Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Hiện trạng nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 8 trang )

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

THÔNG BÁO KHOA HỌC

HIỆN TRẠNG NI BÈ TẠI VÙNG BIỂN THƠN TÂN THÀNH,
XÃ NINH ÍCH, HUYỆN NINH HỊA, TỈNH KHÁNH HỊA
CURRENT SITUATION OF RAFT CULTURE AT THE SEA AREA OF TAN THANH
VILLAGE, NINH ICH COMMUNE, NINH HOA DISTRICT, KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại thơn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa từ
tháng 3/2010 đến tháng 8/2010 theo phương pháp đánh giá nơng thơn có sự tham gia (Participatory Rural
Appraisal-PRA). Kết quả nghiên cứu cho thấy bè nuôi gồm các lồng nổi có diện tích trung bình 12.5m2 với kích
thước mắt lưới giai đoạn ương giống 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuôi thương phẩm 2a = 2,0 - 4,0cm. Tổng số
lồng ni hiện có ở vùng biển là 403 lồng, trung bình số lồng ni/bè là 23 lồng. Tôm hùm (phổ biến là tôm
hùm bông) và cá giị là các đối tượng được ni chính với hình thức ni đơn. Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu
là cá tạp. Bệnh xuất hiện nhiều trên tôm hùm từ năm 2007 trở lại đây. Bệnh tôm sữa được xem là bệnh nguy
hiểm nhất xảy ra tại đây cho đến nay (tỷ lệ tử vong 80 - 90%). Sản lượng tơm hùm năm 2009 đạt khoảng 23.6kg
(năng suất bình quân trên lồng đạt 66.5kg). Lợi nhuận trung bình/lồng/vụ đạt 10.9 triệu VNĐ.
Từ khóa: tơm hùm, cá giị, cá tạp, bệnh tôm sữa, sản lượng tôm hùm.
ABSTRACT
The study is conducted at Tan Thanh village, Ninh Ich commune, Ninh Hoa district, Khanh Hoa
province from 3/2010 to 8/2010 appling method of Participatory Rural Appraisal (PRA). Result of the
study shows that farming raft consists of floating cases with average case area of 12.5m2 and mesh-size of
2a = 0,5 - 1,0 cm for nursing period and 2a= 2,0 - 4,0 cm for fattening period. Total case amount is 403 cages
at the sea area now with average of 23 cages per raft. Spiny lobster (mainly Ornate spiny lobster) and cobia
are main cultured species with type of monoculture. Trash fish is major feed for cage culture. Disease occurs
mainly on lobster from 2007 till now. Milky disease is considered to be the most serious until now (mortality


rate of 80-90%). Yield of lobster was approximately 23,6 kg in 2009 (average of productivity per cage was 66,5
kg). The average profit was 10.9 millions VNĐ/cage/crop.
Keywords: Spiny lobster, cobia, trashfish, milky disease, yield of lobster farming.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ

phù hợp nên nghề nuôi bè tại vùng biển thôn

Tân Thành là một thôn ven biển thuộc xã

Tân Thành ngày càng phát triển. Hoạt động ni

Ninh Ích, huyện Ninh Hịa nằm sát với cửa đầm

lồng đã bắt đầu phát triển tại vùng này từ năm

Nha Phu nên phần lớn sinh kế của người dân

1996 và đang gia tăng trong khoảng 5 năm trở

dựa vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Do

lại đây (trung bình 16.6%/năm). Tuy nhiên, hiện

có lợi thế của vùng cửa đầm như diện tích mặt

tại vẫn chưa có nghiên cứu nào được tiến hành

nước rộng, trao đổi nước đảm bảo và độ sâu

nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động này. Xuất


12 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
phát từ thực tế trên, nghiên cứu được thực hiện
nhằm đánh giá “Hiện trạng nuôi bè tại vùng biển
thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hịa,
tỉnh Khánh Hịa” với các mục tiêu sau:
Tìm hiểu thơng tin chung về người ni.
Thu thập thông tin về các biện pháp kỹ thuật
nuôi lồng.
Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt
động nuôi lồng.
Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển
nghề nuôi bè tại địa phương.

Số 3/2011
Cấp xã: làm việc với phó chủ tịch Ủy ban
Nhân dân và trưởng ban kinh tế xã Ninh Ích.
Cấp thơn: làm việc với trưởng thơn và chủ
tịch hội nơng dân thơn Tân Thành.
Việc tiếp cận tình hình hoạt động nuôi biển
tại thôn Tân Thành được tiến hành bằng cách
phỏng vấn trực tiếp người nuôi. Tỷ lệ số bè nuôi
được phỏng vấn trên 70%.
Số liệu nghiên cứu được phân tích theo
phương pháp thống kế sử dụng phần mềm
MS.Excel.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1. Thông tin chung về người ni
Trình độ học vấn của người ni được xem
là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản lượng
nuôi. Trình độ học vấn trực tiếp tác động đến khả
năng tiếp thu và ứng dụng các kỹ thuật ni. Do
đó, nó ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cũng
như hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi bè.
Kết quả phỏng vấn 15 hộ ni bè cho thấy tuổi
trung bình của các chủ hộ nuôi là 43 dao động từ
28 - 61. Ở lứa tuổi này người ni đã tích lũy

Hình 1. Sơ đồ vùng nghiên cứu
(Nguồn: />Accessed 15/10/2010)

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Tân
Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hịa từ tháng
03/2010 đến tháng 08/2010 theo phương pháp
đánh giá nơng thơn có sự tham gia (Participatory
Rural Appraisal-PRA).
Thông tin ban đầu về hoạt động nuôi bè
tại vùng biển thôn Tân Thành được thu thập ở
nhiều mức độ khác nhau:

được một số vốn nhất định để đầu tư và vẫn còn
đủ sức để thực hiện hoạt động sản xuất. Nghiên
cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của người
ni khơng cao. Số chủ hộ có trình độ văn hóa
cấp I là 6 người (chiếm 40%), trình độ văn hóa
cấp cấp II là 6 người (chiếm 40%) và trình độ

văn hóa cấp III là 3 người (chiếm 20%). Kết quả
này phản ánh đúng với thực tế trình độ học vấn
của người nuôi tôm hùm tại các tỉnh ven biển
miền Trung khi đa phần các người ni có trình
độ học vấn dưới cấp III (chiếm 98%) theo khảo
sát của Ly (2009).
Về trình độ chun mơn, đa số các chủ hộ
không được đào tạo kiến thức về nuôi trồng thủy

Cấp huyện: làm việc với các cán bộ phòng

sản (chiếm 97%), chỉ có 1 chủ hộ đã từng tham

Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thơn huyện

gia khóa sơ cấp 3 tháng về sản xuất tơm giống.

Ninh Hịa.

Do vậy, kỹ thuật ni áp dụng hiện tại chủ yếu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 13


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của
các người nuôi tại các vùng nuôi khác. Thời gian
tham gia nuôi bè trung bình của người ni là 5
năm dao động từ 1 - 15 năm. So với thời gian
trung bình tham gia nuôi bè tại các vùng nuôi
khác tại các tỉnh ven biển miền Trung (8.33 năm)

và tại Khánh Hòa (10 năm) thì kinh nghiệm trong
nghề ni bè của các hộ tại Tân Thành là thấp

Soá 3/2011
hơn đáng kể (Ly, 2009).
2. Các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng
2.1 Đối tượng ni
Đối tượng ni bè chủ yếu là cá giị (80%)
và tôm hùm bông (60%) bên cạnh các đối tượng
khác như: tôm hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm
đỏ, cá mú và cá chim vây vàng (Bảng 1).

Bảng 1. Các đối tượng nuôi bè tại vùng biển Tân Thành (n = 15)
STT

Đối tượng nuôi

Tỷ lệ hộ nuôi (%)

1

Tôm hùm bông (Panulirus ornatus)

60.0

2

Tôm hùm tre (Panulirus polyphagus)

33.3


3

Tôm hùm xanh (Panulirus homarus)

26.7

4

Tôm hùm đỏ (Panulirus longipes)

13.3

5

Cá giò (Rachycentron canadum)

80,0

6

Cá mú (Epinephelus spp)

46.7

7

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii )*

13.3


Ghi chú: : Nuôi thử nghiệm từ năm 2010
*

2.2. Địa điểm ni
Vị trí đặt bè ni có ý nghĩa lớn đến năng
suất và sản lượng ni. Các bè nuôi ở đây tập
trung tại một khu vực cách hòn Lăng, hòn Rớ
khoảng 50m. Bè được đặt ở vùng biển có độ sâu
lớn hơn 6m. Theo đánh giá của người ni, đây
là vùng biển có độ sâu và dịng chảy phù hợp
cho hoạt động ni bè. Được chắn bởi hòn Thị
nên ảnh hưởng đến vùng này vào mùa mưa bão
khơng q lớn (Hình 2).
2.3. Con giống
Nguồn giống tơm hùm và cá biển chủ yếu

Hình 2. Vị trí đặt bè nuôi

được lấy từ nguồn đánh bắt tại địa phương. Riêng giống cá biển có thể được lấy từ địa phương khác
như Lương Sơn, Ba Làng hay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Trong năm 2010, nguồn giống
tôm hùm khan hiếm và giá cao nên một số hộ chuyển sang ni cá giị. Theo đánh giá cảm quan của
người nuôi, chất lượng giống tôm hùm tương đối tốt (màu sắc tươi sáng, không bị xây xát, đầy đủ
các phần phụ) do giống được thu trực tiếp tại địa phương nên khơng trải qua q trình vận chuyển.
Ngược lại, chất lượng và số lượng giống cá biển (cá mú, cá giị) thường khơng ổn định do nguồn
cung cấp giống không đồng bộ (được mua rải rác từ nhiều nguồn khác nhau).

14 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG



Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

Việc chọn giống chủ yếu dựa theo kinh nghiệm không qua bất kỳ hình thức kiểm dịch nào nên
người ni khơng kiểm soát được nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ con giống vào đối tượng nuôi tạo
cơ hội cho dịch bệnh xảy ra.
Trên thực tế, các hộ có ni tơm hùm chọn nuôi từ giai đoạn giống (trọng lượng > 100g) đến
kích thước thương phẩm (> 700g), rất ít hộ ương tôm từ giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus) đến giai
đoạn giống. Đối với các hộ ni cá, kích thước thả giống từ 10 - 12cm.
2.4. Lồng nuôi
Lồng nuôi gồm các lồng nổi. Lưới lồng thường được chống đỡ bằng khung và phao. Khung
lồng được làm bằng gỗ chịu mặn. Số lồng ni tồn vùng là 403. Số lồng ni/bè từ 9 - 77 lồng
(trung bình 23 lồng/bè). Số hộ ni có từ 30 - 40 lồng chiếm đa số (66,4%) (Bảng 2). Diện tích lồng
dao động từ 9 - 16m2 (trung bình 12.5m2). Nhìn chung, quy mơ ni tại đây lớn hơn so với mặt bằng
chung ở những vùng nuôi khác tại các tỉnh ven biển miền Trung là 16 lồng/bè với diện tích trung bình
11.4m2 (Ly, 2009).
Bảng 2. Thông tin bè nuôi của các hộ phỏng vấn (n=15)
Số lồng/bè

Tổng số bè

Diện tích trung bình/lồng (m2)

Tỷ lệ (%)

< 10

1


14.0

6.7

15 - 20

4

10.8

20.0

30 - 40

9

11.2

66.4

> 40

1

14.0

6.7

Có thể phân chia hoạt động nuôi tại khu vực


2.6. Thức ăn

nghiên cứu thành 2 giai đoạn chính. Giai đoạn

Tương tự các vùng ni tơm hùm khác tại

“ương” từ con non đến giai đoạn giống với kích

Việt Nam, thức ăn sử dụng trong ni bè chủ

thước mắt lưới 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuôi
thương phẩm với kích thước 2a = 2,0 - 4,0 cm.
Trên thực tế, phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt là
năng lực quản lý, mỗi hộ thực hiện một tiến trình
ni khác nhau qua nhiều giai đoạn đòi hỏi sự
thay đổi mật độ thả ni, kích thước lưới và kích
thước mắt lưới.
2.5. Thời gian nuôi
Thông thường mùa vụ thả giống tôm bắt
đầu từ tháng 12. Thời gian ni tơm hùm (chỉ
tính cho tơm hùm bơng) đến kích cỡ thương
phẩm trung bình là 19 tháng kéo dài hơn so với
các vùng nuôi khác tại các tỉnh miền Trung là 16

yếu tại vùng biển Tân Thành là cá tạp, giáp xác
và nhuyễn thể (Tuấn, 2004; Tuan & Mao, 2004;
Nha, 2006; Hung và cộng sự, 2008, Ly, 2009).
Cá tạp bao gồm cá liệt (ponyfish), cá sơn (red
big-eye), cá mối (lizardfish), cá hố (hairtail) và
cá cơm (anchovy), kết hợp với các loài giáp

xác như cua (crabs), ghẹ (swimming crab), và
một lượng ít nhuyễn thể như sò (cockles), hàu
(oyster), vẹm xanh (green mussel). Từ năm
2010, một số hộ đã sử dụng thức ăn viên trong
nuôi cá giò giai đoạn giống tuy nhiên số lượng
này chiếm tỷ lệ không cao (6.7%). Thức ăn được

tháng (Ly, 2009). Đối với cá, thả giống rải rác

cho ăn nguyên con hay băm nhỏ tùy theo giai

quanh năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và

đoạn phát triển của đối tượng ni và kích cỡ

cá giị là 10 tháng.

thức ăn.
TRƯỜNG ĐẠI HOÏC NHA TRANG ❖ 15


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

Nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu dựa vào khai thác tại địa phương và các vùng biển lân cận.
Tuy nhiên với số lượng bè gia tăng hiện nay, một số hộ phải hợp đồng mua phế liệu từ các nhà máy
đông lạnh để đáp ứng nhu cầu. Theo đánh giá của người nuôi, chất lượng thức ăn tương đối tốt tuy
nhiên nguồn cung cấp thức ăn không ổn định dẫn đến việc giá tăng cao khi số lượng không đủ đáp
ứng, đặc biệt vào mùa mưa bão.

Tôm hùm và cá biển được cho ăn 2 lần/ngày (lần 1: 7 - 8h sáng, lần 2: 3 - 4h chiều). Lượng
thức ăn lần 1 chiếm 30% và lần 2 chiếm 70% tổng lượng thức ăn. Khi cho ăn thức ăn được rải đều
quanh lồng hay vào một vị trí nhất định.
Trong ni lồng biển sử dụng cá tạp với FCR cao (20 - 30) là nguyên nhân gây ra một số vấn
đề về chất lượng nước như tổng hàm lượng nitơ trong nước biển đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép
trong nuôi trồng thủy sản (0.5mg/L) tại một vài khu vực nuôi tơm hùm lồng thuộc vùng biển Xn Tự,
Khánh Hịa (Tuấn, 2004; Hung và cộng sự, 2008). Đồng thời sử dụng cá tạp cũng là nguyên nhân
tạo cơ hội tốt cho các tác nhân gây bệnh phát triển mà điển hình là dịch bệnh “tôm sữa” xảy ra cuối
năm 2006 đầu năm 2007 gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi tại các tỉnh ven biển miền Trung (Hung và
cộng sự, 2008). Các vấn đề này cho thấy việc sử dụng cá tạp là nguồn thức ăn chủ yếu sẽ gây ảnh
hưởng bất lợi đến môi trường nước tạo cơ hội xảy ra dịch bệnh. Điều này sẽ không đảm bảo nghề
ni bè phát triển lâu dài.

Hình 3. Khu vực bè ni

2.7. Tình hình dịch bệnh của các đối tượng

Hình 4. Chuẩn bị cá tạp làm thức ăn

tại đây (tỷ lệ gây chết 80 - 90%). Theo Hung và
cộng sự (2008) bệnh này được xem là loại bệnh

nuôi
Qua điều tra cho thấy bệnh chủ yếu xuất

nghiêm trọng nhất gặp phải đối với nghề ni

hiện trên tơm hùm, cá biển ít xuất hiện bệnh.

tôm hùm lồng và là nguyên nhân làm giảm đáng


Bệnh tôm hùm bắt đầu xảy ra nhiều từ năm

kể sản lượng tôm hùm từ 1.900 tấn năm 2006

2007 trở lại đây. Các bệnh thường gặp là bệnh

xuống còn 1.400 tấn năm 2007 tại các tỉnh ven

tôm sữa, bệnh đen mang, bệnh đỏ thân, bệnh

biển miền Trung. Mặc dù, đã có pháp đồ điều trị

mịn đi và bệnh long đầu (Bảng 3). Trong đó

từ năm 2007 nhưng thực tế tại vùng biển Tân

bệnh tôm sữa là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra

Thành các hộ nuôi không áp dụng phương pháp

16 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

này để phịng và trị bệnh tơm sữa mà ngun nhân do đa phần người nuôi chủ yếu dựa theo kinh
nghiệm để xử lý bệnh. Đối với các bệnh tôm hùm hầu hết người ni đều chưa có phương pháp

trị riêng cho từng loại bệnh. Khi tôm bị một trong các loại bệnh trên người nuôi thường sử dụng
thuốc đường ruột kết hợp thuốc bổ của người (Oxytetracylin, B-Enro, Cotrim, Tetracylin) cùng với
vitamin C để trị bệnh. Theo kết quả phỏng vấn, phương pháp trị bệnh này chỉ có hiệu quả phòng
bệnh cho những cá thể chưa bị bệnh (hiệu quả phòng bệnh 70 - 90%) còn các cá thể bị bệnh thì
khơng có hiệu quả (tỷ lệ chết 100%).
Bảng 3: Một số bệnh thường gặp trên tôm hùm nuôi tại vùng biển Tân Thành (n=15)
Giai đoạn tôm
bị bệnh

Dấu hiệu bệnh lý trên tôm nuôi

Mức độ ảnh hưởng

Tỷ lệ bè nuôi
nhiễm bệnh (%)

Tơm sữa

Tơm con, tơm
trưởng thành

Bụng tơm có màu trắng sữa,
tách bầy, tôm phản xạ chậm.

Gây chết rải rác
đến hàng loạt

100

Đen mang


Tơm con, tơm
trưởng thành

Mang tơm thối rữa và có màu
nâu ở vùng bị tổn thương.

Gây chết rải rác
đến hàng loạt

20.0

Đỏ thân

Tôm con, tôm
trưởng thành

Đỏ vùng giáp đầu ngực hay
vùng bụng sau đó màu đỏ lan
dần tồn thân tơm.

Gây chết rải rác
đến hàng loạt

40.0

Long đầu

Tôm con, tôm
trưởng thành


Phần giáp đầu ngực và phần
thân long ra, có chất dịch bên
trong khu vực này

Gây chết rải rác
đến hàng loạt

6.7

Mịn đi

Tơm con, tơm
trưởng thành

Đi tơm bị ăn mịn, bệnh
nặng đi có thể bị cụt

Gây chết rải rác

Loại bệnh

Ghi chú:

13.3

- Tơm con: kích thước từ 3 - 7cm (theo cách xác định của người nuôi).
- Tôm trưởng thành: khối lượng > 0,5kg (theo cách xác định của người nuôi).

Tương tự như ở các vùng nuôi khác, việc


họ không thống kê số liệu đối với cá biển do cá

gia tăng bệnh trên tôm hùm vùng biển Tân Thành

biển được thu hoạch theo từng đợt rải rác. Chỉ

có thể do sự gia tăng số lượng lồng ni, mật

tính riêng năm 2009, sản lượng tơm hùm của

độ lồng nuôi quá cao dẫn đến môi trường nước

các hộ nuôi đạt được khoảng 23.600kg (năng

kém chất lượng tạo cơ hội cho dịch bệnh xảy

suất bình quân 66.5 kg/lồng) với giá bán tại bè

ra (Hung và cộng sự, 2008). Điều này cho thấy,
do chưa có quy hoạch vùng ni cũng như hình
thức quản lý phù hợp nên người ni khơng thể
kiểm soát được dịch bệnh xảy ra.

780.000 VNĐ/kg. So với giá thành sản xuất là
630.000 VNĐ/kg thì đa số các hộ ni đều có
lãi với mức lợi nhuận đạt 10.9 triệu VNĐ/lồng
(Bảng 4). Như vậy, hoạt động nuôi bè đã đem

3. Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt


lại mức lợi nhuận không nhỏ cho các hộ nuôi.

động nuôi lồng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các hộ nuôi

Qua điều tra cho thấy, đa số người nuôi chỉ
thống kê kinh tế cho nuôi tôm hùm. Ngược lại,

đều có lãi và khơng có trường hợp nào bị thua
lỗ.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 17


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

Bảng 4. Một số chỉ tiêu kinh tế tính trên 12.5m2 lồng ni tơm hùm (n=15)
Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Giá trị

m2

12.50


Chi phí đầu tư trung bình/lồng

triệu VNĐ

6.00

Chi phí sản xuất trung bình/lồng/vụ

triệu VNĐ

44.40

Sản lượng trung bình/lồng/vụ

Kg

66.50

Giá thành sản xuất bình quân

triệu VNĐ

0.63

Giá bán bình quân tại bè

triệu VNĐ

0.78


Doanh thu trung bình lồng/vụ

triệu VNĐ

55.30

Lợi nhn trung bình lồng/vụ

triệu VNĐ

10.90

Diện tích trung bình lồng

4. Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển

tiết hơn về hiện trạng ni tại đây để duy trì hoạt

nghề nuôi bè tại vùng biển Tân Thành

động này phát triển lâu dài. Đồng thời, cần đánh

Do nguồn giống tôm hùm khan hiếm, giá

giá sức tải môi trường của vùng biển để xác định

cao cộng với tình hình dịch bệnh gia tăng như

khả năng phát triển nghề nuôi bè trong giới hạn


hiện nay nên một số hộ đang có xu hướng

cho phép.

chuyển sang ni cá giị với chi phí thấp, thời
gian nuôi ngắn (10 tháng), tốc độ sinh trưởng
nhanh cũng như khả năng chống chịu với điều
kiện môi trường tốt hơn so với tôm hùm.
So với các hoạt động thủy sản khác như
nuôi tôm sú bán thâm canh hay khai thác thủy
sản thì nghề ni bè (tơm hùm, cá giị) có lợi

IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Các kết quả nghiên cứu ban đầu cho phép
đưa đến một số kết luận và đề xuất về hiện trạng
nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành, xã Ninh
Ích, huyện Ninh Hịa như sau:
1. Kết luận

thế hơn về sức hấp dẫn tài chính và kinh tế - xã

- Trình độ học vấn của người ni không

hội (Hambrey và cộng sự, 2001). Thực tế cho

cao và hầu như khơng có trình độ chun mơn.

thấy, lợi nhuận đem lại từ nghề nuôi bè tại đây là

Kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu từ việc


không nhỏ nên hoạt động này tại vùng biển Tân

học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của các vùng

Thành đã và đang gia tăng nhanh chóng, trung

ni khác.

bình 16.6%/năm trong 5 năm trở lại đây. Kết quả

- Cá giị và tơm hùm bông là hai đối tượng

nghiên cứu cho thấy, sự gia tăng này mang tính

được ni nhiều nhất (với tỷ lệ tương ứng 80%

tự phát không theo quy hoạch. Bên cạnh đó, cơ

và 60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tơm

chế quản lý khơng rõ ràng và khơng có cơ quan

hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ, cá mú và

chịu trách nhiệm quản lý cụ thể hoạt động này.

cá chim vây vàng. Hình thức ni chủ yếu tại

Vì vậy, điều cần thiết hiện nay là cần có các biện


đây là nuôi đơn từng đối tượng.

pháp quản lý hoạt động ni bè thích hợp.
Như đã đề cập ở trên, với hiện trạng phát
triển nghề nuôi bè hiện nay tại vùng biển thơn
Tân Thành, cần thiết phải có các đánh giá chi

18 ❖ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- Lồng ni bao gồm các lồng nổi có kích cỡ
trung bình 12.5m2. Số lồng ni tồn vùng là 403
với số lồng ni/bè trung bình là 23.
- Nguồn giống tơm hùm được lấy tại địa


Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2011

phương, giống cá biển được cung cấp từ các

được trong năm 2009 khoảng 23.600kg (năng

địa phương khác. Kích cỡ thả giống tơm hùm

suất trung bình 66.5 kg/lồng). Đa số các hộ ni

từ 100g trở lên, kích thước thả giống cá biển từ


đều có lãi với mức lợi nhuận bình qn đạt 10.9

10 - 12cm. Người nuôi chỉ đánh giá chất lượng

triệu VNĐ/lồng.

con giống theo kinh nghiệm của bản thân và

2. Khuyến nghị

khơng thực hiện bất kỳ hình thức kiểm dịch nào.
- Mùa vụ thả giống tôm hùm bắt đầu từ
tháng 12 với thời gian nuôi kéo dài 19 tháng. Đối
với cá biển, giống được thả nuôi rải rác quanh
năm với thời gian ni cá mú 12 tháng và cá giị
là 10 tháng.
- Thức ăn được sử dụng chủ yếu là cá tạp,
được cho ăn 2 lần/ngày. Khi cho ăn thức ăn được
rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định.
- Bệnh xuất hiện chủ yếu trên tôm hùm từ
năm 2007, cá biển ít xuất hiện bệnh. Người ni
chủ yếu trị bệnh dựa trên kinh nghiệm của bản
thân.
- Sản lượng tơm hùm của các hộ ni đạt

- Cần có các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi
lồng cho người nuôi đặc biệt là kỹ thuật phịng trị
bệnh trên tơm hùm.
- Cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về
đánh giá tác động của hoạt động ni lồng đến

khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường nhằm
đảm bảo việc phát triển lâu dài hoạt động nuôi
lồng tại đây.
- Cần thiết đánh giá sức tải môi trường của
vùng biển nhằm xác định giới hạn cho phép việc
phát triển nuôi bè.
- Để bảo đảm nghề nuôi bè phát triển lâu dài
cần quy hoạch vùng ni đồng thời cần có hình
thức quản lý thích hợp đối với hoạt động này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Anh Tuấn, 2004. Các nguồn dinh dưỡng và vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm
lồng ở Xuân Tự, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Tuyển tập Hội thảo toàn quốc về nghiên cứu ứng dụng khoa học
công nghệ trong nuôi trồng thủy sản 22 - 23/12/2004 tại Vũng Tàu, tr 643-653.
2. Võ Văn Nha, 2006. Kỹ thuật ni tơm hùm lồng và các biện pháp phịng trị bệnh. NXB Nông Nghiệp,
Hà Nội.
3. Hambrey, J.B., Le, A.T., and Ta, K.T., 2001. Aquaculture and poverty alleviation II. Cage culture in coastal
waters of Vietnam. [Accessed 20/10/2010].
4. Hung, L.V. and Tuan, L.A., 2008. Lobster seacage culture in Vietnam. In “Spiny lobster aquaculture
in the Asia-Pacific region: Proceedings of an international symposium held at Nha Trang, Vietnam,
9 - 10 December 2008”, ed. by K.C. Williams. ACIAR Proceedings No. 132. Australian Centre for
International Agricultural Research: Canberra. 162 pp.
5. Ly, N.T.Y., 2009. Economic analysis of the environmental impact on marine cage lobster aquaculture
in Vietnam. Master Thesis in Fisheries and Aquaculture Management and Economics. The Norwegian
College of Fishery Science University of Tromso, Norway & Nha Trang University, Vietnam.
6. Tuan, L.A. and Mao, N.D., 2004. Present status of lobster cage culture in Vietnam. Proceeding of the
ACIAR lobster ecology workshop, p24-30. Institute of Oceanography, Nha Trang, Vietnam.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ❖ 19




×