Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

bài tập dân sự cá nhân chính thức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.38 KB, 9 trang )

Phần 1: Khái niệm tài sản:
Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví
dụ
minh
họa
về
một
vài
giấy
tờ

giá?
- Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao
được trong giao lưu dân sự.
- Theo Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín
dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3
năm 2008 (được sửa đổi bởi thông tư 16/2009/TT-NHNN ngày 11/08/2009)
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Giấy tờ có giá là chứng nhận của
tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả
nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều
khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”.
- Tại khoản 1 điều 1 Nghị định số 11/2012 NĐ-CP có quy định “Giấy tờ có
giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ
tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá các theo quy định của pháp luật,
trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
- Ví dụ minh họa về một vài tờ giấy có giá:
+ Cổ phiếu công ty.
+ Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng Vietinbank.
+ Trái phiếu Chính phủ.
Câu 2: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy chứng nhận sở hữu nhà” là giấy tờ có giá khơng? Quyết định số 06


và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?
- Trong thực tiễn xét xử, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng
nhận sở hữu nhà khơng được coi là giấy tờ có giá, căn cứ theo pháp luật
Điều 181 BLDS 2005 và quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã
nêu trên.
- Quyết định số 06 có kết luận “Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về quyền sử dụng đất, là văn bản
chứng quyền, không phải là tài sản và không được xem là loại giấy tờ có
giá”.
Câu 3: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản khơng? Quyết định số 06 và
Bản án số 39 có cho câu trả lời khơng? Vì sao?
- “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”
không được xem là tài sản. Vì nó khơng phải là vật, tiền, giấy tờ có giá,
đồng thời cũng khơng phải là quyền tài sản mà nó chỉ là văn bản chứng
quyền của các cơ quan thẩm quyền ban hành nhằm bảo vệ quyền về tài sản
và chủ thể.
1


- Quyết định 06 thể hiện điều đó qua dịng kết luận “Như vậy, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về quyền sử
dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và khơng được xem
là loại giấy tờ có giá”.
- Căn cứ vào Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản.
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06
liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở
hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (về nếu có điều kiện, đối chiếu thêm
với pháp luật nước ngoài)?

- Hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chưa thỏa đáng nếu nhìn từ
khái niệm tài sản vì:
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất
nhất định, nằm trong khả năng chiếm hữu của con người, có giá trị sử dụng.
Việc giấy chứng nhận sử dụng đất không thể tham gia vào giao dịch trao đổi
mua bán không làm mất đi bản chất tài sản của nó.
+ Và việc coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là một tài
sản dẫn tới nhiều hệ quả không giải thích được về mặt lý luận và thực tế.
Đồng thời nhận thức này làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người
sử dụng đất vì đã tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của họ đối
với các loại giấy tờ này.
Câu 5: Nếu áp dụng BLDS năm 2015 thì giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giấy chứng nhận sỡ hữu nhà có phải là tài sản khơng?
- Nếu áp dụng BLDS năm 2015 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy chứng nhận sỡ hữu nhà khơng phải là tài sản.
- Vì nó khơng là vật, tiền, giấy tờ có giá đồng thời cũng khơng phải là quyền
tài sản mà nó chỉ là tờ cơng chứng của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo
vệ quyền lợi về tài sản của chủ thể.
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên
quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu
nhà”?
- Hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là thỏa đáng vì:
+ Về tố tụng, Tịa án đã xem xét kĩ và căn cứ vào khoản 2 điều 4; khoản 14
điều 26 BLTTDS để xác định yêu cầu đòi trả giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông B và bà H là thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
+ Về nội dung, do bà T không chứng minh được việc thế chấp là có thật
nên việc bà T chiếm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bất hơp pháp.
2



Tòa án yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B là
đúng.
1. Bitcoin là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto
dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009. Bitcoin có thể được trao
đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ
chức tài chính trung gian nào.
2. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 về tài sản: “1. Tài sản là vật, tiền,
giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động
sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai.” Theo Điều 16, 17 Luật Ngân hàng nhà nước 2010
quy định về đơn vị tiền, bitcoin không được xem là đơn vị tiền của nhà
nước Việt Nam.
3. Bitcoin hợp pháp tại Hoa Kỳ Năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại
bitcoin như là một loại tiền ảo phi tập trung có thể chuyển đổi. Ủy ban
Giao dịch Hàng hóa Tương lai, CFTC, đã phân loại bitcoin là một loại hàng
hóa vào tháng 9 năm 2015. Theo IRS, bitcoin bị đánh thuế như một tài
sản. Bitcoin đã được đề cập trong một ý kiến của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ
(trên Wisconsin Central Ltd. v. Hoa Kỳ) về việc thay đổi định nghĩa về tiền
vào ngày 21 tháng 6 năm 2018. Nếu các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
tiền tệ, bao gồm sàn giao dịch tiền điện tử, máy chuyển tiền và dịch vụ ẩn
danh thực hiện một số lượng kinh doanh đáng kể ở Hoa Kỳ, thì họ bắt
buộc phải • đăng ký với FinCEN Hoa Kỳ như một doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ tiền tệ • thiết kế và thực thi chương trình chống rửa tiền (AML), và
• lưu giữ hồ sơ thích hợp và báo cáo cho FinCEN, bao gồm Báo cáo hoạt
động đáng ngờ (SAR) và Báo cáo giao dịch tiền tệ (CTR) Mười bảy quốc gia
khác có u cầu AML tương tự. Tính đến năm 2018, FinCEN của Hoa Kỳ
nhận được hơn 1.500 SAR mỗi tháng liên quan đến tiền điện tử. Vào tháng
9 năm 2016, một thẩm phán liên bang đã ra phán quyết rằng "Bitcoin là

tiền theo nghĩa đơn giản của thuật ngữ đó"
4. Ở Việt Nam, việc cấm phát hành, cung ứng và sử dụng tiền mã hóa,
như đề cập tại Cơng văn số 5747/NHNN-PC ngày 21/7/2017 của Ngân
hàng Nhà nước, bộc lộ một số nhược điểm sau đây: Một là, nhu cầu sử
dụng và mua bán tiền mã hóa như một kênh đầu tư kinh tế là nhu cầu
chính đáng và có thể đánh thuế được. Việc khơng thừa nhận tiền mã hóa
đã và đang làm Việt Nam tự mất đi nguồn thu từ hoạt động kinh doanh
này. Hai là, việc khơng thừa nhận tiền mã hóa như tài sản, đồng thời cũng
làm bộc lộ bất cập trong việc bảo hộ quyền sở hữu của công dân. Hơn
nữa, với xu hướng bùng nổ của nhiều nền tảng tiền mã hóa cùng với ICO
(Initial Coin Offering), việc cho phép đầu tư vào các doanh nghiệp cơng
nghệ tiền mã hóa là một động lực thúc đẩy phát triển công nghệ này tại
Việt Nam, khi các dạng hợp đồng thông minh dựa trên công nghệ
blockchain được cho là sẽ thống trị giao dịch điện tử trong tương lai. Ba là,
việc cấm sử dụng tiền ảo khơng đem lại lợi ích trực tiếp gì cho Chính phủ
cũng như người dân Việt Nam, ngược lại cịn làm giảm tính cạnh tranh trên
trường thương mại quốc tế. Quan điểm khơng quản lý được thì cấm khơng
phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. Lo ngại sử dụng tiền mã
hóa như cơng cụ rửa tiền hồn tồn phản tác dụng, vì rất khó hoặc gần
như khơng thể cấm người dân mua tiền mã hóa từ các nguồn nước ngoài
như một kênh đầu tư, mà lại làm mất đi cơ hội đưa việc mua bán vào vịng
kiểm sốt để giảm thiểu việc rửa tiền. Thừa nhận tiền mã hóa là tài sản là
xu hướng chung trên thế giới. Điều này không chỉ phù hợp với các lý luận

3


chung về tài sản và sở hữu, mà còn đáp ứng với thực tiễn phát triển của
các đồng tiền mã hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung. Theo nghiên
cứu vào năm 2015 của Chính phủ Hoa Kỳ, chỉ có 9/130 quốc gia cấm tuyệt

đối sở hữu tiền mã hóa, trong đó có Việt Nam, 16 quốc gia khác cấm một
cách gián tiếp. Vì vậy, Nhà nước, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước có thể
sớm nghiên cứu ban hành quy chế sở hữu đối với loại tài sản tiền mã hóa
này, nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả Nhà nước và người dân trong tương
lai.

Phần 2: Căn cứ xác lập quyền sở hữu:
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tịa án đã khẳng định
gia
đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho
biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tịa án?
- Đoạn “Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế
hệ”, “Trong khi đó chị Vân khai gia đình chị Vân ở tại nhà số 2 Hàng
Bút từ năm 1954”, “ngun đơn khai có địi nhà đối với gia đình chị Vân
từ sau năm 1975”, “đến năm 2004 cụ Hảo mới kiện ra toà” “Ngày
18/02/2001 chị bán tầng 1 nhà số 2 Hàng Bút cho vợ chồng anh Nguyễn
Hồng Sơn và chị Dương Thị Ngọc Lan”
- Căn cứ Khoản 1 Điều 179 BLDS năm 2015:
“1. Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.”
- Vì gia đình chị Vân đã ở nhà số 2 Hàng Bút nhiều thế hệ cộng với khoản
thời gian bắt đầu ở từ năm 1954 đến khi cụ Hảo kiện ra toà năm 2004 là
tầm 50 năm, chị Vân bán tầng 1 nhà số 2 hàng Bút cho vợ chồng anh Sơn
chị Lan
=> chị Vân nắm giữ và chi phối trực tiếp đối với tài sản nhà đất
đang tranh chấp
=> Khẳng định của Toà án hoàn toàn hợp lý.
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tịa án đã khẳng định
gia
đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30

năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tịa án?
- Đoạn : “...Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm
hữu ngay tình, liên tục, cơng khai theo quy định tại khoản 1 Bộ luật dân
sự về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu...” đã khẳng định gia đình chị
4


Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm.
- Khẳng định trên của Tòa án nhân dân tối cao là có phần đúng đắn. Bởi từ
quyết định giám đốc thẩm này có thể thấy chưa xác minh được ông Hải
thuê nhà của cụ Hảo từ năm 1954 hay là th nhà của ơng Chính từ năm
1968. Trong khi đó, ơng Chính lại khơng xuất trình được tài liệu cụ Hảo
ủy quyền cho ơng Chính quản lý căn nhà. Có thể nhận ra quyền chiếm
hữu, sở hữu nhà đất này cũng như thời điểm xác lập giao dịch cho thuê
chưa thực sự rõ ràng. Vì thế, bị đơn là chị Nhữ Thị Vân - người không
trực tiếp giao dịch để thuê nhà đất, cũng như không nắm rõ giao dịch th
nhà đất này có thể khơng biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó
là khơng có căn cứ pháp luật (thỏa mãn điều 189 BLDS 2005) nhưng chị
Vân lại khai có biết về việc thuê nhà của cụ Hảo và nộp tiền thuê nhà cho
ơng Chính. Vậy thì chị Vân có thực sự biết hay khơng biết việc chiếm
hữu tài sản đó là khơng có căn cứ pháp luật của mình?
=> Theo cảm nhận cá nhân, tơi thấy Tịa án nhân dân tối cao đã kết luận hơi
nóng vội.
Câu 3: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tịa án đã khẳng định
gia
đình chị Vân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm

cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tịa án?
- Đoạn “Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế
hệ”, tuy có tranh chấp “Mặc dù phía ngun đơn khai có địi nhà đối với

gia đình chị Vân từ năm 1975 nhưng khơng có tài liệu chứng minh”.
- Căn cứ Điều 182 BLDS năm 2015:
“1. Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một
khoảng thời gian mà khơng có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó
hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
2. Việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đốn
về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184
của Bộ luật này.”
=> Chị Vân hoàn toàn chiếm hữu liên tục đối với nhà đất có tranh chấp
=> Khẳng định của Tồ án hồn toàn hợp lý.

5


Câu 4: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tịa án khẳng định gia
đình chị Vân đã chiếm hữu cơng khai nhà đất có tranh chấp trên 30
năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định của Tịa án?
- Tịa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu cơng khai nhà đất có
tranh chấp trên 30 năm dựa vào đoạn:
“Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay
tình, liên tục, cơng khai theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân
sự về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu : Người chiếm hữu, người được
lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, cơng
khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động
sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm
hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này…”
- Quyết định của Tịa án là hợp lý. Vì theo Khoản 1 Điều 183 BLDS 2015:
“Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách

minh bạch, không giấu giiếm; tài sản đang chiếm hữu được sử
dụng theo tính năng cơng dụng và được người chiếm hữu bảo
quản, giữ gìn như tài sản của chính mình”.
- Chị Vân đã ở cùng gia đình tại nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954 một
cách minh bạch, không giấu giếm, bố chị xem căn nhà là tài sản
của mình và cũng đã nâng cao nền nhà, thay cửa.
Câu 5: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tịa án khẳng định cụ
Hảo khơng cịn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ
của anh/chị về khẳng định này của Tịa án?
- Tịa án khẳng định cụ Hảo khơng cịn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp
qua đoạn:
“Mặc dù phía ngun đơn khai có địi nhà đối với gia đình nhà chị Vân
từ sau năn 1975 nhưng khơng có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản
hịa giải tại Ủy ban nhân dân phường Hàng Bố năm 2001); đến năm
2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tịa án u cầu chị Vân trả nhà là
khơng có căn cứ vì thực tế cụ Hảo khơng cịn là chủ sở hữu nhà đất nêu
trên”.
- Khẳng định này của Tòa án là hợp lý, đảm bảo được lợi ích của các bên
liên quan. Vì theo quy định tại Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự thì:
“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình, liên tục, cơng khai trong thời hạn 10 năm đối với động
sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó kể
6


từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”.
- Do vậy, chị Vân đã chứng minh được là đã chiếm hữu, sử dụng
thửa đất đó ngay tình, liên tục, cơng khai từ 30 năm trở lên nên chị
Vân trở thành chủ sở hữu tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm
hữu. Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người

kiện đòi tài sản phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu
đòi tài sản của mình là có căn cứ và hợp pháp. Do vậy, kể cả
trường hợp gia đình chị Vân khơng chứng minh được là đã chiếm
hữu, sử dụng thửa đất đó ngay tình, liên tục, cơng khai từ 30 năm
trở lên thì điều đó cũng khơng có nghĩa là gia đình chị Vân phải trả
lại thửa đất cho người khởi kiện.
Câu 6: Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối
nhà đất có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền
khơng? Vì sao?
- Nếu cụ Hải thuê nhà của cụ Hảo từ năm 1954 thì chị Vân được hưởng
quyền dân sự vì thời hiệu hưởng quyền của chị đã hết nên chị được xác
lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp. Vì theo Khoản 1, Điều
247, BLDS 2005 và Điều 236, BLDS 2015:
“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động
sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể
từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có
liên quan quy định khác.”
- Gia đình chị Vân đã ở tại nhà đất có tranh chấp trên từ năm 1954 đến năm
2004 (thời điểm cụ Hảo đưa khởi kiện ra Toà yêu cầu chị Vân trả nhà) thì
đã được 50 năm. Theo quy định thì chị Vân đã chiếm hữu bất động sản
trên 30 năm nên trở thành chủ sở hữu của tài sản này.
- Nếu cụ Hải th nhà của ơng Chính từ năm 1968 thì cụ Hảo vẫn là chủ sở
hữu nhà đất nên chị Vân không được xác lập quyền sở hữu đối với nhà
đất có tranh chấp.

Phần 3: Chuyển rủi ro đối với tài sản
Câu 1: Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời?


7


- Trong trường hợp này, ghe xoài đã bị hư do cháy chợ sau khi bà Dung
nhận hàng, tức là bà Dung đã nhận được hàng của bà Thủy trước khi ghe
xoài bị hư do chợ bị cháy và việc cháy chợ là rủi ro. Áp dụng khoản 1 điều
441 BLDS năm 2015: “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản
được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm
nhận tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định
khác.”.
=> Vậy kết luận bà Dung phải chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm
nhận tài sản (cụ thể là ghe xoài).
Câu 2: Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời?
- Vì bà Dung phải chịu rủi ro đối với tài sản (cụ thể là ghe xồi), nhìn lại
trường hợp này thì ghe xồi đã bị hư do cháy chợ sau khi bà Dung nhận
hàng, tức là bà Dung đã nhận được hàng của bà Thủy trước khi ghe xoài bị
hư. Áp dụng khoản 1 điều 441 BLDS năm 2015 và khoản 1 điều 162 BLDS
năm 2015: “Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan
quy định khác.”
- Hoặc điều 166 BLDS năm 2005: “Chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản
bị tiêu hủy hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có
thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”.
=> Vậy kết luận bà Dung sẽ là chủ sở hữu số xồi trên.
Câu 3: Bà Dung có phải thanh tốn tiền mua ghe xồi trên khơng? Vì
sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?
- Vì bà Dung là chủ sở hữu ghe xoài và phải chịu rủi ro về nó như phân tích
ở câu 1 và 2. Áp dụng điều 248 BLDS năm 2005: “Khi chủ sở hữu chuyển
giao quyền sở hữu của mình cho người khác thơng qua hợp đồng mua bán,

trao đổi, tặng cho, cho vay hoặc thơng qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu
đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở
hữu của người được chuyển giao.”, tức là sau khi bà Thủy giao ghe xoài
cho bà Dung thì bà Thủy khơng cịn bất kì quyền sở hữu nào liên quan đến
ghe xồi đó, mọi quyền sở hữu từ giờ sẽ thuộc về bà Dung.
- Và điều 60 Luật thương mại năm 2005: “Trừ trường hợp có thỏa thuận
khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hố đang trên đường vận chuyển
thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua
8


kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.”, tức là bà Dung phải chịu trách nhiệm
cho sự mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa (cụ thể là ghe xồi bị hư).
=> Vì vậy bà Dung vẫn phải thanh tốn tiền ghe xoài cho bà Thủy với trị
giá là 16.476.250 đồng.

9



×