Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời vào quá trình sấy chitin từ phế liệu tôm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (737.95 KB, 6 trang )

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2012

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI
VÀO QUÁ TRÌNH SẤY CHITIN TỪ PHẾ LIỆU TÔM
SOLAR DRYING OF CHITIN EXTRACTED FROM SHRIMP BY - PRODUCT
Nguyễn Trọng Trung1, Trần Đại Tiến2, Trang Sĩ Trung3
Ngày nhận bài: 11/5/2012; Ngày phản biện thông qua: 11/6/2012; Ngày duyệt đăng: 12/9/2012

TĨM TẮT
Các thơng số sấy chitin từ phế liệu tôm bằng năng lượng mặt trời đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy, trong điều
kiện trời nắng ở Nha Trang, khi sử dụng vận tốc gió 2,0m/s, mật độ chitin trên một đơn vị diện tích 2,0kg/m2, khoảng cách
thời gian giữa các lần đảo trộn 30 phút thì chỉ cần khoảng 190 phút để sản phẩm chitin đạt độ ẩm < 10% đối với sấy bằng
năng lượng mặt trời, thấp hơn nhiều so với phơi trên nền xi măng cần trên 350 phút. Chitin sấy bằng năng lượng mặt trời
có chất lượng cảm quan, độ nhớt, khả năng hút nước, khả năng hấp phụ màu và chất béo tốt hơn so với sản phẩm chitin
phơi trên nền xi măng.
Từ khóa: Chitin, sấy năng lượng mặt trời, chất lượng

ABSRACT
Drying parameters using solar energy for chitin from shrimp by-product have been investigated. Results showed that
with sunny conditions in Nha Trang, solar drying with air velocity of 2.0m/s, chitin mass per area unit of 2.0kg/m2, and
stirring chitin at every 30 minutes could bring chitin to final moisture content <10% after about 190 min while it took more
than 350 min in case of drying on the cement floor. Chitin dried by solar system had higher quality in terms of sensory
characteristics, viscosity, swelling index, fat and dye binding capacity compared with that of chitin dried on the cement
floor.
Keywords: Chitin, drying by solar energy, quality

I. ĐẶT VẤN ĐỀ


Chitin từ phế liệu tôm được sản xuất khá phổ
biến tại miền Nam Việt Nam vì nguồn nguyên liệu
dồi dào từ các nhà máy chế biến thủy sản (Trung và
cộng sự, 2010). Trong quá trình sản xuất chitin từ
phế liệu tôm, công đoạn làm khô là một trong những
khâu quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng chitin.
Hiện nay, ở nước ta và trên thế giới việc làm khô
chitin thường được tiến hành bằng cách phơi khô
trên nền xi măng hoặc sấy khô sử dụng than đá. Với
cách làm truyền thống này, chitin thu được thường
chứa tạp chất và vi sinh vật.

1
2

Trên thế giới, xu hướng ứng dụng năng
lượng mặt trời vào q trình sấy nơng sản là rất
phổ biến, đặc biệt ở các nước nhiệt đới (Begum
và cộng sự, 2006; Rankins và cộng sự, 2008;
El-Sebaii và Shalaby, 2012). Việt Nam với lợi thế
là một trong những nước nằm trong vùng có ánh
nắng mặt trời nhiều nhất trong năm, đặc biệt là
các tỉnh phía nam. Vì vậy, sử dụng năng lượng
mặt trời như một nguồn năng lượng tại chỗ để
thay thế cho các dạng năng lượng truyền thống
có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế và môi trường, phát
triển bền vững. Một số nghiên cứu đã tiến hành

Nguyễn Trọng Trung: Lớp Cao học Công nghệ Sau thu hoạch 2010 - Trường Đại học Nha Trang
TS. Trần Đại Tiến, 3 PGS.TS. Trang Sĩ Trung: Trường Đại học Nha Trang


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 169


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
sấy nơng sản bằng năng lượng mặt trời (Đỗ Minh
Cường và Phan Hòa, 2009; Phong và cộng sự,
2010). Ứng dụng năng lượng mặt trời để sấy khô
nông thủy sản thực phẩm cho thấy có nhiều ưu
điểm nổi bật như thời gian sấy ngắn, sản phẩm
sau khi sấy đảm bảo được chất lượng, vệ sinh an
tồn thực phẩm. Tuy nhiên, số lượng cơng trình
nghiên cứu về lĩnh vực này cịn ít, cần tiến hành
mở rộng nghiên cứu đến các nông sản phổ biến
khác tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, ứng
dụng năng lượng mặt trời vào q trình sấy chitin
từ phế liệu tơm được trình bày.

Số 3/2012
II. NGUN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Nguyên vật liệu
Chitin từ phế liệu tôm được sản xuất tại Khoa
Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang.
Độ ẩm của chitin nguyên liệu là 70 ± 2,1%. Các hố
chất sử dụng đều ở dạng phân tích.
2. Phương pháp nghiên cứu và thiết bị sấy sử
dụng trong thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo sơ đồ ở Hình 1.


Hình 1. Sơ đồ nghiên cứu sấy chitin bằng năng lượng mặt trời

Hàm lượng ẩm của chitin được xác định theo
phương pháp của AOAC, 1990. Xác định màu sắc
theo phương pháp cảm quan. Độ nhớt được xác
định bằng nhớt kế Brookfield theo Rao và cộng sự,
2007. Khả năng hút nước và hấp phụ chất béo của
chitin được xác định theo phương pháp của No và
cộng sự, 2000. Xác định khả năng hấp phụ chất
màu của chitin theo phương pháp của Cho và cộng
sự, 1998. Hàm lượng cát sạn được xác định theo
phương pháp của AOAC, 1990. Tổng số vi sinh vật
hiếu khí được xác định theo TCVN 4884:2005.
Kết quả thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm
Excel. Kết quả trình bày là trung bình của ba lần
thực hiện. Giá trị p < 0.05 được xem là có ý nghĩa
về mặt thống kê.
Thiết bị sấy có hình chữ nhật có khung được

170 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

làm bằng gỗ chịu lực có chiều dài, rộng và cao lần
lượt là 100cm; 60cm và 150cm (chiều cao từ mặt
đất đến phần đáy mơ hình 70cm, chiều cao phần
vịng cung 40cm) (Hình 2). Phần mái mơ hình được
cấu tạo gồm ba thanh sắt được uốn theo hình vịng
cung nhằm tạo cho phần mái mơ hình có dạng hình
vịng cung tăng khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời,
phía đáy mơ hình có đặt thêm một tấm tôn sơn đen
để tăng khả năng hấp thụ nhiệt, phía trên tấm tơn là

khung lưới dùng làm khay phơi có chiều dài 100cm,
chiều rộng 60cm, chiều cao 3cm. Bao phủ mơ hình
sấy là tấm polyetylen trong suốt. Một đầu mơ hình
sấy có gắn một quạt điện điều chỉnh được tốc độ gió
bằng chiết áp để đối lưu khơng khí, đầu cịn lại bên
dưới có một cửa vừa để đưa nguyên liệu vào và lấy
sản phẩm ra, đồng thời có một cửa phía trên để đối
lưu khơng khí trong quá trình sấy.


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2012

Hình 2. Sơ đồ nguyên lý và thiết bị sấy chitin có ứng dụng năng lượng mặt trời

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Ảnh hưởng của tốc độ gió đến q trình sấy chitin
Trong thí nghiệm này khối luợng chitin sấy 2,0kg/m2, khoảng cách thời gian giữa các lần đảo trộn 30 phút,
vận tốc gió khác nhau lần luợt là 1,0; 2,0; 3,0 và 4,0m/s.

Hình 3. Biến đổi độ ẩm (A) và tốc độ sấy (B) của chitin theo vận tốc gió

Ở vận tốc gió 1,0m/s, trong giai đoạn đầu của
quá trình sấy, nhiệt độ bề mặt chitin nguyên liệu
tăng lên, làm tăng áp suất hơi nước trên bề mặt của
chitin, dẫn đến sự chênh lệch áp suất hơi nước trên
bề mặt chitin và áp suất riêng phần của hơi nước
trong khơng khí ẩm tăng lên, làm cho cường độ
khuếch tán ngoại tăng và lượng ẩm thoát ra tăng

dần. Chính vì vậy mà tốc độ sấy tăng dần cho đến
khi nhiệt độ bề mặt của chitin bằng nhiệt độ ướt của
khơng khí ẩm.
Độ ẩm trong chitin ban đầu là 70% và do tính
chất của chitin là nguyên liệu dạng xốp, độ rắn
tương đối cao, có ẩm liên kết tự do nhiều, sau một
giờ sấy lúc này nhiệt độ tại bề mặt của các lớp
chitin bằng nhiệt độ ướt của khơng khí ẩm, do đó
áp suất hơi nước trên bề mặt chitin gần như khơng
đổi nên lượng ẩm thốt ra theo thời gian sấy tương
đối ổn định, chính vì vậy mà tốc độ sấy không đổi.
Khi chuyển qua giai đoạn sấy giảm tốc, áp suất hơi
nước trên bề mặt chitin phụ thuộc vào độ ẩm chứa
trong chitin và nhiệt độ sấy. Theo thời gian sấy, phần

nước còn lại trong chitin với liên kết chặt chẽ hơn,
do đó năng lượng liên kết ẩm lớn hơn, điều này làm
cho quá trình khuếch tán nội giảm, dẫn đến áp suất
hơi nước trên bề mặt chitin giảm dần, do đó tốc độ
sấy càng về sau càng giảm.
Ở vận tốc gió 2,0; 3,0 và 4,0m/s quy luật biến
đổi độ ẩm và tốc độ sấy của chitin giống như sấy ở
vận tốc gió 1,0m/s (Hình 3). Do vận tốc gió tăng lên
đã làm tăng q trình đối lưu khơng khí trên bề mặt
và trong khối chitin, làm cho q trình thốt ẩm trên
bề mặt khối chitin tăng lên so với sấy ở vận tốc gió
1,0m/s. Tốc độ sấy trung bình ở giai đoạn sấy đẳng
tốc ở vận tốc gió 2,0; 3,0 và 4,0m/s, lần lượt là 23,5;
24,0 (%/h) và 24,5 (%/h) lớn hơn so với sấy ở 1,0
m/s có tốc độ sấy trung bình 21,2 (%/h).

Với mẫu đối chứng phơi trên nền xi măng quy
luật biến đổi độ ẩm và tốc độ sấy của chitin giống
như sấy có điều chỉnh vận tốc gió. Tuy nhiên trong
quá trình phơi tự nhiên kết quả đo được tốc độ gió
tự nhiên ngồi trời rất thấp từ 0,2 đến 0,4m/s, và do
nhiệt độ khơng khí bên ngồi thấp hơn so với bên

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 171


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
trong thiết bị sấy nên lượng ẩm bay hơi rất chậm. Vì
vậy ở giai đoạn sấy đẳng tốc, tốc độ sấy trung bình
là 19,4 (%/h), thấp hơn rất nhiều so với sấy bằng
thiết bị sấy đối lưu cưỡng bức.
Màu sắc của chitin sấy ở các tốc độ gió khác
nhau và mẫu phơi trên nền xi măng đều có màu
trắng sáng. Điều này là do ánh nắng mặt trời có
khả năng tẩy màu cho chitin trong quá trình sấy.
Màu sắc đỏ của chitin là do thành phần astaxanthin
tạo nên. Việc khử màu chitin trong q trình sấy
hoặc phơi khơ bằng ánh nắng mặt trời là do tính
oxy hóa làm giảm liên kết đơi carbon-carbon tồn tại
trong astaxanthin nhờ tia UV từ ánh nắng mặt trời
(Henry và cộng sự, 2000). Khả năng tẩy màu bằng
ánh sáng mặt trời cũng đã được chứng minh đối
với sản phẩm chitin sau khi deacetyl (Youn và cộng
sự, 2007).
Thời gian sấy chitin đạt đến độ ẩm <10% với


Soá 3/2012
vận tốc gió 1,0; 2,0; 3,0; 4,0m/s và phơi trên nền xi
măng lần lượt là 258; 195; 183, 174 và 358 phút.
Kết quả này cho thấy sự chênh lệch thời gian sấy
chitin ở vận tốc gió 2,0; 3,0 và 4,0 m/s là khơng
nhiều, khoảng 10 đến 12 phút, trong khi đó chi phí
tiêu thụ điện của quạt lại tăng lên đáng kể khi tăng
vận tốc gió. Như vậy căn cứ vào màu sắc chitin sau
khi sấy, thời gian sấy và tính kinh tế trong tiêu thụ
điện năng của quạt, tốc độ gió thích hợp trong q
trình sấy chitin là 2,0m/s.
2. Ảnh hưởng của mật độ chitin trên đơn vị diện
tích khay sấy đến q trình sấy chitin
Trong thí nghiệm này mật độ chitin trên đơn vị
diện tích khay sấy khác nhau lần lượt là 1,0; 1,5;
2,0; 2,5 và 3,0kg/m2, vận tốc gió thổi qua bề mặt
lớp chitin 2,0m/s và khoảng cách thời gian đảo trộn
30 phút.

Hình 4. Biến đổi độ ẩm (C) và tốc độ sấy (D) của chitin theo mật độ chitin

Ở mật độ chitin trên đơn vị diện tích khay sấy
1,0kg/m2, lúc này bề dày của lớp chitin sấy mỏng,
thời gian sấy ngắn, tốc độ sấy cao. Ở mật độ chitin
trên đơn vị diện tích khay sấy 1,5; 2,0; 2,5 và
3,0kg/m2, quy luật biến đổi về độ ẩm và tốc độ sấy
cũng giống như sấy ở khối lượng 1,0 kg/m2 (Hình
4). Tuy nhiên do mật độ chitin sấy tăng lên làm tăng
chiều dày của lớp chitin, dẫn đến làm hạn chế sự
tiếp xúc giữa các lớp chitin bên dưới với ánh nắng

mặt trời, điều này làm cho nhiệt độ bề mặt các lớp
chitin này giảm và do đó khơng đủ nhận năng lượng
bay hơi, thời gian sấy dài hơn so với sấy ở 1,0kg/m2,
đồng thời khi chiều dày lớp chitin tăng lên cũng làm
giảm q trình đối lưu khơng khí ở các lớp chitin
bên dưới. Vì vậy tốc độ sấy trung bình ở giai đoạn
sấy đẳng tốc lần lượt là 25,9; 23,5; 20,0 và 16,8
(%/h) thấp hơn so với sấy ở khối lượng 1,0kg/m2 có
tốc độ sấy trung bình ở giai đoạn sấy đẳng tốc đạt
27,2 (%/h).
Ở mẫu phơi trên nền xi măng, do tốc độ gió đo
được ngồi trời thấp và do nhiệt độ khơng khí thấp
hơn so với trong thiết bị sấy, chính điều này làm cho

172 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

tốc độ sấy nhỏ hơn rất nhiều. Tốc độ sấy trung bình
ở gian đoạn sấy đẳng tốc ở mẫu phơi trên nền xi
măng ở khối lượng 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và 3,0kg/m2 lần
lượt là 23,9; 22,5; 19,1; 16,9 và 13,0 (%/h), tốc độ
sấy này thấp hơn nhiều khi so với cùng khối lượng
chitin sấy bằng thiết bị sấy đối lưu cưỡng bức.
Để đạt được độ ẩm 10%, tốc độ sấy ở khối
lượng 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và 3,0kg/m2 ở thiết bị sấy lần
lượt là 10,9; 6,4; 5,9; 3,1 và 1,8 (%/h), trong khi đó ở
mẫu phơi trên nền xi măng lần lượt là 3,1; 1,6; 1,3;
0,9 và 0,8 (%/h). Thời gian sấy chitin đạt độ ẩm 10%
ở khối lượng 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và 3,0 kg/m2 ở thiết bị
sấy lần lượt là 148; 163; 193; 256 và 338 phút, trong
khi đó ở mẫu phơi trên nền xi măng lần lượt 216;

275; 350; 438 và 538 phút.
Màu sắc của chitin sau khi sấy và phơi thay đổi
tùy theo khối lượng chitin. Với khối lượng chitin sấy
1,0; 1,5 và 2,0kg/m2 chitin có màu trắng sáng, trong
khi đó với khối lượng chitin 2,5 và 3,0kg/m2 chitin có
màu trắng hồng nhạt và hồng đậm. Điều này là do
trong điều kiện diện tích thiết bị sấy khơng đổi khi
khối lượng chitin sấy tăng lên sẽ làm cho bề dày của


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
lớp chitin tăng, chính điều này hạn chế sự tiếp xúc
giữa các lớp chitin bên dưới với ánh nắng mặt trời,
do đó với khối lượng 2,5 và 3,0kg/m2 màu sắc của
chitin có màu trắng hồng nhạt hoặc trắng hồng đậm.
Căn cứ vào màu sắc, thời gian sấy và tính kinh tế,
mật độ chitin trên đơn vị diện tích khay sấy chitin sấy
2,0kg/m2 là thích hợp.
3. Ảnh hưởng của khoảng cách thời gian đảo
trộn đến quá trình sấy chitin
Bên cạnh các yếu tố tốc độ gió, mật độ chitin
đã xác định ở trên thì việc đảo trộn chitin trong q

Số 3/2012
trình sấy cũng đóng vai trị quan trọng quan trọng
đến thời gian sấy và chất lượng chitin thu được. Để
xác định khoảng cách thời gian đảo trộn thích hợp
trong q trình sấy, chitin được đảo trộn kỹ ở các
khoảng cách thời gian 20, 30, 40 và 50 phút trong
điều kiện sấy ở vận tốc gió 2,0m/s và mật độ chitin

trên đơn vị diện tích khay sấy 2,0kg/m2.
Ở khoảng cách thời gian giữa các lần đảo trộn
20 phút thì trình đối lưu khơng khí ở trong khối chitin
lớn vì số lần đảo trộn nhiều trong suốt q trình sấy,
do đó làm tăng sự thốt hơi ẩm trong khối chitin,
dẫn đến thời gian sấy ngắn, tốc độ sấy cao.

Hình 5. Biến đổi độ ẩm (E) và tốc độ sấy (F) của chitin theo khoảng cách thời gian đảo trộn

Ở khoảng cách thời gian giữa các lần đảo trộn
30, 40 và 50 phút, quy luật biến đổi độ ẩm và tốc độ
sấy giống như sấy ở khoảng cách thời gian đảo trộn
20 phút, tuy thời gian sấy dài hơn (Hình 5). Khoảng
cách thời gian giữa các lần đảo trộn tăng lên đã làm
hạn chế sự tiếp xúc giữa các lớp chitin phía dưới với
ánh nắng mặt trời, vì vậy tốc độ sấy trung bình ở các
khoảng cách thời gian đảo trộn này thấp hơn so với
sấy ở khoảng cách thời gian đảo trộn 20 có tốc độ
sấy trung bình 23,8 (%/h).
Phơi trên nền xi măng thì tốc độ sấy thấp hơn,
ở khoảng cách thời gian đảo trộn 20, 30, 40 và 50
phút, tốc độ sấy trung bình ở giai đoạn sấy đẳng tốc
lần lượt 19,5; 19,1; 17,9 và 16,1 (%/h), thấp hơn
nhiều khi so sánh với cùng khoảng cách thời gian
đảo trộn ở thiết bị sấy đối lưu khơng khí cưỡng bức.
Màu sắc của chitin sấy ở khoảng cách thời gian
giữa các lần đảo trộn 20 và 30 phút có màu trắng
sáng, trong khi đó với khoảng cách thời gian giữa
các lần đảo trộn 40 và 50 phút có màu trắng hồng
nhạt và đậm màu. Điều này là do ở khoảng cách

thời gian giữa các lần đảo trộn 20 và 30 phút làm
cho chitin được tiếp xúc nhiều hơn với ánh nắng
mặt trời do đó chitin có màu trắng sáng, trong khi đó

ở khoảng cách thời gian giữa các lần đảo trộn 40 và
50 phút đã hạn chế sự tiếp xúc giữa các lớp chitin
và ánh nắng mặt trời kết quả là màu sắc chitin có
màu trắng hồng nhạt và hồng đậm. Kết quả này cho
phép khẳng khoảng cách thời gian giữa các lần đảo
trộn thích hợp là 30 phút.
Tóm lại, chitin sấy bằng năng lượng mặt trời
ở mơ hình sấy đối lưu khơng khí cưỡng bức trong
điều kiện trời nắng ở Nha Trang, khi điều chỉnh vận
tốc gió 2,0m/s, mật độ chitin 2,0kg/m2, khoảng cách
thời gian giữa các lần đảo trộn 30 phút thì để đạt
được độ ẩm của sản phẩm < 10% chỉ cần 193
phút, trong khi đó thời gian phơi trên nền xi măng là
352 phút.
4. Chất lượng của sản phẩm chitin sấy bằng
năng lượng mặt trời
Để đánh giá chất lượng chitin sau khi sấy, sản
phẩm chitin sấy bằng năng lượng mặt trời được
phân tích các tính chất cơ bản như độ nhớt, khả
năng hút nước, khả năng hấp phụ chất béo, màu.
Ngoài ra, hàm lượng cát sạn và vi sinh vật chitin
cũng được xác định. Chất lượng của chitin phơi trên
nền xi măng cũng được xác định để so sánh. Kết
quả được trình bày ở Bảng 1.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 173



Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2012

Bảng 1. Tính chất của sản phẩm chitin sấy bằng năng lượng mặt trời và phơi trên nền xi măng
Chỉ tiêu chất lượng

Sấy bằng năng lượng mặt trời

Phơi trên nền xi măng

Màu trắng sáng, mềm, dai, đồng
đều

Màu trắng ngà, hơi cứng,
có nhiễm cát sạn

637 ± 19

480 ± 21

Khả năng hút nước (%)

489,6 ± 27,2

426 ± 29,8

Khả năng hấp phụ chất béo (%)


376 ± 19,1

342,7 ± 14,2

Khả năng hấp phụ màu (%)

41,3 ± 2,7

35,9 ± 2,5

0,047 ± 0,0005

0,141 ± 0,0021

0,3 x 10

2,1 x 102

Cảm quan
Độ nhớt (cp)

Cát sạn (%)
Tổng số vi sinh vật hiếu khí (CFU/g)

2

Chitin sấy bằng năng lượng mặt trời có chất lượng cao hơn so với chitin phơi khơ trên nền xi măng thể hiện
qua chất lượng cảm quan, lượng tạp chất và các tính chất chức năng (Bảng 1). Do chitin khi phơi khơ trên nền
xi măng thì dễ dàng nhiễm tạp chất (cát, sạn, vi sinh vật), độ thoát ẩm khi phơi giữa các lớp chitin thấp, tạo lớp

cứng ở lớp bề mặt ngồi, q trình khử màu không đều trên cả khối chitin, gây nên độ đồng đều thấp.
IV. KẾT LUẬN
Chitin sản xuất từ phế liệu tơm có thể sấy bằng năng lượng mặt trời với thiết bị sấy đơn giản, dễ thực hiện
với thời gian sấy ngắn (193 phút). Chitin thu được có chất lượng cao hơn so với phương pháp phơi khô trên
nền xi măng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1.

Đỗ Minh Cường, Phan Hòa. 2009. Nghiên cứu q trình sấy thóc bằng thiết bị sấy năng lượng mặt trời kiểu đối lưu tự nhiên.
Tạp chí Khoa học - Đại học Huế, 55, 27-33.

2.

Trang Sĩ Trung, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Thị Luyến, and Nguyễn Thị Hằng Phương. 2010. Chitin-chitosan từ phế liệu thủy
sản và ứng dụng, NXB Nông Nghiệp.

3.

AOAC, 1990. Official methods of analysis of the Association of Official Analytical Chemistry, 15th ed. The Association of
Official Analytical Chemistry Inc: Washington, DC.

4.

Begum, S., K. Ikejima, Ara, H., Islam, M. Z., 2006. Solar drying as an option for shrimp processing biowaste in Khulna
District - Southwest Bangladesh. Journal of Applied Sciences, 6, 1302-1306.

5.


Cho, Y. I., No, H. K. and Meyers, S. P. 1998. Physicochemical characteristics and functional properties of various commercial
chitin and chitosan products. J. Agric. Food Chem., 46, 3839-3843.

6.

El-Sebaii, A. A., Shalaby S. M., 2012. Solar drying of agricultural products: A review. Renewable and Sustainable Energy
Reviews, 16, 37- 43.

7.

Henry, E., Robert, H., 2000. Effects of ozone and oxygen on the degradation of carotenoids in an aqueous model system.
Journal of Agricultural and Food Chemistry, 48, pp. 5008-5013.

8.

No, H. K., Lee, K. S. and Meyers, S. P. 2000. Correlation between physical chemical characteristics and binding capacity of
chitosan products. Journal of Food Science, 65, 1134-1137.

9.

Phong, H. X. , N. V. Thanh, N. Hollywood, and H. T. Toan. 2010. Using solar energy for drying cocoa. Paper of The First
International Conference on Food Science & Technology - Mekong River Delta - Vietnam.

Tiếng Anh

10. Rankins, J., Sathe, S.K., Spicer, M.T., 2008. Solar drying of mangoes: preservation of an important source of vitamin A in
French-speaking West Africa. J Am Diet Assoc,108, 986-90.
11. Rao, M. S., K. A. Nyein, T. S. Trung, and W. F. Stevens. 2007. Optimum parameters for production of chitin and hitosan from
Squilla (S. empusa). Journal of Applied Polymer Science 103:3694-3700.
12. Youn, D. K., No, H. K., Prinyawiwatkul, W., 2007. Physical characteristics of decolorized chitosan as affected by sun drying

during chitosan preparation. Carbohydrate Polymers, 69, 707-712.

174 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG



×