Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Tình hình nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá biển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.87 KB, 7 trang )

Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007

Trường Đại học Nha Trang

VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÁ BIỂN
ThS. Lê Anh Tu n
Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường ĐH Nha Trang

Nuôi cá biển đóng vai trị ngày càng quan trọng trong nghề ni trồng thủy sản ở Việt
Nam nói riêng và trong khu vực nói chung. Do thức ăn chiếm một phần lớn trong giá thành,
nên thức ăn đầy đủ dưỡng chất có giá cả hợp lý là cực kỳ quan trọng đối với nghề nuôi. Bài
báo này tổng hợp hiện trạng nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá biển, đặc biệt là những
lồi hiện được ni trên thế giới.

Những tổng kết gần đây về nhu cầu chất
dinh dưỡng trong thức ăn cho trên 40 chất
dinh dưỡng thiết yếu [1; 11] cho thấy các số
liệu liên quan đến các loài cá biển rất hạn
chế. Tuy nhiên, các báo cáo này cũng cho
thấy một mức độ đồng nhất cao về các nhu
cầu định lượng đối với nhiều chất dinh
dưỡng thiết yếu.
1. NHU CẦU PROTEIN, CÁC ACID AMIN
VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA CÁ BIỂN
Ở các loài như cá chẽm châu Âu
(Dicentrarchus labrax) và cá hanh (Sparus
aurata), các nghiên cứu về các nhu cầu
protein đã được bắt đầu từ những năm cuối
của thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước. Theo


một trong những công trình sớm nhất trong
lĩnh vực này của Sabaut và Luquet (1973)
[11], các nhu cầu về mức protein tối thiểu
trong thức ăn cho sinh trưởng tối đa của cá
hanh được xác định chiếm khoảng 45% hàm

lượng chất khô. Ở cá chẽm châu Âu, các nhu
cầu protein cũng như khả năng của các
nguồn năng lượng không phải là protein đã
được xác định thông qua một loạt các nghiên
cứu được tiến hành bởi Alliot và cộng sự
(1979), Hidalgo và cộng sự (1987- 1988) [9;
10; 11]. Nhu cầu protein được xác định là
khoảng 50% và mức chất béo tối ưu trong
thức ăn là 12% cũng đã được nêu ra. Chất
lượng protein trong thức ăn và tỷ lệ protein
tiêu hoá (Digestible Protein - DP) với năng
lượng tiêu hố (Digestible Energy - DE) đã
có một ảnh hưởng đáng kể lên việc thúc đẩy
sinh trưởng và sử dụng thức ăn của cá [4].
Nhu cầu protein và năng lượng của một
số lồi cá biển được trình bày trong Bảng 1.
Nhìn chung, nhu cầu protein của các lồi cá
ăn động vật khá cao, phần lớn nằm trong
khoảng 40-60% hàm lượng chất khơ của
thức ăn tùy theo lồi và giai đoạn phát triển.

67



Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007

Trường Đại học Nha Trang

Bảng 1. Các nhu cầu protein và năng lượng của một số loài cá biển
Loài

% CP

CP/GE

% DP

(g/MJ)
Cá chẽm châu Âu
(Dicentrarchus labrax)

43-60

Cá chẽm

40-50

DP/DE

Nguồn

(g/MJ)
40-48


24,5-25,8

21-24

[11; 12]

26,7

[2; 3]

(Lates calcarifer)
Cá hanh đỏ

37-55

40-45

21-24

[11; 14]

55

40-48

19,3-28,5

[11; 15]

40-55


16-19

[22]

41-62

18-21,4

[8]

27,6

[13]

(Pagrus major)
Cá hành đầu vàng
(Sparus aurata)
Cá hồi Đại Tây Dương
(Salmo salar)
Cá bơn Đại Tây Dương
(Hippoglosus hippoglosus)
Cá bơn Nhật
(Paralichthys olivaceus)
Cá bơn Bắc Mỹ

45-60

50-55


[6]

(Scophthalmus maximus)
Cá cam

48,3-71

20-26

[19]

(Seriola quinqueradita)
Cá hồng Mỹ

35-45

22,2-28,6

[7; 23]

(Sciaenops ocellatus)
Cá măng biển

40

28,2-30,3

[17]

(Chanos chanos)

Cá giò

44,5

[5]

(Rachycentron canadum)
Cá mú chuột

>44

[24]

(Cromileptes altivelis)
Nhu cầu về các acid amin không thể thay
thế (Indispensable amino acid - IAA) dường
như không thay đổi đáng kể giữa các loài cá
biển với nhau (Bảng 2). Số liệu về các nhu
cầu đối với các acid amin là không đầy đủ.

68

Tuy nhiên, căn cứ vào sự tương quan tương
đối chặt chẽ giữa cấu trúc acid amin của toàn
bộ cơ thể và nhu cầu IAA của các loài khác
nhau [18], trong thực tế, người ta có thể lập
cơng thức thức ăn chứa một kiểu IAA phản


Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007

ánh được cấu trúc acid amin của protein của

Trường Đại học Nha Trang
tồn bộ cơ thể ở cùng một lồi.

Bảng 2. Nhu cầu acid amin không thể thay thế của một số loài cá biển (% Protein)

Loài

Arg


chẽm
châu Âu
Cá chẽm

His

Thr

Try

4,1

4,8

2,6

0,5


4,4

[11; 12]

3,6-3,8

4,55,2

0,5

2,242,4

[2]

Cá hanh đỏ

3,5

Cá hanh đầu
vàng

<6,0

5,0

Cá hồi Đại
Tây Dương

4,1-5,1


Cá cam

3,43,88

2,2

Leu

4,2

1,491,95

Cá hồng Mỹ

biển

măng

5,6

2,0

4,0

5,1

2. NHU CẦU LIPID VÀ CÁC ACID BÉO
THIẾT YẾU
Hiện đã có được một lượng thông tin
đáng kể về các nhu cầu lipid và acid béo thiết

yếu (EFA) của một số loài cá biển kinh tế
(Bảng 3). Nhìn chung nhu cầu lipid của cá
biển thay đổi nhiều theo loài và giai đoạn
phát triển. Có lồi nhu cầu này rất cao như ở
cá hồi (20-40%), nhưng có lồi nhu cầu này
lại thấp hơn như ở cá măng (7-11%). Một số
lồi có khả năng sử dụng lipid làm nguồn
năng lượng thay cho protein như cá hồi [22],
nhưng lồi khác, trong đó có cá mú khả năng
này hạn chế hơn [24].
Bởi vì các lồi cá biển khơng thể dễ dàng
chuyển hố tồn bộ các acid béo 18:2n-6
hoặc 18:3n-3 trong thức ăn thành các acid

1,8

0,6

Val

Phe
+
Tyr

Lys

1,4

Ile


Met +
Cys

2,5

0,6

2,2

4,1

Nguồn

[14]

4,0

[11; 16]

3,9
8

2,4
(Met)

[22]

4,1
3


2,56
(Met)

[19]

3,0

[7]

4,4

2,3

4,0

4,9

0,6

3,0

4,8

5,2

[17]

béo khơng bão hồ có trên ba mối nối đơi
(HUFA) như là 20:4n-6 (ArA), 20:5n-3 (EPA)
hoặc 22:6n-3 (DHA), trong khi những acid

béo này rất cần cho nhiều chức năng sống,
vì thế một lượng nhất định các loại dầu được
ly trích từ động vật thủy sản (dầu mực, dầu
cá…) chứa các acid béo thiết yếu này cần
được cung cấp. Ngoài việc cung cấp định
lượng các acid béo thiết yếu này, trong thời
gian gần đây, tầm quan trọng của các tỷ lệ
tương đối của các acid béo thiết yếu như thế
cũng được nhấn mạnh (Bảng 3). Trong
trường hợp thiếu số liệu định lượng về các
nhu cầu acid béo thiết yếu, phương pháp tiếp
cận trực tiếp giúp hoàn chỉnh thức ăn là dựa
trên mẫu hình acid béo thiết yếu của vật mồi

69


Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007
hoang dã mà lồi đã biết bắt ăn trong tự

Trường Đại học Nha Trang
nhiên [11].

Bảng 3. Nhu cầu lipid, acid béo, carbohydrate, vitamin và khống của cá biển
Carbohydrate
(%)

Lồi

Lipid

(%)

Acid béo
(%)

Cá chẽm châu
Âu

12-19

n-3 PUFA: 1
Phospholipid: 1-2

Cá chẽm

12,9

n-3 HUFA: 1
n-3:n-6 =1,5-1,7:1

Cá hanh đỏ

15

n-3 HUFA: 3
EPA: 1; DHA: 0,5

C-APMg: 50

Cá hanh đầu

vàng

EPA:DHA = 1:1
hc 2:1

<15

Nicotinic acid: 63-83
B1: 10; B6: 1,97
Biotin: 0,21-0,37

Cá hồi Đại Tây
Dương

n-3 HUFA: 1
(EPA+DHA)

6-15

E < 150; B6: 5; Biotin: 0,3;
Inositol: 300
Choline: 430-880; C: 50

20-40

Cá bơn Nhật

20

Vitamin

(mg/kg)
C < 50;
E = 500
B6: 5-10
CoA: 15-90
C: 700 (tinh thể); 25-30
(dạng ổn định)

Khoáng
(mg/kg)

Nguồn

P: 0,6

[11; 12]

P: 0,550,65

[2]

Fe: 150

[14]
[11; 16]

P: 1-1,1
Fe: 200
Zn:67


n-3 HUFA: 1,1-1,4

Cá cam

[22]
[13]

n-3 HUFA: 2

Tinh bột
genlatin
hóa < 20

B1:1,2; B2: 2,9; B6: 2,5
Nicotinic acid: 12
CoA: 13,5; Inositol: 190;
Biotin: 0,22; Folic acid: 0,8;
Choline: 2100,0; B12:
0,053; C: 122; Retinol: 5,68;
E: 119,0

C-APNa: 150

P: 0,67
Fe: 60160

[19]

Cá hồng Mỹ


7-11

EPA+DHA: 0,7-1,1

Carbohydrate
tan < 35
Xơ <7

Cá măng biển

7-10

18:3n-3~ 1
EPA+DHA~1

<45

Cá giò

5,76

[5]

Cá mú chuột

15

[24]

3. NHU CẦU VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG

Cũng tương tự như các thành phần khác,
các nghiên cứu gần đây cho thấy nhu cầu

70

P: 0,86
Zn:20-25

[7]

[17]

các vitamin tan trong nước, khơng có sự sai
khác đáng kể giữa các loài cá (Bảng 3). Các
nghiên cứu này chứng tỏ rằng việc cung cấp
tất cả các vitamin ở các mức nhu cầu tối


Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007
thiểu [11] là đủ cho sinh trưởng đạt mức tối
đa đối với nhiều loài cá, đặc biệt là cá hồi, cá
chẽm châu Âu hoặc cá hồng Mỹ ở giai đoạn
giống. Nhiều số liệu ước lượng mức nhu cầu
vitamin trước đây được cho là khá cao. Điều
này chủ yếu do các thành phần nguyên liệu
làm thức ăn được tinh chế, tính ổn định của
các dạng vitamin và thiếu các phương pháp
chuẩn cũng như các tiêu chí đánh giá [25].
Trong số các vitamin này, acid ascorbic được
quan tâm nhiều nhất. Để đánh giá các nhu

cầu về acid ascorbic trong thức ăn với các
đối tượng cá nuôi, việc sử dụng các dẫn xuất
phốt-phate với đặc điểm ổn định và có thể sử
dụng như nguyên liệu sinh học được xem là
thích hợp nhất. Các nghiên cứu gần đây ở cá
nước ngọt (cá thuộc họ cá hồi, rô phi, cá
nheo), bằng việc sử dụng dẫn xuất phốtphate của acid ascorbic, cho thấy nhu cầu tối
thiểu cho sinh trưởng tối ưu và duy trì sự
hình thành collagen bình thường nằm trong
khoảng 10-20 mg/kg. Mức nhu cầu tối thiểu
cho nhiều loài cá biển (cá chẽm, cá chẽm
châu Âu) là hơi cao hơn (25-50 mg/ kg) [11].
Mặc dầu các chất khống và các ngun
tố vi lượng cũng có vai trị quan trọng, nhưng
các số liệu mang tính định lượng về các nhu
cầu hoặc về khả năng của cá biển trong việc
hấp thụ các chất dinh dưỡng thiết yếu từ mơi
trường nước xung quanh là rất hiếm. Chỉ có
phốt-pho nhận được nhiều sự quan tâm, sau
đó là kẽm và sắt. Nhìn chung, số liệu hiện có
về nhu cầu các loại khống này cho thấy
khơng có sự sai khác lớn giữa các lồi (Bảng
3).

Trường Đại học Nha Trang
phát triển của chúng cũng rất hiếm. Tuy
nhiên, cũng có các thơng tin về các nhu cầu
acid béo thiết yếu của ấu trùng cá biển, đặc
biệt liên quan đến vai trò của EPA, DHA và
ArA. Tầm quan trọng của các phospholipid từ

thức ăn trong các giai đoạn phát triển sớm
của cá cũng có được nhiều dẫn liệu. Gần
đây, một số số liệu liên quan đến các nhu
cầu về acid ascorbic của ấu trùng tập ăn
ngoài của cá chẽm và cá bơn cho thấy có
nhiều điểm tương đồng với số liệu về nhu
cầu của cá giống [20]. Mặc dầu khơng có
nhiều số liệu về các nhu cầu dinh dưỡng của
cá bố mẹ của các lồi cá biển, nhưng các tác
động có lợi của acid béo thiết yếu trong thức
ăn cho cá bố mẹ đã được ghi nhận ở cá cam
và cá hanh đỏ khi chúng ảnh hưởng đến chất
lượng trứng và sẹ [11]. Về protein, theo
Wongsomnuk và cộng sự (1978), cá bột cá
mú mỡ Epinephelus tauvina có nhu cầu cao
hơn cá giống và cá trưởng thành [21].
Tóm lại, số liệu liên quan đến nhu cầu
dinh dưỡng của các loài cá biển rất hạn chế.
Nhu cầu protein của các loài cá biển ăn động
vật khá cao (40-60%). Nhu cầu lipid của cá
biển thay đổi nhiều theo lồi, có thể rất cao
như ở cá hồi (20-40%), hoặc thấp hơn như ở
cá măng (7-11%). Nhu cầu về các acid amin
không thể thay thế, các acid béo không bão
hồ có trên ba mối nối đơi, các vitamin tan
trong nước và các loại khống dường như
khơng thay đổi đáng kể giữa các loài cá biển
đã được nghiên cứu. Số liệu liên quan đến
nhu cầu dinh dưỡng ở các loài cá biển theo
các giai đoạn phát triển cũng rất hiếm.


Số liệu liên quan đến nhu cầu dinh
dưỡng ở các loài cá biển theo các giai đoạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Boonyaratpalin, M. (1997), “Nutrient requirements of marine food fish cultured in
Southeast Asia”, Aquaculture, 151, pp 283-313.

71


Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007

Trường Đại học Nha Trang

2. Boonyaratpalin, M. and Williams, K.C. (2002), “Asian seabass”, In: C.D. Webster and C.
Lim, (Editors), Nutrient Requirements and Feeding of Aquaculture Fish, CAB International
Publishers, London, UK, pp 40-50.
3. Catacutan, M.R.& Coloso, R.M. (1995), “Effect of dietary protein to energy ratios on
growth, survival and body composition of juvenile Asian seabass, Lates calcarifer”,
Aquaculture 131, pp 125-133.
4. Cho, C.Y., Kaushik, S.J. (1990), “Nutritional energetics in fish: Energy and protein
utilization in rainbow trout (Salmo gairdneri)”, World Rev. Nutr. Diet., 61, pp 132-172.
5. Chou, R.L, Su, M.S., and Chen, H.Y. (2001), “Optimal dietary protein and lipid levels for
juvenile cobia (Rachycentron canadum)”, Aquaculture, 193, pp 81-89.
6. Daniels, H.V., Gallagher, M.L. (2002), “North American Flounder”, in: Eds. Webster, C.D.,
and Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI
Publishing, UK, pp 121-130.
7. Gatlin, D.M. (2002), “Red Drum, Sciaenops ocellatus”, in: Eds. Webster, C.D., and Lim,
C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI Publishing, UK.

pp 147-158.
8. Grisdale-Helland, B vµ Helland, S.J. (2002), “Atlantic Halibut, Hippoglossus
hippoglossus”, in: Eds. Webster, C.D., and Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of
Finfish for Aquaculture, CABI Publishing, UK, pp 103-112.
9. Hidalgo, F., Alliot, E. (1988), “Influence of water temperature on protein requirement and
protein utilization in juvenile sea bass, Dicentrarchus labrax”, Aquaculture 72, pp 115-129.
10. Hidalgo, F., Alliot, E., Thebault, H. (1987), “Influence of water temperature on food intake,
food efficiency and gross composition of juvenile sea bass Dicentrarchus labrax”,
Aquaculture 64, pp 199-207.
11. Kaushik, S.J. (1997), Recent developments in the nutrition and feeding of marine finfish of
interest to the Mediterranean, INVE Conference, ALIIA Tradeshow, Thessaloniki, Greece,
September 27th 1997.
12. Kaushik, S.J. (2002), “European Sea Bass, Dicentrachus labrax”, in: Eds. Webster, C.D.,
and Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI
Publishing, UK, pp 28-39.
13. Kikuchi, K., Takeuchi, T. (2002), “Japanese Flounder, Paralichthys olivaceus”, in: Eds.
Webster, C.D., and Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture,
CABI Publishing, UK, pp 113-120.
14. Koshio, S. (2002), “Red Sea Bream, Pagrus major”, in: Eds. Webster, C.D., and Lim, C.
Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI Publishing, UK, pp
51-63.
15. Koven, M.W. (2002), “Gilt-head sea bream, Sparus aurata”, in: Eds. Webster, C.D., and
Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI Publishing,
UK, pp 64-78.

72


Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03/2007


Trường Đại học Nha Trang

16. Koven, M.W., Tandler, A., Kissil, G.W., Sklan, D., Frieslander, O. and Harel, M. (1990),
“The effect of dietary n-3 poly-unsaturated fatty acid on growth, survival and swim bladder
development in sparus aurata larvae”, Aquaculture 91, pp 131-141.
17. Lim, C., Borlongan, I.G., and Pascual, F.P. (2002), “Milkfish, Chanos chanos”, in: Eds.
Webster, C.D., and Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture,
CABI Publishing, UK, pp 172-183.
18. Mambrini, M., Kaushik, S.J. (1995), “Indispensable amino acid requirements of fish:
correspondance between quantitative data and amino acid profiles of tissue proteins”, J.
Applied Ichthyology, 11, pp 240-247.
19. Masumoto, T. (2002), “Yellowtail, Seriola quinqueradiata”, in: Eds. Webster, C.D., and
Lim, C. Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI Publishing,
UK, pp 131-146.
20. Merchie, G., Lavens, P., Storch, V., Ubel, U., Nelis, H., Deleenheer, A. and Sorgeloos, P.
(1996), “Influence of dietary vitamin C dosage on turbot (Scophthalmus maximus) and
European sea bass (Dicentrarchus labrax) nursery stages”, Comp. Biochem. Physiol,
114A, pp 123-133.
21. Seng, L.T. (1997), “Management of marine finfish diseases in Malaysia”, Paper presented
at the Seminar on Sustainable Development of Mariculture Industry in Malaysia, 30-31
July 1997, Kuala Lumpur, Malaysia, 22 pp.
22. Stobakken, T. (2002), “Atlantic Salmon, Salmo salar”, in: Eds. Webster, C.D., and Lim, C.
Nutrient Requirements and Feeding of Finfish for Aquaculture, CABI Publishing, UK, pp
79-102.
23. Thoman, E.S., Davis, D.A., and Arnold, C.R. (1999), “Evaluation of growout diets with
varying protein and energy levels for red drum (Sciaenops ocellatus)”, Aquaculture 176,
pp 343-353.
24. Williams, K.C., Irvin, S., Barclay, M. (2004), “Polka dot grouper Cromileptes altivelis
fingerlings require high protein and moderate lipid diets for optimal growth and nutrient
retention”, Aquaculture Nutrition 10, pp 125-134.

25. Woodward, B. (1994), “Dietary vitamin requirements of cultured young fish, with emphasis
on quantitative estimates for salmonids”, Aquaculture, 124, pp 133-168.

ABSTRACT
NUTRIENT REQUIREMENTS OF MARINE FINFISH: CURRENT STATUS

The culture of marine finfish has increasingly played an important role in the
aquaculture industry in Vietnam in particular and in the region in general. Because feed
accounts for the major portion of farming costs, nutritional sufficiency and cost-effectiveness
is extremely important to the industry. This paper reviews the current status of nutrient
requirements of marine finfish, especially those recently cultured in the world.

73



×