Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Phúc Vinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (290.38 KB, 12 trang )

BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT
VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM NĂM 2017
Người tham gia:
Họ và tên: Nguyễn Phúc Vinh
Ngày sinh: 1990
Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Cơng an
Dân tộc: Kinh
Tơn giáo: khơng

Đơn vị: Chi đồn Cơng an, Đồn
phường Phước Long, Nha Trang, Khánh
Hồ
Nơi thường trú:
Số điện thoại:


NỘI DUNG BÀI DỰ THI
Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm về
việc giữ gìn, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
Trước hết, xin giới thiệu một chút về nước Lào anh em. Lào là quốc gia Đơng
Nam Á trong bán, đảo Đơng Dương có chung đường biên giới dài 2069 km về phía
Tây được Việt Nam ơm trọn phía biển Đơng, đường biên giới giữa Việt Nam và Lào
trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào.
Hai dân tộc đã luôn cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi”, “đồng cam cộng khổ”, “hạt
muối cắn chung, bát cơm sẻ nửa”, cùng sát cánh chiến đấu và cùng chiến thắng. Mối
quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc đã được hình thành và hun đúc trong lịch sử
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của hai dân tộc trong hơn bảy thập kỷ qua
mối.
Trên thế giới từ trước đến nay, ở phương Đông cũng như phương Tây, trong


cuộc đấu tranh để sinh tồn và phát triển của các quốc gia, các dân tộc, các tập đoàn
giai cấp… đã từng xuất hiện nhiều mối quan hệ liên minh hợp tác với những hình
thức, nội dung khác nhau như liên minh chiến lược, liên minh sách lược, liên minh
hữu cơ… Nhưng có thể nói ít có nơi nào và lúc nào có được mối quan hệ đồn kết,
hợp tác bền vững lâu dài, mẫu mực trong sáng như mối quan hệ chiến lược Việt –
Lào. Cùng với thời gian mối quan hệ đó đã khơng ngừng được củng cố và phát triển,
từ quan hệ láng giềng gần gũi, thân thiện giữa hai quốc gia trong thời phong kiến, tiến
đến quan hệ gắn bó trong cuộc đấu tranh tự phát của các trào lưu dân tộc và của các
thân sĩ tiến bộ, khi hai nước đều bị đế quốc thực dân xâm lược, thống trị. Đặc biệt, từ
ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách
mạng ba nước (Cam-pu-chia – Lào – Việt Nam), mối quan hệ Lào – Việt có sự biến
đổi về chất, trở thành mỗi quan hệ tự giác, kiểu mới, mang bản chất chủ nghĩa quốc tế
vô sản. Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào – Việt được củng cố và nâng cao
thành một quy luật tồn tại, phát triển, một nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách
mạng mỗi nước và cả hai nước.


Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc
biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ
chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến
bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, hai Đảng: Đảng Cộng sản
Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn vững vàng. Chính thể do Đảng lãnh
đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đập tan mọi âm
mưu gây chia rẽ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động.
Tình hữu nghị, đồn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt-Lào và sự gắn bó thủy
chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào được Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Chủ tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản trực tiếp gây dựng, được các thế hệ lãnh
đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và

dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, mối quan hệ ViệtLào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức và xương máu của biết bao anh hùng
liệt sỹ, bằng sự hy sinh phấn đấu của nhiều thế hệ người Việt Nam và Lào và đã thực
sự trở thành mối quan hệ truyền thống, rất đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ
tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản đã từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có
nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa
bao giờ có sự đồn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và tồn diện như vậy”.
Năm 2017 có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ Việt Nam - Lào khi người dân hai
nước tưng bừng tổ chức hàng loạt hoạt động kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại
giao (05/9/1962 - 05/9/2017) và 40 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18/71977
- 18/72017), bài viết này nhằm hưởng ứng cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc
biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017” là một hoạt động như vậy.


Ảnh tư liệu: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Chủ tịch Quốc hội Lào Pany
Yathotou. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
Hơn nửa thế kỷ đã trơi qua, dù tình hình thế giới có rất nhiều thay đổi, song dưới
sự lãnh đạo của hai đảng, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào vẫn chung lòng chung
sức, kề vai sát cánh trong cơng cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước
cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi nước.
Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, quan hệ gắn kết anh em giữa hai
dân tộc đã được hình thành và củng cố cùng bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước.
Đặc biệt, trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thủy
chung giữa nhân dân hai nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone
Phomvihane và Chủ tịch Suphanuvong đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo của
hai đảng, hai nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, được tôi luyện qua
nhiều thử thách và được hun đúc bằng công sức và xương máu của bao thế hệ các anh
hùng liệt sĩ, để trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc.
55 năm trước, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào được ký kết (năm 1962), Việt
Nam và Lào đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong sự
nghiệp củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự gắn
bó khăng khít, sự hỗ trợ, giúp đỡ vơ tư, chí tình, chí nghĩa giữa hai nước, hai dân tộc
Việt Nam và Lào, đã trở thành sức mạnh vô song và là nhân tố quan trọng góp phần
đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tới thắng lợi hoàn
toàn vào năm 1975.


Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào đã sớm được gây dựng,
gìn giữ và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của hai dân tộc là tài
sản chung vô giá, là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp, cách mạng của mỗi
nước. Để gìn giữ, củng cố và phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam Lào, Lào - Việt Nam chúng ta có những bài học học kinh nghiệm chủ yếu về việc gìn
giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt
Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp ơng Chan-xy Phơ-xi-khâm, Bí thư Trung
ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lào. (Nguồn: TTXVN)
Một là, phải xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lí luận về mối quan hệ dân
tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình
xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con đường cách mạng vơ sản là
con đường giải phóng và phát triển của mỗi nước ở Đơng Dương. Quan hệ đó đã được
kiểm nghiệm trong lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự
do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam – Lào đã trở
thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt
Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước,


cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu một trong hai nước xa rời Chủ
nghĩa Mác - Lê Nin, chệch hướng con đường mà Đảng của mỗi nước đã chọn thì có
nguy cơ phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Do đó, tình

cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân
dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối
quan hệ Việt Nam – Lào.
Hai là, phải xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt
Nam - Lào, Lào - Việt Nam là cụ thể hóa hệ thống quan điểm lí luận của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin về quan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ thể của hai nước để
hướng dẫn hoạt động của Đảng, của hệ thống chính trị và quân, dân hai nước Việt
Nam, Lào nhằm đạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên xác lập.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vấn đề dân tộc là một bộ phận của
những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chun chính vơ sản. Do đó, giải quyết
vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng nhấn mạnh rằng, khi xem xét và giải quyết vấn
để dân tộc phải đáp ứng vững trên lập trường giai cấp cơng nhân. Điều đó cũng có
nghĩa là việc xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc phải trên cơ sở và vì lợi ích cơ bản,
lâu dài của các dân tộc.
Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hai nước Việt Nam và Lào đã tạo ra những
điều kiện thuận lợi để xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, hợp tác giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ giữa các dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng
sẽ là nhân tố quan trọng cho từng dân tộc nhanh chóng đi tới phồn vinh hạnh phúc.
Mỗi dân tộc khơng những có điều kiện khai thác tối đa tiềm năng của dân tộc minh để
phát triển mà còn nhận được sự giúp đỡ, dựa vào tiềm năng của dân tộc anh em để
phát triển nhanh chóng.
Tại cuộc hội đàm với Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách Mạng Lào,
ngày 9 tháng 7 năm 1961, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam trình bày về nguyên tắc lớn và lề lối làm việc giữa
hai Đảng, bao gồm những nội dung: “Mọi công việc ở Lào đều do Đảng Lào phụ
trách. Cách mạng Lào do đồng chí Lào lãnh đạo, Đường lối chủ trương do Đảng


Lào đề ra. Việt Nam góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đề trước thì Việt Nam

đề xuất ý kiến trước, nhưng quyền quyết định vẫn do Đảng Lào”.
Ở phạm vi quan hệ giữa Đảng Lào với các Đảng anh em khác thì “Đảng Lào tự
mình bàn bạc thương lượng với các Đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan.
Trong phạm vi nào đó theo yêu cầu của các Đảng anh em và với sự thỏa thuận của
Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ”
Về quan hệ giữa hai nước, hai chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất
nhiên có những quan hệ khác hơn quan hệ hai Đảng. Những vấn đề lớn trong quan
hệ giữa hai chính phủ thì hai Đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với nhau”.
Về phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự chủ và giá trị của nó, trong bài
phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974, Chủ tịch
Cayxỏnphomvihản nói: “Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự
làm lấy. Đảng ta là một Đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do đó phải giữ vững
nguyên tắc độc lập tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy đủ chủ nghĩa yêu nước
nồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng”.
Trên cơ sở nhận thức q trình tồn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước trong
khu vực Đông Nam Á. Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ VIII Đảng Nhân dân
Cách mạng Lào (tháng 3 năm 2006) nêu rõ: “Kiên định quan điểm chủ động và thái
độ tích cực trong hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát huy cao độ sức mạnh
của dân tộc và tiềm năng của đất nước. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sẵn sàng
là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm bảo lợi ích chung và lợi ích
riêng của mỗi bên”.
Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hịa bình, hợp tác và phát triển.” Tiếp tục tinh thần và
nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ
trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào phải trên cơ sở
phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và
cùng có lợi, trên cơ sở tơn trọng độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ của nhau,
khơng can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.



Thứ ba, tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền
vững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Là hai nước láng giềng rất mực thân thiết, gần gũi, quan hệ gắn kết nghĩa tình
anh em giữa hai dân tộc được hình thành và hun đúc trong lịch sử hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước. Đặc biệt trong hơn tám thập kỷ qua kể từ thời kỳ Đảng Cộng
sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng chung, mối quan hệ truyền
thống tốt đẹp, sự gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào được
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxon Phomvihan đặt nền móng, được các thế
hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun
đắp đã trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của
cách mạng hai nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no,
hạnh phúc.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, đấu tranh giải phóng
dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự phối hợp, giúp đỡ vô tư, chí tình giữa hai
nước, hai dân tộc chúng ta là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng
mỗi nước. Ðã có biết bao tấm gương chiến đấu, hy sinh của hàng triệu người con Lào
và Việt Nam, nhiều người ngã xuống, vì độc lập, tự do của mỗi nước, vì tình hữu
nghị, đồn kết chiến đấu Việt Nam - Lào. Sự hy sinh cao đẹp và vô cùng to lớn đó trở
thành sức mạnh vơ song, nguồn động lực lớn lao, góp phần đưa cách mạng hai nước
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tới giành thắng lợi hồn tồn vào năm
1975.
Vượt qua mn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, bất chấp sự bao vây,
cấm vận và chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhân dân hai nước luôn
dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về mọi mặt trong những ngày đầu mới giành
chính quyền cách mạng. Mối quan hệ son sắt, thủy chung, trong sáng đó đã hun đúc ý
chí, quyết tâm của chúng ta, tạo thành nền tảng vững chắc, để trên chặng đường mới,
nhân dân hai nước Việt Nam - Lào lại cùng kề vai sát cánh bên nhau, đẩy mạnh công
cuộc xây dựng và phát triển mỗi nước, vun đắp cho quan hệ láng giềng hữu nghị đặc
biệt Việt Nam - Lào mãi mãi trường tồn.



Thứ tư, khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xây dựng, phát
triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào Việt Nam lên tầm cao mới, hai Đảng, hai Nhà nước cần tiếp tục bổ sung, hồn chỉnh
các cơ chế, chính sách và tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả những thoả thuận và
những mục tiêu chiến lược đã đặt ra với tầm nhìn rộng hơn, tồn diện và lâu dài hơn
nhằm khơng ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết
đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Lào. Cần tiếp tục đưa quan hệ
chính trị đi vào chiều sâu; khơng ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác an
ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại và đầu tư, giáo dục - đào tạo.
Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ, ủng
hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế, khu vực cũng như các cơ chế tiểu vùng; làm sâu
sắc hơn tiến trình hợp tác, liên kết của Cộng đồng ASEAN, tăng cường đồn kết, vai
trị trung tâm của ASEAN và duy trì tiếng nói chung của ASEAN trong các vấn đề
chiến lược của khu vực, trong đó có vấn đề biển Đông.
Hiện nay, khi chúng ta hội nhập sâu sắc với thế giới, trong bối cảnh tình hình thế
giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó dự đốn hơn bao giờ hết, hai Đảng, hai Nhà
nước phải coi việc giáo dục người dân hai nước là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, đặc
biệt là thế hệ trẻ, về truyền thống lịch sử dân tộc, về sự cần thiết, cũng như tầm quan
trọng của quan hệ đặc biệt Lào -Việt Nam, để họ hiểu được trách nhiệm của mình,
nhiệm vụ của mình trong việc kế tục tài sản vơ giá mà các thế hệ cha ông hai nước đã
tốn không biết bao xương máu để gây dựng, giúp chúng ta có được cuộc sống ngày
hơm nay.
Một trong những điển hình của việc giữ gìn, củng cố, phát huy truyền thống hữu
nghị đặc biệt Việt Nam – Lào là công tác của Hội Hữu nghị Việt - Lào Thừa Thiên Huế. Không ngừng vun đắp xây dựng thắm tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Lào
là việc làm thường xuyên của Hội Hữu nghị Việt - Lào Thừa Thiên - Huế trong suốt
thời gian qua.



Bộ

Lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Thừa Thiên – Huế và Ủy ban nhân
dân huyện A Lưới cắt băng khánh thành bàn giao nhà hữu nghị cho dân bản Sê Xáp,
tỉnh Xê-kông
Đã bước sang tuổi 82, nhưng mỗi lần nhắc đến đất nước Lào, ông Nguyễn Hữu
Lễ, nguyên Chủ tịch Hội Việt - Lào tỉnh lại bồi hồi xúc động. Vì có quan hệ thắm
thiết với bạn bè, đồng chí ở Lào nên sau khi nghỉ công tác ở Công ty Lâm nghiệp Việt
- Lào tỉnh, năm 2004, ông Lễ tham gia vào Hội Hữu nghị Việt - Lào tỉnh. Với vai trị
“đầu tàu” của ơng Lễ, hội có nhiều hoạt động sáng tạo, trong đó nổi bật là công tác
phối hợp đào tạo lưu học sinh Lào tại Huế, tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước
bạn thông qua việc ký kết giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo và lãnh đạo hai địa phương.
Từ năm 2002 đến nay, bình quân mỗi năm, Thừa Thiên Huế tiếp nhận từ 80 100 sinh viên Lào tham gia các ngành y dược, nông lâm, khoa học, sư phạm... Hội đã
thành lập Ban liên lạc, kết nối các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn, hỗ trợ các
sinh viên Lào gặp khó khăn từ chuyện ăn, ở, sinh hoạt đến việc học tập. Hội đề xuất
nhiều giáo viên ở trường cao đẳng, đại học Sư phạm Huế, các hội viên, các đồng chí


trong Ban Thường vụ Hội nhận bảo trợ các học sinh Lào làm con nuôi trong thời gian
sống và học tập tại Huế. 5 năm gần đây, Thừa Thiên Huế đào tạo cho đất nước bạn 01
tiến sĩ, 24 thạc sĩ, 263 kỹ sư và có hàng chục sinh viên dự bị. Trường Cao đẳng Sư
phạm Huế đã nhận đào tạo hơn 450 lưu học sinh Lào học tiếng Việt. Hai năm gần
đây, Hội phối hợp giúp các Trường cao đẳng Sư phạm và Trường đại học Sư phạm
Huế đào tạo tiếng Việt cho 20 cán bộ là phó, chánh và giám đốc các sở, ban ngành
tỉnh Salavan...
Hoạt động khá quan trọng được hội quan tâm theo chủ trương của hai Đảng,
Nhà nước từ trước đến nay là tạo mối quan hệ bền chặt của nhân dân vùng biên.
Trước đây, tình hình khu vực vùng biên ở các xã của huyện A Lưới và 22 bản của bạn
nảy sinh vấn đề mất ổn định do tình trạng săn bắn, khai thác lâm, thổ sản... Khi Chính
phủ có chủ trương nâng cấp cửa khẩu A Đớt, Hồng Vân (A Lưới) nối liền với tỉnh

Xê-kơng, Xa-la-van (Lào) thành cửa khẩu chính, hội cùng Bộ đội Biên phòng tỉnh
đảm trách nhiều việc như tổ chức quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, đoàn ra, đoàn
vào, đảm bảo quy chế giữa hai bên.
Hội và Bộ đội Biên phòng giúp bà con 2 bản nghèo Ka-lo (Xa-la-van) và I-reo
(Xê-kông) xây dựng hạ tầng dân sinh, nhà cửa, các mơ hình phát triển chăn ni,
trồng trọt giúp hàng chục hộ dân trong khu vực ổn định dần cuộc sống; đồng thời
tăng cường giao lưu, hợp tác hỗ trợ việc huấn luyện đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở
vật chất cho lực lượng vũ trang phía bạn; phối hợp việc cất bốc hài cốt liệt sĩ đã hy
sinh ở chiến trường Lào. Hội còn phối hợp với huyện A Lưới tạo mối quan hệ chặt
chẽ với các huyện vùng biên ở Lào với phương châm “Tối lửa tắt đèn có nhau”; vào
các dịp lễ và tết, hai bên tổ chức thăm viếng, trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Ơng Hồng Ngọc Quý, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Lào Thừa Thiên Huế, cho biết: “Có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ qn tình nguyện Việt Nam từng cơng
tác và chiến đấu ở nước bạn Lào nay đang làm việc hay nghỉ hưu ở địa phương hoặc
đất nước bạn thì ln có tình cảm tốt đẹp với đất nước Lào. Trái tim, tình cảm suy
nghĩ của họ như một biểu tượng cho tình đồn kết mẫu mực giữa hai dân tộc Việt
-Lào”.


Kể từ khi được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập vào tháng 11 năm
1998, các hoạt động của Hội không ngừng được củng cố, mở rộng và ngày càng tập
hợp nhiều hội viên. Hội đã có nhiều hoạt động ý nghĩa vun đắp cho tình hữu nghị
giữa hai dân tộc, như đóng vai trị tích cực trong việc xúc tiến các mối hợp tác giữa
tỉnh nhà với các tỉnh Xê-kông, Xa-la-van, Áp-pha-tơ, Chăm-pa-sắc, Pa-xê, Xa-vanna-khẹt...; tổ chức theo dõi, thăm hỏi, động viên, tặng quà cho lưu học sinh Lào học
tập tại các trường cao đẳng, đại học tại Huế vào các dịp lễ Quốc khánh, tết cổ truyền
Lào; cử hội viên tham gia các hoạt động của Hội luân phiên tổ chức tại hai nước...
Hội thường xuyên kết nối thông tin trao đổi mối quan hệ hợp tác hữu nghị với
Đại sứ quán Lào tại Hà nội, Tổng lãnh sự quán Lào tại Đà Nẵng; tham gia cùng các
đoàn của lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt - Lào Việt
Nam và lãnh đạo địa phương trong các dịp gặp gỡ, làm việc tại Lào nhằm trao đổi
thông tin quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh

quốc phịng, góp phần thắt chặt thêm tinh thần đoàn kết hữu nghị của nhân dân hai
nước.
Gần đây, hội tạo điều kiện thuận lợi thành lập thêm các chi hội trực thuộc, như
Chi hội Lâm nghiệp, Chi hội Tiếng hát đi cùng năm tháng, Ban liên lạc Quân tình
nguyện tại Lào... triển khai những hoạt động cụ thể, làm cầu nối nâng tầm quan hệ
giữa tỉnh Thừa Thiên Huế với các tỉnh bạn sát đúng thực tế với yêu cầu của Đảng và
Nhà nước. Ban liên lạc Tình nguyện Lào hiện có gần 100 hội viên, hàng năm tổ chức
nhiều hoạt động ý nghĩa như gặp mặt giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế;
tổ chức kỷ niệm Ngày truyền thống vào ngày 30 tháng 10 để ôn lại những năm tháng
chiến đấu hào hùng chống kẻ thù của hai dân tộc trên đất bạn Lào.
Ơng Hồng Ngọc Q cho biết, thời gian đến, Hội sẽ triển khai thêm nhiều hoạt
động giao lưu hợp tác về văn hóa - xã hội giữa hai nước, chú trọng đến việc giáo dục
cho thế hệ trẻ ở địa phương và các tỉnh bạn Lào hiểu sâu sắc hơn về tình đồn kết
giữa hai dân tộc mà nhiều thế hệ lãnh đạo hai bên đã dày công vun đắp trong suốt
hàng chục năm qua.



×