ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Tìm hiểu nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới
triều Nguyễn (1802 - 1884)
Sinh viên thực hiện: Võ Thị Thu Nhi
Chuyên ngành: Sư phạm Lịch sử
Lớp: 11SLS
Người hướng dẫn: TS Trần Thị Mai An
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tìm hiểu về lịch sử và con người của một vùng đất là một đề tài rộng lớn, thú
vị nhưng cũng không kém phần phức tạp. Ngược dòng thời gian kể từ khi chúa
Nguyễn định hình được vùng đất Đàng Trong, triều Nguyễn tiến hành thống nhất
đất nước, lịch sử và con người nơi đây có biết bao thay đổi. Như bao địa phương
khác, Đà Nẵng đã trải qua bao thăng trầm trên con đường phát triển của mình.
Những di tích cịn lại là chứng tích cho một quá khứ vươn lên kiên cường, khơng
mệt mỏi của mảnh đất này.
Tìm hiểu về Đà Nẵng, về các nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn sẽ góp phần
hiểu rõ hơn về lịch sử nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng trong tiến trình lịch sử Việt
Nam. Với tinh thần trả về cho lịch sử những gì của lịch sử, nhìn thẳng vào sự thật,
nói rõ sự thật, nói đúng sự thật thì nhà Nguyễn cũng có rất nhiều đóng góp to lớn
cho sự phát triển của đất nước. Khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều đình
cùng với quân dân Đà Nẵng đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ chủ quyền dân tộc,
đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Nơi đây, mỗi tên đất,
tên làng, mỗi địa danh, mỗi nhân vật đều in đậm trong trang sử hào hùng của dân
tộc. Mỗi nhân vật lịch sử có thể họ khơng đóng góp trực tiếp cho q hương mình
nhưng họ đã góp phần xây dựng đất nước, dù đi đâu họ vẫn là con người xứ Quảng
ngay thẳng, cương trực, nhiệt tình, sống gần gũi với dân chúng.
Thế hệ con cháu mai sau tìm về với những giá trị văn hóa, cội nguồn dân tộc,
về các nhân vật lịch sử đã có cơng lao đóng vai trị to lớn cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước. Nó có ý nghĩa quan trọng, cần thiết góp phần giáo dục thế hệ trẻ
lòng biết ơn những thế hệ đi trước, biết trân trọng những gì có được ngày hơm nay
và ra sức luyện đức, luyện tài đưa đất nước phát triển đi lên. Thế hệ người Đà Nẵng
đã nối tiếp nhau viết nên những trang sử tuyệt đẹp về thành phố thân u, đó là ước
mong về sự n bình, là khúc khải hồn ca và cả những nỗi đau khơng gọi thành lời,
có những người con đã ngã xuống, ngủ n trong lịng đất như Ơng Ích Khiêm,
Nguyễn Văn Thoại, Thái Phiên, Phan Châu Trinh, Lâm Nhĩ, Lê Văn Hiến, Mẹ
Nhu,…
2
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, chúng tơi chọn vấn đề: Tìm
hiểu nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn (1802 - 1884), làm đề tài khóa
luận nhằm “ơn cố tri tân”, là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy lịch sử địa
phương.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn là một đề tài khá
hay. Mặc dù vậy, các cơng trình nghiên cứu về các nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới
triều Nguyễn vẫn chưa thực sự được chú ý và chưa có một cái nhìn cụ thể.
Những tác phẩm quan trọng nghiên cứu về các nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng
dưới triều Nguyễn tính đến thời điểm hiện nay có thể điểm qua các cơng trình tiêu
biểu sau:
Cuốn sách “Quảng Nam đất nước và nhân vật” của Nguyễn Quang Thắng
(1996) có bài viết về nhân vật Nguyễn Văn Thoại; nhân vật Ơng Ích Khiêm. Trong
cuốn này tác giả đã nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của Ông Ích Khiêm và
Nguyễn Văn Thoại nhưng đó chỉ là cách tiếp cận từ một khía cạnh chứ chưa có cái
nhìn tồn diện hơn về các nhân vật lịch sử.
Trong cơng trình “Đà Nẵng bước vào thế kỉ 21” có bài “Những phát hiện mới
về Ơng Ích Khiêm” của Nguyễn Văn Xuân (2000), đã trình bày được những phát
hiện mới về nhân vật Ơng Ích Khiêm.
Tác giả Nguyễn Thiếu Dũng (2011), trong bài viết “Án oan của một công
thần” trong cuốn “Lịch sử xứ Quảng” đã tiếp cận và khám phá và tìm hiểu về nỗi
oan ức chốn quan trường của Nguyễn Văn Thoại nhưng chưa đi sâu tìm hiểu về
thân thế, sự nghiệp của nhân vật lịch sử.
Tác giả Ngô Văn Minh (2011), có bài viết “Ơng Ích Khiêm danh tướng “quá
võ, thừa văn” trong cuốn sách “Lịch sử xứ Quảng”. Bài viết đã giúp độc giả hiểu
hơn về Ông Ích Khiêm một con người có khí phách, tài năng và có những đóng góp
to lớn trong cơng cuộc bảo vệ đất nước trước nạn ngoại xâm.
Trong cuốn sách “Xứ Quảng vùng đất và con người” có bài “Nguyễn Văn
Thoại, người con ưu tú của xứ Quảng trên đất An Giang” của Nguyễn Phước Tương
(2013). Bài viết này đã đề cập đến vai trò của Nguyễn Văn Thoại trong việc đào
kênh phục vụ cho sản xuất nơng nghiệp nhưng đó chỉ về mặt kinh tế, chính trị. Mặc
3
dù vậy, cơng trình là cơ sở tư liệu để các nhà nghiên cứu kế thừa, phát triển trong
quá trình thực hiện đề tài.
Tìm hiểu về nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn cũng được đề cập
trong một số báo và tạp chí nghiên cứu. Trên báo Đà Nẵng ngày13/09/2014 có bài
viết “Để tiếng thơm cịn mãi” của tác giả Mai Trang, Bùi Văn Tiếng với bài viết
“Chợ truyền thống” cập nhật ngày 17/10/2014 . Do giới hạn bởi một bài viết ngắn
nên các tác giả đã không thể truyền tải hết tất cả nội dung, chưa phản ánh đầy đủ về
thân thế, sự nghiệp, đóng góp của các nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn ở Đà
Nẵng.
Ngồi ra, cũng có một số khóa luận, luận văn ở các trường Đại học đã có sự
quân tâm và nghiên cứu về vấn đề này như đề tài: Triều Nguyễn với kênh Thoại Hà,
kênh Vĩnh Tế của Phan Năm Thúy (2010), Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng;
Lịch sử Đà Nẵng của Võ Văn Dật (1974), Tiểu luận cao học sử học, Viện Đại học
Huế, Trường Đại học Văn khoa. Ở góc độ nào đó, những đề tài nêu trên chỉ nghiên
cứu về một vấn đề cụ thể của nhân vật và nhiều nhân vật trong thời đại mà chưa có
một cái nhìn tồn diện về nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn ở Đà Nẵng với những
đóng góp.
Nhìn chung, các cơng trình trên đều có nghiên cứu về nhân vật lịch sử ở Đà
Nẵng dưới triều Nguyễn ở những khía cạnh cụ thể nhưng vẫn chưa có cái nhìn cụ
thể, đi sâu, khái quát trong một thời kì lịch sử của dân tộc. Tính đến thời điểm hiện
tại chưa có một cơng trình nào nghiên cứu tồn diện về hai nhân vật lịch sử Ơng Ích
Khiêm và Nguyễn Văn Thoại dưới thời kì nhà Nguyễn. Song, kết quả nghiên cứu từ
các cơng trình nói trên tạo cơ sở tư liệu để đề tài nghiên cứu tồn diện, có hệ thống
hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên các nguồn tư liệu, đề tài góp phần tìm hiểu về các nhân vật lịch sử ở
Đà Nẵng dưới triều Nguyễn. Trên cơ sở đó, chúng tơi đánh giá vai trị, hoạt động
của các nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn, từ đó thấy được những đóng góp to lớn
của họ. Đồng thời, từ việc nghiên cứu đề tài này rèn luyện cho chúng tôi kĩ năng
4
nghiên cứu, kĩ năng tìm, phân tích, đánh giá tài liệu và các kỹ năng chuyên môn
khác.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi tập trung vào
thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Nghiên cứu về mảnh đất và con người Đà Nẵng, điều này có ảnh
hưởng rất quan trọng đến việc ra đời, hình thành nhân cách con người của các nhân
vật lịch sử.
- Thứ hai: Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng
dưới triều Nguyễn.
- Thứ ba: Đánh giá, nhận xét về những đóng góp của các nhân vật lịch sử ở Đà
Nẵng dưới triều Nguyễn và những ghi công, cảm nhận của các thế hệ ngày sau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn ở Đà Nẵng
về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của các nhân vật trong lịch sử dân tộc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân vật lịch
sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn (1802 - 1884). Bên cạnh đó, để làm rõ hơn về các
nhân vật lịch sử, đề tài cịn tập trung nghiên cứu khơng chỉ về khoảng thời gian hoạt
động, đóng góp của họ dưới triều Nguyễn mà cịn tìm hiểu về thân thế của nhân vật
trước khi họ bước vào chốn quan trường và những giá trị đóng góp của họ trong bối
cảnh hiện nay.
- Phạm vi không gian và nội dung nghiên cứu: Khi thực hiện đề tài này,
chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về các nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn
về hoạt động và vai trò của họ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước lúc bấy
giờ. Ngồi ra, chúng tơi cịn tìm hiểu về q hương Đà Nẵng - nơi sinh ra những
người con tài năng, ưu tú và tâm đức ấy.
5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Nghiên cứu đề tài, chúng tôi đứng trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về nghiên cứu lịch sử và coi đó là kim chỉ Nam định hướng cho các hoạt động
nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài hoàn thành là kết quả của sự kết hợp chặt
chẽ hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgic. Sử dụng phương pháp lịch sử, chúng tôi xem xét, trình bày thân
thế, quá trình hoạt động của các nhân vật lịch sử trong bối cảnh lịch sử dưới triều
nhà Nguyễn, qua đó thấy được vai trị, đóng góp của các nhân vật lịch sử không chỉ
ở thành phố Đà Nẵng mà ở nhiều nơi trên đất nước dưới triều nhà Nguyễn. Đối với
phương pháp lôgic, chúng tôi vận dụng trong nghiên cứu để khái quát vấn đề theo
tiến trình lịch sử Đà Nẵng từ khi hình thành cho tới ngày nay, chú trọng vào triều
Nguyễn theo lôgic vấn đề được trình bày trong đề tài, tìm ra tính chất, mối quan hệ
giữa các sự kiện với nhau. Trên cơ sở lôgic của vấn đề, chúng tôi đánh giá và rút ra
những nhận xét, đánh giá về đóng góp của các nhân vật lịch sử dưới triều Nguyễn ở
Đà Nẵng.
Ngồi ra, chúng tơi cịn sử dụng và kết hợp với các liên ngành khác như:
phương pháp sưu tầm - xử lí tư liệu; phân tích - tổng hợp, thống kê - mô tả, so sánh
- đối chiếu.
6. Nguồn tư liệu
- Các cơng trình sách chun khảo: Trong q trình tiến hành nghiên cứu đề
tài, chúng tôi đã khai thác từ nguồn tài liệu sách chuyên khảo nghiên cứu về Đà
Nẵng, về sự nghiệp, công lao của các nhân vật lịch sử, tiêu biểu như cơng trình:
Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, Nguyễn Văn Hầu
(2006), NXB Trẻ; “Nguyễn Văn Thoại, người con ưu tú của xứ Quảng trên đất An
Giang” trong cuốn Xứ Quảng vùng đất và con người, Nguyễn Phước Tương (2013),
NXB Hồng Đức, Hội sử học Thành phố Đà Nẵng; “Ơng Ích Khiêm”, Quảng Nam
đất nước và nhân vật, Nguyễn Q. Thắng (1996), NXB Văn hóa Thơng tin;… Các
6
cơng trình chun khảo được coi là những tư liệu căn bản để các tác giả nghiên cứu
và hoàn thành đề tài.
- Khóa luận tốt nghiệp và tạp chí chun ngành: Các tài liệu này cũng được
nghiên cứu, khai thác một cách hợp lí nhằm góp phần bổ sung tính khoa học của đề
tài này, có thể kể đến như: Phan Năm Thúy (2010), Trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng, Triều Nguyễn với kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế; Võ Văn Dật (1974), Lịch sử
Đà Nẵng, Viện Đại học Huế, Trường Đại học Văn khoa; Huỳnh Công Bá (1996),
“Bàn thêm về nguồn gốc địa danh Đà Nẵng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Số 3(286),
Tr. 69 -71;…
- Nguồn tư liệu internet: Hồn thành đề tài này cịn là kết quả của việc tham
khảo một số bài viết như “Thoại Ngọc Hầu với việc đào kênh ở An Giang nửa đầu
thế kỉ XIX” (Trần Hữu Thắng, www.sugia.vn), cập nhật ngày 27/7/2013; “Tên
sông, tên đất, tên người” (Văn Thành Lê, http://baodanang), cập nhật ngày
11/10/2014. Các tài liệu này cho phép nghiên cứu cập nhật các kết quả mới và phục
vụ việc nghiên cứu, đảm bảo cho đề tài mang tính khoa học nhất.
7. Đóng góp của đề tài
Các nhân vật lịch sử là những vị có đóng góp to lớn cho thời đại lúc bấy giờ.
Cho nên, đề tài hoàn thành sẽ cung cấp nguồn tư liệu mang tính khoa học, giúp hiểu
một cách đầy đủ về các nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn, thân thế, sự
nghiệp cũng như những đóng góp của họ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Từ đó, tạo cơ sở khoa học để đánh giá tồn diện, chính xác hơn về các nhân
vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn.
Nghiên cứu về các nhân vật lịch sử thời nhà Nguyễn ở Đà Nẵng giúp chúng ta
hiểu rõ hơn tại sao ở một con đường, một trường học hay nơi nào đó lại mang tên
nhân vật lịch sử này. Tìm về lịch sử của dân tộc ta để thấy rõ lịch sử có những con
người ấy, họ có trí tuệ, cương trực, ln đặt lợi ích của người dân lên trên lợi ích cá
nhân, u q hương, đất nước. Nó góp phần giáo dục thế hệ trẻ về phẩm chất đạo
đức, trí tuệ và những cống hiến cho xã hội.
7
Ngồi ra, đề tài hồn thành cịn là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, học tập, giảng dạy lịch sử địa phương và là nguồn tư liệu đối với những ai
quan tâm về vấn đề này.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm 3
chương:
- Chương 1: Đà Nẵng - góc nhìn lịch sử
- Chương 2: Tìm hiểu nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới triều Nguyễn (1802 1884)
- Chương 3: Một vài nhận xét, đánh giá về nhân vật lịch sử ở Đà Nẵng dưới
triều Nguyễn (1802 - 1884).
8
NỘI DUNG
Chương 1: ĐÀ NẴNG - GĨC NHÌN LỊCH SỬ
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của Đà Nẵng
Nói đến Đà Nẵng, chúng ta có thể hình dung ngay đó là một thành phố tuyệt
đẹp bên sông Hàn, bên bờ biển Đông với những nét quyến rũ chưa từng có ở các đơ
thị biển khác. Thành phố Đà Nẵng là một cảng biển lâu đời, đứng liền kề với núi,
sông, đồng ruộng, trong một cảnh quan thiên nhiên hài hoà, kỳ thú, nằm ở trung độ
của cả nước.
Đà Nẵng - phía Bắc là đèo Hải Vân hùng vĩ, bên kia là kinh đơ Huế, phía
Đơng Bắc là ngọn Sơn Trà, phía trong Nam có hịn Nghê dáng như hổ phục, phía
Tây có hịn Mỏ Điều trên dựng pháo đài và Đơng Nam có Ngũ Hành Sơn với những
thắng cảnh nổi tiếng. Cửa tấn Cu đê và con sơng Thủy Tú ở phía Bắc, con sơng Cổ
Cị ở phía Nam một thời lưu thơng huyết mạch với thương cảng Hội An.
Diện tích tự nhiên ở Đà Nẵng là 1.283,4km2. Đà Nẵng có 6 quận nội thành, 2
huyện và 56 phường, xã (45 phường, 11 xã). Các quận: Cẩm Lệ, Hải Châu, Liên
Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê và 2 huyện: huyện Hòa Vang và huyện
đảo Hoàng Sa.
Dân số ở đây là 951.572 người, mật độ là 757,8 người/km2 (2011).
Đà Nẵng nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường
biển và đường hàng không cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố
Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam. Ngồi ra, Đà Nẵng cịn là trung điểm của bốn di
sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và
Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những
cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông
9
Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa. Nằm ngay trên một trong những tuyến
đường biển và đường hàng khơng quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý
đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
Từ thế kỉ XVI – XVII, Đà Nẵng đã nổi tiếng nhờ có “một trong những hải
cảng đẹp nhất Đơng Dương”, ln có sức hấp dẫn tàu thuyền các nơi đến bởi nó có
độ sâu từ 17 - 20 sải (25 - 30 mét), có sức chứa hàng ngàn thuyền lớn nhỏ và đươc
đèo Hải Vân che chắn ở phía Bắc, núi Sơn Trà ở phía Đơng Nam, có thể biến nó
thành vị trí khống chế tất cả các tàu thuyền nào muốn đi vào Trung Quốc, Nhật Bản
như nhận xét của một sĩ quan người Anh đến Đà Nẵng thế kỉ XVIII [47]. Cũng vì
thế, Đà Nẵng là mục tiêu tấn cơng đầu tiên trong âm mưu thơn tính Việt Nam của
thực dân Pháp.
Ngày nay, khơng chỉ đứng đầu sóng ngọn gió, người miền Trung đang đứng ở
ngã tư của con đường giao lưu quốc tế từ Ấn Độ xuyên qua Thái Bình Dương. Thời
đại hội nhập cùng với những cơ hội mới mở ra những chân trời cho những con tàu
với nhiều tham vọng, Đà Nẵng sẽ phải là đầu tàu cho vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung tiến ra biển lớn.
Về điều kiện tự nhiên, Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen
giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở
phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và
mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng
không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 250C, riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao
gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C. Độ ẩm khơng khí trung bình là
83,4%. Lượng mưa trung bình năm là 2.504,57 mm. Số giờ nắng bình quân là
2.156,2 giờ/năm.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và
dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một
số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Địa hình đồi núi chiếm diện tích
lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng
10
đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ mơi trường sinh thái của thành phố. Hệ thống sơng
ngịi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn,
là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và
các khu chức năng của thành phố.
Bờ biển Đà Nẵng vốn khúc khuỷa nhưng đã được san bằng qua phương thức
cồn cát, đầm phá, các mõm núi nhô ra biển được nối liền bởi các dải cồn. Biển sâu,
hải lưu chảy nhanh hơn, bùn sét do hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn mang ra đã ít
lại bị cuốn đi xa nên ven bờ toàn cát trắng xám. Cũng vì lí do này mà Đà Nẵng có
nhiều bãi tắm đẹp như Mĩ Khê, Non Nước,…(50, tr.10].
Do nằm trong một địa hình đặc biệt, có núi rừng, trung du, đồng bằng, biển
cả… Đà Nẵng mang trong mình một vẻ đẹp đa dạng. Có cái hùng vĩ, phóng khống
của núi cao và cái mênh mơng, trữ tình của biển cả; có cái mềm mại, nhỏ nhắn của
sơng ngịi và cũng có những góc khuất, những đường vịng của đèo cao; có cái thơ
mộng, dịu dàng của bờ cát, của bến sơng và cũng có cái tráng lệ, mạnh mẽ của phố
xá, của những tượng đài, cao ốc bằng bêtông cốt thép để Đà Nẵng trở thành thành
phố của du lịch, thành phố của những di tích và của những danh lam thắng cảnh.
Với vị trí địa lí cũng như điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo mọi điều kiện để
Đà Nẵng phát triển, xứng đáng là trung tâm kinh tế, văn hóa của miền Trung cũng
như cả nước.
1.1.2. Đà Nẵng trong tiến trình của lịch sử dân tộc
Đà Nẵng hơn nửa thiên niên kỉ ra đời và phát triển đã trải qua nhiều giai đoạn
chuyển biến với những đóng góp quan trọng vào lịch sử dân tộc. Đà Nẵng trải qua
nhiều tên gọi khác nhau, có tên gọi tồn tại trong thời gian dài nhưng cũng có tên gọi
chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Địa danh Đà Nẵng có thể giải thích theo ngơn ngữ Chăm là “sơng lớn” hay
“cửa sơng cái”. Cịn một tên gọi khác trong dân gian, xuất hiện sau tên gọi Đà Nẵng
là tên gọi gắn liền với con sông Hàn. Tên gọi Cửa Hàn được sử dụng trong câu vè:
“ Hòn Hành nằm đó là nơi Cửa Hàn
11
Cửa Hàn còn ở trong xa
Trước mũi Sơn Trà, sau có con Nghê” [13, tr.15]
Từ thuở ban sơ đến ngày nay, Đà Nẵng đã vượt qua những chặng đường dài
khó khăn, biết bao thế hệ cha ông đã dày công vun đắp để có một Đà Nẵng như
ngày hơm nay. Nơi đây là nơi sinh sống của người Hoa, người Nhật, đã từng in dấu
giày của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, đã từng chịu ảnh hưởng của dấu ấn
Pháp, Mĩ,… nhưng Đà Nẵng từ xưa đến nay vẫn là một thành phố Việt Nam, một
thành phố của miền Trung Việt Nam, mang trong mình dịng máu Việt với tất cả
những đặc trưng vừa đa dạng, vừa nhất quán của vùng duyên hải này.
Đà Nẵng không chỉ là tên gọi một thành phố cảng biển lớn nhất miền Trung
hiện tại mà cịn gắn liền với cơng cuộc mở mang bờ cõi. Đà Nẵng hơn hai thập kỉ là
thủ phủ của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, gắn bó với nhau vượt qua mọi khó khăn,
thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Trước thế kỉ XIII, Đà Nẵng thuộc vùng Đại Chiêm của lãnh thổ Chăm pa. Vào
năm 1306, vua Chăm pa là Chế Mân xin cưới công chúa Huyền Trân, con gái của
Trần Nhân Tông (1279 -1293), em gái của vua Trần Anh Tơng (1293 - 1314) và
dâng hai châu là châu Ơ và châu Lí để làm lễ cưới. Sau khi sát nhập hai châu này
vào lãnh thổ Đại Việt năm 1307, Trần Anh Tông thay đổi tên gọi thành Thuận Châu
và Hóa Châu. Hóa Châu kéo dài từ Thừa Thiên Huế đến phía Bắc sơng Thu Bồn là
vùng Đà Nẵng đến Bắc Quảng Nam ngày nay.
Từ thế kỉ XV, mảnh đất này đã nằm trong lãnh thổ của quốc gia Đại Việt và có
tên là Hàn thị, cửa khẩu của Hàn thị gọi là Cửa Hàn, là một trong những cửa biển
quan trọng phía Nam nước Việt. Đến đời Lê Thánh Tơng (1466) thì vùng đất này
thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa.
Dưới thời Tây Sơn, Đà Nẵng trở thành vùng tranh chấp, chứng kiến những
trận đánh giữa quan quân nhà Nguyễn trong cuộc tấn công vào cửa Đại Việt và Đại
Chiêm.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tuyên bố Quảng Nam - Đà Nẵng là quận chân
tay của triều đình. Năm 1813, triều đình cử Nguyễn Văn Thành lập pháo đài Điện
Hải và đồn An Hải nằm hai bên tả hữu sông Hàn để quan sát ngồi biển và phịng
12
thủ Đà Nẵng. Liên tục trong các thập kỉ đầu thế kỉ XIX, tàu thuyền Pháp đến Việt
Nam xin buôn bán, giao thương, truyền giáo mà thực chất là muốn thơn tính Việt
Nam. Pháp chọn Đà Nẵng là mũi tiến cơng đầu tiên vì đây có cảng biển sâu rộng
thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu, cửa ngõ quan trọng của kinh thành Huế. Tàu
thuyền Pháp vẫn được buôn bán nhưng mọi đề nghị gặp gỡ triều đình đều được viên
quan trấn thủ cửa biển khước từ khéo léo. Tuy nhiều lần nhịm ngó nhưng Pháp vẫn
chưa đủ điều kiện để tiến hành xâm lược, thơn tính Việt Nam. Sau sự kiện ngày
15/4/1847, phó đơ đốc Pháp là Genouilly cho quân bắn chìm năm tàu bọc đồng của
triều đình, giết hại nhiều người rồi rút về nước thì 10 năm sau, dưới sự chỉ huy của
Genouilly ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công vào Đà
Nẵng. Từ cái mốc lịch sử năm 1858, mảnh đất này được viết tiếp bằng những trang
sử thi hùng tráng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bước đi của Đà Nẵng
song hành với những bước đi gian nan của dân tộc cho đến ngày toàn thắng
30/4/1975.
Tháng 10/1858, vua Tự Đức điều tướng giỏi là Nguyễn Tri Phương làm Tổng
thống quân thứ Quảng Nam. Nguyễn Tri Phương không chủ trương đánh chính diện
để tránh sức mạnh hỏa lực của đối phương mà cho phục kích, thực hiện “vườn
khơng, nhà trống” (để cô lập và triệt đường tiếp tế) và cho đắp lũy dài từ Hải Châu
vào tới Phúc Ninh, Thanh Giản, để bao vây liên quân ngoài mé biển. Dưới nước,
thực hiện mưu kế của Trần Nhật Hiền làm dây xích ngầm chắn ngang các dịng
sơng, cửa biển, dùng thuyền nhỏ phục nơi hiểm yếu để ngăn chặn tàu địch di
chuyển. Triều đình cịn tăng cường các loại vũ khí, phương tiện phịng thủ như địa
chấn lơi, súng đồng, ống phun lửa, hòm gỗ, ngựa gỗ [14, tr.15].
Triều đình cùng nhân dân sát cánh bên nhau đã đánh bại được âm mưu đánh
nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Trước sự chống trả quyết liệt của nhân dân
Đà Nẵng cùng với sự khác biệt về khí hậu đã gây nên dịch bệnh làm tiêu hao lực
lượng, quân Pháp quyết định chuyển hướng tấn công vào Gia Định, chỉ để lại ở đây
một đại đội, vài chiến hạm do đại tá Tayon chỉ huy. Tương quan lực lượng có lợi
cho ta nên quân ta liên tục tổ chức tấn công địch và đánh thắng một số trận. Đội
Nghĩa dũng do Phạm Gia Vĩnh chỉ huy đã phối hợp với quân của Nguyễn Tri
Phương đánh thắng một trận ở Hải Châu và Thạc Gián. Tháng 4/1859, quân ta lập
những chiến công liên tục ở Thạch Thang, Hải Châu,… làm cho quân Tayon lâm
13
nguy, buộc Genouilly sau khi chiếm được thành Gia Định (18/2/1859) phải vội vã
kéo đại quân ra Đà Nẵng cứu viện cho Tayon và tính chuyện đánh kinh thành Huế
nhằm nhanh chống thơn tính Việt Nam [14, tr.15].
Sau khi thất bại trong âm mưu đánh vào kinh thành Huế thì Genouilly đã xin
từ chức và đô đốc Page lên thay thế. Page đã chỉ huy hạm đội Pháp đánh lên đồn
Chơn Sảng ở phía bắc Đà Nẵng, án ngữ đường ra Huế. Một cuộc pháo chiến nổ ra
dữ dội giữa hai bên. Tin đồn về Chơn Sảng thất thủ và pháo đài Điện Hải bị bắn
phá, đường Đà Nẵng - Huế qua đèo Hải Vân bị tắc nghẽn làm vua Tự Đức rất lo
lắng, vội cử ngay thống chế Nguyễn Trọng Thao từ trên đỉnh đèo đánh xuống, quân
của Nguyễn Hiền và Trần Đình Túc ở hai đồn Câu Đê và Hóa Ổ (Nam Ơ), từ chân
đèo Hải Vân đánh lên, đã đánh bật được quân Pháp ra khỏi các nơi chiếm đóng, giải
phóng được đèo. Trong lúc này, chiến tranh giữa Pháp với Trung Quốc trở nên
quyết liệt, Page phải rút quân sang Trung Quốc, Pháp rút khỏi Đà Nẵng vào ngày
23/3/1860 [14, tr.17].
Việc Pháp chọn Đà Nẵng làm mũi tiến công là sự lựa chọn chiến lược của tồn
bộ kế hoạch thơn tính Việt Nam cho nên việc Pháp rút quân khỏi Đà Nẵng là một
thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta nói chung, nhân dân Đà Nẵng nói riêng.
Với hiệp ước Giáp Tuất (13/7/1874), Pháp đòi được cư trú ở Đà Nẵng và đòi
một vùng đất quanh hải cảng rộng 9km2 để lập cơ sở buôn bán. Hiệp ước Patơnốt
1884, Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp. Ngày 1/11/1888 (Mậu Tý), Pháp buộc
vua Đồng Khánh do Pháp đưa lên ngơi, kí một đạo dụ nhượng trọn quyền sở hữu ba
thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho chính phủ Pháp kiến lập thuộc địa.
Theo phụ đính của đạo dụ, Đà Nẵng gồm các xã Hải Châu, Phước Ninh, Thạch
Thang, Nam Dương và Nại Hiên. Đó là lãnh địa đầu tiên của thành phố Đà Nẵng
thời nhượng địa. Mười ba năm sau vua Thành Thái ký thêm một đạo dụ nữa vào
ngày 13/1/1901 (Canh Tý) nới rộng nhượng địa Đà Nẵng, cắt thêm 8 xã thuộc
huyện Hòa Vang và 6 xã thuộc huyện Diên Phước nhập vào nhượng địa [14, tr.19].
Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta, vào năm 1889, thực dân Pháp tách Đà
Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của
Tồn quyền Đơng Dương. Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành
một đô thị theo kiểu Tây phương. Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu
14
tư. Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh được hình thành và phát triển: sản xuất
nơng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực
phẩm, nước ngọt, nước đá, rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh
doanh dịch vụ. Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm
thương mại quan trọng của cả nước.
Đà Nẵng dù trở thành đất nhượng địa nhưng đây là quê hương của nhiều chí sĩ
yêu nước, phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Đà Nẵng liên tục phát triển
rầm rộ. Cùng với các phong trào chống sưu cao, thuế nặng, phong trào bãi khóa của
học sinh trong những năm 1925 -1927 đã tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của tổ
chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong
quá trình đấu tranh, phát triển các phong trào, yêu cầu cấp thiết phải có một Đảng
lãnh đạo thống nhất và vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930). Ngày
28/3/1930, Thị ủy lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam thị xã Đà Nẵng được thành
lập, thống nhất lãnh đạo, đưa cách mạng phát triển sang một trang mới.
Thời kì 1930 - 1931, Đà Nẵng có một Thị ủy với ba chi bộ Đảng, một số tổ
chức công hội đỏ, cứu tế đỏ, hoạt động chủ yếu là rải truyền đơn, treo cờ Đảng
trong các ngày lễ cách mạng.
Trong giai đoạn 1936 -1939, thông qua việc huy động quần chúng đấu tranh,
phát triển các tổ chức chính trị quân sự trong nhân dân, Đảng bộ Đà Nẵng đã tạo thế
và lực cho thời kì cách mạng tiếp theo.
Cách mạng tháng Tám thành công, Đà Nẵng thoát khỏi nhượng địa, nhân dân
được tự do xây dựng chính quyền. Thành phố Đà Nẵng được gọi là thành phố Thái
Phiên, tỉnh Quảng Nam được gọi là tỉnh Trần Cao Vân, lấy tên hai nhà yêu nước
của tỉnh Quảng Nam trong cuộc khởi nghĩa Quang phục hội chống Pháp. Đến ngày
9/10/1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hịa khơng dùng tên của các danh
nhân để đặt tên cho tỉnh, thành phố nữa, Đà Nẵng về lại với tên gọi trước.
Nhưng cũng như tình hình chung của nước nhà, Đà Nẵng bên cạnh những mặt
thuận lợi cũng gặp khơng ít những khó khăn thử thách. Qn và dân Đà Nẵng vừa
đối phó với thù trong, giặc ngồi, vừa chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp
lần hai. Với những khó khăn đó, địi hỏi nhân dân Đà Nẵng phải hết sức cố gắng,
phải ổn định được tình hình kinh tế, xã hội, giữ vững lòng tin đối với Đảng, chính
15
quyền để không bị bọn phản động lợi dụng, quân xâm lược khơng có cơ hội trở lại.
Chín năm kháng chiến đầy những thử thách, hi sinh với những chiến cơng vang dội
đã góp phần vào chiến thắng của cả nước.
Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. Cuộc kháng
chiến chống Pháp kết thúc, Đà Nẵng và nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc
chiến tranh ác liệt chống lại đế quốc Mĩ. Tháng 3/1965 các đơn vị thủy quân lục
chiến Mĩ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn.
Qua hai thập kỉ chống đế quốc Mĩ xâm lược (1955 - 1975), Đà Nẵng tiếp tục là
người lính tiên phong đương đầu với những đơn vị chính quy, thiện chiến của quân
đội Mĩ đổ vào Đà Nẵng tiến hành chiến tranh cục bộ (3/1965). Từ trong lịng thành
phố, với tinh thần u nước, với ý chí khơng có gì q hơn độc lập tự do, phong
trào đấu tranh của nhân dân bùng lên mạnh mẽ, làm chủ thành phố. Cuộc đấu tranh
chống Hiến chương Vũng Tàu của Khánh Hương (1964), nhân dân đã làm chủ 9
ngày. Cuộc đấu tranh chống Thiệu - Kì - Có (1966), nhân dân làm chủ thành phố 76
ngày. Chiến công của quân và dân Đà Nẵng làm kẻ thù phải nể sợ, lịch sử trân
trọng.
Năm 1967, Đà Nẵng được Mĩ ngụy ấn định là thành phố trực thuộc Trung
ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, qn sự,
văn hóa cho vùng I và II chiến thuật. Mĩ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân
sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, cơng trình cơng cộng, cơ sở
thơng tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng. Khu kỹ nghệ Hòa Khánh sản xuất
oxygen, acetylene, bột giặt, xay xát, dệt,... ở thời kỳ này công nghiệp được phát
triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công. Tuy
nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạy
vào các trại tị nạn, các khu ổ chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất khơng
phát triển.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari được kí kết. Ngày 29/3, Mĩ làm lễ cuốn cờ tại
sân bay Đà Nẵng, rút đơn vị quân viễn chinh cuối cùng ra khỏi miền Nam nước ta.
Mĩ vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược, vẫn đưa thêm nhiều phương tiện chiến tranh
vào miền Nam, viện trợ quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gịn. Được cố vấn Mĩ
chỉ huy và nhận viện trợ, chính quyền Sài Gịn ngang nhiên phá hoại hiệp định.
16
Chúng huy động gần như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch tràn ngập lãnh thổ,
liên tiếp mở các cuộc tấn cơng bình định lấn chiếm vào các vùng giải phóng của ta.
Trong thành phố, địch bắt bớ, khủng bố, đàn áp những người tình nghi là cách
mạng, đưa bọn sĩ quan và tay chân trong Đảng dân chủ về nắm cơ sở, củng cố bộ
máy tề điệp, bức ép nhiều người vào Đảng dân chủ. Chúng thanh trừng số không ăn
cánh, không phải đảng viên dân chủ, thành lập “Mặt trận tranh thủ hịa bình”, thực
hiện dân chủ giả hiệu, tạo ra cảnh phồn vinh giả tạo để mua chuộc quần chúng và
vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh. Chúng phong tỏa kinh tế, đánh phá
cửa khẩu, kiểm soát gắt gao các cửa ngõ ra vào thành phố, cấm quần chúng đi lại
giữa vùng ta và vùng chúng kiểm sốt [40, tr.584-585].
Năm 1975, hịa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến
tranh. Mặc dù, còn lắm khó khăn nhưng cơng cuộc phục hồi và phát triển thành phố
đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới sau năm 1986.
Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược đến cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, giải phóng Đà Nẵng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã ngót một
thế kỉ. Nhân dân Đà Nẵng đã anh dũng chiến đấu, xứng đáng với truyền thống đi
đầu diệt giặc, xứng đáng với danh hiệu cao qúi mà Đảng và Nhà nước trao tặng
“Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang”.
Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thơng qua Nghị
quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành
phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng
mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hồng
Sa. Đà Nẵng có một hình thể “rất hay, đẹp và rất đa dạng” như lời Tổng bí thư Lê
Khả Phiêu đã đánh giá: Đà Nẵng vừa có biển, đảo, có sơng, có đồng bằng lại có cả
núi rừng và có huyện Hịa Vang nơng nghiệp,… với thiên nhiên ấy, với truyền
thống nhân nghĩa đoàn kết, anh hùng gan góc ấy nên khơng có lý do gì mà Đà Nẵng
không trở thành một thành phố giàu về kinh tế, Đà Nẵng phải trở thành một thành
phố công nghiệp, một trung tâm kinh tế và văn hóa của miền Trung và cả nước [13,
tr.9].
17
Bắt đầu từ ngày 15/7/2003, theo quyết định của Thủ tướng chính phủ số
145/2003/QĐ-TTG, thành phố Đà Nẵng là đơ thị loại I trực thuộc Trung ương như
thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phịng và Cần Thơ [43, tr.296].
Đà Nẵng hôm nay đã từng ngày thay da đổi thịt. Nhắc đến Đà Nẵng là người
ta thường nghĩ ngay đến chương trình “5 khơng, 3 có”, đã làm nên thương hiệu và
bản sắc riêng của Đà Nẵng trong suốt những năm qua. 5 khơng - đó là khơng có hộ
đói, khơng có người mù chữ, khơng có người lang thang xin ăn, khơng có người
nghiện ma túy trong cộng đồng, khơng có giết người cướp của. Sau 5 năm tích cực
triển khai kể từ năm 2000, đã thu được nhiều kết quả đáng mong đợi.
Từ cuối năm 2000, Đà Nẵng đã hồn thành mục tiêu khơng có hộ đói; cuối
năm 2004, cơ bản hồn thành mục tiêu khơng cịn hộ nghèo, trong 2 năm 2001 và
2002 hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ đến người cuối cùng trong độ tuổi 6-35, tập
trung 1.537 lượt người lang thang xin ăn vào Trung tâm Bảo trợ xã hội, giải quyết
cho 14.570 lượt đối tượng xã hội được hưởng chế độ trợ cấp cứu trợ thường xuyên,
giải quyết cứu trợ đột xuất cho 101.964 lượt người gặp khó khăn, hoạn nạn. Về tội
phạm ma túy, từ năm 2001 đến 2005, Công an thành phố đã bắt và xử lý 245 vụ,
gồm 705 đối tượng, kiềm chế được sự gia tăng tội phạm về ma túy [54].
Sau “5 không”, Đà Nẵng “dấn” thêm bước nữa đó là triển khai chương trình
“3 có” là có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa, văn minh đơ thị. Do triển khai
tích cực và có cách làm hiệu quả mà bình qn hằng năm Đà Nẵng đã giải quyết
công ăn việc làm cho 30 - 32 nghìn lao động, hơn 9.000 căn hộ được dành cho
những người thiếu chỗ ở. Trong khi đó, “Thành phố môi trường”, một đề án mới
đang được triển khai cũng có thể coi là hướng phát triển của việc xây dựng nếp
sống văn hóa - văn minh đơ thị [54].
Và nói đến Đà Nẵng, chúng ta khơng thể khơng nhắc đến dịng sơng Hàn thơ
mộng và cầu Sơng Hàn - cây cầu quay đầu tiên ở Việt Nam - niềm tự hào của người
dân thành phố. Cầu Sông Hàn là biểu tượng cho sức sống mới, là khát vọng đi lên
của thành phố được xây dựng bằng sự đóng góp của mọi người dân. Dường như
mọi vẻ đẹp nên thơ của địng sơng Hàn chỉ được bộc lộ một cách hồn mỹ nhất
trong khơng gian cầu Sơng Hàn lộng gió và mát rượi. Cầu Sơng Hàn khơng chỉ tạo
thêm thuận lợi cho giao thông vận tải, du lịch, khơi dậy tiềm năng kinh tế của một
18
vùng đất rộng lớn ở phía đơng thành phố mà cịn là một dấu ấn văn hố của người
Đà Nẵng hôm nay gửi lại muôn đời con cháu mai sau. Khách sạn Novotel Sông Hàn
cao 155m, hiện đang được xem là tòa nhà cao nhất miền Trung Việt Nam. Cầu
Rồng với hệ thống phun nước, phun lửa được xem là con rồng thép lớn nhất thế giới
Đà Nẵng với vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên đặc trưng, trải qua những bước
thăng trầm của lịch sử, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, người dân nơi
đây mới thấm thía hết tình u q hương, đất nước, hiểu rõ giá trị của hịa bình, tự
do. Khơng có gì quý hơn độc lập tự do mãi là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, là
tâm niệm của mỗi người dân Việt Nam cũng như mỗi người dân đất Quảng.
Con đường phía trước địi hỏi phải có nhiều phấn đấu nhưng Đà Nẵng sẽ phát
triển vì sự sống cịn của mình và cũng để xứng đáng với vị thế của mình là thành
phố động lực cho cả miền Trung và Tây Nguyên, xứng đáng với vai trò mà cả nước
giao phó. Nói như một nhà thơ viết về Đà Nẵng rằng:
Tơi tin giấc mơ lành trong đêm có thể lấy lại được
Miễn là anh dấn bước qua giới hạn của mình
Theo cách Đà Nẵng
Trước thềm biển [35, tr.71].
1.2. Vài nét về con người vùng đất xứ Quảng - Đà Nẵng
Vùng văn hóa xứ Quảng được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền
Trung, dựa trên nền tảng văn hóa Sa Huỳnh và nền văn hóa Champa rực rỡ, từ xa
xưa đã hiện hữu trên mảnh đất Hóa Châu - vùng đất cực Nam của Đại Việt (từ phía
Nam Thừa Thiên Huế đến bờ Bắc sông Thu Bồn hiện nay). Vì thế, khi nói đến giá
trị văn hóa Xứ Quảng, không chỉ những người Quảng Nam - Đà Nẵng mà còn bao
gồm những con người thuộc các dân tộc sống trên mảnh đất này từ thuở khai hoang,
dựng nghiệp cho đến nay đã đồng tâm hiệp lực tạo nên diện mạo đặc trưng của một
vùng. Tuy có những nét đặc trưng riêng nhưng văn hóa xứ Quảng vẫn nằm trong
loại hình văn hóa nơng nghiệp Việt Nam, có những giá trị vật chất và tinh thần. Văn
hóa xứ Quảng khơng chỉ đặc trưng ở văn hóa cư trú người Kinh vùng đồng bằng và
tộc người Cơtu ở vùng cao, ở các di tích lịch sử - văn hóa như thắng cảnh Ngũ Hành
Sơn, thắng cảnh Hải Vân, Sơn Trà, Tiên Sa, Non Nước, mà cịn thể hiện ở văn hóa
19
ẩm thực, đó là mì quảng, bánh tráng đập dập, bánh lá gai, bánh tráng cuốn thịt heo
với những hương vị rất riêng không lẫn vào đâu .
Lễ hội cũng là nét đặc trưng của văn hóa Đà Nẵng, bao gồm nhiều yếu tố dân
tộc, lịch sử, phong tục, tâm lý, tín ngưỡng tơn giáo,… Có lễ hội dân gian truyền
thống như lễ hội đình làng, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội văn hóa
như Lễ hội thi bắn pháo hoa quốc tế.
Văn hóa vùng đất này còn là các làn điệu dân ca, hát hò khoan, bài chòi, lý hò
vè độc đáo, chân chất đồng hành cùng các câu hát đồng dao, hát bả trạo, hát sắc
bùa, các trò diễn dân gian như múa lân, các vũ đạo có đường nét kinh điển của nghệ
thuật Tuồng truyền thống mà người xưa gọi là hát Bội. Người dân xứ Quảng cũng
rất tự hào vì nơi đây từng được mệnh danh là cái nơi của loại hình nghệ thuật diễn
xướng dân gian độc đáo này.
Văn hóa xứ Quảng còn là sức sống, sức sáng tạo của người dân được thể hiện
ở kinh nghiệm, tri thức được tích lũy trong quá trình lao động và đấu tranh bền bỉ
với thiên nhiên, với kẻ thù. Tri thức và năng lực sáng tạo đó cịn biểu hiện qua hàng
ngàn câu ca dao, tục ngữ, hàng trăm sản phẩm độc đáo của làng nghề truyền thống,
như đồ mỹ nghệ Non Nước, guốc mộc Xuân Dương, nước mắm Nam Ô, thuốc lá
Cẩm Lệ, bánh tráng Túy Loan. Tất cả đã nói lên tài hoa, khéo léo và tinh xảo của
con người xứ Quảng.
Đứng bên bờ biển Đơng quanh năm sóng vỗ, con người miền Trung vốn đã
được thử thách từ trong bản chất cứng rắn đứng đầu gió. Đất Quảng - vùng đất mà
sự gian khổ đã được đúc kết trong câu ca dao:
“Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo”
Thế mà qua bao biến đổi thăng trầm của đất nước, con người xứ Quảng đã bền
tâm, vững trí vượt lên để có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, góp phần làm nên
một diện mạo tươi đẹp đáng tự hào của Đà Nẵng ngày hôm nay.
Hậu thế không khỏi ngưỡng mộ về một vùng đất “địa linh nhân kiệt”; nơi yết
hầu quan trọng đối với công cuộc Nam tiến mở mang, phát triển đất nước của dân
tộc Việt của các chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn; nơi sinh ra nhiều danh nhân
20
chí sĩ u nước của dân tộc: Hồng Diệu, Ơng Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Trần
Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Châu Thượng Văn, Phan Chu Trinh, Thoại
Ngọc Hầu,….
Ở bất cứ thời kỳ nào, đất Quảng cũng là nơi sinh ra biết bao người tài hoa,
kiệt xuất. Người Quảng luôn tự hào: cho đến khi nào trái đất vẫn cịn tồn tại, sự
sống vẫn cứ sinh sơi thì đất Quảng vẫn còn nhiều người tài hoa. Tự hào về q
hương, đất nước mình, người Quảng ln biến nó thành những hành động thiết
thực. Đúng như bản chất của con người xứ Quảng trọng tình, trọng nghĩa, thật thà,
ngay thẳng, nói ít, làm nhiều. Bản chất thủy chung của người Quảng được thể hiện
trong mọi phương diện cuộc sống. Thủy chung trong tình u đơi lứa, tình cảm q
hương, xóm làng. Thủy chung với đất nước, với dân tộc. Cha ơng ta thường nói
“Một ngày nên nghĩa, chuyến đị nên quen”. Điều này càng được thể hiện rõ nét hơn
trong tâm hồn người Quảng “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu hồng đào
chưa nhấm đà say/ Thương nhau chưa đặng mấy ngày/ Đã mang câu ơn trọng
nghĩa dày bạn ơi”. Dù chung sống, ăn ở với nhau chỉ một ngày hay đơn giản chỉ là
một lời hẹn ước thì người Quảng khơng thể nào qn được. Dẫu có bao cám dỗ:
“đem bạc đổi chì”, thậm chí là cái chết cũng khơng thể nào làm cho họ thay đổi vì
“Trăm năm lịng gắn dạ ghi”. Tính cách trọng tình nghĩa, sắt son, thủy chung của
người Quảng luôn đi đôi với sự tin tưởng vào tương lai và chính mình.
Đà Nẵng nằm trong vùng đất được tôn vinh là “Ngũ phụng tề phi” gắn liền với
truyền thống hiếu học và say mê sáng tạo. Chính vì vậy, ở mảnh đất này là quê
hương của nhiều danh nhân. Họ là những vị tướng lĩnh, nhà chính trị, nhà văn hóa
mà tên tuổi gắn với nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước, của dân tộc như: Nguyễn
Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) (1761-1829) là một danh thần, một nhà ngoại giao,
nhà quân sự, nhà kinh tế doanh điền nổi tiếng và có nhiều đóng góp quan trọng dưới
thời nhà Nguyễn; Ơng Ích Khiêm (1828-1884) là vị quan dưới triều vua Tự Đức nổi
tiếng là người thơng minh, chính trực, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược.
Người Đà Nẵng có bản tính chất phác, ngay thẳng, sống đơn giản, thân thiện, yêu
sự chân thật và kiên quyết trong hành động chống lại những điều ác, điều xấu.
Đà Nẵng là nơi đầu tiên liên quân Pháp - Tây Ban Nha đổ bộ mở đầu cuộc
xâm lược Việt Nam vào năm 1858, cũng là địa phương đầu tiên mà quân viễn chinh
21
Mĩ đổ bộ mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam vào năm 1965, cũng là địa phương duy
nhất có nguyên một huyện đảo bị quân Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái
phép vào năm 1974. Lịng u nước của người Đà Nẵng ngày nay buộc phải đạt đến
độ nhạy cảm cần thiết mới có thể đủ sức ứng phó với thời cuộc. Con người Đà
Nẵng luôn biết sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ vùng trời, vùng biển thuộc chủ
quyền thiêng liêng của Tổ quốc mình.
Qua một chặng đường dài hình thành và phát triển đi lên, các thế hệ con người
Đà Nẵng đã tiếp xúc, giao lưu với bao nền văn hóa nước ngồi nhưng họ khơng bị
đồng hóa mà ngược lại họ đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa để rồi tiếp biến chúng
tạo nên nét riêng, bản sắc văn hóa dân tộc. Đà Nẵng là nơi nhiều bộ phận dân cư
sinh sống đến từ các địa phương khác nhau, tạo nên sự đa dạng về văn hóa. Vì thế,
tính cách người Đà Nẵng ngày nay đã có một chút mềm mỏng của người Huế, một
chút điềm tĩnh của người Hà Nội, một chút kiên trì của người Nghệ Tĩnh, một chút
bao dung của người Nam Bộ. Tất cả bản tính ấy đã hội tụ, kết tinh thành một bản
thể văn hóa. Con người văn hóa Đà Nẵng cịn là con người biết khát vọng vươn lên,
mà khát vọng bao trùm nhất là xây dựng thành phố quê hương mình trở thành thành
phố đáng sống trong tương lai. Với khát vọng vươn lên từ bản thân mỗi cơng dân
Đà Nẵng đến cả cấp chính quyền đã góp phần đưa Đà Nẵng phát triển mạnh mẽ
hơn. Có thể nói, một trong những yếu tố làm nên bộ mặt Đà Nẵng hơm nay chính là
sự đồng lịng của người dân thành phố, nói như cố Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá
Thanh: cái được lớn nhất của Đà Nẵng là được lòng dân. Lòng dân làm nên phố
mới, lòng dân làm nên những con đường khang trang, những cây cầu nối liền đôi
bờ,…. Cuộc sống của người Đà Nẵng ngày càng khá hơn, và hình ảnh về một tính
cách, con người Đà Nẵng chân chất, hiền hậu, hiếu khách được khắc họa rõ hơn bao
giờ hết.
Vì yêu, vì tâm huyết, trách nhiệm với quê hương mà người Đà Nẵng từ lãnh
đạo đến bình dân ln đằm mình suy nghĩ những bước đi, cách làm thích hợp nhất
để xây dựng thành phố quê hương ngày càng giàu đẹp. Vất vả, gian nan còn nhiều,
nhưng lạc quan và niềm tin thì khơng bao giờ cạn. Đó cũng là bản chất của người
Đà Nẵng. Mỗi công dân Đà Nẵng đều có quyền tự hào vì mình là “Người Đà
Nẵng”, về những thay đổi của thành phố hôm nay.
22
Đứng trước nhiều biến cố quan trọng của lịch sử, sự đồng thuận xã hội trong
đó có sự đóng góp to lớn của người dân đã làm thay đổi diện mạo thành phố, đem
lại cho mảnh đất này một sức mạnh lớn lao, tạo đà cho những bước tiếp theo trên
con đường phát triển đi tới tương lai của thành phố.
Với những lợi thế đặc thù về thiên nhiên và con người giúp cho thành phố này
vẫn giữ được vẻ đẹp và ngày càng phát triển như ngày hơm nay.
Tìm hiểu về lịch sử hình thành, phát triển cũng như con người Đà Nẵng là một
dịp để chúng ta tìm về với cội nguồn dân tộc, chạm tay vào quá khứ hào hùng của
ông cha ta, là cơ hội để chúng ta hiểu hơn về những con người đã tạo nên lịch sử.
23
Chương 2: TÌM HIỂU NHÂN VẬT LỊCH SỬ Ở ĐÀ NẴNG
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1884)
2.1. Nguyễn Văn Thoại - Thoại Ngọc Hầu
2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thoại
2.1.1.1. Cuộc đời
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1761-1829), một danh tướng
nhà Nguyễn, nguyên quán tại làng An Hải, tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước,
phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam (nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng). Nguyễn Văn Thoại sinh ra trong một gia đình có ba anh em.
Ơng là con trai cả, người em kế là Nguyễn Thị Định và em út là Nguyễn Văn
Ngoạt. Do có cơng lớn với chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, nên Nguyễn Văn
Thoại được phong tước Thoại Ngọc Hầu. Cũng vì có công giúp triều Nguyễn trong
việc “bảo hộ” Cao Miên, nên ông còn được gọi là Bảo hộ Thoại. Ngay cả cha mẹ
ông là Nguyễn Văn Lượng và Nguyễn Thị Tuyết cũng được triều Nguyễn phong
hầu.Thân phụ ông là Nguyễn Văn Lượng là một người lương thiện, đôn hậu, am
hiểu chữ nghĩa, bởi lẽ thế mà ông đã học được bản tính đó từ cha. Lúc sinh thời,
Nguyễn Văn Lượng làm chức quan nhỏ trông nom việc thờ tự tại các đền miếu do
nhà nước lập ra. Vào ngày 21/7/1822, vua Minh Mạng sắc phong cho Nguyễn Văn
Lượng là Anh dũng tướng quân Khinh xa đô úy Thần sách vệ uy Nguyễn Hầu. Thân
mẫu của Nguyễn Văn Thoại là bà Nguyễn Thị Tuyết và bà cũng được vua Minh
Mạng sắc phong mĩ hiệu là Thục Nhân. Vua Minh Mạng ban rằng “Ngươi là trang
mẹ hiền, con ngươi là bề tôi tốt. Nay đem đạo hiếu mà trị đời, nên phải ban khen
cho ngươi được nhuần ân huệ” [36, tr.204].
Thuở nhỏ, ông là bạn trẻ thơ với Trần Quang Diệu, người theo Tây Sơn, người
theo Nguyễn Ánh trở thành danh tướng Việt Nam nhưng tình bạn giữa họ vẫn đẹp
mà người đời mãi ngợi ca. Trong cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn
(1771 - 1802), khi cha ông đã qua đời, mới 15 tuổi Nguyễn Văn Thoại cùng mẹ rời
24
xa quê hương di cư vào Nam sống tại làng Thới Bình, trên cù lao Dài, nay thuộc
huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyễn Văn Thoại có bà vợ chính là Châu Thị Tế, quê ở cù lao Dài, sinh được
con trai là Nguyễn Văn Lâm và vợ thứ tên là Trương Thị Miệt, cũng sinh một con
trai là Nguyễn Văn Minh. Ngồi ra, ơng cịn có người con gái ni là Thị Nghĩa.
Châu Thị Tế (1766-1826) hay Châu Thị Vĩnh Tế là vợ chính (chánh thất) của
Thoại Ngọc Hầu. Bà sinh năm 1766 tại cù lao Dài (cù lao Năm Thôn), thuộc xã
Qưới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Bà là trưởng nữ của ơng Châu Huy
(có sách chép là Châu Vĩnh Huy) và bà Đỗ Thị Toán. Thời chúa Nguyễn, Nguyễn
Văn Thoại theo mẹ di cư vào Nam sinh sống ở cù lao Dài nên mới gặp bà ở đây và
cưới bà vào năm 1788. Châu Thị Tế sống với Nguyễn Văn Thoại, sinh được một
người con trai là Nguyễn Văn Lâm. Bà mất vào năm 1826, được phong Nhàn Tĩnh
phu nhân.
Bà có tiếng là người vợ hiền đức, tận tụy, đảm đang đã góp phần khơng nhỏ
trong sự nghiệp của chồng. Nên lúc bấy giờ trong dân gian có câu:
“Nước Nam trai sắc gái tài,
Gương bà Châu thị lưu đời ngàn năm”.
Ngày 6 tháng 6 năm 1829, Nguyễn Văn Thoại mất tại Châu Đốc. Vua Minh
Mạng rất thương tiếc và phong tặng ông chức Đô thống, thưởng thêm 1.000 quan
tiền, 5 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 30 tấm vải. Con trưởng là Nguyễn Văn Lâm được
hưởng tập ấm chức Ân kỵ úy.
Thoại Ngọc Hầu là người trung trực, sống nhiệt tình, yêu thương, gần gũi với
dân như chính bản chất của con người xứ Quảng, dù cho ơng xa q hương từ lúc
cịn nhỏ tuổi. Cuộc đời của mình, Thoại Ngọc Hầu đã để lại ánh hào quang rực rỡ
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
2.1.1.2. Sự nghiệp
Thoại Ngọc Hầu là một trong những công thần khai quốc của nhà Nguyễn.
Đối với người dân các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, ngay khi còn sinh
thời, Thoại Ngọc Hầu đã được xem là vị thần hộ mệnh cho dân chúng. Còn đối với
25