KINH TẾ CHÍNH TRỊ
soiNGAN-
Mk.
Câu 1: Hai thuộc tính của hàng hóa là gì? Mối quan hệ?
Hàng hóa là sp của lao động nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định
nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán.
Hai thuộc tính của hàng hóa:
Giá trị sử dụng
Giá trị hàng hóa
Khái
niệm
Đặc
trưng
Giá trị sử dụng
Là công dụng cua hàng
hóa, có thể thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con
người, trực tiếp hay gián
tiếp.
Hh có thể có một hay
nhiều giá trị sử dụng hay
công dụng khác nhau.
Là một phạm trù vĩnh
viễn
Giá trị hh chỉ thể hiện
khi con người sử dụng
hay tiêu dùng.
Hh ngày càng phong
phú, đa dạng thì giá trị
sử dụng ngày càng cao.
Giá trị hàng hóa
Là lao động xẫ hội của người sản
xuất kết tinh trong hàng hóa.
Giá trị là thuộc tính xã hội của
hàng hóa.
Là phạm trù lịch sử.
Giá trị hh biểu hiện quan hệ sản
xuất xã hội, tức là quan hệ kinh
tế giữa những người sản xuất
Giá trị trao đổi chỉ là hình thức
biểu hiện của giá trị.
Mối quan hệ:
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá
trị.
Hai thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập. Sự
đối lập thể hiện ở chỗ: người sx chỉ quan tâm tới giá trị còn người mua lại chỉ
chú ý tới giá trị sử dụng hh, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì người mua phải
trả giá giá trị cho người bán. Vậy giá trị được thực hiện trước, sau đó mới tới
giá trị sử dụng.
Câu 2: Hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa?
Hàng hóa có 2 thuộc tính, hai thuộc tính này do tính chất 2 mặt của lao
động sx hàng hóa quyết định. Đó là:
Lao động cụ thể:
Là lao động có ích dưới mọi hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng, phương
tiện, phương pháp, kết quả riêng.
Đặc trưng:
Thứ nhất, mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định.
Thứ hai, cùng với sự phát triển của KH – KT, các hình thức lao động cụ thể
ngày càng đa dạng, phong phú.
Thứ ba, lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn ( giá trị sử dụng là phạm trù
vĩnh viễn).
Thứ tư, lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của các
vật chất, làm cho nó thích hợp với nhu cầu sử dụng của con người.
Lao động trừu tượng.
Lao động của người sản xuất hh, nếu coi đó là sự hao phi óc, sức thần kinh va
sức cơ bắp nói chung của con người, chứ ko kể đến hinh thức cụ thể của nó
như thế nào thì gọi là la động trừu tượng.
Đặc trưng:
Thứ nhất: lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa.
Thứ hai: là một phạm trù lịch sử ( vì giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử),
chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
Câu 3: Điều kiện xuất hiện và tồn tại của sxhh?
Đặc trưng và ưu thế của sx hàng hóa so với sx tự cung tự cấp?
1. Sản xuất hàng hóa là sản xuất để bán, trao đổi. Sản xuất hàng
hóa là một phạm trù lịch sử. Nó chỉ xuất hiện và tồn tại với điều kiện
sau đây:
- Điều kiện thứ nhất là sự phân công lao động xã hội. Nhưng, chỉ có phân công
lao động xã hội thì chưa đủ mà phải có điều kiện thứ hai.
- Điều kiện thứ hai là sự tồn tại chế độ tư hữu, hoặc những hình thức sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất. Chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất làm
họ độc lập với nhau còn phân công lao đông xã hội thì lại làm họ phụ thuộc
vào nhau => mâu thuẫn :giải quyết thông qua trao đổi mua bán . là điều kiện
đu.
Tóm lại: cùng với sự phân công lao động xã hội, thì chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất là yếu tố cơ bản làm cho nền sản xuất hàng hóa ra đời.
2. Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Đặc trưng thứ nhất: thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ. nhằm thỏa mãn
nhu cầu người tiêu dùng, và mục đích chạy theo lợi nhuận, vì mà thúc đẩy sản
xuất phát triển mạnh mẽ.
- Đặc trưng thứ hai: làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng
.Vì mục đích lợi nhuận đã thôi thúc người sản xuất hàng hóa phải không
ngừng cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để nâng cao năng suất lao
động=>LLSX ko ngừng phát triển.
- Đặc trưng thứ ba: mối liên hệ phụ thuộc giữa các ngành, các vùng ngày
càng chặt chẽ, xóa bỏ tình trạng bảo thủ, trì trệ, thúc đẩy xã hội hóa sản
xuất.
- Đặc trưng thứ tư: mở rộng, giao lưu kinh tế trong và ngoài nước. làm cho
mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ được mở rộng, giao lưu kinh tế trong và ngoài
nước, tạo điều kiện cho mỗi nước phát huy được lợi thế của mình, đem lại lợi
ích chung cho các nước.
- Ngoài những ưu thế nêu trên, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái
như: khủng hoảng kinh tế, phân hóa giàu nghèo, phá hủy môi trường, làm nảy
sinh những hiên tượng tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh...Nhận thức đúng
những ưu thế và mặt trái của sản xuất hàng hóa, để hạn chế những tiêu cực
và phát huy những ưu thế của nó.
Câu 4: 4 hình thái của tiền tệ ?
Sự phát triển các hình thái giá trị tiền stệ:
1. Hình thái giá trị giả đơn hay ngẫu nhiên:
Ví dụ 1 m vải = 10kg thóc.
Trong thời kỳ đầu trao đổi hang hóa bất kỳ, tỷ lệ trao đổi bất kỳ, miễn là 2 chủ
thể của hàng hóa đồng ý.
Giá trị của hàng hóa ở phía trái chỉ được biếu hiện và phải nhờ hàng hóa đứng
cạnh nó nói hộ, nên được gọi là hình thái tương đối. Vế phải là hình thái vật
ngang giá, vì giá trị sử dụng của nó dùng để biểu hiện giá trị của hh khác
( thóc). Hình thái vật ngang giá là mầm mống phôi thai của tiền tệ.
Nhược điểm: trao đổi vật lấy vật, tỉ lệ ngẫu nhiên, vật ngang giá chưa cố định,
giá trị của hàng hóa chỉ được biểu hiện ở một hàng hóa => khi trao đổi hàng
hóa phát triển cao hơn thì giá trị của một hàng hóa cần được biểu hiện ở
nhiều hàng hóa khác nhau => tự chuyển sang hình thái giá trị đầy đủ hay mở
rộng.
2. Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
Khi LLSX phát triển cao hơn, sau phân công lao động lần thứ nhất, chăn nuôi
tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một loại hh có thể
quan hệ với nhiều hàng hóa khác nên xh hình thái đầy đủ hay mở rộng.
Ví dụ
2 con gà hoặc
1 m vải = 10kg thóc hoặc
0,1 chỉ vàng hoặc …
Nhược điểm: trao đổi vật lấy vật, vật ngang giá chưa cố định …\
3. Hình thái chung của giá trị:
Với sự phát triển cao hơn của LLSX và phâ công lao động xã hội, hàng hóa
được sx ngày càng nhiều và phong phú, đa dạng và nhiều hơn. Nên nhu cầu
trao đổi trở nên phức tạp hơn ( vd: người có vải muốn đổi lấy thóc, nhưng
người có thóc lại muốn thứ không phải là vải của người kia…) vì vậy việc trao
đổi trực tiếp không còn thuận lợi => đi theo con đường vòng, mang hh của
mình đổi lấy thứ hh mà nhiều người ưa chuộng rồi đem thứ đó đổi lấy thứ
hàng hóa mà mình cần. Khi vật trung gian trao đổi được cố định thì hình thái
chung của giá trị xuất hiện. Đến đây mọi hàng hóa đều được biểu hiện giá trị
trên một thứ hàng hóa, đóng vai trò là vật ngang giá.
Ví dụ
2 con gà
Hoặc 10kg thóc
= 1 m vải
Hoặc 0,1 chỉ vàng
vv…
Nhược điểm: vật ngang giá chung chưa thống nhất, khác nhau ở mỗi địa
phương => gặp phải vấn đề khi hàng hóa được mang từ nơi này tới nơi khác
4. Hình thái tiền:
Khi LLSX và phân công lao động xã hội phát triển cao hơn nữa hàng hóa
không dừng lại ở một vùng một địa phương mà ó vượt ra ngoài biên giới quốc
gia. Tình trạng nhiều vật ngang giá chung sẽ gây khó khăn cho việc trao đổi
hàng hóa => đòi hỏi khách quan phải hình thàng nên một vật ngạng giá
chung. Khi vật ngang giá chung được cố định ở một vật và phổ biến thì hình
thành nên hình thái tiền tệ của giá trị.
Ví dụ
2 con gà
Hoặc 10kg thóc
= 0,1 chỉ vàng
Hoặc 0,1 chỉ vàng
vv…
Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của quá trình phát triển và trao
đổi hàng hóa. Đến đây giá trị của các hàng hóa đã có một phương tiện biểu
hiện thống nhất.
Câu 5: bản chất của tiền tệ?
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ thế giới hàng hóa làm
vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện
quan hệ xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng
hóa.
Tiền tệ là một loại hàng hóa đăc biệt vì:
Tiền tệ cũng có 2 thuộc tính ( giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của
tiền cũng do thời gian lao động xã hội xã hội cần thiết sản xuất ra bạc
hoặc vàng quyết định. Giá trị sử dụng của tiền tệ làm môi giới trong mua bán
và làm chức năng tư bản.
Là hàng hóa tiền tệ cũng có người mua người bán, cũng có giá cả ( lợi
tức). Giá cả của tiền tệ cũng lên xuống.
Đóng vai trò làm vật ngang giá chung.
Câu 6: Các chức năng của tiền tệ ? 5
Theo C.Mac tiền tệ có năm chức năng sau:
1. Thước đo giá trị.
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đo
lường giá trị của các hàng hóa khác bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị,
muốn vậy tiền phải là tiền vàng
Giá cả hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả. Giá cả hàng hóa chịu
ảnh hưởng của các yếu tố: giá trị hàng hóa, giá trị của tiền, quan hệ cung cầu
về hàng hóa
2. Phương tiện lưu thông
Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa, để t/h chức năng lưu
thông càn phải có tiền mặt. Và khi đó tiền giấy ra đời. Trao đổi hàng hóa lấy
tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa
Công thức lưu thông hàng hóa:
H–T–H
Khi tiền làm môi giới trong trao đổi đã làm cho hành vi mua và hành vi bán có
thể tách rời nhau về cả không gian và thời gian.
Công thức tính số tiền cần cho lưu thông la:
T = (Gh . H)/N = G/N
Trong đó:
T – số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông
H – số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
Gh - giá cả trung bình của một hàng hóa
G – tổng số giá cả của hàng hóa
N – số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại
3. Phương tiện cất trư
Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.
Làm được chức năng này vì tiền là biểu hiện cho của cải xã hội, cất trữ tiền là
cất trữ của cải.
Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiên fphair đủ giá trị tức là tiền vàng,
bạc.
4. Phương tiện thanh toán
Là phương tiện thanh toán tiền dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu
hàng.
Là phương tiện thanh toán tiền có thể là tiền mặt, séc, thẻ tín dụng…
Công thức số lượng tiền cần thiết trong lưu thông:
T = (G – Gc – Tk + Ttt) / N
Trong đó:
T – số lượng tiền cần cho lưu thông
G – tổng số giá cả của hàng hóa
Gc – tổng số giá cả của hàng bán chịu
Tk – tổng số tiền khấu trừ cho nhau
Ttt – tổng số tiền thanh toán đến kỳ hạn trả
N – số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại
5. Tiền tệ hế giới
Khi quan hê buôn bán giữa các quốc gia khác nhau xuất hiện, thì tiền tệ cũng
làm chức năng tiền tệ thế giới. Làm chứ năng này tiền phải là tiền vàng hoặc
thẻ tín dụng được thừa nhận thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền tệ giữa câc
quốc gia được t/h theo tỷ gía hối đoái.
Câu 7: Nội dung, tác động và vận dụng của quy luật giá trị?
1. Nội dung yêu cầu của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh té căn bản của sx và lưu thông hàng hóa, ở
đâu có sx và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của
quy luật giá trị.
Yêu cầu của quy luật giá trị:2
Thứ nhất: theo quy luật này, sx hh được thực hiện theo hao phí lao động xã
hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm thời gian lao động.
Thứ hai: trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá.
Sự tác động hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị đk thể hiện thông
qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là
sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị.
Ngoài ra trên thị trường giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như cạnh
tranh,
2. Tác động của quy luật giá trị:3
Thứ nhất: điều tiết sx và lưu thông hàng hóa
Điều tiết sx tức là phân phối, điều hòa, phân bổ các yếu tố sx giữa các ngành,
các lĩnh vực của nền kinh tế. Sự điều tiết này thông qua sự biến động của giá
cả hh. Nếu cung < cầu: giá cả < giá trị, nghĩa là hàng hóa sx có lãi => kích
thích mở rộng và đẩy mạnh sx để tăng cung, giảm cầu. TH cung > cầu thì
ngược lại, nếu cung cầu tạm thời cân bằng, ta thường gọi là nền kinh tế bão
hòa tuy nhiên nền kinh tế luôn luông vận động.
Như vậy nó có tác dụng di chuyển SLĐ và TLSX giữa các ngàn khác nhau
Điêu tiết lưu thông: thông qua diễn biến của giá cả trên thị trường ( thu hút
luồng hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cả cao, do đó lam cho hàng hóa lưu
thông thông suốt).
Như vậy sự biến động của giá cả ko những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà
còn có tác động điều tiêt nền kinh tế hàng hóa.
Thứ hai: kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sx, tăng năng suất lao động,
thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
Trong nền sx hh mỗi người sx là một chủ thể độc lập. Do điều kiện sx khác
nhau nên hao phí lao động cá biệt xã hội (A) khác nhau. Nếu chủ thể nào có A
< B, B là thời gian lao động xã hội cầ thiết, sẽ thu lãi cao, và ngược lại… vậy
để giành lợi thế trong cạnh tranh, tránh phá sản, … họ phải tìm cách giảm A
=> cải riến kỹ thuật, cải tiến t/c quản lý, nâng cao NSLĐ => kết quả LLSX xã
hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
Thứ ba: thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sx thành giàu –
nghèo
Quá trình cạnh tranh tất yếu sẽ có người yếu thế, họ bị phá sản, làm ăn thua
lỗ trở thành người nghèo và ngược lại
3.Vân dụng quy luật giá trị
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn hết sức to lớn:
Một mặt, quy luật giá trị chi phối sự lựa chon tự nhiên, đào thải các
yếu tố kém, kích thích các nhân tố tích cựa phát triển.
Mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất
bình đẳng trong xã hội.
Biết được tác động của quy luật giá ta vận dụng vào Việt Nam:
? Vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế tị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Lý luận chung:
Quy luật giá trị quả là cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó đòi hỏi việc SX và
trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
Năm 1986 là năm đánh dấu công cuộc đổi mới khi chúng ta từng bước tiến
hành chuyển dần từ nền kinh tế tập trung ,quan liêu ,bao cấp sang thực hiện
cơ chế thị trường Đối với nền kinh tế thị trường thì quy luật giá trị là
một quy luật rất quan trọng . Theo yêu cầu của quy luật, những
người SX và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả
thị trường. Sự vận động của giá cả thị trường chính là hình thức biểu
hiện của quy luật gtrị. Giá cả lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa
là cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế này phát sinh tác dụng
trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung-cầu, sức mua của đồng
tiền.
Như vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển nền kinh tế quốc gia
là điều tơí cần thiết đặc biệt nước ta là một nước đang phát triển , từng bước
hộI nhập nền kinh tế quốc tế cần phải vận dụng đúng quy luật giá trị trong
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Các sự kiện quan trọng: 5
1)Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986): đề ra
đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng
chủ nghĩa xã hội;
Đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá
độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa
và thị trường;
Phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển
hẳn sang hạch toán kinh doanh.
Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình
thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã
hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về
chính sách xã hội.
Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức
của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử
nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức
của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm
2).Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI: phát triển thêm
một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế
hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chu nghĩa xã hội.
3).Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục
nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến
lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam thông qua Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chu nghĩa xã hội.
4).Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết ḷn mới rất
quan trọng: “Sản x́t hàng hóa khơng đối lập với chu nghĩa xã hội mà là
thành tựu phát triển cua nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết
cho công cuộc xây dựng chu nghĩa xã hội và cả khi chu nghĩa xã hội đã được
xây dựng”. Nhưng lúc đó chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”.
5).Đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái
niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng
định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối
chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu,
tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của
Đảng Cộng sản Việt Nam =>thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
LLSX trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Kết quả:3 Hơn 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều
kết quả và thành tựu đáng mừng, làm thay đổi khá rõ tình hình đất
nước:
1).Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và
có hiệu quả.
2).Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú.
3).Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ
vững được ổn định chính trị trước những chấn động lớn trên thế giới mà còn
có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân
7% /năm. Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là về sản xuất lương thực,
nuôi trồng và khai thác thủy sản. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng
13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Các ngành dịch vụ,
xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế
quốc tế không ngừng được mở rộng,… Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mới
đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết
Phương hướng, nhiệm vụ cơ bản phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau: 5
1 – Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển
kinh tế nhiều thành phần. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối
với bất cứ thành phần kinh tế nào.
Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân, Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu
ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất,
chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.
Nâng cao hiệu quả hoạt động cua các doanh nghiệp nhà nước theo
hướng xóa bao cấp; doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên
thị trường: Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các
doanh nghiệp nhà nước; đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách
để tạo động lực phát triển dân chủ trong.
Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã
là nịng cớt, giữ vai trò liên kết rộng rãi các thành phần lao động có sự
giúp đỡ cuẩ nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ, đào tạo, đầu tư
KH – KT,…
Kinh tế cá thể, tiểu chu cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng
lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, bao gồm cả các
hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp
hoặc phát triển lớn hơn.
Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi . Vf nhà
nước phải tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp
Tạo điều kiện để kinh tế có vớn đầu tư nước ngồi phát triển tḥn lợi.
Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới dạng các hình thức liên
doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong
nước và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh
tế.
2 – Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới và nâng
cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước.
Nhìn chung, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mới
được bắt đầu, trình độ còn thấp, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh
chưa cao => phải đổi mới mạnh mẽ tư duy hơn nữa, đẩy mạnh việc hình
thành các loại thị trường,
Quan tâm các thị trường quan trọngmà còn mới như: thị trường lao
động ( thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường KH –
CN) .Chủ động hội nhập thị trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc
quyền kinh doanh.
Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những
yếu tố tích cực của cơ chế thị trường. Nhà nước tạo môi trường pháp lý
thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác, nhà
nước định hướng phát triển kinh tế – xã hội, khai thác hợp lý các nguồn
lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu
nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của
pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại.
Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế,
3 – Giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Thực hiện công bằng xã hội
Trong tình hình cụ thể hiện nay, bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc
làm mới và cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao
động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những
người có công với nước, thương binh, bệnh binh, cha mẹ, vợ con liệt sĩ,
gia đình chính sách
Đồng thời đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tham
nhũng, gian lận thương mại .
4 – Giư vưng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là vấn
đề có tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định hướng
XHCN.
Càng đi vào kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng
hợp tác quốc tế càng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản.
? Đặt ra câu hỏi: Hiện nay, có ý kiến cho rằng, đã chuyển sang kinh
tế thị trường – tức là nền kinh tế vận động theo quy luật giá trị, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… thì không cần phải có sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng nhiều khi cản trở, làm
“vướng chân” sự vận hành của kinh tế (?).
Ý kiến này không đúng và thậm chí rất sai lầm. Bởi vì
Như trên đã nói, Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị trường
nhưng khơng phải để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà
phải có lãnh đạo, hướng dẫn, điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực => Đảng đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động.
Đảng =>bảo đảm tính chính trị, tính định hướng XHCN đúng đắn trong
sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng
trưởng và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng
lớn mạnh, hạn chế được bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích của
đại đa số nhân dân lao động
Đương nhiên, để có đủ trình độ, năng lực lãnh đạo, Đảng phải thực sự trong
sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó chặt chẽ với
nhân dân, được nhân dân tin cậy và ủng hộ. Đặc biệt, trong tình hình hiện
nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng,
kiên định mục tiêu lý tưởng, có trí tuệ, có kiến thức, giữ gìn đạo đức cách
mạng và lối sống lành mạnh, đấu tranh khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng
và các hiện tượng thoái hóa, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy của Nhà
Nước
Câu 8: Công thức chung của tư bản? Mâu thuẫn trong câu thức
chung của TB?
Công thức chung của tư bản:
Tiền ko phải là tư bản, tiền chỉ bến thành tư bản khi sử dụng để bóc
lột lao động của người khác.
Có 2 loại là tiền thông thường và tiền là tư bản: tiền được coi là thông
thường khi vận động theo công thức H – T – H, còn tiền là tư bản khi vận động
theo công thức T – H – T
So sánh giữa 2 công thức:
H–T–H
T–H–T
Điểm mở
đầu, điểm
kết thúc
Trật tự hành
vi
Mục đích vận
động
Hàng hóa, và tiền chỉ
giữ vai trò trung gian
Tiền , và hàng hóa chỉ giữ vao
trò trung gian
Bán => mua
Mua => bán
Là giá trị sử dụng,
nên các hàng hóa
trao đổi phải có giá
trị sử dụng khác
nhau
Là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng
thêm. Vì vậy nếu tiền thu = tiền
ứng ra thì quá trình lưu thông vô
nghĩa. Nên công thức vận động
đầy đủ phải là T – H – T’, T’ = T
+ ∆T. ∆T được gọi là giá trị thặng
dư. Như vậy số tiền ứng ra ban
đầu đã chuyển hóa thành tư bản
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
Công thức (2) được gọi là công thức chung của tư bản, vì sự vận động của mọi
tư bản đều theo công thức đó, dù là tư bản thương nghiệp, tb công nghiệp
hay tư bản cho vay.
Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Trong công thức (2) thì giá trị thặng dư ∆T sinh ra do đâu?
Ta đi xét 2 trường hợp trong lưu thông :
Trao đổi ngang giá: chỉ là sự thay đổi các hình thái giá trị. Về mặt giá trị không
có gì thay đổi tuy nhiên về mặt giá trị sử dụng thì 2 bên đều có lợi vì đk hh
mình cần.
Trao đổi không ngang giá: xảy ra 3 trường hợp
Trường hợp thứ nhất: giả định mọi người đều bán hh cao hơn giá trị. Do đó
người mua phải mua cao hơn giá trị, thế nhưng trong nền kinh tế hàng hóa thì
ai cũng là người mua và đồng thời là cả người bán.
Trường hợp thứ hai: mọi người đều mua hang thấp hơn giá trị, để khi bán hh
theo giá trị đều thu được lãi. Nhưng cái mà anh ta mua rẻ sẽ bị mất đi khi anh
ta là người bán ( cũng phải bán rẻ hơn).
Trường hợp thứ ba: giả định có kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, mua đk rẻ, bán đắt.
Nếu xét riêng bản thân thì họ được lợi. Nhưng còn xét chung xã hội thì ∆T mà
họ thu được lại là ∆T mà người khác mất đi. Giai cấp tư sản không thể làm
giàu trên lưng bản thân mình.
Vậy lưu thông không đẻ ra giá trị thăng dư
Ta xét ngoài lưu thông:
Trường hợp thứ nhất: nếu anh ta vẫn đứng một mình với hàng hóa của anh ta
thì giá trị của hh không hề thay đổi.
Trường hợp thứ hai: nếu người sx muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hàng
hóa, thì phải bằng sức lao động.
Đến đây C.Mac khẳng định “vậy tư bản không thể xuất hiên từ lưu thông và
cũng không thể xuất hiện ơ bên ngồi lưu thơng. Nó phải x́t hiện trong lưu
thơng và đồng thời không phải trong lưu thông.
Câu 9: Khái niệm, Tỷ suất, khối lượng giá trị thăng dư?
Khái niệm: giá trị thặng dư là bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá
trị SLĐ do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Tỷ suất giá trị thặng dư
Là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư (m) và tư bản khả biến cần
để sx ra giá trị thặng dư đó (v).
Công thức:
m’ = m/v . 100%
Ý nghĩa:
Thứ nhất: chỉ ra trong tổng số giá trị mới do SLĐ tạo ra thì công nhân được
hưởng bao nhiêu và nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu.
Thứ hai: cho biết phần thời gian mà người lao động làm cho nhà tư bản chiếm
bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu, do đó ta có công thức
khác:
m’ = t’/t . 100%
trong đó t’ là thời gian lao động thặng dư
t là thời gian lao động tất yếu.
Thứ ba: tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với
công nhân làm thuê.
Khối lượng giá trị thặng dư.’
Là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến được sử dụng
V.
Công thức:
M = m’ . V
Ý nghĩa: phán ánh quy mô bóc lột của CNTB. Vì CNTB càng phát triển thì khối
lượng giá trị thặng dư càng tăng vì thình độ bóc lột cầng tăng (m’).
Câu 10: Phân tích hai phương pháp sản xuất ra giá trị thặng
dư?
Đó là:
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đố.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
Sản xuất GTTT tuyệt đối
Khái
niệ
m
+ GTTT tuyệt đối là giá trị thặng dư tạo
ra do kéo dài thời gian lao động vượt
quá thời gian lao động tất yếu, trong khi
NSLĐ xã hội, giá trị SLĐ và thời gian lao
động tất yếu không thay đổi.
Phâ
n
tích
+ Trong giai đoạn phát triển đầu tiên
của sản xuất TBCN thì pp chủ yếu để
tăng GTTT là kéo dài ngày lao động của
công nhân.
+ Nhà tư bản muốn kéo dai ngày lao
động tới cực độ, nếu có thể thì trong cả
24h, họ bỏ tiền ra mua TLSX thì họ
muốn sử dụng nó cả ngày để pục vụ cho
nhu cầu của mình. Nhưng người công
nhân ko thể lao động cả ngày, họ cần có
time để nghỉ ngơi, ăn uống, phục vụ cho
hoạt động khác, … dể phục hồi sức
khỏe. Do vậy việc kéo dài time lao động
vấp phải sự phản kháng của công nhân.
+ Giai cấp tư sản thì muốn kéo dài còn
công nhân thì muốn rút ngắn, đọ dài
ngày lao động co dãn va độ dài đó đk xđ
băng việc so sánh lực lượng trong cuộc
đấu tranh giữa 2 giai cấp. Điểm dừng
chings là điểm mà ở đó lợi ích của nhà
tư bản và lợi ích của công nhân đk thực
hiện theo thỏa hiệp tạm thời họ có thể
chấp nhận được.
+ Cường độ lao động. Khi thời gian ngày
lao động đã xác định thì nhà tư bản lại
tìm cách tăng CĐLĐ => chi phí nhiều
SLĐ trong 1 khoảng thời gian nhất đinh
nên về bản chất nó là kéo dài thời gian
lao đợng.
K dài thời gian lao đơng và tăng
cường độ lao động là 2 biện pháp để sxx
GTTT.
Sản xuất GTTT tương
đối
+ GTTT tương đối là giá
trị thặng dư tạo ra do
rút ngắn thời gian lao
động tất yếu bằng cách
nâng cao NSLĐ xã hội
=> tăng thời gian lao
động thặng dư ngay
trong điều kiện độ dài
ngày lao dộng vẫn như
cũ.
+ Việc kéo dài thời
gian lao động bị giới
hạn bởi thể chất, tinh
thần lao động và cuộc
đấu tranh của công
nhân. Mặt khác, khi
sxtbcn phát triển đến
thời kỳ đại công
nghiệp, kỹ thuật tiên
tiến => NSLĐ tăng
lên=> các nhà tư bản
chuyển sang phương
thức bóc lột dựa trên
cơ sở tăng NSLĐ, bóc
lột giá trị thặng dư
tương đới.
+ Làm thế nào có thể
rút ngắn được thời gian
lao động tất yếu?
Muốn rút ngắn thời
gian lao đông tất yếu
phải giảm giá trị SLĐ
=>giảm giá trị những
tư liệu sinh hoạt thuộc
phạm vi tiêu dùng của
công nhân => tăng
NSLĐ trong các ngành
sx ra tư liệu sinh hoạt
thuộc phạm vi tiêu
dùng của công nhân or
tăng NSLĐ trong các
ngành sx ra tư liệu sx
để sx ra tư liệu sinh
hoạt đó.
Câu 11: Nguyên nhân, bản chất, đặc điểm của CNTB ĐQ và
CNTBĐQ NN?
I. Chủ nghĩa tư bản độc quyền:
1. Nguyên nhân hình thành và bản chất của CNTB- ĐQ:
a. Nguyên nhân: ( 4 nguyên nhân)
- Một là: Sự phát triển cua lục lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ KHKT,
làm xuất hiện những ngành sản xuất mới.
- Hai là: Những thành tựu khoa học – kĩ thuật mới xh, một mặt,làm xh ngành
sx mới => xí nghiệp phải mở rộng quy mô, mặt khác dẫn đến tăng NSLĐ,
tăng khả năng tích lũy tư bản
- Ba là: Khung hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phả sản.
Một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc
đẩy quá trình tập trung sản xuất. Tín dụng TBCN mở rộng trở thành đòn bẩy
mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản x́t.
- Bớn là: Những xí nghiệp và cơng ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ lại tiếp
tục cạnh tranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, vì thế nảy
sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền.
b. Bản chất của CNTB -ĐQ:
- Xét về bản chất CNTB độc quyền là một nấc thang phát triển mới của CNTB.
- CNTB độc quyền là CNTB trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của
nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế.
- CNTBĐQ ra đời từ cạnh tranh, độc quyền loại bỏ sự thống trị của cạnh tranh
nhưng ko thủ tiêu được cạnh tranh, mà chỉ làm cho cạnh tranh ngày càng gay
gắt.
=> Bản chất: CNTBĐQ cũng như CNTB canh tranh vẫn dựa trên sự chiếm
hữu về TLSX nhưng khác giai đoạn trước, các giai đoạn đế quốc do tập thể các
nhà tư bản thống trị – với sự thống trị của CNTBĐQ làm cho mâu thuẫn của
XHTB ngày càng rõ (TS – VS).
2. Đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB- ĐQ: ( 5 đặc điểm)
a. Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:
- Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền
là đặc trưng kinh tế cơ bản của CN đế quốc:
+ Khái niệm: Tổ chức độc quyền là liên minh những nhà TB lớn để tập trung
vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho
phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và
lưu thông của ngành đó.
+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTB- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ
phần, hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng ngành) dưới hình thức:
Cácten, Xanhđica, Trớt.
+ Sau đó là sự liên kết dọc. Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà
cả các Xanhđica, Trớt, Côngxoocxiom.
Cacten
(sự liên kết
ngang ( cùng
ngành))
+ Các nhà TB
thỏa thuận về
giá, quy mô, thị
trường, kỳ hạn
thanh toán
< xanhđica
(sự liên kết ngang
( cùng ngành))
+ mọi việc mua
bán do 1 ban
quản trị qđ đb
việc mua rẻ – bán
đắt – thu cao.
< Tơ-rơt
(sự liên kết
ngang ( cùng
ngành))
+ Nhằm thống
nhất cả sx, tiêu
thụ và tài vụ đều
do 1 BQT
< Công-xoocxiom
(sự liên kết dọc)
+ liên minh với
nhau về kinh tế –
kỹ thuật. Có thể
hàng trăm xí
nghiệp liên kết
với nhau trên cơ
sở hoàn toàn phụ
+ Các nhà tư bản
vẫn độc lập với
nhau
+ các xí nghiệp
vẫn giữ độc lập
về sx, nhưng mất
độc lập về lưu
thông.
+ Là liên minh
độc quyền ko
vững chắc
+ t/c ĐQ cao hơn
và ổn định hơn.
+ Các nhà tư bản
tham gia trở
thành những cổ
đông thu lợi
nhuận theo số
lượng cổ phần
+ t/c ĐQ cao hơn
thuộc về tài chính
+ gồm các nhà
TB, các xanhddica
và tơrơt
+là hình thức t/c
đq có trình đọ cao
- Vị trí, vai trò của các t/c độc quyền: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong
lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá
cả độc quyền.
+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả
sản xuất:
Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật
giá trị và quy luật giá trị thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì:
Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi nhuận vẫn bằng tổng số giá trị
thặng dư.
b. TB tài chính và bọn đầu sỏ tài chính:
- Tổ chức độc quyền ngân hàng: Song song với qúa trình tích tụ và tập
trung sản xuất, thì trong ngành ngân hàng cũng diễn ra một quá trình tương
tự. Hình thành các tổ chức độc quyền ngân hàng.
- Sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng đã làm thay đổi vai trò của
ngân hàng: Từ chỗ là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng => có
quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế xã hội:
- Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công nghiệp
vay và nhận gửi số tiền lớn của các tổ chức độc quyền công nghiệp tring một
thời gian dài, nên lợi ích của chúng quyện chặt vào nhau. Hai bên đều quan
tâm đến hoạt động của nhau, tìm cách thâm nhập vào nhau, hình thành nên
TB tài chính.
- Khái niệm: TB tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vàp nhau giữa TB độc
quyên trong ngân hàng và TB độc quyền trong công nghiệp.
- Bọn đầu sỏ tài chính: Sự phát triển của TB tài chính đã dẫn đến sự hình
thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị xã
hội của xã hội TB. Đó chính là bọn đầu sỏ tài chính.
* Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự
-> chi phối công ty con ->chi phối công ty cháu… Như vậy chỉ bằng một số TB
nhất định một đầu sỏ tài chính có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất
c. Xuất khẩu tư bản:
-Khái niệm: Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản
ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập
khẩu tư bản đó.
- Xuất khẩu tư bản là tất yếu:
+ Vì trong các nước tư bản có hiện tượng "thừa tư bản".
+ Giá trị nguyên liệu và nhân công ở các nước chậm phát triển rẻ, nhưng lại
thiếu vốn và kỹ thuật
+ Thị trường tiêu thụ hàng hóa rợng lớn.
- Hình thức x́t khẩu TB:
+ X́t khẩu tư bản trực tiếp: Xây dựng các xí nghiệp, trực tiếp kinh doanh
thu lợi nhuận,....
+ Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Cho vay tư bản để thu lợi tức….
- Xuất khẩu TB vừa có tác dụng tích cực vừa có tác dụng tiêu cực, đặc biệt là
đối với các nước nhận đầu tư, có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc về kinh tế,
dẫn tới lệ thuộc về chính trị.
d. Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền
quốc tế
Việc xuất khẩu TB tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến
việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư TB,
phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền quốc tế với nhau...
Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế: Cacten, Xanhđica, Trớt
quốc tế. Nhưng giữa cac tổ chức này luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh lẫn
nhau… tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp từ đó hình thành các liên minh
độc quyền quốc tế.
e. Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế
quốc
- Xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trường thuộc địa dễ dàng loại trừ được các
đối thủ cạnh tranh, dễ dàng nắm được độc quyền nguyên liệu và thị trường
tiêu thụ.
- Do tác động đó, đặc biệt là do tác động của quy luật phát triển không đều
của CNTB đó là những nguyên nhân dẫn đến các cuộc CTTG, cũng như các
cuộc xung đột nóng ở nhiều khu vực trên thế giới hiện nay...
=> Như vậy: chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống
trị ở nước ngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng của nhà nước.
Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền biểu
hiện trong đường lối xâm lược nước ngoài, biến những nước này thành hệ
thống thuộc địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận
độc quyền của tư bản độc quyền.
II. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển của chủ
nghĩa tư bản độc quyền.
1. Nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền
nhà nước.
a. Nguyên nhân:
Một là: Sự phát triển của LLSX dẫn đến quy mô của nèen kinh tế ngày càng
lớn, tính chất xã hội hoá của nền kinh tế ngày càng cao =>cạnh tranh =>đòi
hỏi phải có sự điều tiết của xã hội đối với sản xuất và phân phối, một kế
hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nhà nước phải dùng các công cụ khác
nhau để can thiệp, điều tiết nền kinh tế.
Hai là: xuất hiện một só ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân
không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít
lợi nhuận (như năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học
cơ bản...). Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm kinh doanh những ngành đó,
tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác
có lợi hơn.
Ba là: sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp
giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động => Nhà nước giải
quyết:Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phat triển phúc lợi xã
hội.
Bốn là: xu thế quốc tế hóa => vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và
xung đột lợi ích giữa các đối thủ trên thì trường thế giới=> Đòi hỏi có sự điều
tiết các quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế của nhà nước tư sản.
Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với CNXH hiện
thực và tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sự can thiệp
trực tiếp của nhà nước vào đời sống kinh tế.
b. Bản chất.
-CNTB ĐQNN là sự kết hợp sức mạnh của các t/c độc quyền tư nhân với sứ
mạnh của nhà nước TS thành một thể chế thống nhất. Trong đó:
nhà nước TS bị phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền
can thiệp vào các hđ kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích cho các t/c độc quyền.
Cứu nguy cho CNTB.
- Xét về bản chất CNTB độc quyền nhà nước vẫn là chủ nghĩa tư bản, chịu sự
chi phối của quy luật giá trị thặng dư, mặc dù đã có nhiều thay đổi so với chủ
nghĩa tư bản thời kỳ canh tranh tự do.
- CNTB độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản
độc quyền, nhưng nóc vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa tư bản độc quyền.
- CNTB độc quyền nhà nước chỉ là một nấc thang mới so với chủ nghĩa tư bản
độc quyền thời kỳ đầu.
=> Như vậy CNTB độc quyền nhà nước không phải là một chế độ kinh tế mới
so với CNTB, lại càng không phải chế độ tư bản mới so với CNTB độc quyền.
CNTB độc quyền nhà nước chỉ là CNTB độc quyền có sự can thiệp, điều tiết
của nhà nước về kinh tế, là sự kết hợp sức mạnh của tư bản độc quyền với sức
mạnh của nhà nước về kinh tế.
2. Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước.
a. Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư
sản:
- Sự kết hợp về nhân sự được thực hiện
+ Thông qua các đảng phải tư sản.
+ Thông qua các hội chủ xí nghiệp:
* Các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham giai vào bộ máy nhà nước
* Các quan chức chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc
quyền.
b. Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước:
- CNTB độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng
nổi bật nhất là sức mạnh của sđộc quyền và nhà nước kết hợp với nhau trong
lĩnh vựs kinh tế; Cơ sở của những biện pháp độc quyền nhà nước trong kinh tế
là sự thay đổi các quan hệ sở hữu:
* Sở hữu nhà nước tăng lên.
* Quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền được tăng cường trong
quá trình chu chuyển của tổng tư bản xã hội.
+ Sở hữu nhà nước được hình thành dưới những hình thức:
* Xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách.
* Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại
* Nhà nước mua cổ phiếu cảu các doanh nghiệp tư nhân.
* Mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư
nhân .
c. Sự điều tiết kinh tế cuả nhà nước tư sản:
- Nhà nước tư sản dung hợp cả 3 cơ chế: Thị trường, độc quyền tư nhân và
điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực
của từng cơ chế. Xét đến cùng và về bản chất, hệ thống điều tiết đó phục vụ
cho CNTB độc quyền.
Câu 12: Phân tích vai trò, hạn chế và xu hướng vận động của
CNTB ?
1.Vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản xuất
xã hội. (5)
Trong suốt quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã
gây ra đối với loài người thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp tích
cực đối với sản xuất, đó là:
- Thứ nhất: Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng lồi người khỏi “đêm
trường trung cở” của xã hợi phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên,
tự túc, tự cấp chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa,
chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn, hiện đại.
-Thứ hai: Phát triển lực lượng sản xuất: Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư
bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ KT – CN
ngày càng cao. Mặt khác, cùng với sự phát triển của KT – CN là quá trình giải
phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả, khám phá và chinh phục thiên nhiên
của con người.
- Thứ ba: Thực hiện xã hội hóa sản xuất: Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền
SXHH phát triển mạnh , quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều
sâu: sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với qui
mô hợp lý, chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, mối quan
hệ kinh tế giữa các đơn vị , các ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ...làm
cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết lại và phụ thuộc lẫn nhau
thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội.
- Thứ tư: Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên biết tổ chức lao động theo kiểu công
xưởng => xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động, làm
thay đổi nề nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội
phong kiến.
- Thứ năm: Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền
dân chu tư sản, tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị trong
các xã hội phong kiến, nô lệ...vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây
dựng trên cơ sở thừa nhận quyền tự do thân thể của cá nhân.
=> Tóm lại, CNTB ngày nay - với những thành tựu và đóng góp của nó đối với
sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện,
tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng
bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các
cuộc cách mạng xã hội. Dĩ nhiên, cuộc cách mạng xã hội sẽ diễn ra bằng
phương pháp nào - hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào
những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc tế chung
từng thời điểm, vào sự lựa chọn của các lực lượng cách mạng.
2 . Hạn chế của CNTB (5)
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản, Thực chất, đó là q trình
tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những
người sản xuất hàng hóa nhỏ và nông dân tự do; nhờ vào hoạt động buôn
bán, trao đổi không ngang giá qua đó mà thực hiện bóc lột, nô dịch đối với
những nước lạc hậu.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của CNTB là quan hệ bóc lột cua các nhà
tư bản đối với công nhân làm thuê. Theo Mác và Lênin thì chừng nào CNTB
còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân
hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
- Các cuộc CTTG với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu vực
ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề
- Ngày nay, lại cũng chính chủ nghĩa tư bản là thu phạm châm ngòi nổ cho
những xung đột vũ trang giữa các quốc gia, Vì vậy, chi phí cho quân sự của
chủ nghĩa tư bản hiện nay rất lớn, tính ra cứ 2 phút đồng hồ lại có hai triệu
đôla bị vứt đi vì chi phí cho quân sự.
-CNTB sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách giữa các
nước giàu và các nước nghèo trên thế giới
Trong những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới thứ ba trì trệ, suy thoái. Điều này
cũng đã được ngân hàng thế giới khẳng định: ở Châu Phi, Mỹ La tinh,...hàng
trăm triệu người đã nhận thấy, đi cùng với tăng trưởng là sự suy tàn về kinh
tế, phát triển nhường chỗ cho suy thoái: ở một vài nước Mỹ La tinh, GDP theo
đầu người hiện nay thấp hơn so với 10 năm trước đây. Ở nhiều nước Châu Phi,
nó còn thấp hơn cách đây 20 năm. "...một thế giới mà trong đó từ 20 năm nay
ở Châu Phi, từ 9 năm nay ở Mỹ La tinh mức sống không ngừng giảm. Trong khi
đó mức sống trong các vùng khác tiếp tục tăng lên, đó là điều hoàn toàn
không thể chấp nhận được"
Các cường quốc tư bản độc quyền hàng mấy thế kỷ nay đã tăng cường vơ vét
tài nguyên, bóc lột công nhân các nước nghèo và tìm cách khống chế họ
trong vòng phụ thuộc thông qua các con đường xuất khẩu tư bản, viện trợ,
cho vay...kết quả là các nước nghèo không những bị cạn kiệt về tài nguyên
mà còn mắc nợ không trả được, điển hình là các quốc gia ở Châu Phi, Châu
Mỹ La tinh. Ở Braxin người ta tính ra riêng số lãi mà Braxin phải trả trong năm
1988 bằng 288 triệu xuất lương tối thiểu hay bằng xây nhà cho 30 triệu
người, trong khi đó ước tính khoảng 2/3 dân Braxin thiếu ăn
3. Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản.
Những thành tựu và hạn chế bắt nguồn từ mâu thuẫn cơ bản của CNTB: tính
chất và trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất >< quan hệ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX.
Chủ nghĩa tư bản càng phát triển, tính chất và trình độ xã hội hóa của lực
lượng sản xuất ngày càng cao thì quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về
tư liệu sản xuất ngày càng trở nên chật hẹp so với nội dung vật chất ngày
càng lớn lên của nó. Mặc dù chủ nghĩa tư bản ngày nay đã có điều chỉnh nhất
định trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối, và ở một chừng mực nhất
định, sự điều chỉnh đó cũng đã phần nào làm giảm bớt tính gay gắt của mâu
thuẫn này. Song tất cả những điều chỉnh ấy vẫn không vượt qua khỏi khuôn
khổ của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, mâu thuẫn vẫn không bị thu
tiêu. Theo sự phân tích của Mác và Lênin, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa sẽ bị thủ tiêu và một phương thúc sản xuất mới - phương thúc sản xuất
cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời và phủ định phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Tuy nhiên, phải nhận thức rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không
tự tiêu vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa cũng không tự phát
hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong
đó, giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là
giai cấp công nhân
Câu 13: Khái niệm nền văn hóa XHCN. Nêu đặc trưng, tính tất
yếu, nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa XHCN?
Vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
ở Việt nam ?
A. Nền văn hóa XHCN.
1. Khái niệm nền văn hóa XHCN.
- Xét trên phương diện chung nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm bản
chất văn hoá XHCN chính là chủ nghĩa cộng sản => xây dựng nền văn
hoá XHCN gắn liền với xây dựng xã hội cợng sản
- Cịn về phương diện lịch sử, nền văn hoá XHCN ra đời là sự phát triển tự
nhiên, hợp quy luật khi phương thức sản xuất TBCN đã lỗi thời và PTSX
XHCN đã hình thành.
Nền văn hóa XHCN được xây dựng trên hai tiền đê (tiền đề chính trị và tiền đề
kinh tế). Nền văn hoá XHCN là kết quả sự phát triển liên tục của các nền văn
hoá, nó thể hiện trình độ phát triển cao của loài người
2. Đặc trưng của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa 3
Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau
1) Chu nghĩa Mác Lênin là nền tảng tư tưởng và quyết định phương hướng
phát triển nội dung của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng, ý thức
hệ là cốt lõi của mọi nền văn hoá. . Đặc trưng này phản ánh bản chất
giai cấp công nhân và tính đảng của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa
2) Nền văn hố xã hội chu nghĩa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc
sâu sắc. Giai cấp TS đã "tước đoạt" các giá trị văn hoá của quần chúng
=> Công cuộc cải biến cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực KT,
CT, VH =>tạo ra tiền đề vật chất và tinh thần để đông đảo nhân dân
tham gia xây dựng nền văn hoá mới và hưởng thụ những giá trị của
nền văn hoá đó.
3) Nền văn hoá xã hội chu nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo cua giai cấp công
nhân thông qua tổ chức ĐCS và quản lý cua Nhà nước XHCN. Nền văn
hoá XHCN không hình thành và phát triển một cách tự phát, trái lại, nó
phải được hình thành và xây dựng một cách tự giác, có sự quản lý của
Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
3. Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hóa XHCN 4
1) Xuất phát từ tính triệt để, tồn diện cua cách mạng xã hội chu nghĩa
đòi hỏi phải thay đổi phương thức sản xuất tinh thần, làm cho phương
thức sản xuất tinh thần phù hợp với phương thức sản xuất mới của xã
hội xã hội chủ nghĩa nhằm thay đổi bản chất của ý thức xã hội, xây
dựng ý thức xã hội mới phù hợp.
2) Xây dựng nền văn hoá xã hội chu nghĩa là tất yếu trong quá trình cải
tạo tâm lý, ý thức và đời sống tinh thần cua chế độ cũ để lại nhằm giải
phóng nhân dân lao động thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng, ý thức của xã
hội cũ lạc hậu.. là một yêu cầu cần thiết trong việc đưa quần chúng
nhân dân thực sự trở thành chủ thể sản xuất và tiêu dùng, sáng tạo và
hưởng thụ văn hoá tinh thần.
3) Xây dựng nền văn hoá xã hội chu nghĩa là tất yếu trong quá trình nâng
cao trình độ văn hố cho q̀n chúng nhân dân lao đợng, khắc phục
tình trạng thiếu hụt văn hóa
4) Xây dựng nền văn hoá xã hội chu nghĩa là tất yếu xuất phát từ yêu cầu
khách quan, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực cua quá trình xây
dựng chu nghĩa xã hội.
Văn hoá xã hội chủ nghĩa với nền tảng là hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân trở thành điều kiện tinh thần của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội, là động lực và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
4. Nội dung xây dựng nền văn hóa XHCN
Những nội dung cơ bản xây dựng nền văn hóa XHCN.
1) Nâng cao trình độ dân trí, hình thành đội ngũ trí thức của xã hội mới
Xây dựng nền văn hóa XHCN trên cái nền của văn hóa tư sản, dựa vào
vật liệu của CNTB đem lại, mà yếu tố quan trọng là con người (công
nhân và nông dân)
2) Xây dựng con người mới phát triển toàn diện
Con người là sản phẩm nhưng cũng là chủ thể của lịch sử. Đó là những
con người có sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, sự
phong phú về đời sống tinh thần
3) Xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa
Lối sống là dấu hiệu biểu thị sự khác biệt giữa những cộng đồng người
khác nhau; là tổng thể các hình thái hoạt động của con người, phản
ánh điều kiện vật chất, tinh thần và xã hội của con người; là sản phẩm
tất yếu của một hình thái kinh tế-xã hội và có tác động đến hình thái
kinh tế-xã hội đó.
4) Xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa
Văn hoá gia đình luôn gắn bó, tương tác với văn hoá cộng đồng, dân
tộc, giai cấp và tầng lớp xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định của một
quốc gia dân tộc nhất định.
5. Phương thức xây dựng nền văn hóa XHCN
1) Giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng của giai cấp
công nhân trong đời sống tinh thần của xã hội.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân với tư
cách là giai cấp cầm quyền, phải bằng mọi biện pháp thông qua các
nhà tư tưởng và các thiết chế tư tưởng của mình để tác động, chi phối
các quan hệ tư tưởng, quá trình tư tưởng nhằm giữ vững, tăng cường
vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng của mình trong đời sống tinh thần xã
hội.
2) Không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và vai trò
quản lý của Nhà nước đối với hoạt động văn hoá.
Đây là sự đảm bảo về chính trị, tư tưởng để nền văn hoá xây dựng trên
nền tảng của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đi đúng quỹ đạo và
mục tiêu xác định.
3) Xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa phải theo phương thức kết hợp
việc kế thừa những giá trị trong di sản văn hoá dân tộc với tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại.
Đó là điều kiện tiên quyết để tạo nên những giá trị văn hoá mới trong
nền văn hoá xã hội chủ nghĩa.Sự gắn kết giữa giữ gìn, kế thừa văn hoá
dân tộc, tiếp thu giá trị văn hoá nhân loại với quá trình sản sinh giá trị
mới, tạo nên sự thống nhất biện chứng của hai mặt giữ gìn và sáng tạo
văn hoá.
4) Tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào các hoạt động và sáng
tạo văn hoá.
Nhân dân lao động đã trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn
hoá. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của quần
chúng, Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải tổ chức nhiều
phong trào nhằm lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia vào các hoạt
động và sáng tạo văn hoá.
B. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở việt
nam.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội phải luôn đi kèm với việc xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc => để chúng ta không tụt hậu so với thế
giới, nhưng cần giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc để không bị mất đi
những giá trị đích thực của dân tộc ta. Mỗi dân tộc trên thế giới có nền văn
hóa của riêng mình. Khi tất cả đã mất, văn hóa là cái sẽ còn lại, và nó là
cái để phân biệt dân tộc này với dân tộc kia.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta cứng nhắc giữ riêng văn hóa của mình mà bài
trừ hoàn toàn những nét đẹp trong văn hóa của các quốc gia khác. Cần tiếp thu một
cách có chọn lọc văn hóa của họ, và biến nó thành văn hóa của riêng mình.
vì vậy chúng ta cần phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc.
Các giai đoạn:
1. Trong suốt chặng đường 81 năm lãnh đạo nhân dân,tiến hành thắng lợi
các cuộc kháng chiến chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn quan tâm toàn diện, nhận
thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển
bền vững của Đất nước.
2. Thời kỳ hòa bình, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội IV của
Đảng đã tiếp tục khẳng định: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng,
trong đó tập trung "Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội
chủ nghĩa" với những giá trị đạo đức, niềm tin, lý tưởng, lẽ sống cao
đẹp.
3.
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với tư duy đổi mới toàn diện về kinh tế,
chính trị, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, Đảng đã chủ trương đổi mới tư
duy trên lĩnh vực văn hóa.
4.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, bên cạnh những cơ hội thuận lợi, Đảng
ta đã ý thức về tính chất nguy hiểm trước vấn nạn của "luồng văn hóa độc hại"
xâm nhập vào nước ta từ nhiều con đường khác nhau
Tiếp thu và phát triển đường lối văn hóa của Đảng, Dự thảo Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bổ sung và phát
triển trong năm 2011 đã nêu lên định hướng về văn hóa :
Những năm qua, lĩnh vực văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng: 6
Tư tưởng, đạo đức và lối sống - lĩnh vực then chốt của văn hóa đã có
những chuyển biến tích cực.
Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu
vào nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nhiều giá trị mới về văn hóa, chuẩn mực đạo đức được khẳng định và
nhân rộng, phát huy tính dân chủ trong xã hội; Thế hệ trẻ hăng hái tiếp
thu những kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến, thể hiện mạnh mẽ ý
chí vươn lên, lập thân, lập nghiệp để phát triển đất nước.
Cuộc vận động Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa", "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các
phong trào thi đua yêu nước ngày càng được mở rộng và từng bước đi
vào thực chất trong đời sống xã hội.
Công cuộc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc đã đạt
được nhiều tiến bộ. Nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được
bảo vệ và phát huy giá trị, các nghệ nhân được tôn vinh, … Cả nước
hiện có 127 bảo tàng; có hơn 4 vạn di tích đã được kiểm kê; 11 di sản
được UNESCO vinh danh là di sản thế giới (trong đó có 6 di sản văn hoá
vật thể và 5 di sản văn hoá phi vật thể).
Lĩnh vực văn hoá các dân tộc thiểu số, văn học nghệ thuật, giao lưu và
hợp tác văn hóa quốc tế, xây dựng thể chế văn hóa, các lĩnh vực gắn
bó mật thiết với văn hóa như giáo dục, khoa học, công nghệ, thông tin
đại chúng... đều đạt được những thành tựu đáng kể.
Tuy nhiên, do những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường và
hội nhập quốc tế, lĩnh vực văn hóa cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, tác
động không nhỏ đến văn hóa truyền thống của dân tộc. Sự phát triển của văn
hóa chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế =>ảnh hưởng đến quá
trình phát triển kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng:
Tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, bạo lực học đường, coi thường pháp luật…
Những biểu hiện “thương mại hóa", xu hướng vọng ngoại, lai căng, xa rời
bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc ở một bộ phận chưa được ngăn chặn
một cách hữu hiệu.
Những sáng tạo văn học nghệ thuật mới có giá trị nghệ thuật cao chưa
nhiều.
Thực trạng đó là những nguy cơ tiềm ẩn làm xói mòn văn hóa - nền tảng tinh
thần của xã hội, làm cản trở bước đường đi tới hạnh phúc và phồn vinh của dân tộc
ta =>có những giải pháp khắc phục những yếu kém trong lĩnh vực văn hóa + phát
huy những thành tựu cơ bản đã đạt được.
Để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, cần những giải pháp sau: 7
1) Xây dựng “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển".
2) Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, cần đẩy mạnh hơn nữa
phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” và đặc biệt là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
3) Phát triển văn hóa và xây dựng con người có mối quan hệ gắn bó hữu
cơ với nhau.
4) Giữ gìn và phát huy tài sản văn hóa tinh thần của 54 dân tộc anh em.
5) Quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa (xuất bản sách báo,
sản xuất phim ảnh...) theo định định hướng XHCN.
6) Hoàn thiện thể chế văn hóa, xây dựng các thiết chế văn hóa từ Trung
ương đến cơ sở, tăng cường hiệu quả các mối quan hệ phối hợp liên
ngành.
7) Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định: Trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, bốn lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn bó mật
thiết với nhau, cần được coi trọng như nhau, trong đó, văn hóa không
đứng ngoài, đứng trên mà phải hiện diện ở mọi lĩnh vực.
Câu 14: Các đặc trưng của XH – XHCN? 6
1. CSVC – KT của CNXH (hay xã hội xã hội chủ nghĩa) là nền sản
xuất CN hiện đại.
Khi trình độ lực lượng sản xuất đã phát triển cao rất thuận lợi cho việc
tiếp tục xây dựng thắng lợi, hoàn thiện chủ nghĩa xã hội, thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng từng bước cơ sở vật chất - kỹ
thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội.
2. XH - XHCN đã xoá bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công
hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội
không xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung mà chủ yếu xoá bỏ chế độ tư
hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Bởi vì chế độ tư hữu tư bản
chủ nghĩa đã nô dịch, áp bức bóc lột giá trị thặng dư đối với đại đa số
3.
4.
5.
6.
nhân dân lao động. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu
xã hội còn đan xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội và nhiều thàmh phần
kinh tế.
XH – XHCN tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.
Quá trình xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội là một quá trình hoạt
động tự giác của đại đa số nhân dân, vìlợi ích của đa số nhân dân.
Chính từ bản chất và mục đích đó mà chủ nghĩa xã hội sẽ là một kiểu
tổ chức lao động mới của bản thân nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo,
hướng dẫn của đảng cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân
và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, để mọi người lao động có
được tổ chức và kỷ luật lao động mới tự giác như thế, phải trải qua quá
trình đấu tranh, từng bước hoàn thiện chủ nghĩa xã hội.
XH - XHCN thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động nguyên tắc phân phối cơ bản nhất.
Nguyên tắc phân phối này là phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển LLSX trong giai đoạn xây dựng CNXH. Đó là một trong những cơ sở
của công bằng xã hội ở giai đoạn này.
Nhà nước XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân
dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích
của nhân dân.
Khi đề cập đến hệ thống chuyên chính VS, chủ nghĩa Mác-Lênin đã xác
định rõ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính VS.
Thực chất nhà nước đó là do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, do
nhân dân tổ chức ra. Thông qua nhà nước người dân lao động thực hiện
quyền lực và lợi ích của mình trên mọi mặt của xã hội.
XH – XHCN là chế độ đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức
bóc lột, t/h công bằng, bình đẳng, tiến bộ XH, tạo những điều kiện
cơ bản để con người phát triển toàn diện.
Nói bình đẳng trong CNXH, là nói trong điều kiện, giai đoạn xã hội vẫn
còn giai cấp, còn nhà nước, trước hết bình đẳng giữa các công dân,
giữa các chủ thể sản xuất - kinh doanh (dù họ ở thành phần kinh tế
nào...) trước pháp luật chung của nhà nước; bình đẳng nam - nữ, bình
đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết toàn dân tộc, v.v
Ngày 30/05/2011
The end !!!!!!!!!!