ
thống. Có như vậy mới đánh giá được hoạt động của cán bộ, đảng viên và còn
đánh giá được những chủ trương, chính sách đề ra có đúng hay khơng?


3 – Phong cách làm việc thiết thực, cụ thể: Bác Hồ nghiêm khắc lên án
bệnh “ hữu danh vơ thực”, bệnh hình thức, ra chỉ thị, nghị quyết thì khơng gắn với
điều kiện thực tế, không gắn với quần chúng và cơ sở. Trong chỉ đạo thực hiện thì
khơng có kế hoạch, biện pháp cụ thể, khơng kiểm tra, kiểm sốt, khơng tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm.


Bác chỉ rõ: Khi ra quyết định công tác, hay khi định ra cách tổ chức thực
hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ
quan tưởng tượng mà không đi sâu sát thực tế. Người kịch liệt phê phán những lối


làm việc khơng thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suy ra nhiều, “ để làm
một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỷ lại rỗng tuyếch”.


4 – Phong cách nêu gương: Bác Hồ nói: “ Nói chung thì các dân tộc
phương Đơng giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống cịn có giá trị hơn
một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải
làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, nói phải đi đơi
với làm để quần chúng noi theo. Nói đi đơi với làm là một nội dung đạo đức truyền
thống của dân tộc. Kế thừa truyền thống đạo đức của dân tộc, Bác Hồ đã nêu thành
một nội dung của tư cách người cách mạng. Nói đi đơi với làm đối lập với nói mà
khơng làm của những người hứa sng, hoặc “ nói một đằng làm một nẻo” của
những kẻ cơ hội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27></div>

<!--links-->

×