Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.52 KB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT</b>
<b>(Trích)</b>
<b>Lưu Quang Vũ</b>
<b>I. TÌM HIỂU CHUNG:</b>
<b>1. Tác giả:</b>
Lưu Quang Vũ (1948- 1988) quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia
đìng trí thức.
- Từ 1965 đến 1970: Lưu Quang Vũ vào bộ đội và được biết đến với tư cách một
nhà thơ tài năng đầy hứa hẹn.
- Từ 1970 đến 1978: ônng xuất ngũ, làm nhiều nghề để mưu sinh.
- Từ 1978 đến 1988: biên tập viên Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch và trở
thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm 80 với những vở đặc
sắc như: Sống mãi tuổi 17, Hẹn ngày trở lại, Lời thề thứ 9, khoảnh khắc và vô tận, Bệnh
<i>sĩ, Tôi và chúng ta, Hai ngàn ngày oan trái, Hồn Trương Ba, da hàng thịt,…</i>
Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết truyện, viết tiểu luận,
… nhưng thành cơng nhất là kịch. Ơng là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất
của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại
Lưu Quang Vũ được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm
2000.
<b>2. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt:</b>
+ Vở kịch được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, được công diễn vào năm
+ Từ một cốt truyện dân gian, tác giả đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại,
đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.
+ Truyện dân gian gây kịch tính sau khi Hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng
thịt dẫn tới "vụ tranh chấp" chồng của hai bà vợ phải đưa ra xử, bà Trương Ba thắng kiện
được đưa chồng về. Lưu Quang Vũ khai thác tình huống kịch bắt đầu ở chỗ kết thúc của
tích truyện dân gian. Khi hồn Trương Ba được sống "hợp pháp" trong xác anh hàng thịt,
mọi sự càng trở nên rắc rối, éo le để rồi cuối cùng đau khổ, tuyệt vọng khiến Hồn Trương
Ba không chịu nổi phải cầu xin Đế Thích cho mình được chết hẳn.
3. Đoạn trích là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung
đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng "bên
<i>trong một đằng, bên ngoài một nẻo", nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ </i>
với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thốt ra khỏi
nghịch cảnh trớ trêu.
* Đọc thể hiện tính cách, tâm trạng của mỗi nhân vật và xung đột kịch.
1. Phần đầu: trước khi Đế Thích xuất hiện
+ Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn
Trương Ba "ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy" với một lời độc thoại đầy khẩn
thiết:
"- Không. Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở
<i>không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, </i>
<i>ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra </i>
<i>khỏi cái xác này, dù chỉ một lát".</i>
+ Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ (Những câu
cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải)
- Hồn bức bối bởi khơng thể nào thốt ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm.
- Hồn đau khổ bởi mình khơng cịn là mình nữa.
+ Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng
lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.
+ Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối
lí bởi xác nói những điều mà dù muốn hay khơng muốn Hồn vẫn phải thừa nhận (cái đêm
khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với "tay chân run rẩy", "hơi thở nóng rực", "cổ
nghẹn lại" và "st nữa thì…". Đó là cảm giác "xao xuyến" trước những món ăn mà trước
đây Hồn cho là "phàm". Đó là cái lần ông tát thằng con ông "tóe máu mồm máu mũi",…).
+ Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến Hồn càng cảm thấy xấu
hổ, cảm thấy mình ti tiện.
+ Xác anh hàng thịt cịn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ơng đưa ra để ngụy biện: "Ta vẫn có
một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn,…".
+ Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài
với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc.
Hồn chỉ bng những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than,
tiếng kêu.
+ Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của Hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại
với những người thân.
- Cái Gái, cháu ông giờ đây đã khơng cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình
thân (tơi khơng phải là cháu ông… Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ơng nó bao
- Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy
thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, "khổ hơn xưa nhiều lắm".
Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình "như sắp tan hoang ra cả" khiến chị khơng
thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: "Thầy bảo con: Cái bên ngồi
<i>là khơng đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau</i>
<i>đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa </i>
<i>mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng khơng nhận ra thầy nữa…"</i>
Tất cả những người thân yêu của Hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ
trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ
khổ nhưng "cũng không khổ bằng bây giờ".
+ Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng
của mình đã khiến Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính
bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào.
+ Nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau
khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát
nhưng cũng đầy quyết liệt: "Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ…
Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? "Chẳng cịn
cách nào khác"! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là khơng cịn cách nào khác? Có thật
khơng cịn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Khơng cần!".
Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích
2. Phần sau: từ khi Đế Thích xuất hiện.
+ Cuộc trị chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi
gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của Hồn trong
cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
- Khơng thể bên trong một đằng, bên ngồi một nẻo được. Tơi muốn được là tơi
tồn vẹn…
Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía
qua hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hịa.
Khơng thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người
bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác,
không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự
cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá,
khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vơ nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương
Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài
của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng
thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất
hiện.
<b>+ Quyết định dứt khốt xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được</b>
chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả
của một q trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu
Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu
Tị để sống và thấy rõ "bao nhiêu sự rắc rối" vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy
cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát.
Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt,
Cái chết của cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ "mở nút".
Dựng tả q trình đi đến quyết định dứt khốt của nhân vật Hồn Trương Ba, Lưu Quang
Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm.
<b>III. TỔNG KẾT:</b>
Khơng chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, rong vở kịch
nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu
hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ:
Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về
vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển.
Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm
lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, khơng phấn đấu vì hạnh phúc tồn vẹn.
Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán.
Ngồi ra, vở kịch cịn đề cập đến một vấn đề cũng khơng kém phần bức xúc, đó là
tình trạng con người phải sống giả, khơng dám và cũng khơng được sống là bản thân
mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.
Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của
Lưu Quang Vũ.
__________________________________________
<b>THAM KHẢO:</b>
<b>Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác </b>
<b>(Về trích đoạn vở "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" trong SGK lớp 12)</b>
Lưu Quang Vũ được đánh giá là nhà viết kịch xuất sắc trong thời kỳ hiện đại.
Đương thời khi còn sống, kịch của anh ln có mặt trên sàn diễn của nhiều đoàn nghệ
thuật trong cả nước. Trong lịch sử sân khấu nước ta, thời kỳ kịch của Lưu Quang Vũ có
lẽ là thời kỳ sơi động, giàu sức sống nhất. Những năm 80, kịch của Lưu Quang Vũ xuất
hiện đã làm thay đổi tư duy của người biểu diễn cũng như của công chúng yêu sân khấu.
Nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình đã đánh giá cao tài năng, tâm huyết và
những đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền sân khấu nói riêng và với nền văn học
nói chung. Anh cũng là một trong những "người đi trước” trong phong trào đổi mới văn
hố văn nghệ, dùng ngịi bút của mình góp phần đem lại những điều tốt đẹp cho con
người và xã hội.
<i>hình như khó có ai thành cơng về viết kịch khi chưa đến 30 tuổi… Động lực xui giục tôi </i>
<i>viết kịch cũng là những động lực khiến tôi làm thơ, đó là khát vọng muốn được bày tỏ, </i>
<i>muốn được thể hiện tâm hồn mình và thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng </i>
<i>chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến”(1).</i>
Kịch của Lưu Quang Vũ khai thác nhiều đề tài, đi vào khám phá mọi mặt của đời
sống xã hội và con người. Có thể phân chia, sắp xếp kịch Lưu Quang Vũ ra làm nhiều
loại căn cứ vào cốt truyện của kịch bản. Cha ơng ta có câu “có tích mới dịch nên trị”. Có
thể hiểu nơm na “tích” chính là cốt truyện, phải có cốt truyện mới tạo dựng thành tác
phẩm, sân khấu mới có kịch để diễn. Kịch của Lưu Quang Vũ thường được xây dựng trên
một cốt truyện chắc chắn, chủ yếu tập trung vào các vấn đề, các sự kiện quan trọng trong
đời sống. Việc khai thác các mơ típ dân gian, dựa vào đó để viết kịch bản mang đậm dấu
ấn cá nhân và phong cách của mình đã tạo cho kịch Lưu Quang Vũ một chiều sâu đáng
kể. Nó tạo cho kịch của anh sự phong phú về đề tài, hấp dẫn ở cốt truyện, lôi cuốn ở nghệ
Trích đoạn Hồn Trương Ba da hàng thịt đưa vào dạy trong SGK Ngữ văn lớp 12
là một phần thuộc Cảnh VII – cũng là cảnh cuối cùng của vở kịch, được đặt tên là Thoát
<i>ra nghịch cảnh(2). Trọng tâm của lớp kịch là cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác Trương Ba.</i>
Do đó lời thoại ở đây vừa có thể coi là độc thoại vừa có thể coi là đối thoại. Nó là một lời
thoại đặc biệt, vừa chứa đựng mâu thuẫn vừa mang tính hành động, thúc đẩy tình huống
kịch phát triển đến mức cao nhất. Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác là đỉnh cao tư tưởng
triết lý của vở kịch. Cuộc đối thoại đó cùng với thái độ và những lời đối thoại của những
người ruột thịt thân yêu nhất đã dẫn đến hành động quyết liệt - kiên quyết chối từ một
cuộc sống chắp vá hồn nọ xác kia của Trương Ba. Lưu Quang Vũ đã để cho nhân vật của
mình chọn một con đường tưởng như tiêu cực nhưng hết sức cần thiết và đúng đắn: Rời
bỏ cõi đời này để được đúng là mình, để giữ trong ký ức những người thân kỷ niệm tốt
đẹp về mình. Có nhà nghiên cứu cho rằng “cuộc vật lộn” giữa “Hồn Trương Ba” và “Da
Hàng thịt” thực chất là cuộc giao tranh giữa hai linh hồn trong một thân xác”(3).
Lưu Quang Vũ đã kế thừa tư tưởng của truyện cổ dân gian. Anh cũng nhấn mạnh
vai trò quan trọng hơn của linh hồn so với thể xác. Hàng loạt nhân vật phụ được hư cấu
đã phát ngôn cho tư tưởng đó của tác giả. Trong khi tất cả những người thân, kể cả người
vợ, phủ nhận, xa lánh Trương Ba trong xác anh hàng thịt, thì cô con dâu lại càng thông
cảm với ông hơn. Mặc dù cô cũng nhận ra bao nhiêu điều ngang trái xuất hiện nơi con
người Trương Ba. Bằng những lời mộc mạc, giản dị, cơ đã nói khá đúng, khá cơ bản về
linh hồn: “Thày vẫn dạy chúng con: cái bề ngồi có quan trọng gì, chỉ có tấm lịng u
<i>thương và trí tuệ cao sáng của con người ta là đáng kể”; “Đã gọi là hồn làm sao có hình </i>
<i>thù, bởi nó khơng là vng hay tròn, mà là vui, buồn, mừng, giận, yêu, ghét…”(4). Qua </i>
hàng loạt lời thoại của các nhân vật, nhà viết kịch đã thể hiện một cái nhìn biện chứng đối
với mối quan hệ Hồn - Xác. Người sống mượn hồn hay xác của kẻ khác thì cũng đều bất
ổn như nhau, đều khơng cịn là mình nữa. Một linh hồn dù tốt đẹp khi trú ngụ trong thân
xác khác cũng sẽ bị biến dạng, bởi nó bị chi phối theo thói quen và bản năng của thân xác
đó, hơn nữa nó ln bị dằn vặt trong mặc cảm giả dối và ích kỉ. Chưa kể cịn hàng loạt
không gian khác nhau. Những người đang sống và những người đã chết. Đã chết như chỉ
là mất đi cái phần thân xác, những tư tưởng, tinh thần, những khát vọng, ước mơ cao đẹp
của họ vẫn sống. Sống trong sự nghiệp, trong nỗi nhớ thường ngày của những người đang
sống hôm nay. Qua lời của một nhân vật kịch, Lưu Quang Vũ đã bộc lộ quan niệm của
anh về sự sống chết: Con người tồn tại ở ba cõi. Đó là thế giới của những người đang
sống và cõi lặng im. Cõi thứ ba: Cõi của những người đang sống TRONG TRÍ NHỚ
CỦA NGƯỜI KHÁC, những người khơng bị lãng quên... Và có thể nói quan niệm này đã
chi phối hàng loạt các vở kịch khác của anh.
<i>Hồn Trương Ba da hàng thịt là một tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác </i>
của Lưu Quang Vũ. Năm 1990, tại Liên hoan Sân khấu Quốc tế lần I tổ chức tại
Mátxcơva, lần đầu tiên xuất ngoại, vở diễn đã được đánh giá xuất sắc nhất Liên hoan.
Năm 1998 vở Hồn Trương Ba da hàng thịt đã đi lưu diễn tại Mỹ trong chương trình giao
lưu sân khấu Việt - Mỹ (V.A.T.E.I) được đánh giá là sự kiện văn hoá lớn. Nhà văn Hồ
Anh Thái - người được chứng kiến khơng khí sơi động của đêm diễn trên đất Mỹ sau này
đã tái hiện lại qua bài viết Đêm không ngủ ở Seattle (mượn tên một bộ phim nổi tiếng của
điện ảnh Mỹ)(6). Tác giả Phan Ngọc cũng đã có những lời đánh giá cao đối với tác giả vở
diễn này: “Theo tôi nghĩ, Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỷ này của Việt
<i>Nam, là một nhà văn hóa... Có một Kịch pháp Lưu Quang Vũ mà cả Đơng Nam Á có thể </i>
<i>tiếp thu. Vũ là một Prơtê, vị thần trong thần thoại có thể thay hình đổi dạng tuỳ theo sở </i>
<i>thích… Khơng ai bằng Vũ trong biệt tài nêu lên cái muôn đời trong cái bình thường, biến</i>
<i>cổ tích, huyền thoại thành chuyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thơ lỗ để</i>
<i>khẳng định cái cao quý”(7).</i>
_________________
(1) Lưu Quang Vũ. Tuổi trẻ Chủ nhật, số ra ngày 3/5/1987.
(2) Phần kết của vở Hồn Trương Ba da hàng thịt có hai dị bản, một dị bản viết lần đầu đã
in trong sách Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Nxb. Đà Nẵng, 1989. Dị bản thứ hai
in trong Kịch Việt Nam chọn lọc, Tập IV, Nxb. Sân khấu, 2001. Phần trích trong SGK
dựa vào dị bản thứ hai.
(3) Phạm Vĩnh Cư: Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam, trong sách Sáng tạo và giao
lưu, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2004, tr.120.
(4), (5) Lưu Quang Vũ: Hồn Trương Ba da hàng thịt, trong sách Tuyển tập Kịch, Nxb.
Sân khấu, H, 1994, tr.301, 311, 336.
(6) Hồ Anh Thái: Đêm không ngủ ở Seattle, trong sách Lưu Quang Vũ - về tác gia và tác
phẩm, Nxb. Giáo dục, H, 2007, tr.349.
(7) Phan Ngọc: Kịch pháp Lưu Quang Vũ, trong sách Lưu Quang Vũ - về tác giả và tác
phẩm. Sđđ, tr.264.