Tải bản đầy đủ (.docx) (6 trang)

Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy – Nguyễn Khuyến

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (55.51 KB, 6 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

TIẾN SĨ GIẤY


(NGUYỄN KHUYẾN)


Tiến sĩ giấy với tư cách là một cụm từ định danh trong vốn từ ngữ chung của
tiếng Việt chắc không phải do Nguyễn Khuyến đặt ra. Nó có thể là kết quả của
một sáng tạo tập thể, khởi đầu từ việc những chú hoa man (người thợ làm hàng
mã) đặt tên cho sản phẩm hàng hố của mình là hình nộm các ơng tiến sĩ làm
bằng giấy - một loại đồ chơi quen thuộc dành cho trẻ em thường được bán vào
dịp tết Trung thu. Cảm hứng sáng tác bài thơ chính một phần được gợi lên từ
loại đồ chơi này. Nhưng kể từ khi Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến ra đời, cụm
từ tiến sĩ giấy của dân gian bỗng được cấp thêm một nét nghĩa mới. Giờ đây,
mỗi khi nói đến ba tiếng tiến sĩ giấy, dù muốn hay không, ta cũng bị cách nhìn
sự vật của cụ Nghè Tam nguyên Yên Đổ chi phối, cho dù ta có thể chưa đọc,
chưa nhớ bài thơ đó ! Ngay trong trường họp nhan đề "đích thực" của bài thơ là
Ơng nghè tháng Tám như có tài liệu chép thì vấn đề vẫn không khác. Làm thay
đổi cả nghĩa của một cụm từ có sẵn, biến nó thành một thành ngữ được mọi
người chấp nhận đổ chỉ loại trí thức rởm, phải đâu điều đó khơng đáng nói,
đáng suy ngẫm ?


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Việc làm thơ, nói ra tưởng dễ mà khó vơ cùng. Có ý, có liên tưởng, có tứ nhưng
khơng có tài ngơn ngữ thì bài thơ hồn tồn vẫn có thể rơi vào tầm thường. Thử
tưởng tượng, nếu vào tay một người khác, liên tưởng thơ nói trên có thể chỉ tạo
ra được một tác phẩm thật thà, ý rõ, thái độ đánh giá rõ mà cái tài của một nhà
nghệ sĩ thì chỉ hiện ra rất mờ nhạt. Với bài thơ kiểu này, ta chỉ có nhu cầu đọc
một lần. Khơng có sự biến ảo của câu chữ, sức hấp dẫn của tác phẩm khơng
cịn.


Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến thì khác. Đọc nó, sự mẫn cảm ngơn từ và khả
năng liên hệ, liên tưởng của người đọc luôn được thử thách, dù bài thơ rất dễ
hiểu. Lối thơ song quan vốn quen thuộc đã được nhà thơ sử dụng rất có hiệu


quả. Đây là lối thơ địi hỏi các tác giả khi miêu tả trực tiếp đối tượng này phải
gợi người đọc liên tưởng tới một đối tượng khác có nhiều nét tương đồng với nó
về mặt hình thức hoặc tính chất. Khác với hình tượng ẩn dụ thông thường thúc
đẩy người ta đến nhanh với điều được ám chỉ, hình tượng thơ song quan lại
thường gây nên chút phân vân cho người đọc, buộc họ phải "tích cực" nhiều
hơn trong việc phân định đâu là điều chính, đối tượng chính mà tác giả muốn
nói tới.


Ta hãy đọc lần lượt tùng liên thơ của bài, theo cái cách của một độc giả hồn
nhiên tham dự trị chơi tìm ý nghĩa, khơng biết "ăn gian" nghé mắt nhìn trước
kết quả. Liên thứ nhất :


Cũng cờ cũng biển cũng cân đai,


Cũng gọi ơng nghè có kém ai.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

"Từ biểu thị ý khẳng định về một sự giống nhau của hiện tượng, trạng thái, hoạt
động, tính chất". Trở lại với bài thơ, ta nhận ra trong hai câu vừa trích, từ cũng
vẫn mang nét nghĩa cơ bản, ổn định như trên khiến ta thoạt tiên có thể nghĩ rằng
tác giả khen đồ chơi được chế tác khéo, rất giống người thật. Nhưng ta còn nhận
thấy thêm rằng từ cũng đã được thốt ra với giọng điệu đay đả đầy vẻ miệt thị, do
chỗ nó xuất hiện liên tiếp tới bốn lần trong hai câu, mà lại đúng vào vị trí đầu
của các nhịp thơ. Hơn thế, nó lại đi kèm với những từ chỉ các vật hiếm quý và
chỉ tầng lớp người có địa vị đáng nể trong xã hội, khiến sắc thái mỉa mai tự
nhiên bật ra : làm sao giống được ông nghè thật, bởi cờ, biển, cân đai đâu có sẵn
như lá trên cây vậy ! Rõ ràng, do được đặt trong một văn cảnh mới, từ cũng cỏ
thêm được sắc thái ngữ nghĩa mới, giúp nhà thơ tóm bắt được cái giả của đối
tượng ngay lúc đối tượng giống thật hơn bao giờ hết. Nhưng đối tượng đây là
đối tượng nào ? Chắc nhà thơ khơng hồi hơi chế giễu một thứ đồ chơi vơ tri !



Hãy tạm "găm" nỗi phân vân ở đó để đọc tiếp liên thơ thứ hai:


Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,


Nét son điểm rõ mặt văn khôi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

(hình nộm) và hình tượng thật (người). Đã khơng dè bỉu thứ đồ chơi vơ tri thì
cịn dè bỉu ai vào đây nữa. Ơng nghè ! Đúng là những ơng nghè thật trong đời
-thật mà giả, chả có một giá trị gì ngồi chút danh hão, danh hờ !


Với những gì đã đạt được trong nửa đầu bài thơ, sang đến liên thứ ba, tác giả có
vẻ đã chuyển trọng tâm miêu tả, bình phẩm từ đối tượng thấy trước mắt sang
đối tượng vắng mặt:


Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,


Cái giá khoa danh ấy mới hời.


Ta vẫn cứ phải dùng từ có vẻ khi đưa ra đốn định về ý đồ tác giả. Với khả năng
liên tưởng của mình, người đọc đã nhận ra được sự thật của những gì được nói
tới trong bài. Nhưng nhà thơ thì vẫn cứ cịn phải đi cho hết lơ gích của cuộc
chơi. Không thể bảo rằng ông đã "phạm luật", bởi xét trên hình thức, việc nói về
món đồ chơi tiến sĩ giấy vẫn được tiếp tục như thường : vì làm bằng giấy nên
thành phẩm rất nhẹ, và cũng chỉ với một ít giấy đó mà có được món đồ có thể
gọi tên là ơng tiến sĩ cho trẻ con chơi - cái danh tiến sĩ kiếm được quả thật quá
dễ, quá hời. Chỉ có điều, lúc này, dường như người đọc chỉ còn quan tâm đến
nghĩa ngầm của các câu thơ nữa mà thơi. Ta khơng khó nhận ra bên cạnh giọng
mỉa mai, các câu thơ cịn có giọng chua xót, thậm chí ngậm ngùi. Coi thường,
châm biếm dù sao cũng mới chỉ là thái độ bề nổi. Giọng chua xót, ngậm ngùi
cho ta thấy được bề sâu của vấn đề : là người trọng danh dự, có ý thức giữ gìn


tiết tháo, tác giả đã buồn khổ bao nhiêu khi chứng kiến những nghịch cảnh
trong xã hội buổi Nho học suy tàn. Từ hời vốn phát xạ nhiều nghĩa, trong đó có
một nghĩa gắn với hành động bán bn. Phải chăng tác giả đang nghĩ tới tình
trạng mua quan bán tước đang lan tràn trong giới quan trường thuở ấy ?


Liên thơ cuối:


Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Trong liên thơ, chỉ có câu trên là cịn có thể được hiểu theo nghĩa tác giả đang
vịnh một thứ đồ chơi (Gớm, ông tiến sĩ giấy này trông bảnh chọe thật đấy !).
Đây là sự nán níu cuối cùng bên ơng tiến sĩ giấy trước khi tác giả quyết định từ
bỏ nó để xé toang bức màn che giấu sự thật về những ông nghè bằng xương,
bằng thịt. Câu kết "Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi !"đã đến một cách vừa bất
ngờ vừa tự nhiên. Nói là bất ngờ bởi như trên từng phân tích, chính bài thơ đã
lập một giao ước ngầm với độc giả rằng ở đây nhà thơ đang nói về một thứ đồ
chơi của con trẻ vào dịp tết Trung thu. Tại sao bỗng dưng ơng "qn" điều đó để
mà thốt lên câu nghĩ lù đồ thật, như một lời trách hay như một sự khám phá ?
Nhưng nói là tự nhiên cũng hoàn toàn hợp lẽ, bởi trong ý đồ sáng tạo (điều này
cũng đã được chỉ rõ), nhà thơ thực sự chỉ nhắm đến việc lột trần thực chất trống
rỗng của những ơng nghè có thật. Nếu khơng "vì" những ơng nghè thật (thật mà
giả) thì bài thơ đã chẳng được viết ra, hoặc có viết ra mà khơng hàm chứa một
nghĩa lí gì đáng để bàn hết.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

trào phúng bậc thầy của tác giả. Dùng từ đồ chơi mang hàm nghĩa mới mẻ này
làm điểm tựa, độc giả có thể đọc lại bài thơ dưới một ánh sáng khác, không bị
nhiễu tạp, để lắng nghe được âm sắc chủ đạo trong tiếng nói thâm trầm của ông
nghè đầy tâm sự Nguyễn Khuyến.


</div>


<!--links-->

×