SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC,
PHẨM CHẤT NGƯỜI HỌC QUA GIỜ ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (Chương trình Ngữ văn 11)
Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2021
1
MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận.
3.2. Kiến nghị.
TRANG
1
1
2
2
2
2
2
4
5
15
16
17
17
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
GD ĐT
Viết đầy đủ
Giáo dục đào tạo
2
GV
HS
NXB
SGK
SKKN
THPT
Giáo viên
Học sinh
Nhà xuất bản
Sách giáo khoa
Sáng kiến kinh nghiệm
Trung học phổ thơng
THCS
Trung học cơ sở
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội. Giáo
dục trở thành một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của quốc gia. Mục
tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thơng nhằm tạo chuyển biến căn bản,
tồn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy
người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về
truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và
3
năng lực, hài hồ đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
sinh”. Có thể thấy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục sẽ tạo ra bước chuyển
biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như nhu cầu học tập của người dân.
Đây vừa là mục tiêu, vừa là chiến lược hàng đầu trong phát triển nền giáo dục
bền vững.
Chương trình giáo dục phổ thơng mới năm 2018 đã thực hiện biên soạn
lại chương trình và Sách giáo khoa, đây là đổi mới mang tính cấp thiết. Chương
trình giáo dục trung học phổ thơng giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm
chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân,
khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù
hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hồn cảnh của bản thân để tiếp tục
học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với
những đổi thay trong bối cảnh tồn cầu hố và cách mạng cơng nghiệp mới.
Ngữ văn là mơn học có những khả năng đặc biệt, có ưu thế trong việc
giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh.Việc hợp tác và khai thác hiệu quả giờ
học Ngữ văn, thực hiện việc lồng ghép, tích hợp dạy đạo đức sống cho học sinh
là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với
bốn mục tiêu quan trọng của giáo dục:“học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để khẳng định mình”.
Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác gia tiêu biểu của nền văn học
Việt Nam cuối TK XIX. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với tấn bi kịch
đau thương của đất nước.Ông là người phải chứng kiến cảnh đất nước rơi vào
tay thực dân Pháp xâm lược, nghe tiếng “súng giặc đất rền”, báo hiệu gần một
trăm năm mất nước của dân tộcta.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của
Nguyễn Đình Chiểu, cũng là một tác phẩm nổi bật của văn học Việt Nam nửa
cuối TKXIX. Đó là tiếng khóc bi thương nhưng hào hùng của một dân tộc quật
cường trước ngưỡng cửa của thế kỷ lầm than. Bài văn tế là “một trong những tác
phẩm hay nhất của chúng ta” (HoàiThanh).
Thế nhưng, trong thực tế dạy học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nói chung
và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nói riêng, nhiều HS thiếu hứng thú khi học tác
phẩm này,vì thế hiệu quả dạy học tác phẩm chưa được như mong muốn. Cả GV
và HS còn lúng túng trong việc tiếp cận bài văn tế.
Bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp tham gia vào công việc
“Trồng người” tôi luôn ý thức rằng: việc nâng cao phẩm chất, năng lực cho học
sinh thông qua các giờ học trong môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết nhằm rèn
luyện nhân cách cho học sinh.
Xuất phát từ những lí do trên, tơi đã trình bày đề tài: Một số giải pháp
nâng cao năng lực, phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu văn bản Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11) làm đề tài
nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
4
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này là tôi muốn nắm được thực trạng của việc nâng cao
phẩm chất, năng lực học sinh trong nhà trường. Đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ Văn.
Từ đó giúp cho bản thân mình và đồng nghiệp có thêm nguồn tài liệu bổ ích
trong q trình giảng dạy các tác phẩm văn học,từ đó nâng cao hiệu quả giảng
dạy bộ môn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến tập trung nghiên cứu Một số giải pháp nâng cao năng lực,
phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của
Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11).
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong q trình thực hiện chúng tơi sử
dụng các nhóm phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng trong việc sưu tầm một số
cơng trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu, sách báo….có liên quan đến đề tài
Phương pháp thống kê: Chọn lựa và thống kê các ngữ liệu, dẫn chứng
tiêu biểu để phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế,thu thập thông tin: Lấy thông
tin từ học sinh và giáo viên để đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Năng lực
Năng lực (competency, có nguồn gốc tiếng Latinh là "competentia") được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng nghĩa thông dụng nhất là sự thành thạo,
khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Nội hàm của khái niệm
năng lực bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một cá nhân có thể hành
động thành công/giải quyết thấu đáo một nhiệm vụ trong các tình huống mới.
Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên )“Năng lực là khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hồn thành
một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Theo Chương trình giáo dục phổ thơng, năng lực được quan niệm là thuộc
tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và q trình học
tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và
các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện thành
công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều
kiện cụ thể; phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của
con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành
5
năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiên thức, kỹ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cư cá nhân nhằm
đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cản nhất định.
Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng
tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học
tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.
2.1.1.2. Phẩm chất
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay
vật”. Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình
cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một
quá trình giáo dục.
Chương trình giáo dục phổ thơng, “Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở
thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con
người”.
2.1.2. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc hiểu văn bản
môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng
được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ
phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách
vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng
cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo
hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh
việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn
cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên mơn nhằm phát triển năng lực giải
quyết các vấn đề phức hợp.
Đổi mới phương pháp dạy học khơng có nghĩa là loại bỏ các phương pháp
dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng
việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng
cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần
nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong
việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý
các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy
nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế
bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các
phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học
sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội
dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn
đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau
giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học
6
có u cầu cao hơn, mức độ khó hơn, địi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng
lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.
Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng: Dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng
lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân
cách.
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội
dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn
đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau
giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người
học có u cầu cao hơn, mức độ khó hơn, địi hỏi người dạy phải có phẩm chất,
năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu
so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát
hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người..
2.2. Thực trạng của vấn đề
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực khơng chỉ chú ý
tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà cịn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết
vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn
hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý
nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ
đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tế không chỉ khắc họa một nghĩa quân, một
anh hùng mà còn là một “tượng đài lịch sử” về người nghĩa sĩ nông dân anh
hùng. Tất cả họ làm nên hình ảnh một tập thể chiến đấu, mang sức mạnh của cả
dân tộc. Đây là một tác phẩm mang dậm chất Nam Bộ, trong tác phẩm, tác giả
đã sử dựng rất nhiều từ cổ, sử dụng các yếu tố văn hóa Nam Bộ…Vì thế, khi
tiếp cận tác phẩm này, cả GV và HS đều cảm thấy lúng túng và khó tiếp nhận.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng
nghiệp, qua nhiều năm, tôi thấy việc dạy – học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa
các năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảm
nhận của giáo viên về văn bản. Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn
là hình thành kỹ năng.
Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn
mang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường,
giáo dục kỹ năng sống… một cách cứng nhắc. Chưa làm cho học sinh huy động
kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm
vụ học tập. Việc tích hợp nội mơn và tích hợp liên mơn chưa thực sự hiệu quả,
7
chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên
các năng lực của học sinh chưa được phát triển.
Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực cịn mang
tính hình thức. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn
dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên cịn lại còn
dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt
được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình
đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.
Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chú
trọng. Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết, việc xử lí tình huống giả định,
trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy mà học sinh ít có
cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hứng thú, chưa hình thành được các kỹ năng và năng
lực của người học.
Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi
cách thức tổ chức giờ học song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà
nguyên nhân là:
Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được
thực hiện một cách triệt để; việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế.
Về phía học sinh: Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp,
chưa tích cực trong việc tìm tịi nghiên cứu bài học.
Cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là CNTT còn hạn chế dẫn đến
không đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi cả ở người dạy và ở người học để sau mỗi
bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà cịn phải phát
triển được năng lực bản thân, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới
giáo dục.
2.3. Các giải pháp
2.3.1. Giải pháp 1: Xác định rõ những phẩm chất, năng lực cần hình
thành cho HS.
2.3.1.1. Các năng lực cần hình thành cho HS
Chương trình GDPT mới hướng đến hình thành 10 năng lực cho học sinh
là:
Năng lực ngôn ngữ: sử dụng Tiếng Việt; sử dụng ngoại ngữ.
Năng lực tính tốn: Hiểu biết kiến thức tốn học phổ thơng cơ bản; Biết
cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính tốn, ước lượng, sử dụng các
cơng cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình
huống có ý nghĩa tốn học.
Năng lực tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tịi và
khám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự
nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ mơi trường.
Năng lực tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng
của các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương
pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản
8
về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào
cuộc sống.
Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá.
Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, cơng cụ, các hệ
thống tự động hóa của cơng nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử
phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền
kinh tế tri thức.
Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền kinh tế tri
thức; Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng cơng nghệ thơng
tin và truyền thơng.
Giao tiếp, hịa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nền
kinh tế tri thức.
Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,
cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái
hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ.
Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hịa với mơi trường; Nhận biết
và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các
tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục
thể thao; Đánh giá hoạt động vận động.
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình
giáo dục phổ thơng cịn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng
khiếu) của học sinh
Các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến:
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực sáng tạo.
Năng lực hợp tác
Năng lực tự quản bản thân
Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ.
2.3.1.2. Các phẩm chất cần hình thành cho HS
Theo đó, chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể nêu lên 5 phẩm chất
chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là:
Yêu nước.
Nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người.
Chăm chỉ: Ham học; Chăm làm.
Trung thực.
Trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình;
Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống.
9
2.3.2. Giải pháp 2: Xác định rõ các biện pháp về hình thức tổ chức, kĩ
thuật dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học
sinh.
Để nâng cao phẩm chất, năng lực cho HS thông qua giờ đọc hiểu tác
phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Ngữ văn 11). Tơi xin
đề xuất một số phương pháp, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học.
2.3.2.1. Một số biện pháp về hình thức tổ chức dạy học
2.3.2.1.1. Đọc diễn cảm
Đọc là hoạt động rất quan trọng và là phương pháp đầu tiên trong quá trình
phân tích, khám phá tác phẩm văn chương. Nhờ có hoạt động đọc mà giúp HS
phá vỡ được lớp ngôn ngữ ban đầu để đi sâu, khám phá những thông điệp thẩm
mỹ được tác giả gửi gắm vào nội dung và nghệ thuật tác phẩm.
Trong quá trình đọc, phải chú ý tới đọc đúng và đọc diễn cảm. Đọc đúng là
người đọc phải trung thành với tác phẩm, không sai về ngữ âm, ngữ pháp, chính
tả, đọc rõ ràng, trơi chảy từng câu, từng đoạn và cả tác phẩm. Đây là yêu cầu bắt
buộc đối với người đọc. Đọc diễn cảm: là kiểu đọc ở mức độ cao hơn so với đọc
đúng. Đọc diễn cảm là giọng đọc phải thật truyền cảm, làm cho câu chữ trong
10
tác phẩm được hiện lên thật sống động qua các sự vật, hình ảnh như nó vốn có
trong cuộc sống, đồng thời thể hiện được ý đồ nghệ thuật của tác giả gửi gắm
vào trong từng câu, chữ. Do đó, để đọc diễn cảm, trước hết người đọc phải am
hiểu thật tường tận, sâu sắc tác phẩm thì mới thật sự có cảm xúc, nhập tâm vào
từng nhân vật. Có như thế, người đọc mới làm cho câu chữ trở nên mềm mại,
uyển chuyển, lên xuống đúng theo giọng điệu, ngữ điệu mà tác giả muốn truyền
tải, đồng thời còn tạo được sự rung động trái tim người nghe, khiến mọi người
đồng cảm với người đọc và tác giả. Tuy nhiên, để đọc cho diễn cảm thì theo
chúng tơi, GV cần nên đọc mẫu, sau đó hướng dẫn và yêu cầu HS đọc lại nhằm
lột tả cho được tư tưởng, tình cảm của tác giả đã gửi gắm vào từng câu, chữ
được thể hiện qua các nhân vật, những sự kiện, sự việc trong tác phẩm. Điều
quan trọng là bản thân HS phải thấu hiểu được nội dung tác phẩm thì việc đọc
diễn cảm mới tốt được.
Với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, GV có
thể hướng dẫn HS đọc diễn cảm để gợi hứng thú nhập cuộc cho HS. Đoạn Lung
khởi: cần đọc giọng trang trọng. Đoạn Thích thực: từ trầm lắng khi hồi tưởng
quá khứ, chuyển sang hào hứng sảng khoái khi kể lại chiến cơng. Đoạn Ai vãn:
trầm buồn, sâu lắng, xót xa, đau đớn. Đoạn kết đọc với giọng thành kính trang
nghiêm.
Như vậy, việc xác định đúng giọng điệu, cách ngắt nhịp và nhịp điệu câu
văn giúp GV có thể hướng dẫn HS đọc diễn cảm để tìm ra con đường thâm nhập
vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Đọc diễn cảm với tất cả sự rung động từ
đáy lòng mình để cảm nhận được tầng sâu ý nghĩa nghệ thuật cịn ẩn chứa trong
tác phẩm.
2.3.2.1.2. Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là PPDH trong đó "HS được phân chia thành từng nhóm
nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện
thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người.
Để áp dụng phương pháp thảo luận nhóm trong tiết học, giáo viên tiến hành
theo các bước sau:
Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng
từ 4-6 người.
Bước 2: Giao nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết cho từng nhóm.
Bước 3: Giám sát hoạt động của từng nhóm
Bước 4: Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các
nhóm khác có thể phản biện.
Bước 5: Tổng kết đánh giá.
Để vận dụng phương pháp thảo luận nhóm dạy học tác phẩm “Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình ChiểuGV có thể chia lớp ra thành 3 hoặc
4 nhóm:
Nhóm thứ nhất, tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu.
Nhóm thứ hai, thảo luận về hồn cảnh xuất thân của người nghĩa sĩ Nam
Bộ.
11
Nhóm thứ ba, thảo luận về sức mạnh tinh thần của người nghĩa sĩ Nam Bộ
Nhóm thứ tư, thảo luận về tấm lòng của tác giả và nhân dân đối với người
nghĩa sĩ Nam Bộ.
Sau khi hoàn thành xong, đại diện từng nhóm trình bày ý kiến, kết quả, GV
và các nhóm khác lắng nghe để nhận xét, đánh giá.
Nhờ áp phương pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờ dạy học tác phẩm Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu thêm sơi động, hấp dẫn hơn. Từ đó
giúp HS giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắc hơn những
giá trị đặc sắc của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và hình thành tốt các phẩm chất,
năng lực cho học sinh.
2.3.2.1.3. Dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống
có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thơng qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn
luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác.
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho
HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt
qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua q
trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều
chỉnh kiến thức sẵn có.
Trong dạy học theo PP nêu và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức
mới, vừa nắm được PP lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo,
được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và
giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
Khi dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, GV nêu ra
vấn đề: Bức tượng đài về người nông dân nghĩa sĩ được tác giả xây dựng như
thế nào? Trước vấn đề nêu ra,GV yêu cầu HS căn cứ vào tác phẩm phát hiện các
chi tiết, câu văn, hình ảnh về người nghĩa sĩ nông dân, rồi suy nghĩ và tái hiện
lại, khi đó HS sẽ giải quyết được vấn đề GV đặt ra.
2.3.2.1.4. Diễn trình (Đóng vai)
Diễn trình (Đóng vai) là một kĩ thuật dạy học; là một biện pháp đưa HS
vào vị trí của tác giả hoặc nhân vật để cùng trải nghiệm, cùng chia sẻ với nhà
văn và con người trong tác phẩm về những suy nghĩ, những cách ứng xử trong
cuộc sống. Có thể đóng vai nhân vật hay đóng vai tác giả.
Hoạt động đóng vai sẽ tạo điều kiện giúp HS cảm nhận được cái hay, cái
đẹp từ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, cũng như hiểu được những giá trị văn hóa
Nam Bộ trong từng tác phẩm của ông, đồng thời tạo cơ hội để học sinh tham gia
hoạt động trải nghiệm từ đó hình thành các năng lực, phẩm chất trong môn Ngữ
văn.
Giáo viên tiến hành tổ chức cho HS đóng vai theo các bước sau:
GV nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ, chia nhóm, giao tình huống và u
cầu HS đóng vai cho từng nhóm. Trong đó qui định rõ thời gian chuẩn bị, thời
gian đóng vai của mỗi nhóm.
12
Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai: phân vai, dàn cảnh, cách thể hiện
nhân vật, diễn thử.
Các nhóm lên đóng vai.
Thảo luận, nhận xét.
GV kết luận, giúp HS rút ra bài học cho bản thân.
2.3.2.2. Một số biện pháp về kĩ thuật dạy học
2.3.2.2.1. Kỹ thuật tái hiện trung thực
Tái hiện hình tượng là một trong những hoạt động cảm thụ văn học của
bạn đọc trong giờ học tác phẩm văn chương. Hoạt động tái hiên hình tượng giúp
HS bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, kích thích trí tưởng tượng của
HS, giúp các em nhìn ra thế giới nghệ thuật mà nhà văn khắc họa trong tác
phẩm.
Muốn cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện hình lên, người đọc phải
có khả năng tái hiện bằng tưởng tượng. Có tưởng tượng tái hiện thì thế giới tác
phẩm với hiện hình mn hình, mn vẻ. Vì thế khi hướng dẫn HS cảm thụ tác
phẩm, điều cần chú ý là GV không tưởng tượng, tái hiện thay HS mà GV cần
gợi mở để làm sống dậy hình tượng trong tác phẩm và thế giới nghệ thuật của
nhà văn qua trí tưởng tượng của chính các em.
Với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, GV có thể giúp HS tái hiện hình
ảnh người nơng dân nghĩa sĩ qua các ý cơ bản sau, hoặc GV gợi mở giúp HS tái
hiện lại Trận tập kích đồn Cần Giuộc của nghĩa sĩ. Kỹ thuật này sẽ giúp cho HS
chủ động hơn khi tái hiện hình tượng người nghĩa sĩ nơng dân.
2.3.2.2.2. Dạy học dự án
Khái niệm Dạy học theo dự án (DHDA)
DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ
học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành, tạo ra các
sản phẩm có thể giới thiệu.
Các bước dạy học dự án: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án;
xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện; thực hiện dự án; thu thập kết quả và
công bố sản phẩm; đánh giá dự án.
Dạy học dự án bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
Để giúp cho HS khám phá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu dưới góc nhìn lịch
sử Nam Bộ thì GV gợi ý cho HS các chủ đề, HS căn cứ vào năng lực lựa chọn
và thực hiện. GV có thể gợi ý các chủ đề: Du lịch về với vùng đất Cần Giuộc;
thăm tượng đài nghĩa sĩ nông dân Nam Bộ; tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình
Chiểu đối với thế hệ trẻ hôm nay; sự ngưỡng mộ của nhân dân Nam Bộ với
người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa... HS tùy vào sở trường và sở thích, năng
lực, năng khiếu của từng cá nhân, nhóm mà chọn lựa để thể hiện sản phẩm của
mình.
Tất cả những biện pháp, kĩ thuật dạy học trên sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho GV
trong việc dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.
13
2.3.3. Giải pháp 3: Xây dựng cách thức tổ chức và thiết kế giờ dạy
đọc hiểu phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.
Hoạt động 1: Khởi động
GV cho HS xem vi deo nhằm giúp HS tạo hứng khởi, có động lực, nhu
cầu tìm hiểu kiến thức mới của bài học.
Khi dạy tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu,
GV tổ chức hoạt động khởi động như sau:
Cho HS xem đoạn vi deo giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu trong trận
chiến ở Cần Giuộc. (trích đoạn vở Cải lương Nguyễn Đình Chiểu), để giúp HS
có những cảm nhận ban đầu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu cũng như trận đấu ở
Cần Giuộc năm 1861. Qua đó HS thấy được Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã làm
sống dậy khơng khí của thời kỳ lịch sử “đau thương nhưng vĩ đại”của dân tộc ta
ở cuối thế kỷ XIX.
HS trả lời, GV dẫn vào bài mới: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, nhà văn
hóa lớn của dân tộc. Khi viết về Nguyễn Đình Chiểu, cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã khẳng định: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường.
Chúng ta phải chăm chú nhìn, càng nhìn càng thấy sáng”. Một minh chứng để
thấy rõ điều này chính là tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn
Đình Chiểu. Tác phẩm được đánh giá một bài văn tế hay nhất, bi tráng nhất
trong văn học Việt Nam thời trung đại, được đặt ngang tầm với Đại cáo Bình
Ngơ của Nguyễn Trãi.
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
Hoạt động hình thành kiến thức giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới
thông qua hệ thống các bài tập/nhiệm vụ.
Khi tổ chức hoạt động này, GV tiến hành từng nội dung học tập theo tiến
trình 4 bước sau:
Bước 1: chuyển giao nhiệm vụ
Chẳng hạn khi giao nhiệm vụ cho HS để đọc hiểu văn bản Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, GV nêu vấn đề: Tóm tắt những nét chính về
cuộc đời của tác giả. Qua cuộc đời, em cảm nhận gì về nhân cách, con người của
nhà thơ? Nguyễn Đình Chiểu quan niệm như thế nào về văn chương? Sự nghiệp
thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chia làm mấy giai đoạn? Mỗi giai đoạn có
những tác phẩm chính nào? Bài văn tế ra đời trong hoàn cảnh nào? Câu đầu tiên
tạo ra sự đối lập nào? Phân tích ý nghĩa khái quát của các đối lập ấy.Trước khi
gia nhập nghĩa quân, các nghĩa sĩ - họ là ai? Làm nghề gì? Đời sống hàng ngày
của họ ra sao? Từ “cui cút” nói lên tình cảm gì của tác giả? Tác giả nhấn mạnh
điều gì khi giới thiệu thân thế của nghĩa quân Cần Giuộc?...
Khi trả lời các câu hỏi để giải quyết từng nội dung, các em đã hình thành
năng lực: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo;
Năng lực ngơn ngữ…Từ đó hình thành phẩm chất u nước, trung thực, trách
nhiệm…
14
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: HS làm bài tập, thực hiện nhiệm vụ GV đã
giao cho (Thực hiện ở nhà)
Bước 3: Báo cáo kết quả học tập: Trên các nhiệm vụ được giao HS sẽ
báo cáo kết quả trước lớp, các bạn khác cho ý kiến.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trên cơ sở nội dung báo
cáo của các nhóm, GV nhận xét bổ sung và chốt ý.
Với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Khi
hướng dẫn HS đọc hiểu, GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học và PPDH
phù hợp với đặc trưng thể loại. Khi tổ chức Hoạt động hình thành kiến thức, GV
chia nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể:
Ví dụ:
Ở nội dung 1 - Tác giả Nguyễn Đình Chiểu.
Nhóm 1: Tóm tắt những nét chính về cuộc đời của tác giả. Qua cuộc đời,
em cảm nhận gì về nhân cách, con người của nhà thơ?
Nhóm 2: Nguyễn Đình Chiểu quan niệm như thế nào về văn chương?
Nhóm 3: Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chia làm mấy giai
đoạn? Mỗi giai đoạn có những tác phẩm chính nào?
Nhóm 4: Nghệ thuật đặc sắc trong thơ văn NĐC thể hiện ở những điểm
nào?
Ở nội dung 2: Đọc hiểu tác phẩm.
GV lựa chọn các phương pháp, hình thức kĩ thuật dạy học đã đề xuất
trong sáng kiến sao cho phù hợp với đối tượng học sinh để phát huy hiệu quả
cao nhất của sáng kiến.
Khi HS giải quyết được các nhiệm vụ GV giao cho, các em sẽ hình thành
các năng lực: Năng lực hợp tác; Năng lực tự học, Năng lực sáng tạo; Năng lực
giải quyết vấn đề… Từ hình ảnh người nơng dân nghĩa sĩ, học sinh sẽ nhận thức
được vấn đề từ đó hình thành và phát huy tốt các phẩm chất yêu nước, trách
nhiệm, trung thực…
Hoạt động 3: Luyện tập – thực hành
Mục đích của hoạt động là yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến
thức vừa học được ở hoạt động hình thành kiến thức mới để giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể. Thơng qua đó giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức
hay chưa và nắm được ở mức độ nào.
Với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, GV tổ
chức hoạt động này theo tiến trình sau:
Bước 1: GV giao nhiệm vụ: GV yêu cầu HS thực hiện bài tập sau:
Câu 1: Giọng điệu chung của một bài văn tế là gì?
A. Giọng trầm hùng.
B. Giọng lâm li, thống thiết.
C. Giọng bi tráng.
D. Giọng uỷ mị, đau thương.
Câu 2: Phần nào trong bài văn tế là phần hồi tưởng về cuộc đời của người
đã khuất?
15
A. Lung khởi
B. Thích thực
C. Ai vãn
D. Kết
Câu 3: Tác giả đã chủ yếu sử dụng bút pháp miêu tả nào khi xây dựng hình
tượng người nghĩa sĩ – nơng dân?
A. Bút pháp hoành tráng mang cảm hứng sử thi.
B. Bút pháp tả thực.
C. Bút pháp trữ tình thấm đượm.
D. Cả A, B và C.
Câu 4: Để làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp của người nghĩa binh nông
dân, nhà thơ đã chủ yếu dùng thủ pháp nghệ thuật này?
A. Thủ pháp so sánh.
B. Thủ pháp đặc tả.
C. Thủ pháp đối lập.
D. Thủ pháp điệp ngữ.
Câu 5: Tại sao nói tiếng khóc của Nguyễn Đình Chiểu trong bài văn tế lại
mang tầm vóc sử thi, tầm vóc thời đại?
A. Vì sự hi sinh của nghĩa qn là vơ cùng cao cả trong hồn cảnh đó.
B. Vì nó là sự mất mát, hi sinh quá lớn đối với dân tộc.
C. Vì tác giả nhân danh đất nước, nhân danh lịch sử mà khóc.
D. Vì nó được thể hiện bằng bút pháp nghệ thuật của thể loại sử thi.
Bước 1: HS thực hiện nhiệm vụ:
HS làm việc cá nhân.
GV: Nhắc nhở, đôn đốc những cá nhân chưa chú ý.
Bước 2: Trao đổi, báo cáo kết quả:
Cá nhân báo cáo kết quả.
Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ:
GV nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ của HS về thái độ,
tinh thần học tập, khả năng giao tiếp và đánh giá kết quả cuối cùng của HS.
GV chốt nội dung học tập.
Câu 1: B
Câu 2: B
Câu 3: D
Câu 4: C
Câu 5: A
Phẩm chất, năng lực cần hình thành sau hoạt động là:
Năng lực: Năng lực tự học
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực sáng tạo
Năng lực hợp tác
Phẩm chất: Nhân ái, khoan dung
Trung thực, tự trọng, chí công vô tư
16
Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó
Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và
môi trường tự nhiên.
Hoạt động 4: Vận dụng
Hoạt động Vận dụng giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để
giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế. “Thực tế” ở đây được hiểu là thực
tế trong nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học sinh. Hoạt động
này sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu
biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải
quyết vấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực, phẩm chất học tập với
gia đình và cộng đồng.
Sau khi học xong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình
Chiểu, GV cho HS làm bài thu hoạch: (một trong những hình thức sau):
Thử tưởng tượng và vẽ tranh minh họa trận đấu Cần Giuộc hoặc chân
dung một nghĩa sĩ, hoặc hình ảnh Nguyễn Đình Chiểu đang viết bài văn tế.
Viết đoạn văn khoảng từ 10 - 15 dòng, trình bày về những vấn đề sau:
Từ tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc , em có suy nghĩ gì về cơng cuộc
đấu tranh bảo vệ chủ quyền của dân tộc ta ngày hôm nay?
Cảm xúc của em về hình tinh thần u nước của người nơng dân nghĩa sĩ.
Tại sao có thể nói , với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong văn
học dân tộc có một tượng đài bi tráng bất tử về người nơng dân nghĩa sĩ?
So với người lính thú thời xưa trong ca dao « Thùng thùng trống đánh
ngũ liên, Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa » , người nơng dân nghĩa
sĩ trong văn bản trên có điểm gì khác nhau ?
Các Phẩm chất, năng lực cần hình thành:
Năng lực:
Năng lực tự học
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực sáng tạo
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thơng
Phẩm chất:
Nhân ái, khoan dung
Trung thực, tự trọng, chí cơng vơ tư
Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó.
Hoạt động 5: Mở rộng, sáng tạo
Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng. Hoạt
động này dựa trên lập luận cho rằng, q trình nhận thức của học sinh là khơng
ngừng, như vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rèn
luyện sau mỗi bài học cụ thể.
Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung
bài tập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm.
Thơng thường, hình thức hoạt động cặp đơi được sử dụng trong những trường
hợp, những bài tập cần sự chia sẻ. Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một
17
nội dung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…Hình thức hoạt động
nhóm được sử dụng trong trường hợp cần sự hợp tác.
2.3.4. Giáo án thực nghiệm sư phạm (phu lục 3)
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm
Sau giờ dạy thực nghiệm, tơi có đánh giá kết quả học tập của HS bằng cách
cho HS làm bài kiểm tra trong 15 phút ở cả 2 lớp.
Hình thức bài kiểm tra là trắc nghiệm, Đề kiểm tra có 10 câu, thang điểm
10, mỗi câu đúng được 1 điểm.
Cách đánh giá bài kiểm tra: Những bài làm khoanh đúng các câu hỏi
trắc nhiệm sẽ được 1 điểm/1 câu, chấm điểm theo thang điểm 10 và kết quả
như sau:
Kết quả
Kết quả thực nghiệm
Điểm
Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
giỏi
(7 - 8đ)
(5 - 6đ)
(<5)
Số HS
(9 - 10đ)
Lớp thực Số lượng
31
9
13
9
nghiệm
%
100
29 %
42 %
29 %
%
Lớp đối Số lượng
37
5
12
15
5
chứng
%
100
13.5 %
32.4 %
40.5 %
13.5 %
Bảng 1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm.
Bảng 1 đã tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng dựa trên thang điểm giỏi, khá, TB và yếu. Kết quả
thống kê trên được thể hiện dưới dạng biểu đồ như sau:
Biểu đồ 1. So sánh kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm.
18
Biểu đồ 1 đã biểu thị sự so sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng sau khi dạy thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm đã cho chúng tôi thấy
sự khác biệt giữa kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Mức độ
đạt được kiến thức ở 2 lớp có sự chệnh lệch nhau rõ ràng. Ở lớp đối chứng, tỉ lệ
HS đạt điểm khá và giỏi chiếm 45.9 %; trong khi đó, ở lớp thực nghiệm tỉ lệ HS
điểm khá và giỏi chiếm 71 %, hơn 25.1 % so với lớp đối chứng. Điểm TB ở lớp
đối chứng chiếm tỉ lệ cao lên tới 40.5 % và có 13.5 HS đạt điểm yếu. Cịn lớp
đối chứng số HS đạt điểm yếu khơng có HS nào và số HS đạt điểm TB chiếm tỉ
lệ ít trong tổng số HS, chiếm 29 %. Như vậy, với kết quả đó có thể khẳng định
dạy học Nâng cao phẩm chất, năng lực HS qua giờ dạy học Ngữ văn đã đem lại
hiệu quả và có tính khả thi.
2.4.2. Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm
Để khẳng định giờ học thực sự khơng gây nhàm chán, khó khăn cho cho
HS, chúng tôi đã khảo sát HS thông qua 3 câu hỏi.
Câu hỏi đầu tiên chúng tôi khảo sát các mức độ: rất thích; thích học; khơng
thích học. Kết quả như sau:
Đối tượng
khảo sát
Số
phiếu
Rất
thích
Thích
học
Khơng
thích học
Khơng rõ
quanđiể
m
Quan
điểm
khác
Lớp11A6
Trường
15
11
4
1
31
0
THPT
48.3 %
35.4 %
12.9 %
3.22 %
Như Xn
Bảng 2 Khảo sát sự yêu thích của HS sau giờ thực nghiệm
Bảng 2 đã tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ yêu thích khi học tác phẩm
của HS sau giờ thực nghiệm. Nhìn vào kết quả cho thấy, tỉ lệ số HS rất thích và
thích học khi học tác phẩm chiếm 83.7 %. Điều đó cho thấy việc áp dụng dạy
học Nâng cao phẩm chất, năng lực HS qua giờ dạy học Ngữ văn đem lại hiệu
quả cao, có tính khả thi.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Sáng kiến đã đi từ việc nghiên cứu các vấn đề lí luận liên quan đến dạy
học phát triển năng lực, phẩm chất cho người học, cũng nêu rõ thực trạng trong
dạy và học môn Ngữ văn hiên nay. Trong sáng kiến người viết đã đề xuất các
hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học và đã thiết kế giáo án dạy
thực nghiệm là căn cứ đánh giá hiệu quả của đề tài.
Qua việc thực hiện SKKN trong năm học, tôi đã thu được những hiệu qủa
nhất định: Học sinh phát huy được tính tư duy, sáng tạo, hứng thú và tích cực
học tập; nắm chắc kiến thức bài học, chủ động hơn trong việc tự học, tự nghiên
cứu. Các em hình thành được các năng lực, phẩm chất cần thiết trong học tập và
rèn luyện. Các em hình thành rõ thói quen cẩn thận, sáng tạo trong học tập, biết
19
ứng dụng để làm các dạng bài tương tự như đọc hiểu, nghị luận về một vấn đề
đặt ra trong tác phẩm văn học, các dạng bài nghị luận văn học như phân tích,
cảm nhận, bình luận, so sánh… trong các chuyên đề khác.
3.2. Kiến nghị
Dựa trên thực tiễn nghiên cứu tại địa bàn huyện Như Xuân, để có điều kiện
thực hiện tốt các giải pháp đã đề xuất ở trên. Xin mạnh dạn đề xuất một số kiến
nghị như sau:
3.2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Sở Giáo dục và Đào tạo nên định kỳ tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ
năng cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tham gia hoạt động Nâng cao
phẩm chất, năng lựccho học sinh. Tổ chức Hội thảo, các chuyên đề về “Nâng
cao phẩm chất, năng lực cho học sinh” cho GV của các trường THPT trên địa
bàn tỉnh.
3.2.2. Đối với nhà trường THPT
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho giáo viên và
cho học sinh của trường mình về vấn đề Nâng cao phẩm chất, năng lựcqua môn
học.
Phối kết hợp, lồng ghép hữu cơ giữa dạy học trên lớp với các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp, giữa các hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm
hình thành nhân cách và phát huy tính chủ động tích cực tham gia của học sinh
trường THPT.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi tự rút ra trong q trình giảng dạy,
chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót trong q trình viết, rất mong nhận
được sự góp ý của đồng nghiệp để đề tài được hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2021
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
khơng sao chép nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Ngọc
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), CT THPT, môn Ngữ văn.
2. Phan Trọng Luận (Chủ biên)(2012), Ngữ văn 11(SGK), Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
3.Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) (2007), Ngữ văn 11 (nâng cao)(SGV),
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998) Giáo dục học, Nhà xuất bản
Giáodục, Hà Nội.
21
PHỤ LỤC
Phụ lục 1:
PHIẾU KIỂM TRA MỨC ĐỘ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH SAU
THỰC NGHIỆM
Các em HS thân mến!
Các em vừa trải qua một giờ học như thế nào? Các em cảm thu được
những gì? Các em hãy nói lên ý kiến của các em bằng cách hoàn thiện đề kiểm
tra và điền thông tin vào các câu hỏi dưới đây nhé! Cô rất mong nhận được sự
tham gia nhiệt tình của tất cả các em.
Cảm ơn các em!
THƠNG TIN CÁ NHÂN
Họ và tên (nếu có thể):………………………………………Giới tính:………
Lớp:……………………………………………………………………………
Trường:…………………………………………………………………………
NỘI DUNG
ĐỀ KIỂM TRA SAU GIỜ THỰC NGHIỆM
(Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng).
Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm
đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc
cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xơ cửa xơng vào, liều
mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè
trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
(Trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu)
1/ Nêu nội dung chính của văn bản trên.
2/ Văn bản trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật
biện pháp nghệ thuật đó.
3/ Tác giả tỏ thái độ, tình cảm như thế nào với người nghĩa sĩ trong văn
bản trên?
4/ So với người lính thú thời xưa trong ca dao Bước chân xuống thuyền
nước mắt như mưa, người nông dân nghĩa sĩ trong văn bản trên có điểm gì khác
nhau ?Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) làm rõ sự khác nhau đó.
Trả lời:
1/ Nội dung chính của văn bản trên: Diễn tả giây phút công đồn của
người nông dân nghĩa sĩ anh hùng.
2/ Văn bản trên sử dụng biện pháp nghệ thuật :
- Hệ thống động từ mạnh : đốt,đeo,đạp,xơ, xơng, liều, đâm, chém, hè, ó...
- Các cụm từ vừa diễn tả tinh thần, khí thế, vừa diễn tả sức mạnh :đạp rào
lướt tới-xô cửa xông vào-đâm ngang chém ngược...
22
- Phép đối được sử dụng đậm đặc : hè trước/ó sau ; nhỏ/to ; ngang/ngược ;
trước/sau...
- Ngơn ngữ đậm chất Nam bộ, không sử dụng từ ngữ ước lệ.
Hiệu quả nghệ thuật biện pháp nghệ thuật: tạo nhịp điệu đoạn văn nhanh,
mạnh, dứt khốt, sơi nổi, góp phần tái hiện trận công đồn của nghĩa sĩ Cần
Giuộc rất khẩn trương, ác liệt, sôi động và đầy hào hứng.
3/Tác giả tỏ thái độ, tình cảm ca ngợi, ngưỡng mộ tinh thần chiến đấu
quả cảm, không ngại gian khổ hi sinh của người nghĩa sĩ trong giây phút sinh
tử.
4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu :
- Hình thức: đảm bảo về số câu, khơng được gạch đầu dịng, khơng mắc
lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;
- Nội dung: Thấy được sự khác nhau : hình ảnh người lính xưa trong ca
dao chỉ chiến đấu cho vua chúa, vì quyền lợi của vua chúa và giai cấp thống trị,
bị bắt buộc đi tham gia chiến trận nên mang trong lòng nỗi đau đớn qua tiếng
khóc xót xa. Cịn người nơng dân khốc áo lính trong bài Văn tế chiến đấu với
tinh thần tự nguyện, sẵn sàng hi sinh xương máu để đem lại độc lập tự do cho Tổ
quốc.
23
Phụ lục 2
PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HỨNG THÚ CỦA HS SAU GIỜ
DẠY THỰC NGHIỆM
Các em HS thân mến
Các em vừa trải qua một giờ học có thú vị và bổ ích hay khơng? Các em
hãy nói lên ý kiến của các em về giờ học rồi cho cô biết bằng cách điền thông tin
vào các câu hỏi dưới đây nhé! Cô rất mong nhận được sự tham gia nhiệt tình của
tất cả các em.
Cảm ơn các em!
THƠNG TIN CÁ NHÂN
Họ và tên (nếu có thể):………………………………Giới tính:………
Lớp:………………………………………………………………………
Trường:…………………………………………………………………
NỘI DUNG
Em hãy đánh dấu X vào ô phù hợp với ý kiến của em
nhất. Câu 1. Em có hứng thú với giờ học này khơng?
Rấtthích
Thích
Khơngthích học
Khơng rõ quanđiểm
Câu 2: Mức độ tham gia các hoạt động trong giờ học của em như thế nào?
Tích cực,chủđộng
Thụđộng
Bìnhthường
Khơng ýkiến
Câu 3: Các hình thức tổ chức dạy học trong giờ học em cảm thấy như
thế nào?
Rất thích
Bìnhthường
Thích
Khơngthích
24
Phụ lục 3: Giáo án thực nghiệm
1. Phạm vi, đối tượng áp dụng
1.1. Đối tượng
Sáng kiến tập trung nghiên cứu Một số giải pháp nâng cao năng lực,
phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn
Đình Chiểu) chương trình Ngữ văn 11 tại trường THPT Như Xuân.
1.2. Phạm vi
- Về lý luận, chúng tôi chỉ nghiên cứu các vấn đề năng lực, phẩm chất và
nâng cao năng lực phẩm chất trong môn Ngữ văn ở trường ........
- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, tôi mới chỉ tiến hành ở trường
THPT Như Xuân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Học sinh lớp 11A6 trường THPT Như Xuân
2. Thời gian thực nghiệm
Chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) chương trình Ngữ văn 11(tập 1) theo giáo án đã
thiết kế. Tiến hành thực nghiệm trong năm học 2020 – 2021. Cụ thể, chúng tôi
tiến hành thực nghiệm Tiết đúng với thời gian dạy học theo phân phối CT môn
Ngữ văn. Điều này vừa đảm bảo tiến trình dạy học diễn ra bình thường, khơng
bị xáo trộn, vừa mang tính khách quan của giờ dạy học thực nghiệm.
3. Giáo án thực nghiệm
Giáo án thiết kế theo Phân phối CT môn học ( được chuyên viên mơn
văn- Sở GD và ĐT Thanh Hóa duyệt năm học 2020- 2021) gồm có 03 tiết.
Tiết 14, 15, 16: Đọc văn
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu
A. Mục tiêu bài học
1. Kiến thức: giúp HS
- Nắm được những kiến thức cơ bản về thân thế, sự nghiệp và giá trị nội
dung, nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
- Cảm nhận được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nơng dân – nghĩa
sĩ hy sinh vì nghĩa lớn, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
- Cảm nhận được tiếng khóc bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu.
- Nhận thức được những đặc sắc về nghệ thuật của bài văn tế.
2. Năng lực
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến tác giả, tác phẩm của Nguyễn
Đình Chiểu.
- Năng lực đọc – hiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm.
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành công, hạn chế, những
đóng góp nổi bật của nhà văn.
- Năng lực phân tích, so sánh các đề tài trong sáng tác của Nguyễn Đình
Chiểu.
25