Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.99 KB, 253 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
1..Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lịng.
5.. Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
10.. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
15.. Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
20.. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
25.. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tư trời,
30.. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.
35.. Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Ngày xuân con én đưa thoi,
40.. Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
55.. Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh,
60.. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một thì,
Xơn xao ngồi cửa hiếm gì yến anh.
65.. Kiếp hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70.. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.
Buồng khơng lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khơn xiết sự tình,
Khéo vơ dun ấy là mình với ta.
75.. Đã khơng dun trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm xanh nếp tử xe châu,
Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn ác tà,
80.. ấy mồ vơ chủ, ai mà viếng thăm!
Lịng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.
Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85.. Phũ phàng chi bấy hố cơng,
Ngày xanh mịn mỏi má hồng phôi pha.
Sống làm vợ khắp người ta,
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
Nào người phượng chạ loan chung,
90.. Nào người tích lục tham hồng là ai ?
đã khơng kẻ đối người hồi,
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.
95.. Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra.
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một vài bơng lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
100.. Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.
105.. Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.
Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
110.. Thấy người nằm đó biết sau thế nào ?
Quan rằng: Chị nói hay sao,
Một lời là một vận vào khó nghe.
ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đã ngả dậm về cịn xa.
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.
Một lời nói chửa kịp thưa,
120..Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
ào ào đổ lộc rung cây,
ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.
125.. Mắt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa.
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển mới là chị em.
Đã lòng hiển hiện cho xem,. Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
130..Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135.. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
140.. Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
145.. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
150..Văn chương nết đất, thơng minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
May thay giải cấu tương phùng,
160..Gặp tuần đố lá thoả lịng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngồi cịn e.
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
170..Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu khơng.
Mảnh trăng chênh chếch dịm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
175..Hải đường lả ngọn đơng lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
Người mà đến thế thì thơi,
180..Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu gặp gỡ làm chi,
185..Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa nương bên triện một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
190.. Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
Đào ngun lạc lối đâu mà đến đây ?
Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.
195..Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy lịng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
200.. Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
205.. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn Trường
210.. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đã trở hài,
Nàng cịn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu xịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215..Trơng theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo dạt đã đành,
220.. Biết dun mình, biết phận mình thế thơi !
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ địi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì ?
225..Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa ?
Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đơi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,
230.. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thơi có ra gì mai sau !
235.. Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu,
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
240.. Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.
Cho hay là thói hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.
---
2. Người có tài thì thường gặp mệnh bạc, hình như Tài, mệnh
ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này thì phải kém
cái kia.
3. Bể dâu: Trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành
ngữ "bãi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự
biến đổi thăng trầm của cuộc đời.
5. Bỉ sắc tư phong: Cái kia kém thì cái này hơn, nghĩa là: Được
hơn điều này thì bị kém điều kia.
6. (Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp). ý nói: Người đàn bà
đẹp thường gặp cảnh ngộ không hay.
7. Cảo thơm hay Kiểu thơm: do chữ phương cảo, nghĩa là pho
sách thơm pho sách hay.
Sử xanh: Thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng
cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi
là thanh sử.
9. Gia-tĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).
10. Hai kinh: Tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).
11. Viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt
ra từ thời Lục-triều. Về sau, "Viên ngoại" dần dần trở thành một
hư hàm. Chữ "Viên ngoại" ở đây được dùng theo nghĩa này.
14. Chữ: Theo lễ nghi Trung Quốc xưa, người nào cũng có
"danh" là tên chính, và "tự" là tên chữ ("Danh" đặt từ khi sinh ra,
cịn "tụ" thì đến khi hai mươi tuổi mới dựa theo "danh" mà đặt
ra).
15. Tố Nga: Chỉ người con gái đẹp.
17. Thuý Kiều và Th Vân, mỗi người có một vẻ riêng ví như
mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết.
20. Khng trăng: Khn mặt đầy đặn, trịn trĩnh, xinh xắn như
mặt trăng. Nét ngài: nét lông mày.
21. Thốt: Tiếng cổ có nghĩa là nói.
Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.
25. Thu thuỷ: Nước mùa thu, Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu noi
này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh
đẹp như rặng núi mùa xuân.
27. Bài ca của Lý Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Nghĩa là:
Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người
Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người.
Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc),
nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của
người phụ nữ.
Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở
trên.
nhất, về "tài" thì họa may ra thì cịn có người thứ hai nữa.
31. Cung, thương: Hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc
cổ của Trung Quốc: Cung, thương giốc, truỷ, vũ.
Lầu bậc: Làu thông cung bậc.
32. Hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà.
Hồ cầm một trương: Một cây đàn hồ cầm.
34. Bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuý Kiều sáng tác. "Bạc mệnh"
nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.
Não nhân: Làm cho người ta nghe mà não lòng.
35. Hồng quần: Cái quân màu hồng, hai chữ này được dùng để
chỉ nữ giới.
36. Cặp kê: Đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ
Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến thì hứa gả chồng cho nên bắt
đầu búi tóc cài trâm.
38. Tường đông: Bức tường ở phía đơng. Thời xưa con gái
thường ở nhà phía đơng. Đây dùng chữ "tường đơng" để chỉ chỗ
có con gái đẹp ở.
39. Con én đưa thoi: Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.
40. Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân
có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang
tháng ba.
43. Thanh minh: Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng
ba.
44. Tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con
cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.
Đạp thanh: Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xn, dẫm
lên cỏ xanh ngồi đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp
thanh.
45. Yến anh: Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai
lồi chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với
cảnh những đồn người rộng ràng đi chơi xuân.
48. Ngựa đi như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp
áo quần như nêm: ý nói người đơng đúc, chen chúc.
ngang kéo nhau lên nơi gò đống.
50. Vàng - vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc
lễ hội.
53. Tiểu khê: Ngòi nước nhỏ.
62. Ca nhi: Con hát.
65. Hồng nhan: Má hồng, chỉ người đẹp.
66. Cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.
70. Trâm gãy bình rơi: ý nói người đẹp đã chết.
72. Dấu xe ngựa: Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi
bời trước đấy.
74. Bấy: Biết bao nhiêu.
77. Nếp tử, xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang
có rèm hạt châu. ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang
chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.
78. Bụi hồng: do chữ hồng trần, nghiã là đám bụi đỏ.
trong cõi trần gió bụi.
79. Thỏ bạc, ác vàng: Người xưa cho rằng trong mặt trăng có
con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.
82. Châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.
85. Hoá cơng: Thợ tạo hố, tức là trời.
86. Phượng: Chim phượng trống. LoanI: Chim phượng mái.
Trong văn cổ, loan phương dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây
chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm tiên,
ngày trước.
90. Tiếc lục tham hồng: ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai
nhân.
94. Suối vàng: Do chữ Hồng tuyền ở dưới đất có mạch suối,
mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.
97. áy: Vàng úa.
112. Vận vào: ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.
113. ÂÂAm khí: Cái khí cõi âm, cõi chết, ở đây chỉ khơng khí
bãi tha ma.
116. Thể: Thể xác (hữu hình). Phách: Chỉ những cái gì vơ hình
chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.
118. Hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.
126. Tinh thành: Lịng thành thuần khiết, lịng chí thành.
128. U hiển: U là tối, chỉ cõi chết. Hiển là sáng rõ, chỉ cõi sống. ý
nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cõi âm , người cõi dương.
136. Tay khấu: Tay càm cương ngựa. ý nói, bng lỏng dây
cương cho ngựa đi thong thả.
Dăm băng: Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi.
137. Lưng túi gió trăng: Tức là lưng túi thơ. Những nhà thơ thời
xưa hay ngâm phong vịnh nguyệt, nên người ta gọi thơ là phong
nguyệt (gió trăng).
139. Câu: con ngựa, non trẻ, xinh đẹp.
142. Tự tình: Chuyện trị, bày tỏ tâm tình.
144. Cây quỳnh, cành giao: Cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. ý
nói vẻ khơi ngơ tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng
cũng hoá thành đẹp.
146. Hai Kiều: Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuý
Kiều.
148. Trâm anh: Trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải
mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan
chức. Nhà trâm anh: Chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người
đỗ đạt, làm quan.
149. Phú hậu: Giàu có.
150. Nết đất: Theo lối nhà, theo dòng dõi trong nhà, mạch đất
đó có truyền thống văn chương.
151. Phong tư: Dáng điệu.
Tài mạo: Tài hoa và dung mạo.
152. Phong nhã: Phong lưu nho nhã. Hào hoa: Sang trọng phong
cách có vẻ q phái. Vào trong là ở trong nhà, Ra ngoài là ra
giao thiệp với đời.
155. Hương lân: Làng xóm, ý nói: Vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở
vùng lân cận.
156. Đồng tước: Đời tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương
Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một tồ
lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh
thắng Đơng Ngơ thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ
Tôn sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá
xuân ở đây là khố kín tuổi xn, tức cấm cung, tác giả mượn
điển cũ để nói lóng rằng: nhà họ Vương có hai cơ gái đẹp cấm
cung.
157. Buồng thêu: Buồng người con gái.
158. Chốc mòng: Tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.
159. Giải cấu tương phùng: Cuộc gặp gỡ tình cờ.
160. Đố lá: Hội đố lá, còn gọi là diệp hý, một tục chơi xuân có
từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ
một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc
may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và tìm hiểu nhau.
161. Bóng hồng: Bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời
xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.
162. Xuân lan, thu cúc: Hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ
đẹp riêng, ngưịi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.
163. Quốc sắc: Sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuý Kiều.
166. Chỉn: Tiếng cổ. Chin khôn: chẳng xong, không xong.
173. Gương nga: Theo truyền thuyết trong cung trăng có chị
Hằng Nga, nên thường gọi trăng là "gương nga".
174. Vàng gieo ngấn nước: ánh trăng vàng dọi xuống ngấn nước.
175. Đơng lân: Xóm bên đơng, nơi có con gái đẹp ở, cũng giống
nghĩa chữ "tường đơng" (xem chú thích 38).
Hải đường là ngọn đông lân: Cây hải đường ở xóm đơng ngả
ngọn xuống.
177. Bóng nga: Bóng trăng.
179. Người mà: Chỉ Đạm Tiên.
181. Người đâu: Chỉ Kim Trọng.
186. Triện: Lan can.
188. Phong vận: Yểu điệu.
Thanh tân: Thanh tú tưới tắn.
189. ý nói mặt và thân hình người tiểu kiều đó như có sự và tuyết
in phủ lấy.
190. Sen vàng: Chỉ gót chân người đẹp. Đơng Hơn Hầu, đời Tề
(Nam Bắc Triều), rất yêu quí phi họ Phan, từng đúc hoa sen
Lăng đăng: Tiếng cổ, có nghĩa là đi từ từ chậm chậm, chập chờn
mờ tỏ.
192. Đào nguyên: Đời Tần có một người đánh cá chèo thuyền
ngược theo một dòng suối đi mãi tới một khu rừng trồng tồn
đào, thấy nơi đó có một cảnh sống tuyệt đẹp như nơi tiên ở.
Người sau dùng chữ "nguồn đào" hay "động đào" để chỉ cảnh
tiên.
193. Thanh khí: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu"
(cùng một thứ tiếng thì ứng với nhau, cùng một loại khí thì tìm
đến nhau).
195. Hàn gia: Hèn là nghèo, gia là mọn, nhà xồng, lạnhlẽo, nói
khiêm tốn.
Tây thiên: Phía trời đàng tây, hoặc cánh đồng phía tây.
197. Hạ cố: Trơng xuống, chiếu cố đến nhau.
198. Hạ tứ: Ban xuống, ban cho. Cả câu: Hai bài thơ của Kiều
lời đẹp ý hay, thật quý báu như là ném cho những hạt châu, gieo
cho những thỏi vàng vậy.
200. Đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Số đoạn
trường: Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh.
201. Quả kiếp nhân duyên: Quả là kết quả. Nhân là nguyên
208. Tú khẩu, cẩm tâm: Miệng thêu, lịng gấm. ý nói thơ Kiều
làm rất hay.
222. Địi cơn: Nhiều cơn.
223. Trưởng loan: Màn có thêu chim loan.
226. Hoa lê: Ví với người đẹp, giọt mưa ví với giọt nước mắt.
228. Dưỡng sinh: Nuôi dưỡng và sinh ra, chỉ công ơn cha mẹ.
235. Mộng triệu: Điều thấy trong mộng.
238. MạchTương: Dòng nước mắt. Tương là tên một con sông ở
tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) chảy vào hồ Động Đình. Ngày xưa,
vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là
Nga Hồng và Nữ Anh đi tìm, đến ngồi trên bờ sông Tương,
khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc xung
quanh, làm cho trúc đó hố thành những điểm lốm đốm. Về sau,
các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ
nước mắt phụ nữ.
244. Tơ mành: Sợi tơ mong manh. Hai chữ này chỉ chung Kiều
và Kim Trọng để kết thúc đoạn nói về Kim Trọng.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
245.. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
255.. Mành Tương phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sinh,
Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260.. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu !
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lơ hiu hắt như màu khảy trêu.
265.. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dịng lá thắm dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270.. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu ?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280.. Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
285.. Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
290.. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Bng cầm xốc áo vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295.. Giơ tay với lấy về nhà:
Này trong khuê các đâu mà đến đây ?
Ngẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm !
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
300.. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tịi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
305.. Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về ?
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
Sinh rằng: Phác họa vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
405.Khen: Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này !
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang !
410.Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim mơn.
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khn xanh biết có vng trịn mà hay ?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đốn ngay một lời:
415.Anh hoa phát tiết ra ngồi,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Trông người lại ngẫm đến ta,
Một dầy một mỏng biết là có nên ?'
Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
420.Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều.
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân !
đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
425.Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng nàng mới kíp dời song sa.
đến nhà vừa thấy tin nhà,
430.Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
435.Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.
Tiếng sen sẽ động giấc hịe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
440.Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt đơi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?
445.Vội mừng làm lễ rước vào,
đài sen nối sáp song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đơi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
450.đinh ninh hai mặt một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lịng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
Ngồi ra ai lại tiếc gì với ai.
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.
465.Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi,
đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng.
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,
470.Làm chi cho bận lòng này lắm thân !
So dần dây vũ dây văn,
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.
Qua quan này khúc Chiêu Quân,
480.Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vị chín khúc khi chau đơi mày.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đơi mày.
Rằng: Hay thì thật là hay,
490.Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào !
Lựa chi những bậc tiêu tao,
Dột lịng mình cũng nao nao lòng người ?
Rằng: Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui thơi cũng tính trời biết sao !
495.Lời vàng âm lĩnh ý cao,
500.Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.
Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao !
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
505.đã cho vào bậc bố kinh,
đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi !
Phải điều ăn xổi ở thì,
510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày !
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương.
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.
505.Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
520.để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân ắt lại đền bồi có khi !
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.
525.Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân,
Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sinh thì dạo gót sân đào bước ra.
530.Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
535.Mảng tin xiết nỗi kinh hồng,
Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.
Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,
Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xơi:
Sự đâu chưa kịp đơi hồi,
540.Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,
Trăng thề cịn đó trơ trơ,
Dám xa xơi mặt mà thưa thớt lịng.
Ngồi nghìn dặm chốc ba đơng,
Mối sầu khi gỡ cho xong cịn chầy !
545.Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Tai nghe ruột rối bời bời,
Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:
ông tơ ghét bỏ chi nhau,
550.Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi !
Cùng nhau trót đã nặng lời,
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.
555.đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ơm cầm thuyền ai.
Cịn non cịn nước cịn dài,
Cịn về cịn nhớ đến người hơm nay !
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,
560.Vầng đông trơng đã đứng ngay nóc nhà.
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng,
Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai.
565.Buồn trông phong cảnh quê người,
đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.
Não người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
Nàng cịn đứng tựa hiên tây,
570.. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.
Trơng chừng khói ngất song thưa,
Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.
---
245. Thư song: Chỗ cửa sổ phòng đọc sách.
246. Biếng khuây: Không khuây, không khuây.
247. Sầu đong càng lắc càng đầy: ý nói mối sầu tương tư, càng
ngày càng chồng chất lên mãi.
249. Câu này ý nói: Mây che kín cửa sổ phòng Kiều.
251. Tuần trăng khuyết: Khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi kì
trăng trịn, gọi là một tuần trăng). Chỉ thời gian suốt cả tháng.
Đĩa dầu hao: Đĩa dầu hao cạn (vì đèn bị thắp khuya).
254. ý cả câu: Bút để lâu không viết đến ngọn bị khô đi, đàn để
lâu không gẩy đến dây bị chùng lại. ý nói Kim Trọng buồn trong
tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn.
255. Mạch Tương: Mành làm bằng trúc núi Tương.
257. Ba sinh: Do chữ Tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển:
"Quá khứ", "hiện tại" và "vị lai" của con người.
260. Kỳ ngộ: Sự gặp gỡ kì lạ.
264. Vĩ lô: Cây lau, cây sậy.
phải vất vả lên đế đơ để thi cử làm gì). Về sau, Hàng đi qua một
nơi, gọi là Lam Kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lão
gần đấy thấy Vân Anh, (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt
đẹp, Hàng ngỏ ý cầu hôn, bà lão bảo: Bà cân dùng cối ngọc và
chày ngọc để giã thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên), nếu có
những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả con cho. Hàng về tìm được cối và
chày ngọc đưa đến, lại ở đấy giã thuốc cho bà lão một trăm
ngày, rồi lấy Vân Anh và sau hai vợ chồng cùng lên cõi tiên. ở
268. Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. vu Hựu, đời Đường, một hôm
đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trơi trên ngịi nước từ cung vua
chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu
thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngịi nước, cho trơi
vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt
được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung
nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thì.
Chim xanh: Người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh"
(thanh điểu). Câu này ý nói: Khó thơng tin tức mối manh với
Thuý Kiều.
257. Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt
(đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).
tảng đá xếp thành.
280. Lâm Thuý: tên cái hiên của nhà Ngơ Việt thương gia. Vì có
chữ Thuý trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới
mừng thầm là có duyên số tiên định.
281. Bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".
283. Song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cành mây: Cánh cửa sổ.
285-286. ý nói: Cửa động bị khố, cửa nguồn bị ngăn, cho nên
tuy nhà Kiều gần có ganh tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.
287. Nhẫn từ: Kể từ khi (tiếng cổ).
293. Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa
như gấm (một cách tô điểm văn hoa).
294. Kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng.
296. Khuê các: Buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.
305. Hư không: Bỗng không, tự nhiên.
bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng,
dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có
vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách,
chính sự, bãi lệnh mị ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do
đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu
hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với
chủ cũ.
311. Lân lí: Ngun nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiã bà
con láng giềng.
316. Niềm tây: Nỗi lòng, chút tâm sự riêng.
319. Thang mây: Do chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân
đội thời dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có
thể bắc tới mây được).
320. Người hâm nọ: Người gặp gỡ hôm đi thanh minh.
Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.
322. Kẻ: Chỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ
mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.
325. Xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé,
nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt
(xương mai).
Rũ mịn: Gầy mịn, ý nói tương tư mà gầy mịn đi.
327-328: ý nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.
330. Đài gương: Giá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng
đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài
gương để chỉ người phụ nữ.
Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt
nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.
332. Băng tuyết: ý nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một
thể chất lúc nào cũng như thế.
Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc
muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh
bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, khơng có tài sắc gì, lời
Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản
thân).
Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái
lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn,
gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm
sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và
chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để
buộc chân đơi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ
hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt
339. Dù chăng: Dù chẳng, nếu khơng.
343. Khn thiêng: Khn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ
quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo
hố đúc nặn ra mn vật như cái khn nặn ra các đồ gốm, nên
gọi Tạo hoá là Hồng qn, Thiên qn, (khn trời).
Tấc thành: Tấc lịng chân thành, thành thực.
345. Lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa
xn. Cịn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh
đẹp.
Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.
352. Đá vàng: Do chữ kim thạch. Kim đây là lồi đồng, chỉ
chng đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những
việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta
khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó,
người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính
cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào
vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi
tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.
357. Bả: Bản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm.
Quạt hoa quì: Chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.
359. Tất giao: Sơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với
nhau như hai chất keo và sơn.
362. Lầu trang: Lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.
363. Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt
thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn
đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu
nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.
" Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ"
Dịch nghĩa:
Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,
Cùng uống nước sông Tương.
367. Tuyết trở sương che: ý nói bức tường của nhà Kiều với nhà
Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai
người gặp gỡ trao đổi tin tức.
370. Thư hồng rầm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là
mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới.
372. Hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyền
đường) chỉ cha mẹ.
375. Nhà lan: Do chữ lan thất.
382. Lửa hương: Hai chữ này thường dùng để chỉ tình duyên vợ
chồng.
384. Hoa râm: Hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc
trơng như những chẫm hoa râm.
386. TRI âm: Hiểu biết tiếng đàn. Đời Xuân Thu, Bá Nha, một
người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi
tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn
trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, như núi Thái - Sơn", khi Bá
Nha nghĩ đến dòng chảy (lưu thuỷ), thì Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn
cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà". Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha
đứt dây, đập đàn ra, và than rằng: "Trong thiên hạ khơng cịn ai
là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của mình) nữa". Về sau, tri âm
dùng để chỉ bạn thân, tri kỷ, hoặc bạn tình.
389. Núi giả: Chữ Hán là giả sơn, tức là núi non bộ.
391. Động đào: Tức động Đào nguyên.
thuyên: lạnh ấm, lời hỏi thăm sức khỏe.
396. Phong nguyệt: Lời thơ trăng gió vui chơi. Non sơng: Lấy núi
sơng mà nguyền ước (sơng cạn, núi mịn, lời thề cũng không thay
đổi).
397. Yên: Bàn sách, Bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái
ống đựng thơ.
398. Đạm thanh: Màu xanh nhạt, chỉ màu bức tranh cây thơng
của Kim Trọng.
399. Phong sương: Gió và sương. Bức tranh cây thơng vẽ rất tự
nhiên như có đượm cả phong sương.
402. Phẩm đề: Đề lợi vịnh bức tranh. Thêm hoa: Thêm vẻ đẹp. ý
nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ cho tăng thêm vẻ
đẹp.
403. Tay tiên: Bàn tay người đẹp, người tiên.
405. Nhả ngọc phun châu: Tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả
ra ngọc, phun ra châu.
406. Nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học
rộng tài cao, được vua Hán vời đến giúp soạn sách.
ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thơng minh, có học
thức.
410. Ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Chữ dùng chỉ chung người ta
đã hiển đạt và có quan chức.
Kim mơn: Tức Kim mã mơn nói tắt, tên cửa cung Vị ương của
vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim
mã). Đời Hán Vũ Đế, thường cho những người có văn tài đến
đợi ở đây, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Kiều muốn nói
Kim Trọng khơng là nhà quan cũng là người học cao.
412. Khuôn xanh: Cũng như khuôn thiêng, sự sắp đặt của trời.
414. Tướng sĩ: Thày xem tướng.
415. Anh hoa: Những cái tinh hoa tốt đẹp.
419. Giải cấu: Cuộc gặp gỡ tình cờ.
420. Nhân định thắng thiên: ý nói: Người ta cũng có thể làm thay
đổi được cả số trời.
421. Giải kết: Giải là cởi, kết là mối buộc. ý nói, chúng ta đã
ràng buộc với nhau, nếu có sự chia rẽ thì quyết liều thân để giữ
lời vàng đá.
423. Trung khúc: Những sự uỷ khúc ở trong lịng, như nói tâm
tình, tâm sự.
424. Tàng tàng: Say say, ngà ngà.
425. Giang: ý nói ngày ngắn lắm.
428. Song sa: Cửa sổ có che vải sa, cũng như song the, chỉ
phòng ở của Kiều.
430. Hai thận: Cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và
thân mẫu (mẹ).
433. Nhặt thưa: Mau và thưa, chỉ ánh trăng. ánh trăng giọi bóng
cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối.
434. Trướng huỳnh: Trường là cái màn, huỳnh là con đom đóm.
hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một
tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua
Hoè An (gốc hoè yên ổn), còn Nam kha tức là cành hoè phía
nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói "giấc Nam
kha" hay "giấc hoè" để chỉ cuộc phú quý hư ảo.
438. Đây nói, Kim Trọng sực tỉnh thấy ánh trăng đưa bóng hoa
lê tới gần.
439. Đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu Giáp (hay Vu Sơn). Vua Sở Hoài
Vương đi chơi quán Cao Đường, mộng thấy một người đàn bà
đẹp, và tự xưng là thần núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm
mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ "mây mưa" để chỉ
việc ân ái giữa trai gái.
Non thần: núi Thần nữ chỗ ở của nàng tiên gặp vua Sở nói trên.
446. Đài sen: Cái để thắp nên làm hình hoa sen.
Song đào: Chỗ cửa sổ có trồng cây đào.
447. Tiên thề: Giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa ghi chép
lời thề).
453. Hà: Ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi thứ chén bằng
ngọc màu ráng đỏ, đây dùng nói chén q.
Quỳnh tương: nước ngọt, ví thứ rượu ngon quý.
454. ý nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề nhau, mùi hương quần
áo như là hoà lộn với nhau, mà trong binh gương, bóng hai người
cũng như lồng đôi với nhau.
457. Chày sương, cầu Lam: đã chú ở câu 266.
458. Sàm sỡ: Lả lơi không đứng đắn.
459. Hồng điệp, xích thằng: xen câu 268 và 238.
460. Tương tri: Biết lịng nhau, thơng cảm nhau.
461. Nguyệt nọ, hoa kia: Chuyện trai gái bất chính.
463. Cầm đài: Cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mã Tương Như,
một nhà giỏi đàn đời Tây Hán.
465. Tiện Kỹ: Nghề mọn, lời nói nhún.
467. Cầm trăng: Tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt.
468. Tây nâng ngang mày: Thái độ tỏ ý trân trọng.
470. Bận lòng: khó nghĩ. Lắm thân: tiếng cổ, có nghĩa là "lẵm
thay".
471. Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ.
472. Cung thương: xem câu 31.
473. Hán sở chiến trường: Bãi chiến trường giữa đời Hán, và
nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ
(Sở Bá vương) đánh nhau nhiều trận kịch liệt.
474. Tiếng sắt, tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại
va chạm xơ xát nhau.
477. Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm
gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy
cho khúc "Quảng Lăng tán", âm điệu tuyệt hay.
478. Lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ý nói khúc đàn
thanh thốt lưu loát.
479. Quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương
Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung
nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy
khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.
482. Tiếng suối: Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dịng
suối dội ở lưng chừng núi xuống.
488. Chín khúc: Chỉ các khúc ruột chứ không nhất thiết phải
đúng chín khúc ruột.
491. Tiêu tao: Chính nghĩa là tiêu điều, thê hương, đây dùng chỉ
tiếng đàn buồn rầu, sầu não.
492. Dột: ủ dột.
497. Hoa hương: Hố có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng.
Càng đàn, càng thơ, nàng Kiều càng đẹp, tình ý đơi bên càng
nồng nàn.
501. Làm chơi: Xem vấn đề là thường, không quan trọng.
503. Yêu đào: Cây đào non, lấy chữ ở thơ "Đào yêu", Kinh thi:
Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ
mà đẹp, đã đến tuổi đi lấy chồng.
505. Bố kinh: Bố là vải, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành
cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những
phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc.
ở đây, ý Kiều nói: Đã cho vào hang người vợ chính thức như
hạng bố kính thời xưa (khơng phải là nhân tình, nhân ngãi).
506. Tịng phu: Theo chồng, chí cái đạo làm vợ, theo quan niệm
Nho giáo xưa.
514. Thôi, Trương: Theo Tây sương ký: Thôi Oanh và Trương
Cung, tên tự là Quân Thuỵ, đời Đường, là đôi trai tài, gái sắc,
đẹp đôi, vừa lứa, đã gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ
Cứu, đất Bổ Đông, nhưng vì đã đi lại ăn nằm với nhau, nên về
sau chán nhau mà bỏ nhau.
Đá vàng: Đây chỉ tình vợ chồng chung thuỷ, đoan chính.
514. Yến anh: Đây ví với cặp trai gái.
515. Chắp cánh liền cành: Nói khi ăn nằm ân ái với nhau. Theo
bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, vua Đường Huyền tông và
Đường quý phi nguyện với nhau trong đêm "thất tịch": Tại thiên
nguyện tác ti dực diểu, tại địa nguyên vi liên lí chí (trên trời
nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện là hai cây liền
cành).
517. Mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ Cứu, nơi
Thôi, Trương gặp gỡ nhau.
Hương nguyền: Nén hương để thề nguyền.
524. Vì: Nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là u (u vì Nặng lịng xót
liễu vì hoa).
525. Bóng tầu: Bóng mái nhà (Tàu: Miếng gỗ dài đặt dọc ở mái
hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh).
Vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng.
528. Sân đào: Sân có trồng cây đào.
530. Gia đồng: Người phục dịch công việc ở trong nhà.
Thúc phụ: Chú ruột.
Từ đường: Từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết.
532. Lữ thấn: Chết nhưng mà chưa chơn, quan tài cịn qn tạm
ở nơi đất khách.
533. Liêu dương: Tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung
Quốc) nơi chủ ruột Kim Trọng chết.
Sơn khê: Núi và khe ngòi.
cha được tuổi thọ như cây ấy.
Hộ tang: Trông coi việc tang.
536. Đài trang: Do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ.
537. Đinh ninh: cẵn kẽ, đến nơi đến chốn.
539. Đơi hồi: Giãi bày, trị chuyện hết lời với nhau.
540. Trao tơ: Chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên
bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con
gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc
Lương Châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng
sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ dài, dòng ra
ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ý kéo lấy một sợi, trúng sợi nào
thì lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn được kéo sợi tơ đỏ, lấy
người con thứ ba, rất đẹp.
543. Ba đông: Ba năm để tang.
544. Chầy: Còn chậm, còn lâu ngày.
545. Gìn vàng giữ ngọc: Giữ thân thể cho được khoẻ mạnh, và
cũng ngụ ý giữ gìn mối tình cho được thuỷ chung, trong sạch.
556. Ôm cầm thuyền ai: Ôm đàn sang thuyền của người khác,
tức là đi lấy chồng khác.
566. Quyên: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối
hè, sang thu. Tiếng quyên kêu còn ra rả (nhặt) đầu cành và bóng
nhạn đã thấy bay lống thoáng (thưa) ở chân trời.
567. Cữ, tuần: Người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và
568. Tương tư: Nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau,
sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau.
570. Chín hồi: Do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,
575.. Hàn huyên chưa kịp giãi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lão một trai,
580.. Một dây vơ lại buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
585.. Điều đâu bay buộc ai làm ?
Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng ?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,
590.. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.
Hạ từ van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Rường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.
595.. Mặt trơng đau đớn rụng rời,
Oan này cịn một kêu trời, nhưng xa.
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,
600.. Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao ?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !
Họ Chung có kẻ lại già,
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
610.. Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xi.
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
620.. Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Sự lòng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xơn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
625.. Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
630.. Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng !
635.. Ngại ngùng giợn gió e sương,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
640.. ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ?
645.. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,
Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm dằm
650.. Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu qui,
Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong !
Một lời cậy với Chung công,
Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.
655.. Thương tình con trẻ cha già,
Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu:
Nuôi con những ước về sau,
Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
660.. Này ai vu thác cho người hợp tan !
Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.
Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì mặt khuất chẳng thà lịng đau !
665.. Theo lời càng chảy dịng châu,
Liều mình ơng rắp gieo đầu tường vôi.
Vội vàng kẻ giữ người coi,
Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:
Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
670.. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
675.. Lịng tơ dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
680.. Cầm như chẳng đậu những ngày cịn xanh.
Tan nhà là một thiệt mình là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao.
Trăng già độc địa làm sao ?
Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên.
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
690.. Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì !
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.
Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.
695. Một mình nàng ngọn đèn khuya,
áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu.
Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lịng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Cơng trình kể biết mấy mươi.
700. Vì ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.
705. Biết bao dun nợ thề bồi.
710. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Nỗi riêng riêng những bàng hoàng,
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
715. Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình,
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh ?
Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây\?
Rằng: Lịng đương thổn thức đầy,
720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
Hở mơi ra cũng thẹn thùng,
Để lịng thì phụ tấm lịng với ai.
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
725. Giữa đường đứt gánh tương tư,
Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
730. Hiếu tình khơn lẽ hai bề vẹn hai !
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mịn,
Ngậm cười chín suối hãy cịn thơm lây.
735. Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt lịng chẳng qn.
Mất người cịn chút của tin,
740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sao dầu có bao giờ.
Đốt lị hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
745. Hồn cịn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rẩy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gẫy bình tan,
750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lại tình qn,
Tơ dun ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi,
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.
Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng,
760. Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang người thuốc bời bời,
Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng.
Hỏi: Sao ra sự lạ lùng?
Này cha làm lỗi duyên mày,
Thơi thì nỗi ấy sau này đã em.
Vì ai rụng cải rơi kim,
770. Để con bèo nổi mây chìm vì ai.
Lời con dặn lại một hai,
Dẫu mịn bia đá, dám sai tấc vàng.
Lậy thơi, nàng lại thưa chiềng,
Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xi.
775. Sá chi thân phận tơi địi,
Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu.
Xiết bao kể nỗi thảm sầu !
Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.
Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,
780.Quản huyền đâu đã giục người sinh ly.
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.
Trời hôm mây kéo tối rầm,
Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương.
785. Rước nàng về đến trú phường,
Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong.
Ngập ngừng thẹn lục e hồng,
Nghĩ lịng lại xót xa lịng địi phen.
Phẩm tiên rơi đến tay hèn,
790.Hồi cơng nắng giữ mưa gìn với ai:
Biết thân đến bước lạc lồi,
Vì ai ngăn đón gió đơng,
Thiệt lịng khi ở đau lịng khi đi.
795.Trùng phùng dầu họa có khi,
Thân này thơi có cịn gì mà mong.
Đã sinh ra số long đong,
Cịn mang lấy kiếp má hồng được sao ?
Trên yên sẵn có con dao,
800.Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn:
Phòng khi nước đã đến chân,
Dao này thì liệu với thân sau này.
Đêm thu một khắc một chầy,
Bâng khuâng như tỉnh như say một mình.
---
574. Ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại.
Giãi dề: Giải bày, chuyện trò.
576. Sai nha: Nha lại do quan trên sai phái đi.
577. Thước: Tay thước, một thứ võ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một
thước tây, cạnh vng bốn góc, dùng để đánh người.
Nách thước: Nách cắp tay thước.
579. Già: Cái gơng. Giang: Khiêng đi, giải đi. ở đây nói cha con
viên ngoại và Vương quan bị đóng gơng lại.
583. Tế nhuyễn: Nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng
ngọc quí gái và trang sức, quần áo dễ mang đi.
585. Bay buộc: ý nói cái tai vạ tự đâu bay đến, buộc vào.
586. Dậm: Một dụng cụ đánh cá.
588. Xưng xuất: Xưng ra, khai ra.
590. Lồ mây: Làm mờ cả bầu trời. ý nói: một vụ hết sức oan
594. Hạ từ: Hạ lời, nói lời thanh minh để kêu cầu van xin.
Lân tuất: Thương xót, thương tình. ý cả câu: tụi sai nha cứ phủ
tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ
làm điếc làm ngơ.
593. Rường cao: Thanh rường nhà bắc ở trên cao. Dây oan: Dây
trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ
Vương lên rường nhà.
600. Ngộ biến tòng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền"
(không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc bình thường được). ý
nói: Phải tuỳ theo hồn cảnh mà xử sự cho thích hợp.
601. Hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó nhau. Chỉ mối tình duyên giữa
Kiều với Kim Trọng.
Cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ.
603. Thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể.
604. Sinh thành: Công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên
người.
605. Hạ tình: Tỏ bầy ý nghĩ.
606. Rẽ cho: Lời gạt đi ý kiến những người khác để nói lên ý
kiến của mình một cách kiên quyết.
607. Lại già: Người gia lại già.
608. Nha dịch: Người làm việc ở nơi gia môn, tức nơi công sở
của các phủ huyện.
617. Tử biệt sinh ly: Chết vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà
xa lìa nhau gọi là "sinh ly". Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời
người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một
thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như
người gặp cảnh "sinh ly".
619. Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái
Ca dao:
Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy.
620. Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ tnốn thảo, tâm xuân. Thơ tả tình
đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương
thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái lòng của ngọn
cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba
tháng xuân). Tấc cỏ: Ví với người con. Ba xn Ví với cơng ơn
cha mẹ.
621. Băng nhân: Người làm mối.
622. Tin sương: Do chữ sương tín. Tin sương là ngụ ý chỉ tin tức
truyền đi.
625. Giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường
đại học của triều đình phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo
626. Lâm thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).
627. Tử tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi).
630. Nỗi mình: Nỗi riêng của mình, chỉ cuộc tình duyên dở dang
với Kim Trọng. Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của tồn gia đình họ Vương.
635. Rợn gió: Sợ gió.
638. Điệu: Cách điệu, cốt cách.
644. Sinh nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới.
645. Nghìn vàng: Đời hán, một nghìn vàng tức là một cân vàng,
sau dùng để chỉ nghìn lạng vàng.
646. Rớp nhà: Nhà gặp lúc hoạn nạn.
tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi
bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái
để đính ước với nhau.
651. Nạp thái: Chỉ lễ dẫn đồ cưới.
Vu qui: Về nhà chồng, chỉ lệ đón dâu.
654. Khất tử: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho
Vương ông).
658. Gieo cầu: Hán Vũ đế kén phị mã, cho cơng chúa ngồi lên
lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được thì làm phị mã.
660. Vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra.
669. Một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái.
671. Nàng Oanh: Nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Để Oanh
người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu ý, phạm tội, bị hạ ngục
ở Tràng An, chờ ngày hành hình, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn
đế, xin nộp mình làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho
cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng.
cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết
thần rắn, rồi lấy vua Việt vương.
673. Cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha. Sách xưa nói: Tuổi
hạc: Tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ. Sách xưa nói, chim hạc
sống lâu một nghìn năm.
675. Lịng tơ: Tấm lịng thương con vương vấn khơng dứt.
676. Gió mưa: Chỉ những tai biến xảy đến.
Nước non: Chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như giang sơn).
678. Hoa dù rã cánh: Tức cây còn xanh lá, nói Vương ơng được
an tồn.
679. Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi.
680. Đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ
được đến lúc chín, khơng bị nửa chừng rụng đi, thì người ta gọi
là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu: ý nói cũng xem như là đã
chết ngay từ lúc còn nhỏ tuổi.
691. Giúp vì: Giúp đỡ.
694. Tinh kỳ: Người ta thường dùng chữ tinh kỳ để chỉ cái ngày
thành hơn, vì theo hơn lễ xưa, người ta đón dâu vào buổi tối.
697. Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng).
698. Một lời: Một lời thề nguyền. ý Kiều nói: Số phận ra sao
cũng đành, nhưng chỉ đau lịng là trót đeo đẳng lời thề với Kim
Trọng.
703. Trời liêu: Liêu dương.
707. Tái sinh: Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh
Hương thề: Mảnh hương thề nguyền. Xem chú thích 517.
708. Trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp
này mắc nợ ai mà chưa trả được, thì kiếp sau phải hố làm thân
trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong.
Nghì: Tức là chữ "nghĩa" được đọc chệch ra.
Trúc mai: Tình nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây
mai thường được trồng gần nhau.
chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không
cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc,
nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.
Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.
711. Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi
không dứt.
713. Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành.
715. Cơ trời: Tức thiên cơ, máy trời.
Dâu bể: Cũng như "bể dâu".
Đa đoan: Nhiều mối nhiều việc.
717. Nhẫn: Tiếng cổ, ngồi nhẫn là ngồi mãi suốt đêm.
726. Kéo loan: do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu
chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn
và dây cung.
734. Chín suối: Do chữ cửu tuyền, chỉ nơi suối vàng.
735. Tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của
Kim, Kiều.
740. Mảnh hương nguyền: Những manhr gỗ thơm đã đốt dở
trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền
với nhau, người ta thường đốt hương.
746. Bồ liễu: Một loại cây ưa mọc gần nước. Cây bồ liễu rụng lá
sớm hơn hết các loài cây, vì cái thể chất yếu đuối đó nên trong
văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ.
747. Dạ dài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cõi chết.
749. Trâm gẫy bình tan: Thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: Bình truỵ
trâm chiết thị hà như, tự thiếp kim triêu dữ quân biệt. (Cái cảnh
bình rơi trâm gãy là thế nào? nó giống như cảnh biệt ly của thiếp
người.
759. Xuân huyên: Xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ.
762. Vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự.
Giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm.
769. Nói tình dun nửa chừng bị chia lìa, tan vỡ.
772. Mịn bia đá: Chỉ một khoảng thời gian rất lâu.
Tấc vàng: Tấc lòng bền vững như vàng.
773. Chiềng: Trình, tiếng cổ.
775. Tơi địi: Kiều bán mình làm vợ lẽ nàng tự xem như kẻ ăn
người ở.
Mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh.
780. Quân huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường
dùng chỉ đàn. Đây nói họ Mã đưa các đồ âm nhạc đến đón
Kiều.
785. Trú phường: Chỗ phố trọ, nhà trọ.
786. Xn khố: Chữ xn ở đây khơng phải là mùa xuân. Chú
ý: lúc Mã Giám sinh đón Kiều là mùa thu: Đêm thu một khắc một
chầy.
787. Lục hồng: Màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ
sắc đẹp của phụ nữ.
788. Nghĩ lòng: Nghĩ riêng trong lòng.
Đòi phen: Nhiều phen, nhiều lúc.
789. Phẩm tiên: Của trên cõi tiên. Hèn hạ, tục tằn.
790. Nắng giữ mưa gìn: ý nói giữ gìn trinh tiết một cách thận
trọng.
792. Nhị đào: Hoa đào cịn phong nhị ví với người con gái cịn
trinh.
793. Gió đơng: Tiếp ý chữ nhị đào ở trên, ý nói: Khơng để cho
người tình chung bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đơng khơng
cho đến với nhị đào vậy.
Kim Trọng.
799. Yên: Cái án, một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
805. Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh,
Vẫn là một đứa phong tình đã quen.
Quá chơi lại gặp hồi đen,
Quen mùi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa.
Lầu xanh có mụ Tú Bà,
810.Làng chơi đã trở về già hết duyên.
Tình cờ chẳng hẹn mà nên,
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường.
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm bn phấn bán hương đã lề.
815. Dạo tìm khắp chợ thì quê,
Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi.
Rủi may âu cũng tại trời,
Đoạn trường lại chọn mặt người vơ dun.
Xót nàng chút phận thuyền quyên,
820.Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
Mẹo lừa đã mắc vào khn,
Sính nghi rẻ giá nghênh hôn sẵn ngày.
Mừng thầm: Cờ đã đến tay !
825.Đã nên quốc sắc thiên hương,
Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa.
Về đây nước trước bẻ hoa,
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau.
Hẳn ba trăm lạng kém đâu,
830.Cũng đà vừa vốn cịn sau thì lời,
Miếng ngon kề dến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham.
đào tiên đã bén tay phàm,
Thì vin cành qt cho cam sự đời !
835.Dưới trần mấy mặt làng chơi,
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa.
Nước vỏ lựu máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.
Mập mờ đánh lận con đen,
840.Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi ?
Mụ già hoặc có điều gì,
Liều cơng mất một buổi quỳ mà thôi.
Vả đây đường xá xa xôi,
Mà ta bất động nữa người sinh nghi.
845.Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
850.Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.
Giọt riêng tầm tã tuôn mưa,
Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình:
Thân nghìn vàng để ơ danh má hồng.
855.Thơi cịn chi nữa mà mong?
Đời người thơi thế là xong một đời.
Giận duyên tủi phận bời bời,
Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh.
Nghĩ đi nghĩ lại một mình:
860.Một mình thì chớ hai tình thì sao ?
Sao dầu sinh sự thế nào,
Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân.
Nỗi mình âu cũng giãn dần,
Kíp chầy thơi cũng một lần mà thơi.
865.Những là đo đắn ngược xuôi,
Tiếng gà nghe đã gáy sơi mái tường.
Lầu mai vừa rúc cịi sương,
Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi.
Đoạn trường thay lúc phân kỳ !
870.Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.
Bề ngồi mười dặm trường đình,
Vương ơng mở tiệc tiễn hành đưa theo.
Ngồi thì chủ khách dập dìu,
Một nhà huyên với một Kiều ở trong.
Lỡ làng nước đục bụi trong,
880.Trăm năm để một tấm lòng từ đây.
Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già !
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dùng dắng khi ra vội vàng.
885.Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quý người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con bn.
Thơi con cịn nói chi con?
890.Sống nhờ đất khách thác chôn quê người !
Vương bà nghe bấy nhiêu lời,
Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên.
Vài tuần chưa cạn chén khuyên.
Mái ngồi nghỉ đã giục liền ruổi xe.
895.Xót con lịng nặng trì trì,
Trước n ơng đã nằn nì thấp cao:
Chút thân yếu liễu tơ đào,
Rớp nhà đến nỗi giấn vào tơi ngươi.
900.Nắng mưa thui thủi quê người một thân.
Nghìn tầm nhờ bóng tùng qn,
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
905.Mai sau dầu dến thế nào,
Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỉ thần !
Đùng dùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Trơng vời gạt lệ chia tay,
910.Góc trời thăm thẳm đêm ngày đăm đăm.
Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người.
915.Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Những là lạ nước lạ non,
920.Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi.
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoắt trơng nhờn nhợt màu da,
ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao !
925.Trước xe lơi lả han chào,
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.
Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thì hương án hẳn hoi,
930.Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư,
Hương hôm hoa sớm phụng thờ.
Cơ nào xấu vía có thưa mối hàng,
935.Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi !
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940.Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Ngun tiêu.
Mn nghìn người thấy cũng u,
Xơn xao oanh yến rập rìu trúc mai.
945.Tin nhạn vẩn lá thư bài,
Đưa người cửa trước rước người cửa sau.
Lạ tai nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950.Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng: Con lạy mẹ đây,
Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia.
Nàng rằng: Phải bước lưu ly,
Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh.
955.Điều đâu lấy yến làm oanh,
Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì?
Đủ điều nạp thái vu qui,
Giờ ra thay mặt đổi ngôi,
960.Dám xin gửi lại một lời cho minh.
Mụ nghe nàng nói hay tình,
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:
Này này sự đã quả nhiên,
Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.
965.Bảo rằng đi dạo lấy người,
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.
Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi.
Màu hồ đã mất đi rồi,
970.Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta,
Nhập ra phải cứ phép nhà tao đây.
Lão kia có giở bài bây,
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe.
975.Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao?
Phải làm cho biết phép tao!
Chập bì tiên rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: Trời thẳm đất dày!
980.Thân này đã bỏ những ngày ra đi.
Thơi thì thơi có tiếc gì!
Sẵn dao tay áo tức thì giở ra.
Sợ gan nát ngọc liều hoa!
Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.
Nỗi oan vỡ lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nêm.
Nàng thì bằn bặt giấc tiên,
990.Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc chạy thầy thuốc thang.
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đã đứng bên một nàng.
995.Rỉ rằng: Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao?
Số còn nặng nợ má đào,
Người dầu muốn quyết trời nào đã cho.
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,
1000. Sông Tiền đường sẽ hẹn hò về sau.
Thuốc thang suốt một ngày thâu,
Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan.
Tú bà chực sẵn bên màn,
Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần:
1005. Một người dễ có mấy thân!
Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài.
Cũng là lỡ một lầm hai,
Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây!
Lỡ chưn trót đã vào đây,
1010. Khóa buồng xn để đợi ngày đào non.
Người cịn thì của hãy cịn,
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà.
Làm chi tội báo oán gia,
Thiệt mình mà hại đến ta hay gì\?
1015. Kề tai mấy mỗi nằn nì,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi.
Vả suy thần mộng mấy lời,
Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
Kiếp này nợ trả chưa xong,
1020. Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
Lặng nghe, thấm thía gót đầu,
Thưa rằng: Ai có muốn đâu thế này?
được như lời, thế là may,
Hẳn rằng mai có như rày cho chăng!
1025. Sợ khi ong bướm đãi đằng,
Đến điều sống đục, sao bằng thác trong!
Mụ rằng: Con hãy thong dong,
Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!
Mai sau ở chẳng như lời,
1030. Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
1040. Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hơm mai,
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ ?
1045. Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa ?
Buồn trơng ngọn nước mới sa,
1050. Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trơng gió cuốn mặt ghềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồị
1055. Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc, nên vài bốn câu.
---
806. Phong tình: ăn chơi phóng đãng bất chính.
810. Làng chơi: thuộc loại gái điếm gái làng chơi.
812. Mạt cưa mướp đắng: Chuyện cổ tích: "Một người lấy mạt
cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một
người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán
lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm". Đây nói Mã Giám sinh và
Tú bà cùng là phường bịp.
814. Buôn phấn bán hương: Mua những con gái ở các nơi về làm
gái điếm. Phấn và hương là hai thứ nữ giới dùng để trang điểm,
nên mượn để chỉ chung nữ giới.
Đã lề: ý nói đã thành nề nếp, đã quen nghề.
815. Chợ: Kẻ chợ, tức nơi thành thị, đô hội. Khắp chợ thì q:
Lối nói cổ, có nghĩa là: khắp chợ cùng quê, khắp vùng kẻ chợ
đến miền thôn quê.
816. Giả danh hầu hạ: Mượn tiếng là tìm nàng hầu vợ lẽ để về
hầu hạ.
Dạy nghề ăn chơi: Dạy nghề làm gái điếm kiếm tiền.
821. Mẹo lừa: mưu mẹo lừa dối.
Khn: Như nói vành, đã mắc vào vành không ra được nữa.
822. Nghinh hơn: Đón dâu.
823. Cờ đến tay: Đây mượn câu tục ngữ: Cờ đến tay ai, người
nấy phất, để nói ý nghĩ của Mã: Kiều đã vào tay mình rồi muốn
làm gì thì làm.
824. Vẻ ngọc: Vẻ mặt đẹp như ngọc.
Khúc vàng: Khúc lòng.
826. Câu này do chữ nhất tiểu thiên kim: Một nụ cười của người
đẹp đáng giá nghìn vàng.
827. Bẻ hoa: Tức phá trinh tiết của Kiều.
828. Vương tôn: Chỉ con gái các nhà q phái.
834. Câu này ý nói: Đào tiên đã tới tay,thì vin cành bẻ phắt đi
cho thoả sự đời (tức là làm ngay cái việc "nước trước bẻ hoa" ở
trên).
người.
836. Biết hoa: Biết giá trị của hoa. ý nói: Bọn làng chơi đã dễ
mấy người phân biệt được gái tân với gái mất tân.
837. Nước vỏ lựu, mái mào gà: Theo sách Bắc lý chi: Gái thanh
lâu tiếp khách xong, lại lấy nước vở lựu máu mào gà sống để
rửa, giả làm gái còn tân để đánh lừa khách chơi.
838. Chiêu tập: Dùng cách sửa chữa làm như còn nguyên vẹn.
839. Con đen: Những người còn trẻ tuổi mà khờ dại, đây chỉ
những khách chơi không sành sỏi.
845. Trà mi: Một thứ hoa nở về mùa xuân đầu hạ, hoa mầu vàng
nhạt rất đẹp.
848. Ngọc, hương: Ngọc đẹp, hương thơm, ví với người đẹp.
850. Đuốc hoa: Do chữ hoa chúc: đuốc hoa, nến hoa.
858. Quyên sinh: Bỏ đời sống, tức tự tử.
860. Hai tình: Chỉ cha mẹ. ý nói: Một mình thì tự tử chẳng sao,
nhưng cịn cha mẹ thì làm thế nào?
863. Giãn: Nới ra. Nỗi lòng của Kiều lúc trước như bị bóp
nghẹt, nay nghĩ đi nghĩ lại, thấy nới dần ra.
864. Một lần: Một lần chết. Kiều nghĩ: chóng hay chậm, cũng
một lần chết, nếu bây giờ nàng chết đi tất liên luỵ đến cha mẹ.
866. Gáy sơi:: Gáy ầm ỹ, dồn dập. Chữ "sơi" có hàm ý giục giã.
867. Lầu mai: Chòi canh về sáng.
Còi sương: Tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương.
869. Đoạn trường: Đứt ruột có nghĩa đau đớn quá (như dứt từng
khúc ruột). Phân kỳ: Chia đường, chia lìa mỗi người mỗi ngả như
nói "chia tay".
870. Vó câu: Vó ngựa (Câu: ngựa non đang sức lớn). Những
chữ "khấp khểnh", "ghập ghềnh" vừa tả con đường đi gồ ghề khó
khăn, vừa ngụ ý thân thế Kiều đã long đong vất vả ngay từ lúc
bước chân ra đi...
tiễn khách ra khỏi mười dặm đường làm tiệc tiến hành ở trường
đình rồi mới trở về.
873. Chủ khách: Chỉ Vương ông Mã Giám sinh.
884. Dùng dắng: Dùng dằng, do dự, khi Mã vào trong phịng
Kiều thì do dự mà khi ở phịng ra thì vội vàng.
886. Thầy tớ: Chỉ Mã và bọn tôi tớ Mã.
893. Tuần: Tuần rượu, mỗi chén rượu đôi bên cùng uống cạn là
một tuần.
Chén khuyên: Chén khuyên mời, đây là chén rượu tiến.
894. Nghỉ: Nó, hắn, y, thổ âm Nghệ Tĩnh đây chỉ Mã.
986.Trước yên: Trước yên ngựa của Mã.
897. Yếu liễu thơ đào: ý nói Kiều cịn yếu ớt thơ dại, ví như cây
liễu yếu cây đào non.
899. Góc bể chân trời: Do chữ hải giác thiên nhai: Góc biển cả,
chỗ cùng nận bầu trời ý nói xa xơi hết sức.
901. Tầm: Một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài tám
thước.
Nghìn tầm: 8000 thước, nghĩa bóng: cao lắm!
Tùng qn: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, lthân thẳng
và cứng cáp, mùa đông lá cây vẫn xanh tươi, trong văn cổ,
thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây
trúc, dóng thẳng đốt ngang, thân rỗng mà không cong queo,
thường dùng để tượng trưng cho người quân tử.
902. Tuyết sương che chở: Tức che chở cho khỏi tuyết sương.
Cát đằng: Dây sắn, một loại day phải leo bám vào những cây to,
người ta thường nói "cát đằng" "cát luỹ" hay "sắn bìm" để chỉ
người vợ thiếp.
904. Nhiệm trao: ý nói số trời mầu nhiệm đã buộc sợi "xích
thằng".
906. Gương nhật nguyệt: Gương mặt trời, mặt trăng. Chữ
"gương" hàm ý soi tỏ tội lỗi. Dao quỷ thần: Gươm dao của quỷ
thần, hàm ý trừng phạt, ý Mã nói: nếu sau này ăn ở khơng thuỷ
chung, sẽ có trời soi tỏ tội lỗi và bị quỷ thần trừng phạt.
909. Trông vời: Tức trông với theo một cái gì đó đã đi xa.
9912. Bạc phau: Trắng phau, trắng xoá.
Cầu giá: Váng sương bám trên mặt cầu buổi sớm mai.
Ngàn mây: Những đám mây ở những nơi rừng núi. Câu này tả
cảnh cuối thu, bắt đầu sang đơng.
913. Hơi may: Hơi gió heo may.
915. Ngất tạnh: Bầu trời cao ngất mà tạnh ráo.
Mù khơi: Mù mịt xa khơi.
916. Lời non sông: Kiều thấy trăng mà nhớ đến cái "vầng trăng"
đêm nào đã chứng kiến cuộc thề nguyện của hai người.
917. Từng biếc xen hồng: Rừng cây mùa thu có những lá úa màu
đỏ xen giữa từng lá mùa xanh.
918. Thần hôn: Sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chăm sóc thăm hỏi
cha mẹ.
927. Mày ngài: Tức mấy ả gái điếm.
930. Tượng: Bức tranh vẽ. Tượng trắng đôi lông mày tức tranh
thần "Bạch mi".
932. Tiên sư: Tổ sư, ông tổ sáng lập ra một nghề. Chữ dùng
hàm ý mỉa mai.
937. Đổi hoa: Như nói thải hoa, tức như lấy hoa mới để thờ, thải
hoa cũ lót xuống dưới chiếu để nằm.
938. Tứ vi: Bốn phía xung quanh.
942. Hàn thực: Ăn lạnh, ăn đồ nguội.
Nguyên tiêu: Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng
riêng đầu năm. Đây Tú bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu
xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông
đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực nguyên tiêu.
945. Tin nhạn: Tô Vũ, người đời Hán, đi sứ sang Hung nô không
chịu khuất phục, bị chúa Hưng nô đầy lên Bắc Hải chăn dê, nhà
Hán hỏi, thì bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán
săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc
một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng nô mới chịu trả
954. Tiểu tinh: Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ.
964. Min: Ta, tao (tiếng cổ).
978. Bì tiên: Cái roi bằng da.
986. Phong trần: Cõi đời gió bụi. ý nói: Một nhát dao oan nghiệt
cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần tức là chết.
993. Trần duyên: Nhân duyên cõi trần, cõi đời.
1000. Tiền đường: Tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu,
tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
1006. Hoa xuân đương nhuỵ: Hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới
nở. ý nói Kiều cịn trẻ trung.
1008. Đá vàng: Đây chỉ lòng kiên trinh của phụ nữ.
1010. Khố buồng xn: Khố kín vẻ xn trong buồng, như nói
cấm cung.
Đợi ngày đào non: Đợi ngày lấy chồng.
1013. Tội báo: Như nói là ác báo.
1016. Thị phi rạch ròi: Lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ý: Kiều
nghe lời Tú Bà nói cũng có lý.
1017. Thần mộng: Lời báo mộng của quỉ thần (tức Đạm Tiên).
1018. Tức nhân: Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số
tiền định.
1025. Đãi đằng: Tiếng cổ, nghĩa là giãi bày.
Ca dao:
Cá buồn cá lội tung tăng
Em buồn em biết dãi dằng cùng ai.
ở đây đãi đằng có nghĩa là điều ra tiếng vào của những người
khách chơi.
1027. Thong dong: ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm.
1033. Ngưng bích: Tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở.
Ngưng Bích: Nghĩa là đọng (tụ) lại màu biếc.
1037. Bẽ bàng: Chán ngán, buồn tủi.
1039. Chén đồng: Chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền
đồng tâm với nhau.
1042. Tấm son: Tấm lòng son, đây chỉ tấm lòng thuỷ chung.
1044. Quạt hồng, ấm lạnh: Quạt khi nồng, ấp khi lạnh, do chữ
1045. Sân Lai: Sân Lão Lai. Theo sách Cao Sĩ truyện: "Lão Lai
Tử, người nước Sở, đời Xuân Thu, tuổi đã ngồi bảy mươi, mà
cịn cha mẹ già, ơng thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở
trước sân, rồi giả cách ngã, khóc, như trẻ con, để làm cho cha
mẹ vui". Đây nói bóng sân nhà cho mẹ, tức nhà mình.
1046. Gốc tử: Gốc cây tử (lồi cây thị). Đây dùng chỉ cha mẹ,
"gốc tử đã vừa người ơm" nói bóng cha mẹ đã già rồi.
1053. Ghềnh: Vực sâu, vũng biển.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Ngậm ngùi rủ bước rèm châu,
Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần.
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Bóng Nga thấp thống dưới mành,
Trơng nàng, chàng cũng ra tình đeo đai.
1065. Than ôi ! sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây ?
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa ?
Tức gan riêng giận trời già,
1070. Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lịng?
Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi ?
Đánh liều nhắn một hai lời,
1080. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Rành rành tích việt có hai chữ đề.
Lấy trong ý tứ mà suy:
1090. Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?
Chim hơm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
1095. Sượng sùng đánh dạn ra chào,
Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần.
Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sinh,
1100. Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau !
Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng !
Nàng đà biết đến ta chăng,
Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi !
1105. Nàng rằng: Muôn sự ơn người,
Thế nào xin quyết một bài cho xong.
Rằng: Ta có ngựa truy phong,
Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.
Thừa cơ lẻn bước ra đi,
1110. Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.
Dù khi gió kép, mưa đơn,
Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì !
Nghe lời nàng đã sinh nghi,
Song đà quá đỗi, quản gì được thân.
1115. Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu !
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
Song song ngựa trước, ngựa sau một đồn.
Đêm thâu khắc lậu canh tàn,
1120. Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.
Lối mòn cỏ nhợt mù sương,
Lòng quê đi một bước đường, một đau.
Tiếng gà xao xác gáy mau,
Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng.
Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào !
Một mình khơn biết làm sao,
Dặm rừng bước thấp, bước cao hãi hùng.
Hóa nhi thật có nỡ lịng,
1130. Làm chi dày tía, vị hồng, lắm nau !
Một đoàn đổ đến trước sau,
Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.
Tú bà tốc thẳng đến nơi,
Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà.
1135. Hung hăng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời.
Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.
Hết lời thú phục, khẩn cầu,
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thơi !
1150. Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu.
Bày vai có ả Mã Kiều,
Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan.
Mụ càng kể nhặt, kể khoan,
Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha.
1155. Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:
Thơi đà mắc lận thì thơi !
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
1160. Một tay chôn biết mấy cành phù dung !
Đà đào lập sẵn chước dùng,
Lạ gì một cốt một đồng xưa nay !
Có ba mươi lạng trao tay,
Khơng dưng chi có chuyện này, trò kia !
1165. Rồi ra trở mặt tức thì,
Có đâu mà lại ra người hiểm sâu !
Rằng nghe mới có con nào ở đây.
Phao cho quyến gió rủ mây,
Hãy xem có biết mặt này là aỉ
1175. Nàng rằng: Thơi thế thì thơi !
Rằng khơng, thì cũng vâng lời là không !
Sở Khanh quắt mắng đùng đùng,
Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay,
Nàng rằng: Trời nhé có hay !
1180. Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai ?
Đem người giẩy xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay !
Cịn tiên tích việt ở tay,
Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai ?
1185. Lời ngay, đông mặt trong ngồi,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vơ lương !
Phụ tình án đã rõ ràng,
Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.
Buồng riêng, riêng những sụt sùi:
1190. Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân.
Tiếc thay trong giá trắng ngần,
Đến phong trần, cũng phong trần như ai !
1195. Kiếp xưa đã vụng đường tu,
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi !
Dù sao bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong !
Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
1200. Tú bà ghé lại thong dong dặn dò:
Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.
Nàng rằng: Mưa gió dập dìu,
Liều thân, thì cũng phải liều thế thơi!
1205. Mụ rằng: Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây ?
ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy nằm lịng,
1210. Vành ngồi bảy chữ, vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán, hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời.
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.
1215. Điều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nết, mới là người soi.
Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói, đã thẹn thùng,
Xót mình cửa các, buồng khuê,
Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dạn, mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thơi!
1225. Thương thay thân phận lạc loài,
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao ?
Lầu xanh, mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả, ong lơi,
1230. Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió, cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
1235. Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặt người mưa Sở, mây Tần,
1240. Những mình nào biết có xn là gì!
Đơi phen gió tựa, hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
1245. Đòi phen nét vẽ, câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa,
Vui là vui gượng kẻo mà,
Ai tri âm đó, mặn mà với ai ?
Thờ ơ gió trúc, mưa mai,
1250. Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
1255. Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!
Sân hịe đơi chút thơ ngây
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
1260. Xa xơi ai có thấu tình chăng ai ?
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.
Tình sâu mong trả nghĩa dày,
Hoa kia đã chắp cành này cho chưa ?
1265. Mối tình địi đoạn vị tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hồng hơn, đã lại mai hơn hồng.
Lần lần thỏ bạc ác vàng,
1270. Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn !
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
---
1057. Rèm châu: do chữ Châu liêm, rèm kết bằng ngọc châu.
1061. Mạch: Dịng dõi.
1063. Bóng nga: Bóng người đẹp, chỉ Kiều.
1064. Đeo đai: Vương vấn ra vẻ quyến luyến.
1067. Trong nguyện trên mây: ý nói có một phẩm giá khác đời,
như Hằng nga trong cung nguyệt hay tiên nữ trên cung mây.
1070. Chữ lòng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói lịng mình cịn
chữ lòng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi lòng Kiều, hai chữ chỉ riêng
hai người.
1073. Song thu: Cửa sổ mùa thu (nói thời tiết khi ấy).
1080. Tế độ: Cứu vớt.
Trầm luân: Chìm đắm, đắm đuổi. ý Kiều muốn nhờ Sở Khanh
cứu mình thốt nạn thanh lâu như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi
bể trầm luân.
1081. Mảnh tiên: Mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư.
1082. Nỗi nhà báo đáp: Nông nỗi phải báo đáp ơn nhà, bán
mình chuộc cha.
1084. Tiện hồng: Thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có
người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức
thư từ.
1086. Tiên mai: Do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.
1090. Tuất thì: Giờ tuất, tức tám, chín giờ tối hiện nay. Hai chữ
tích việt của Sở Khanh, đem tản ra theo lối tản tự, thì thành
những chữ trấp nhất naật tuất lẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt,
giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn
mà Kiều đã lấy ý tứ suy đốn ra.
1091. Thoi thót: Chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến
con khác.
1092. Ngậm trăng nửa vành: ý nói buổi tối, vầng trăng chiếu vào
hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trăng.
1096. ÂÂAn cần: ở đây có nghĩa là khẩn khoản.
1098. Yến anh: Đây chỉ gái nhà chứa. ý Kiều nói: nàng như con
chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.
1099. Cốt nhục tử sinh: Do chữ sinh tử nhục cốt. Tả chuyện: Sở
vị sinh tử cốt đã (thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt
nắn xương khô - làm cho người đã chết sống lại, xương đã khô
mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc,
to lớn.
1100. Kết cỏ ngậm vành: Tả chuyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có
tột người thiếp yêu, khi sắp chết còn dặn con là Nguỵ Khoả phải
đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho
người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng
đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có
tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà
ngã, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy
một ông già đến nói rằng: "Tơi là cha người thiếp, cảm ơn ông
không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó
ngã vấp để báo ơn".
1107. Truy phong: Đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh.
1108. Dưới trướng: Do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc
quyền chỉ huy của một vị soái. Đây dùng để chỉ kẻ thủ hạ của Sở
Khanh.
Kiện nhi: Người trẻ tuổi mà có sức khỏe. Sở Khanh khoe nhà y
có ngựa tốt và thủ hạ khỏe mạnh, là có ý bảo Kiều nếu chạy trốn
thì sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn khơng phải lo
ngại gì.
1110. Ba mươi sáu chước: "Tam thập lục" là một danh từ chỉ
chung tất cả các chước. Câu này Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một
kế hay nhất là chạy trốn.
1111. Gió kép mưa đơn: ý nói dù có những trở ngại bất trắc...
1114. Quá đỗi: Quá mức, quá đà, ý nói việc đã trót dở dang rồi.
1119. Lậu: Đồng hồ nhỏ giọt. Thời xưa thường dùng "đồng hồ
nước" để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới
có đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc
độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, thì những độ số ở cái tên
cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm.
Danh từ đồng hồ ngày nay còn quen gọi là gốc ở đó.
1122. Lịng q: Lịng nhớ quê hương.
1124. Dậy dàng: Xôn xao ồn ào nổi lên.
1125. Gan vàng: Có nghĩa như "lịng vàng". Kiều đốn có người
đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hãi...
1128. Dặm rừng: Đường rừng, lối đi trong rừng.
1130. Lắm nau: Lắm nao, có nghĩa là đến như thế sao!
1132. Vuốt: Móng sắc của lồi thú. ý nói khơng thốt lối nào
được.
1139. Thú tội, chịu tội.
Khẩn cầu: Khẩn khoản, cầu xin.
1142. Nước non ý nói cách trở nước non, tức là nơi ở xa xôi.
1152. Chịu đoan: Chịu nhận trách nhiệm về Kiều.
1160. Phù dung: Hoa phù dung, ví với người đẹp.
1161. Đà đao: Khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi
theo, rồi thình lình quăng dao lại chém, gọi là "đà dao". "Đà đao"
đây là một chước lửa.
1162. Mộ cốt một đồng: Nói Tú bà với Sở Khanh thông đồng
hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.
1146. Khơng dưng: Nếu khơng thì tự nhiên làm chi có...
1166. Sân si: Phân bua, cãi cọ. Mã Kiều khuyên Kiều nên nén
nỗi tức giận, chớ nên đơi có với Sở Khanh mà thiệt mình.
1173. Quyến gió rủ mây: Quyến rũ mây gió đi theo. ý nói quyến
rũ Kiều.
1178. Thị hùng: Cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.
1189. Anh yến: Chỉ chung những người con gái.
1181. Giếng khơi: Giếng sâu.
1184. Mặt ấy, mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở
Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng "mặt mày" của Sở Khanh ở trên.
1186. Vô lương: Cũng như bất lương, không lương thiện, khơng
có lương tâm.
1191. Trong giá trắng ngần: Do câu tục ngữ: Trong như giá,
trắng như ngần, trong như băng trắng như bạc (ngần là do chữ
ngân).
1028. Khép mở, riêng chung: Chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa
mở, mối tình nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé
quyến rũ.
1210. Vành ngoài bảy chữ: Bảy cách đối với khách ở bề ngoài
để cho khách say mê.
Vành trong tám nghề: Tám cách đối đãi trong khi ăn nằm với
khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa
lòng họ.
1218. Nét nguyệt: Nét lông mày hình vành trăng.
Vẻ hồng: Vẻ mặt hồng.
1220. Khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác.
1221. Các khuê: Do chữ khuê các.
1227. Trướng đào: Màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng.
1231. Lá gió cành chim: Lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa
đón khách chơi.
1232. Tổng Ngọc: Người nước Sở, đời chiến quốc, đẹp trai, có
những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện mây
mưa của thần núi Vu Sơn...
Tràng Khanh: (Chính là chữ Trưởng nhưng thường đọc là
Trường hay Tràng): Tên tự của Tư Mã Tương Như, người Hán,
yêu sắc đẹp của Trác Văn Quân, gảy đàn cầm gợi tình, làm cho
nàng đang đêm bỏ nhà chốn theo mình.
1239. Mưa Sở mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái.
1242. Gió tựa, hoa kề: ý nói những cảnh vui thú ở chốn thanh
lâu.
1242. Tuyết ngậm: Bóng trăng tỏ soi khắp bốn bề. Hai câu
1241-1242 tả bốn cảnh: "gió, hoa, tuyết, trăng" (phong, hoa,
tuyết nguyệt).
1246. Trong nguyệt: Trong bóng trăng.
Dưới hoa: Dưới dàn hoa. Hai câu 1245-1246 tả bốn thú chơi:
gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh, (cầm, kỳ, thi, hoa).
1249. Gió trúc mưa mai: Mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa
gió dập vùi) trúc mai chỉ sự bạn. Đây tiếp ý trên: Kiều thờ ơ với
tất cả những chuyện mưa gió, trúc mai...
1250. Giùi mài: Như nói mịn mỏi, thui thủi. Cũng có ý như là bị
dập vùi.
1253. Bóng dâu: Bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách Hồi
nam nữ nói: Mặt trời xế về phía phương Tây, gác bóng trên ngọn
cây. Người sau mượn chữ bóng dâu để ví tuổi già.
1257. Sân hoè: Sân có trồng cây hoè. Vương Hựu đời Tống tự
tay trồng ba cây hoè ở sân nhà và nói: "Con cháu ta sau này thế
nào cũng làm đến chức tam cơng" (Thời xưa, ở phía trước sân
chầu nhà vua, chỗ ngồi của tam cơng, có trồng ba cây hoè, nên
Vương Đán làm đến tể tướng. Nhân đó, người ta thường nói sân
hoè để chỉ những nhà có con cái hiển đạt).
Đơi chút thơ ngây: Chỉ Thuý Vân và Vương Quan.
1258. Trân cam: Những thức ăn quý báu, ngon ngọt. Hai câu
này, ý Kiều nói: Cha mẹ mỗi ngày một già, mà con cái trong nhà,
thì sau khi nàng đi iồi, chỉ còn hai em nhỏ dại, lấy ai là người
phụng dưỡng trân cam thay mình.
1261. Chương Đài: theo sách Thái bình quảng ký: Hàn hồnh,
đời Đường lấy một danh kỳ là Liễu thị ở đường phố Chương
Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để vợ ở lại đó ba năm,
khơng đón đi được,có gửi cho Liễu thị bài từ rằng: Chương Đài
Liễu, Chương Đài Liễu, đã ưng nhật thanh thanh kim tại phủ?
Túng sử trường điều tự cựu thuỳ, đã ưng phan chiết tha nhân
thủ! (Cây liễu Chương Đài, cây liễn Chương Đài, ngày trước
xanh xanh, nay còn không? Cho dù cành dài vẫn buông rủ như
cũ, song có lẽ đã vin vào tay người khác rồi!). Đây ý nói: Khi
Kim Trọng đi Liêu Dương hộ tang chú trở về, sẽ hỏi người tình
nhân cũ (là Thuý Kiều).
1262. Cành xuân: Cành xanh đẹp..
1263. Tình sâu: chỉ tình chị em, Nghĩa dày: Chỉ nghĩa vợ chồng. ý
Kiều mong Thuý Vân lấy tình chị em thay mình, trả nghĩa cho
1264. Hoa kia, cành này: "Hoa kia" chỉ Thuý Vân, "cành này" chỉ
Kim Trọng.
1266. Hương quan: Quê hương
Giấc hương quan: Giấc mộng về quê hương.
1267. Song ca: cũng như song the. Xem chú thích 240.
1268. Hồng hơn: Về chiều tối, khi mặt trời sắp lặn, có ánh vàng
vàng, gọi là hồng hơn.
1269. Thỏ bạc, ác vàng: Như nói "thỏ lặn, ác tà" tức ngày và
đêm lần lượt qua đi.
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm tri.
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
1280. Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào.
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa ?
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
1285. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lịng được chăng?
Lạ gì thanh khí lẽ hằng,
Một dây một buộc ai giằng cho ra.
Sớm đào tối mận lân la,
1290. Trước cịn trăng gió sau ra đá vàng.
Dịp đâu may mắn lạ dường,
Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê.
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
1295. Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ.
Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,
1300. Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi.
Thúc sinh quen thói bốc rời,
1305. Mụ càng tô lục chuốt hồng,
Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê.
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.
Buồng the phải buổi thong dong,
1310. Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.
Rõ màu trong ngọc trắng ngà !
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
Sinh càng tỏ nét càng khen,
Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường.
1315. Nàng rằng: Vâng biết ý chàng.
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gửi áng mây Vàng.
1320. Họa vần xin hãy chịu chàng hơm nay.
Rằng: Sao nói lạ lùng thay !
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra ?
Nàng càng ủ đột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh:
1325. Thiếp như hoa đã lìa cành,
chàng như con bướm lượn vành mà chơi.
Chúa xn đành đã có nơi,
Vắn ngày thơi chớ dài lời làm chi.
Sinh răng: Từ thuở tương tri,
1330. tấm riêng riêng những nặng vì nước non.
Trăm năm tính cuộc vng trịn,
Phải dị cho đến ngọn nguồn lạch sông.
Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng.
Chút e bên thú bên tòng dễ đâu.
1335. Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng ?
Vả trong thềm quế cung trăng,
1340. chủ trương đành đã chị Hằng ở trong.
Bấy lâu khăng khít dải đồng,
Thêm người người cũng chia lòng riêng tây.
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
1345. Trăm điều ngang ngửa vì tơi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho ?
Như chàng có vững tay co,
Mười phần cũng đắp điếm cho một vài.
Thế trong dầu lớn hơn ngoài,
1350. trươc hàm sư tử gửi người đằng la.
Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng.
ở trên cịn có nhà thơng,
Lượng trên trong xuống biết lịng có thương?
1355. Sá chi liễu ngõ hoa tường?
Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.
Lại càng dơ dáng dại hình,
Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng.
Thương sao cho vẹn thì thương.
1360. Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng.
Sinh rằng: Hay nói đè chừng !
Lòng đây lòng đấy chưa từng hay saỏ
Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
1365. Đã gần chi có điều xa ?
Đá vàng đã quyết phong ba cũng liều.
Cùng nhau căn vặn đến điều,
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời.
Nỉ non đêm ngắn tình dài,
1370. Ngồi hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.
Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
1375. Bắn tin đến mặt Tú bà,
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công.
Công tư đôi lẽ đều xong,
1380. Gót tiên phút đã thốt vịng trần ai.
Một nhà sum họp trúc mai,
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy giò sương,
Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.
Phong lôi nổi trận bời bời,
1390. Nặng lịng e ấp tính bài phân chia.
Quyết ngay biện bạch một bề,
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
Thấy lời nghiêm huấn rành rành,
Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.
1395. Rằng: Con biết tội đã nhiều,
Đẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.
Trót vì tay đã nhúng chàm,
Dại rồi cịn biết khơn làm sao đây.
Cùng nhau vả tiếng một ngày,
1400. ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.
Lượng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc đen thơi có tiếc mình làm chi.
Sốt gan ơng mới cáo q cửa cơng.
1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng,
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.
Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy q.
Trơng lên mặt sắt đen sì,
1410.Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời:
Gã kia dại nết chơi bời,
Mà con người thế là người đong đưa.
Tuồng chi hoa thải hương thừa,
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.
1415. Suy trong tình trạng nguyên đơn,
Bề nào thì cũng chưa yên bề nào.
Phép cơng chiếu án luận vào.
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình.
Một là cứ phép gia hình,
1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về.
Nàng rằng: đã quyết một bề !
Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần.
Đục trong thân cũng là thân.
Yếu thơ vâng chịu trước sân lơi đình !
1425. Dạy rằng: Cứ phép gia hình !
Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
1430. Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương.
Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,
Sụt sùi chàng mới thưa ngay,
1440. Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:
Nàng đà tính hết xa gần,
Từ xưa nàng đã biết thân có rày.
Tại tơi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này vì tơi.
1445. Nghe lời nói cũng thương lời,
Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi.
Rằng: Như hẳn có thế thì
Trăng hoa song cũng thị phi biết điều.
Sinh rằng: Chút phận bọt bèo,
1450. Theo địi vả cũng ít nhiều bút nghiên.
Cười rằng: đã thế thì nên !
Mộc già hãy thử một thiên trình nghề.
Nàng vâng cất bút tay đề,
Tiên hoa trình trước án phê xem tường.
1455. Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường !
Châu Trần cịn có Châu Trần nào hơn?
Thôi đừng rước dữ cưu hờn,
1460. Làm chi lỡ nhịp cho đòn ngang cung.
Đã đưa đến trước cửa cơng,
1465. Kíp truyền sắm sửa lễ cơng,
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao.
Bày hàng cổ xúy xôn xao,
Song song đưa tới trướng đào sánh đơi.
Thương vì hạnh trọng vì tài,
1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.
Huệ lan sực nức một nhà,
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa.
---
1275. Khách du: Khách đi chơi, đi du lãm.
1276. Kỳ tâm: Tên của họ Thúc, theo truyện Thanh tâm tài nhân
thì Kỳ Tầm là tên tự của Thúc sinh.
1277. Huyện Thích, Châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ
Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tơ (Trung Quốc).
1278. Nghiêm đường: Tức cha. Cha tính nghiêm nghị, mẹ tính
hiền từ, nên người ta gọi cha là "nghiêm đường", "nghiêm phụ",
mẹ là "từ mẫu", "từ thân".
1281. Trưởng tô: do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng
lơng chim năm sắc.
1287. Lẽ hằng: Lẽ thường như thế.
1289. Đào mận: Nói bóng sắc đẹp của người con gái.
1290. Đá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau.
1296. Chuốc: So chữ Chước, rót rượu mời nhau.
Nối thơ: Nối câu thơ, do chữ "liên cú" một lối chơi của các tao
nhân mặc khách thời xưa, thường hai người, hoặc nhiều người
nối lời nhau làm chung một bài thơ.
1297. Hương sớm, trà trưa: Xông hương buổi sớm, uống trà
buổi trưa.
1298. Bàn vây: Bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ:
Vi kỳ: Cờ vây
Tượng kỳ: tức cờ tướng.
1299. Truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi.
1301. Sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nhìn của người đàn bà
đẹp.
là bao nhiêu, ý nói vung phí khơng tiếc tiền.
1306. Hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng
đồng, nên nói "đồng" tức là tiền.
1308. Lửa lựu: Hoa lựu khi nó nở trơng đỏ chói như lửa chỉ
cảnh mùa hè.
1312. ý nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.
1314. Luật Đường: Tức lối thơ ngữ ngôn luật (luật năm chữ) hay
thất ngôn luật (luật bảy chữ), mỗi bài tám câu, năm vần, theo
đúng niêm luật bằng trắc. Lối này có từ đời Đường, nên gọi là
luật Đường.
1318. Nỗi quê: Nỗi lòng nhớ quê hương.
1319. Mây vàng: Nói ý nhớ nhà, do câu thơ cổ: Tần Trung đa
bạch vân. Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng
vân (đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên
nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).
1322. Cành kia, cỗi này: Chỉ Kiều và Tú bà. Thúc sinh tưởng
Kiều là con đẻ của Tú bà.
1323. Thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong
suốt như suối mùa thu).
1327. Chúa xuân: Người chủ vường xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ
Thúc sinh. Câu này ý nói: Thúc Sinh ở nhà đã có vợ rồi.
1339. Thềm quế: Thềm điện quế. Dâu đương tạp trở chép: Trên
mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả
mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.
1340. Chị Hằng: Chị Hằng Nga, người chủ trương trong điện
quế, nói bóng vợ cả Thúc sinh.
1341. Giải đồng: Giải đồng tâm.
1342. Thêm người, người cũng... chữ người chỉ Kiều, chữ người
dưới chỉ Thúc sinh.
1343. Bèo mây: Nói thân phận trôi nổi bất định như bèo mặt
nước, mây trên khơng.
1344. Bể ái: Bể ân ái, tức tình u vợ chồng.
1347. Vững tay co: Cái tay co vững. Kiều nói: Nếu chàng có
cứng tay, tức có quyền lực đối với vợ cả.
1349. Trong ngoài: Chỉ vợ cả và Thúc sinh. Theo lễ giáo xưa:
Nam t ự ngoại, nữ tự nội: Đàn ông trong coi việc bên ngồi, đàn
bà trơng coi việc trong nhà. ý Kiều nói: Nếu thế lực vợ cả lớn
hơn thế lực chàng.
hay nói chuyện đạo Phật, vợ là Liễu thị, tính dữ tợn mà cả ghen,
mỗi khi Tháo thết tiệc tân khách, có ca kỹ, thì ở trong nhà, Liễu
thị lấy gậy đập vào vách, hò hét, khách phải giải tán. Tồ Thức,
Bạn Tháo, viết mấy câu thơ đùa:
"Thuỳ tự Long Khâu cư sĩ hiền,
Đàm không thuyết hữu dạ bất miên,
Hốt văn Hà Đông sư tử hồng
Trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên".
Dịch nghĩa:
"Ai giỏi như Long Khâu cư sĩ
"Nói những thuyết khơng, thuyết có, đếm khơng ngủ
"Bỗng nghe sử tử Hà Đông rống lên
"Tay rơi gậy chống, lịng bàng hồng.
Đằng la: Những lồi dây leo (chính nghĩa là dây bim, dây tơ
hồng) dây dùng như chữ cát đằng dây bìm, ví với phận lẽ mọn.
1352. Một số cố lão ở Nghệ - Tĩnh thuộc hai chữ đầu câu này là
Dấm vùi hay Nhúm vùi. ý nói: lửa bếp vùi âm ỉ cháy (chỉ thói
ghen tng) cịn khó chịu hơn cả lửa hồng.
1355. Liễu ngõ, hoa tường: Nói ví gái lầu xanh như liễu bên
đường, hoa đầu tường, ai vin ai hái cũng được.
1363. Ngô, Lào: Nước Ngô (Trung Quốc), nước Lào (Ai Lao)
tác giả dùng nghĩa bóng. ý nói: Đừng nghĩ ngợi xa xơi, quanh
quẩn làm gì.
1366. Phong ba: Sóng gió, chỉ sự bất trắc xẩy ra.
1370. Non đồi: Núi ở phía tây.
1371. Trúc viện: Viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc xung
quanh.
Thừa lương: Hóng mát, nghỉ mát, Thúc sinh mượn cớ là đưa
Kiều đi hóng mát.
1373.Chiến, hồ: ở đây, chiến là dịa chuyện kiện cáo, hồ là lựa
cách điều đình. Theo Kim vân Kiều truyện của Thanh Tầm: Thúc
sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi
một mặt cậy Hoa Dương rêu rao về tội mua con gái nhà lương
thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tần đến đièu đình việc
chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.
1378. Hoàn lương: Gái đĩ bỏ nghề cũ trở về đời lương thiện.
1380. Trần ai: Bụi bậm chỉ cảnh lầu xanh.
1381. Trúc, mai: Chỉ sự giao kết thân mật của vợ chồng.
1383. Hương lửa: Chỉ tình duyên vợ chồng.
1384. Ngọc sen: Hai câu tỏ ý "sum họp" mai trúc đã về một nhà.
1386. Sân ngô: Sân có trồng cây ngơ đồng. Ngơ đồng là một
lồi cây cao, cành lá xanh biếc, nên thường gọi là bích ngơ chen
lá vàng giữa chòm lá xanh biếc, tức trời đã sang thu.
1387. Giậu thu: Giậu hoa mùa thu.
Giò sương: giò hoa chịu được sương, ý chỉ hoa cúc.
1389. Phong lơi: gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió,
như sấm.
1393. Nghiêm huấn: Lời dạy của bố.
1396. Sấm sét: Do chữ lơi đình, chỉ sự ra uy, như quát mắng
đánh đập.
Búa rìu: Do chữ phủ việt, chỉ dự gia hình, ý cả câu: Dẫu đánh
mắng hay giết chết cũng xin chịu.
1397. Tay đã nhúng chàm: Cái tay đã nhúng vào chàm, thì dù rút
ra cũng bị nhuốm chàm xanh rồi.
1400. Đã lấy nhau thành vợ chồng thì nỡ nào lại lìa bỏ, cũng như
nỡ ơm đàn cầm mà gẩy thì nỡ nào lại đứt dây cho được.
1402. Bạc đen: Chưa thực rõ nghĩa. Có người giải bạc đen là
sống chết cũng liều.
1404. Sốt gan: Nóng gan, như nói nóng tiết.
Cáo quỳ: Cáo là thưa trình, quì là quì gối, tức quì gối mà đề đơn
thưa trình. Lệ xưa, ai vào quan thưa trình việc gì, phải q gối
trước cơng đường đầu đội lá đơn.
Phiếu hồng: Tờ trát của quan.
Thơi tra: Địi lên xét hỏi.
1408. Sân hoa: Sân phủ đường (chữ hoa ở đây chỉ đặt cho đẹp
lời)
1409. Mặt sắt: Do chữ thiết diện, mặt đen và cứng rắn như sắt,
1419. Gia hình: Gia hình có nghĩa là bắt phải chịu tội, hình phạt, ở
đây là phạt trượng tức dùng trường (gậy) mà đánh.
1422. ý Kiều nói: Đã quyết tình hồn lương rồi, khơng muốn lại
lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vướng víu vào
lưới tơ thêm một lần nữa.
1423. Đục, trong: ý nói: dù đục hay trong, dù dở hay hay.
1424. Yếu thơ: Yếu ớt, thơ dại.
Lơi đình: Sấm sét, chỉ hình phạt.
1426. Ba cây: Do chữ tam mộc là thứ hình cụ thể bằng gỗ thời
xưa, tức già, nữu giới (cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân).
ở đây, chữ bạ cây, chỉ các hình phạt dồn vào cái thân yếu ớt của
Kiều.
Mẫu đơn: Cành hoa đẹp ví nói Kiều.
1437. Phủ đường: chỉ vào quan phủ.
1440. Cầu thân: Cầu làm thân, nói việc định lấy nhau.
1446. Giải vi: Cởi, gỡ vòng vây ra, đây ý nói gỡ cho ra lối thốt
để giải quyết việc rắc rối này.
1452. Mộc già: Cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gơng.
Thịnh Đường: là giai đoạn phồn thịnh nhất thơ của triều đại nhà
Đường, Trung Quốc;
1458. Châu Trần: ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ
Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta
dùng hai chữ Châu Trần để nói sự lấy nhau đẹp đôi xứng lứa.
1459. Rước dữ cưu hờn: Mua rước lây điều dữ và cưu mang lây
sự hờn giận.
1467. Cổ xuý: Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng,
trống. Xuý là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.
1468. Trường đào: Màn hoa đào, đây tức là buồng cưới.
1470. Huệ lan: Hoa huệ, hoa lan, ngụ ý nói cảnh sum họp.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh.
1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,
E tình nàng mới bày tình riêng chung:
Phận bồ từ vẹn chữ tòng,
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.
Tin nhà ngày một vắng tin,
1480. Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang.
Nghĩ ra thật cũng nên đường,
Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
ở vào khn phép nói ra mối đường.
1485. E thay những dạ phi thường,
Dễ dò rốn bể khơn lường đáy sơng!
Mà ta suốt một năm rịng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ
Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,
Xin chàng kíp liệu lại nhà,
Trước người đẹp ý sau ta biết tình.
Đêm ngày giữ mức giấu quanh,
Rày lần mai lữa như hình chưa thơng.
1495. Nghe lời khun nhủ thong dong,
Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang.
Rạng ra gửi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Tiễn đưa một chén quan hà,
1500. Xn đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sơng Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan.
Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.
1505. Nàng rằng: Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngồi mới êm.
Dễ lịa yếm thắm trơn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lịng!
Đơi ta chút nghĩa đèo bịng,
1510. Đến nhà trước liệu nói sịng cho minh.
Dù khi sóng gió bất tình,
Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng xin đợi ngày này năm sau!
Người lên ngựa kẻ chia bào,
1520. Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi mn dặm một mình xa xơi.
1525. Vầng trăng ai xẻ làm -dôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Kể chi những nỗi dọc đường,
Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà:
Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
1530. Con quan Lại bộ tên là Hoạn thư.
Duyên đằng thuận nẻo gió đưa,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.
1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì khơng.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Trách người đen bạc ra lịng trăng hoa:
Ví bằng thú thật cùng ta,
1540. Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?
Lại cịn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,
Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!
Lo gì việc ấy mà lo,
Kiến trong miệng chén có bị đi đâu?
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
1550. Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.
Nỗi lịng kín chẳng ai hay,
Ngồi tai để mặc gió bay mái ngồi.
1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi giận đùng đùng:
Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!
Chồng tao nào phải như ai,
1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi!
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng.
Trong ngồi kín mít như bưng.
Nào ai cịn dám nói năng một lời!
1565. Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như khơng.
Đêm ngày lịng những dặn lịng,
Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.
Lời tan hợp nỗi hàn huyên,
Tẩy trần vui chén thong dong,
Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.
Chàng về xem ý tứ nhà,
Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.
1575. Mấy phen cười nói tỉnh say,
Tóc tơ bất động mảy may sự tình.
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình đã xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
1580. Rút dây sợ nữa động rừng lại thơi.
Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.
Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
1585. Khen cho những chuyện dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!
Thấy lời thủng thỉnh như chơi,
1590. Thuận lời chàng cũng nói xi đỡ địn.
Những là cười phấn cợt son,
Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai.
Thú quê thuần hức bén mùi,
Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
Cách năm mây bạc xa xa,
1600. Lâm Tri cũng phải tính mà thần hơn.
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu chẳng ruổi nước non quê người.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.
1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,
Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen,
1610. Xấu chàng mà có ai khen chi mình!
Vậy nên ngảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.
Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho cho mệt cho mê,
Làm cho đau đớn ê chề cho coi!
Trước cho bõ ghét những người,
1620. Sau cho để một trò cười về sau.
Phu nhân khen chước rất mầu,
Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng lại chọn một bầy cơn quang.
1625. Dặn dị hết các mọi đường,
Thuận phong một lá vượt sang bến Tề.
Nàng từ chiếc bóng song the,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng đâu đã xế ngang đầu,
1630. Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi.
Tóc thề đã chấm ngang vai,
Nào lời non nước nào lời sắt son.
Sắn bìm chút phận cỏn con,
Khn dun biết có vng trịn cho chăng?
1635. Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao!
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.
Nén hương đến trước Phật đài,
1640. Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.
Dưới hoa dậy lũ ác nhân,
ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra.
Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.
1645. Thuốc mê đâu đã rưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì.
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phịng đào viện sách bốn bề lửa dong.
Sẵn thây vô chủ bên sông,
Tôi đòi phách lạc hồn bay,
Pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn mình.
Thúc ơng nhà cũng gần quanh,
1660. Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng.
Chạy vào chốn cũ phòng hương,
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
Tình ngay ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thơi lại cịn bàn rằng ai!
1665. Thúc ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na.
Di hài nhặt gói về nhà,
Nào là khâm liệm nào là tang trai.
Lễ thường đã đủ một hai,
1670. Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Bước vào chốn cũ lầu thơ,
Tro than một đống nắng mưa bốn tường.
Sang nhà cha tới trung đường,
Con người thế ấy thác oan thế này.
Chắc rằng mai trúc lại vầy,
1680. Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!
Thương càng nghĩ nghĩ càng đau,
Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây.
Gần miền nghe có một thầy,
Phi phù trí quỷ cao tay thơng huyền.
1685. Trên tam đảo dưới cửu tuyền,
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.
Sắm sanh lễ vật rước sang,
Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han.
Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,
1690. Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.
Trở về minh bạch nói tường:
Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra.
Người này nặng kiếp oan gia,
Cịn nhiều nợ lắm sao đà thốt cho!
1695. Mệnh cung đang mắc nạn to,
Một năm nữa mới thăm dò được tin.
Hai bên giáp mặt chiền chiền,
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!
Điều đâu nói lạ dường này,
Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên.
---
1473. Mảng: Tiếng cổ có ý nói mải mê về một việc gì mà quên
đi. ở đây là nghĩa này.
1474. ý nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa hạ
1478. Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ý
nói từ mùa nọ sang mùa kia. ở đây ý nói thời gian trơi thấm thoắt
gần được một năm.
1480. Tao khang: bã rượu cám. Người vự cùng ăn bã, ăn cám
với nhau, tức là - người vợ cả lấy từ lúc còn hàn vi. Vua Quang
Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới gố là cơng chúa Hồ
Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đã có vợ. Vua hỏi ý
Hoằng, Hoằng thưa: Tao khang chi thê, bất hạ đường, nghĩa là
người vợ lấy trong lúc ăn tấm, ăn cám, khơng thể để xuống dưới
nhà, ý nói khơng thể khinh rẻ, phụ bạc. Vua biết ý vậy, liền thôi.
1485. Phi thường: khác với người thường, ý nói người sâu sắc,
hiểm độc.
1499. Quan hà: Quan cửa ải, hà là sông. Chén quan hà: Chén
rượu tiễn biệt.
1500. Xn đình: Có thể hiểu là nơi xum họp, vui vẻ.
Cao đình: Cổ thi: Cao đình tương biệt xứ, chỗ biệt nhau ở Cao
đình.
1501. Sơng Tần: Sông ở đất Tần Xuyên, mạn tỉnh Cam Túc.
Theo Tản Đà thì sơng Tần là sơng Tần Hồi, thuộc tỉnh Giang
Tồ, q Thúc Sinh (Vơ Tích).
1502. Dương quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây,
1507. Yến thắm trôn kim: Chưa thực rõ nghĩa. Đại ý câu này
nói: Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là việc khơng thể dấu
kín được.
1508. Bưng mắt bắt chim: Bưng mắt lại thì khơng thể nào bắt
được chim. ý nói khơng thể nào che giấu nổi việc có vợ lẽ.
1509. Đèo bịng: Có nghĩa là vương vít tình duyên.
1519. Bào: áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hhay
nắm lấy áo nhau, tỏ tình quyến luyến. Chia bào tức là buông áo.
1520. Phong: Một loại cây ở Trung Quốc, lá chia ra nhiều cành,
gần giống lá cây thầu dầu ở bên ta, đến mùa thu thì sắc lá hoá
đỏ.
Quan san: Quan ải, núi non, thường được dùng để chỉ sự xa xôi
cách trở.
1521. Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi
đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh
an để chỉ việc đi đường xa.
1528. Buồng trong: Chỉ vào người vợ. Cây này đại ý nói: Bây
giờ hãy nói đến người vợ Thúc sinh làm chủ gia đình ở quê nhà.
1530. Lại bộ: Bộ lại, tức là quan trọng nhất trong sáu bộ của
triều đình phong kiến.
1531. Duyên Đằng: Cổ thi: Thời lai phong tống Đằng vương các
(Thời vận đến, gí đưa lại gác Đằng Vương). ý nói gặp cơ hội
khuôn, vào phép của mình.
1535. Vườn mới thêm hoa: ý nói Thúc sinh có thêm vợ lẽ.
1538. Đen bạc: Cùng nghĩa như bạc bẽo, phụ bạc.
Trăng hoa: Do chữ hoa nguyệt mà ra, ý chỉ sự chơi bời trai gái.
1541. Nền: Nền nếp của người trên, tư thế của mình là người bề
trên.
1551. Nhãn tiền: Trước mắt.
1552. Tục ngữ: Chưa thăm ván đã bán thuyền. ở đây chỉ Thúc
sinh là người mới nới cũ.
1560. Thị phi: Có nghĩa là việc phải thì nói thành trái, việc trái thì
nói thành phải, thêu dệt phải trái làm cho người nghe mắc lầm.
1568. Lầu hồng: Do chữ hồng lâu, nhà ở bọn quyền quý, cũng
dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang.
1571. Tẩy trần: Rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về thì đặt
tiệc "tẩy trần", ý nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường.
1578. Khảo: Tra khảo.
1580. Rút dây động rừng: Tục ngữ, ý nói rút một sợi dây làm
rung chuyển đến cả một khu rừng. Câu này ý nói: Thúc sinh sợ
nói lộ câu chuyện lấy Kiều ra sẽ gây nên sóng gió trong gia đình.
1583-1584: Đại ý nói ngọc hay đã, vàng hay thau đôi ta đều đã
biết phân biệt rạch rịi, khơng thể nào lầm lẫn được.
1593. Thuần: là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời
nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến
canh rau thuần và chả cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. Vì
thế, người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ thú vui chơi
nơi quê nhà.
1594. Cổ thi: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cọng tri thu: (chỉ
một lá ngô đồng rụng mà ai cũng biết là thu sang). Câu này đại ý
nói: Thúc sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá thì trời đã bắt đầu
sang thu.
1596. Quan tái: cũng như quan ải, chỉ nơi núi non bờ cõi.
1599. Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Định Nhân Kiệt đời
Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng
mà nói: "Nhà cha mẹ ta ở đây". ở đây dùng để nói Thúc sinh có
cha ở xa.
Quy ninh là về hỏi thăm sức khoẻ của cha mẹ.
1609. Thành ngữ: Ngứa ghẻ hờn ghen ý nói hai điều khó chịu
nhất.
1614. Hải đạo: Đường biển.
1621. Mầu: Mầu nhiệm: Mẹ Hoạn thư khen cái mưu ấy rất điệu
rất hay.
1623. Buồm: Lá buồm. Lèo: dây treo buồm.
1624. Khuyển: chó, Ưng: chim cắt, hai loài vật dùng để đi săn. ở
đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn.
Côn quang: Cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vơ lại.
1626. Thuận phong: Thuận gió. Một lá: Một lá buồm, Kiều lúc
ấy đang ở Lâm Tri, Lâm Tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa, nên
gọi là bến Tề.
1630. ấm lạnh: Do chữ Ơn sảnh (Đơng ơn hạ sảnh), ngọt bùi do
chữ cam chỉ, ý nói làm con phải quạt nồng ấm lạnh và phụng
dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ.
thành vững chắc như sắt như son.
1633. Sắn bìm: Do chữ cát đằng mà ra. Xem chú thích 902.
1636. Cung Quảng: Cung Quảng hàn trong mặt trăng, ả Hằng
tức ả Hằng Nga trong cung. Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, trộm
thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một mình trên cung
trăng; Câu này đại ý nói: Thơi thì liều sống một mình như Hằng
Nga trong cung Quảng Hàn vậy.
1638. Ba sao: Do chữ Kinh Thi: Tam tinh tại thiên (ba sao ở
trời). ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngồi song
gió thổi, giữa trời có trăng có sao v.v...
1642. Khốc quỷ kinh thần: Quỷ thần khóc, thần phải sợ, ý nói
rất ghê sợ.
1667. Di hài: Hài cốt sót lại.
1668. Khâm liệm: Lễ mặc quần áo mới và bọc vải lụa cho người
chết trước khi bỏ vào áo quan. Tang trai: Lễ đưa ma và làm
chay.
1674. Linh sàng: Giường thờ.
Bài vị: Mảnh gỗ viết tên người chết để thờ.
1680. Vĩnh quyết: Cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao
giờ gặp nhau nữa.
1684. Phi phù trí quỷ: đốt bùa mà gọi được quỷ đến.
Thông huyền: Thông cảm được với cõi huyền bí, tức cõi quỷ
thần.
1685. Tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng lai, Phương Trượng, Doanh
Châu. Người ta thường dùng để chỉ cõi thiêng liêng hoặc cõi tiên.
Cửu tuyền: Chín suối, tức là âm phủ.
1689. Đạo nhân: cũng như đạo sĩ, chỉ ông thấy pháp.
Tĩnh đàn: Đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp.
1690. Xuất thần: Linh hồn thầy pháp thốt ra ngồi thể xác để đi
vào cõi thần linh.
đang mắc nạn to.
1697. Chiền chiền: Tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền.
1701. Đồng cốt: Ông đồng, bà cốt, những người làm nghề câu
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
1705. Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.
Khuyển ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao lèo thẳng cánh suyền,
1710. Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang.
Dỡ đò lên trước sảnh đường,
Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống mơn phịng,
Hãy cịn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
1715. Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,
Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?
Bàng hoàng giở tỉnh giở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.
A hoàn trên dưới giục mau,
1720. Hãi hùng nàng mới theo sau một người.
Ngước trơng tịa rộng dãy dài,
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.
1725. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,
Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa.
Bất tình nổi trận mây mưa,
Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân!
Con này chẳng phải thiện nhân,
1730. Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả gà đồng,
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
Đã đem mình bán cửa tao,
Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này.
1735. Nào là gia pháp nọ bay!
Hãy cho ba chục biết tay một lần.
A hoàn trên dưới dạ ran,
Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào.
Trúc côn ra sức đập vào,
1740. Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh.
Xót thay đào lý một cành,
Một phen mưa gió tan tành một phen.
Hoa nơ truyền dạy đổi tên,
Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.
1745. Ra vào theo lũ thanh y,
Khi chè chén khi thuốc thang,
1750. Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh.
Dạy rằng: May rủi đã đành,
Liểu bồ mình giữ lấy mình cho hay.
Cũng là oan nghiệp chi đây,
Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.
1755. ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
Con ong cái kiến kêu gì được oan?
Nàng càng giọt ngọc như chan,
1760. Nỗi lịng luống những bàng hồng niềm tây:
Phong trần kiếp chịu đã đầy,
Lầm than lại có thứ này bằng hai.
Phận sao bạc chẳng vừa thôi,
Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.
1765. Đã đành túc trái tiền oan,
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.
Những là nương náu qua thì,
Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.
Phận con hầu giữ con hầu dám sai.
Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây,
1780. Nỉ non thánh thót dễ say lịng người.
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Cửa người đày đọa chút thân,
Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng.
1785. Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng,
Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau.
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Lần lần tháng trọn ngày qua,
1790. Nỗi gần nào biết đường xa thế này.
Lâm Tri từ thuở uyên bay,
Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mày ai trăng mới in ngần,
Phần thừa hương cũ bội phần xót xa.
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa giãi giề,
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
Phải chăng nắng qng đèn lịa,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thơi thơi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đơi nơi.
1815. Bề ngồi thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?
Càng trông mặt càng ngẩn ngơ,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn siêu:
Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!
Sợ quen dám hở ra lời,
Tiểu thư trơng mặt hỏi tra:
1830. Mới về có việc chi mà động dong?
Sinh rằng hiếu phục vừa xong,
Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên.
Khen rằng: Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu.
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra.
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có địn.
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trị chơi.
Rằng: Hoa nơ đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.
Nàng đà tán hốn tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Người ngồi cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi\?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi.
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thúy chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
Một mình âm ỉ đêm chày,
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.
1885. Sớm trưa hầu hạ đài doanh,
Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua:
Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.
Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh:
1890. Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao!
Sinh đà rát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện trơng vào chẳng đang!
Những e lại lụy đến nàng,
Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra.
1895. Cúi đầu quỳ trước sân hoa,
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền trình với Tiểu thư,
Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.
Liền tay trao lại Thúc Sinh,
1900. Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương!
Ví chăng có số giàu sang,
Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài thương nỗi vơ dun lạ đời!
1905. Sinh rằng: Thật có như lời,
Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay!
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Tiểu thư rằng: ý trong tờ,
1910. Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Khơng.
Thơi thì thơi cũng chiều lịng,
Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.
Sẵn Quan âm các vườn ta,
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa.
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường,
1920. Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.
áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà.
1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thơi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
1930. Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước cành dương,
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Nâu sồng từ trở màu thiền,
Nói lời trước mặt, rời châu vắng người.
Gác kinh viện sách đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp mười quan san.
1940. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.
Thừa cơ, sinh mới lẻn ra,
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.
Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng,
Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh:
1945. Đã cam chịu bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa!
Thấp cơ thua trí đàn bà,
Trơng vào đau ruột nói ra ngại lời.
Vì ta cho lụy đến người,
1950. Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!
Quản chi lên thác xuống ghềnh,
Cũng toan sống thác với tình cho xong.
Tơng đường chút chửa cam lịng,
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.
1955. Thẹn mình đá nát vàng phai,
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?
Nàng rằng: Chiếc bách sóng đào,
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may!
Chút thân quằn quại vũng lầy,
1960. Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa rào,
Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta.
1965. Liệu bài mở cửa cho ra,
ấy là tình nặng ấy là ân sâu!
Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường.
Nữa khi giông tố phũ phàng,
1970. Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây.
Liệu mà xa chạy cao bay,
ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bâu giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
1975. Dẫu rằng sơng cạn đá mịn,
Con tằm đến thác cũng cịn vướng tơ!
Cùng nhau kể lể sau xưa,
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời.
Mặt trơng tay chẳng nỡ rời,
1980. Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa.
Nhận ngừng, nuốt tủi, lảng ra,
Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào.
Cười cười, nói nói ngọt ngào,
1990. Nghìn vàng, thật cũng nên mua lấy tài!
Thiền trà cạn chén hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau.
1995. Hoa rằng: Bà đã đến lâu,
Rón chân đứng nép độ đâu nữa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương,
2000. Nỗi ơng vật vã, nỗi nàng thở than.
Ngăn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu:
Đàn bà thế ấy thấy âu một người!
2005. ấy mới gan ấy mới tài,
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!
Người đâu sâu sắc nước đời,
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!
Thực tang bắt được dường này,
2010. Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.
Thế mà im chẳng đãi đằng,
Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường,
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu!
2015. Thân ta ta phải lo âu,
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này!
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!
Phận bèo bao quản nước sa,
2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Chỉn e q khách một mình,
Tay khơng chưa dễ tìm vành ấm no!
Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,
Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân.
2025. Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
---
1709. Cảnh suyền: Cánh buồm đi nhanh.
1715. Hoàng Lương: Kê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi
1719. ả hoàn: các đầy tớ gái trẻ tuổi.
1722. Thiên quang trủng tể: Thiên quang là loại quan đứng đầu
sáu lại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.
1724. Thất bảo: Bảy sản vật quý như vàng, bực, lưu ly, xà cừ,
mã não, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật
quý.
1731. Mèo mả gà đồng: Mèo hoang sống ở mồ mả; gà hoang
sống ở ngoài đồng, người ta thường dùng để ví với hạng người
lơng bơng, giang hồ.
1735. Gia pháp: Phép tắc trong nhà để trừng phạt gia nhân và tôi
tớ.
1739. Trúc côn: Gậy tre.
1741. Đào lý: Cây đào, cây lý, thường dùng để chỉ phụ nữ.
1744. Phiên thị tỳ: Thị tỳ ở nhà quyền quý rất nhiều, chia ra từng
ban và từng phiên mà hầu hạ, nên gọi là phiên thị tỳ.
1745. Thanh ly: áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa
đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y.
1747. Quản gia: Trong gia đình quan lại phong kiến đời xưa
1750. Phương tiện: ở đây có nghĩa là đối đãi, xử trí mọi việc.
Hiếu sinh: Quí trọng sinh mệnh, ý nói tránh cho người ta con
đường khổ sở chết chóc.
1752. Liễu và bồ là hai giống cây mềm yếu thường được dùng
để chỉ phụ nữ.
1753. Oan nghiệp: Tiền oan, nghiệp chướng, có ý nói có oan thù
và tội lỗi từ thời trước để lại.
1755. Tai vách mạch rừng: Do câu thành ngữ: Rừng có mạch
vách có tai.
1761. Phong trần: Nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để
chỉ sự khổ sở mà người đời phải chịu.
1778. Trúc tơ: Do chữ ty trúc: ty là tơ để làm dây đàn, trúc là tre
để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ
âm nhạc nói chung.
1786. Tương phùng: Gặp nhau. Câu này ý nói: Th Kiều nghĩ
rằng tình nghĩa giữa mình với Thúc Sinh muốn nối lại thì hoạ
chăng chỉ ở kiếp khác.
1782. ý nói: Th Kiều trơng ra bốn bể thì thấy đâu cũng man
mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà.
1788. Cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như
chữ cố hương (quê cũ).
1791. Uyên: do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi,
nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Un bay: ý nói Th
Kiều khơng còn nữa (con chim uyên đã bay mất).
1793. Trăng mới: Trăng đầu tháng. Câu nói đại ý nói: Thúc sinh
trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày
người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều.
1799. Gia hương: Nhà và làng, tức quê nhà. ở đây chỉ quê
hương của Thúc sinh ở huyện Vơ Tích.
1803. Nhà hương: Do chữ Hương khuê.
1816. Thành ngữ: Giết người không dao. ở đây chỉ mưu mẹo
nham hiểm.
1823. Phách lạc hồn xiêu: Do chữ hồn phi phách tán, ý nói sợ
hãi một cách ghê gớm.
1830. Động dong: Biến đổi sắc mặt, ý nói động lịng.
1831. Hiếu phục: Tang trở cha mẹ. ở đây chỉ thúc sinh vừa hết
tang mẹ.
1832. Trắc dĩ: Kinh thi có câu Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mâu hề
(lên núi Dĩ trơng ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ Trắc
Dĩ để nói thương nhớ mẹ.
1835. Thù: Chén rượu do chủ nhà rót mời khách.
Tạc: Chén rượu do khách rót cho người chủ để đáp lại. ở đây
nói vợ chồng Thúc sinh uống rượu và mời mọc nhau.
1836. Trì hồ: Bưng bầu rượu. ý nói bắt Kiều đứng hầu một bên
để rót rượu cho hai vợ chồng Thúc sinh uống.
1846. Bồ hịn để ám chỉ người có việc buồn khổ mà khơng nói
ra được. ở đây ý nói: chén rượu Kiều đưa mời chàng thấy đắng
như bồ hịn, nhưng vì sợ Kiều bị liên luỵ phải uống hết ngay.
1856. Người ngoài là người ngoài cuộc, thi Hoạn thư: người
trong là người trong cuộc chỉ Thúc sinh và Kiều.
1865. Giọt rồng: có nghĩa là thời giờ, thời khắc.
1866. Cam tậm: Thoả lòng, hả dạ.
1871. Loan phịng: Phịng nằm của đơi vợ chồng;
1896. Thân cung: Cung khai, khai trình.
1897. Diện tiền: Trước mặt.
1910. Cửa không: Do chữ không môn. Vì đạo Phật cho mọi vật
trên thế gian đều là "không" nên người ta gọi đạo Phật là "Không
môn".
1913. Quan âm các: Cái chùa thờ Phật Quan thế âm Bồ tát. Đây
là chùa riêng của nhà Hoạn Thư.
1915. Cổ thụ: Cây lâu năm.
Sơn hồ: Núi giả và hồ đào ra để làm cảnh.
1917. Tàng tàng: Tang tảng sáng.
1918. Ngũ cúng: Năm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đăng, trà,
quả.
1920. Tam quy: Ba lễ "qui y" tức quy y phật, quy y pháp, quy y
tăng, nghĩa là đem cả tâm và thân mà theo đạo Phật.
Ngũ giới: Năm điều răn, tức là răn sát sinh, răn ăn rộm, răn tà
dâm, răn nói càn, răn uống rượu.
Xuất gia: Ra khỏi nhà tức đi tu.
1921. áo xanh: Thanh y, áo các hầu gái mặc.
Cà sa: áo nhà sư mặc.
1922. Pháp danh: Tên đặt theo tập tục tôn giáo. Trạc Tuyền là
pháp danh do Hoạn thư đặt cho Kiều.
1924. Xuân, thu: Tên hai người đầy tớ gái do Hoạn thư sai đến
Quan âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn.
1926. Rừng tía: Do chữ tư trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan âm
Bồ tát.
Bụi hồng: Do chữ hồng trần, tức cõi trần tục, cõi đời.
1927. Nhân duyên: Duyên vợ chồng. ở đây chỉ duyên phận giữa
Kiều và Thúc sinh.
1930. Thủ tự: Chữ viết tay.
Tâm hương: Hương lòng. Nén hương dân lên do tấm lịng thành
kính.
cam lộ, khi muốn cứu ai thì lấy cành dương liễu dúng nước trong
bình mà rảy vào người ấy. ở đây giọt nước cành dương dùng để
chỉ phép màu nhiệm của Phật.
1932. Lửa lòng: do chữ tâm hoả, chỉ mọi thứ dục vòng do lòng
người sinh ra.
Trần duyên: Duyên nợ ở cõi trần.
1937. Gác kinh: Cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều.
Viện sách: Tức thư viện, phòng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc
sinh.
1940. Vấn an: Hỏi thăm sức khoẻ.
1944. áo xanh: Do chữ thanh sam, chỉ thứ áo xanh mà các nhà
nho sĩ xưa thường mặc.
1950. Cát lầm ngọc trắng: ý nói Kiều như "ngọc trắng" mà bị cát
vùi dập.
1953. Tông đường: Nhà tổ tông. ở đây dùng với nghĩa: "nối dõi
tơng đường". ý nói Thúc sinh nghĩ mình chưa có con trai để nối
dõi tông đường.
gớm của Hoạn thư.
1987. Bút pháp: Phép viết chữ.
1988. Thiếp Lan - đình: Do chữ Lan-đình thiếp là bản bút tích
rất tốt của nhà văn Vương Hy Chi, đời Tần.
1991. Thiền trà: Nước trà của nhà chùa.
Hông mai: Gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước
đỏ hồng, nên gọi là hồng mai.
1992. Thư trai: Nhà đọc sách, cũng như thư viện.
2008. Bó tay: Chữ hán là thúc thủ. Đặt hai chữ "bó tay" sau chữ
"Thúc" là một cách chơi chữ của tác giả.
2011. Đãi đằng: ở đây lại có nghĩa là nói năng, làm ầm ĩ lên.
2014. Cổ nhân có câu: Nộ giả thường tình, tiếu giả bất khả t rắc,
nghĩa là: Giận dữ là thói thường, cười thì không thể lường được.
Câu này dùng ý ấy.
2018. Câu này ý nói: Bị giam giữ ở đây lâu, thế nào cũng có
ngày mình bị hành hạ điêu đứng hơn, hoặc bị trừ khử.
2020. Câu này ý nói: Thuý Kiều nghĩ thân phận của mình như
2024. Kim ngân: Vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh
đúc bằng vàng bạc.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Mịt mù dặm cát đồi cây,
2030. Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà!
2035. Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mái cửa ngồi,
Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
2040. Giác duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh:
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra.
Xem qua sư mới dạy qua:
2050. Phải nơi Hằng Thủy là ta hậu tình.
Chỉ e đường sá một mình,
ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
2055. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
2060. Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa Già.
2065. Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!
Giác Duyên thực ý lo lường,
Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
2070. Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay:
Bây giờ sự đã dường này,
Phận hèn dù rủi, dù may, tại người.
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.
2075. Rỉ tai nàng mới giãi lòng:
ở đây cửa Phật là khơng hẹp gì;
E chăng những sự bất kỳ,
Để nàng cho đến thế thì cũng thương!
Lánh xa, trước liệu tìm đường,
2080. Ngồi chờ nước đến, nên đường cịn q!
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
2085. Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc bà học với Tú bà đồng môn!
Thấy nàng mặt phấn tươi son,
2090. Mừng thầm được mối bán bn có lời.
Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần.
2095. Rằng: Nàng muôn dặm một thân,
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia, của phá gia,
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây!
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
2100. Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!
Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
Nơi xa thì chẳng có người nào xa.
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.
2105. Cửa hàng buôn bán châu Thai,
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
Bấy giờ ai lại biết ai,
2110. Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh.
Nàng dù quyết chẳng thuận tình,
Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau.
Nàng càng mặt ủ mày chau,
Càng nghe mụ nói, càng đau như dần.
2115. Nghĩ mình túng đất, sẩy chân,
Thế cùng nàng mới xa gần thở than:
Thiếp như con én lạc đàn,
Phải cung rày đã sợ làn cây cong!
Cùng đường dù tính chữ tịng,
2120. Biết người, biết mặt, biết lịng làm sao?
Nữa khi mn một thế nào,
Bán hùm, bn sói, chắc vào lưng đâu?
Dù ai lịng có sở cầu,
Được lời mụ mới ra đi,
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh.
Một nhà dọn dẹp linh đình,
2130. Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang.
Bạc sinh quì xuống vội vàng,
Quá lời nguyện hết Thành hồng, Thổ cơng.
Trước sân lịng đã giãi lịng,
Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên.
2135. Thành thân mới rước xuống thuyền,
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai.
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi,
Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.
2140. Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
Xem người định giá vừa rồi,
Mối hàng một, đã ra mười, thì bng.
Mượn người th kiệu rước nường,
Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa!
2145. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đã biết tình,
2150. Chim lồng khốn lẽ cất mình bay cao.
Chém cha cái số hoa đào,
Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen!
2155. Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần,
Đã xoay đến thế, còn vần chửa tha.
Lỡ từ lạc bước bước ra,
2160. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
Đầu xanh đã tội tình chi?
Má hồng đến q nửa thì chưa thơi.
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
2170. Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
2175. Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cùng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
2180. Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có khơng?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi!
2185. Nàng rằng: Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng,
2190. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình.
Từ rằng: Lời nói hữu tình,
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?
2195. Thưa rằng: Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!
Nghe lời vừa ý gật đầu,
2200. Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết tên ta,
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn,
2210. Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền nguyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lịng bốn phương.
2215. Trơng vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng rong.
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi!
Từ rằng: Tâm phúc tương tri,
2220. Sao chưa thốt khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia,
2225. Bằng ngay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lịng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì?
Quyết lời rứt áo ra đi,
2230. Cánh bằng tiện gió cất lìa dậm khơi.
Nàng thì chiếc bóng song mai,
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.
Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân.
2235. Đối thương mn dặm tử phần
Hồn q theo ngọn mây Tần xa xa;
Xót thay huyên cỗi xn già,
Tấm lịng thương nhớ, biết là có ngi.
Chốc là mười mấy năm trời,
2240. Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý cịn vương tơ lịng!
Dun em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
2245. Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Đêm ngày luống những âm thầm,
2250. Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương,
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sơng kình ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen kẻ thuộc chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
2255. Nàng rằng: Trước đã hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa.
Hai bên mười vị tướng quân,
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
Cung nga, thể nữ nối sau,
Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui.
2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan phấp phới hà y rỡ ràng.
Dựng cờ, nổi trống lên đàng,
Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau.
Hoả bài tiền lộ ruổi mau,
2270. Nam đình nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ cơng ra ngựa, thân nghênh cửa ngồi.
Rỡ mình, là vẻ cân đai,
Hãy cịn hàm én mày ngài như xưa.
2275. Cười rằng: Cá nước duyên ưa,
Nhớ lời nói những bao giờ hay khơng?
Anh hùng mới biết anh hùng,
Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Nàng rằng: Chút phận ngây thơ,
2280. Cũng may dây cát được nhờ bóng cây.
Đến bây giờ mới thấy đây,
Vinh hoa bõ lúc phong trần,
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.
---
2036. Chiêu ấn: Tên ngôi chùa, nghĩa là chiêu nạp những người
ẩn dật.
2038. Trụ trì: Cư trú và chủ trì mọi công việc trong một ngôi
chùa.
2043. Tiểu thiền: Cũng như tiểu tăng, là người đi tu nhỏ mọn (Lời
Kiều tự khiêm).
2044. Qui sư, qui phật: Theo thầy, theo Phật, cũng như nói "qui
tăng, qui phật".
2045. Bản sư: Vị sư thầy học mình.
2046. Pháp bảo: Chỉ các đồ thờ cúng quý giá.
Sư huynh: Vị sư đàn anh, lời xưng hô giữa các vị sư với nhau.
2047. Diện kiến: Đem dâng ngày trước mặt.
Hầu tình: Tình nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật.
2053. Am mày: Do chữ Vân phịng, chỗ ở nhà sư ở.
2062. Vẻ ngân: ánh bạc, ánh trăng sáng như bạc.
2064. Đàn việt: Người đứng ra bố thí, thường thường để chỉ
người có cơng với nhà chùa, hay người đi vãn cảnh chùa.
Cửu già: Tiếng Phạn gọi chùa là già lam.
ở đây ý nói ngồi chờ nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại.
2088. Đồng môn: cùng học một thầy, một trường, ý nói Bạc hà
cũng một phường chủ lầu xanh như Tú bà.
2096. Tục ngữ: Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. ở đây mượn
ý ấy để nói Thuý Kiều đã mang tiếng trốn chúa và ăn cắp, thế
nào cũng bị người ta dị nghị.
2097. Oan gia: Bạc bà địa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia
kiếp trước vào nhà mình để chực gây tai hoạ cho mình.
2099. Xe dây: Cũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng.
2108. Thành thân: Làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng.
Châu thai: Chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết Giang
(Trung Quốc).
2118. Cổ ngữ: Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao
phi, nghĩa là con chim đã bị thương vì cung thì thấy cái cong cũng
sợ mà bay cao.
2123. Sở cầu: Cầu đến, hỏi đến, ý nói muốn cưới làm vợ.
2132. Thành hồng thổ cơng: ý nói: Bạc Hạnh thề rằng: Nếu
mình khơng tốt với Kiều thì xin thành hồng, thổ cơng chứng
giám.
2134. Lễ tơ hồng: Tức là Nguyệt lão, vị thần xe dây cho người
nên vọ nên chồng.
2139. Hành viện: Tên gọi khác của nhà chứa.
chiếu vào cung mệnh con trai thì bệnh tật, chiếu vào cung mệnh
con gái thì phải làm đĩ.
2157. Hồng quân: Chỉ con tạo. Hồng quần: Cái quần đỏ, được
dùng để chỉ người con gái.
2164. Mặt phấn: Mặt trát phấn, ý thân phận người con gái.
2166. Biên đình: Nơi biên ải xa xơi.
2167. Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mại của người anh
hùng: râu dữ như râu hùm, hàm mở rộng như chim én, mày cong
và to như con tằm.
2196. Anh hào: Anh hùng hào kiệt.
2170. Cơn quyền: Món võ đánh bằng gậy.
Quyền: Món võ đánh bằng tay.
Lược thao: Mưu lược về các dùng binh, do chữ Lục thao, Tam
lược là hai pho binh thư đời xưa mà ra.
2172. Việt Đông: Chỉ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở về phía
đơng sơng Việt, nên gọi là Việt Đơng.
có câu thơ: Bán kiên cung kiếm băng thiên túng, nhất trạo giang
sơn tận địa duy (chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả
gầm trời, chi một mái chèo mà đi khắp cả non sông).
2176. Tấm lịng nhi nữ: ý nói: Người đẹp.
Lầu hồng: do chữ hồng lâu.
2179. Tâm phúc tương cờ: Tương cờ tức tương kỳ. Lòng dạ
hứa hẹn với nhau. Từ Hải muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri
kỷ chứ khơng phải là cái tình u đương trăng gió tạm bợ.
2182. Mắt xanh: Nguyên Tịch đời Tấn, trọng ai thì nhìn bằng con
mắt xanh, khinh ai thì nhìn bằng con mắt trắng. Câu này ý nói: Từ
Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không?
2184. Cá chậu chim lồng: Chỉ hạng người tầm thường, sống tron
vịng giam hãm câu thúc.
2192. Bình-ngun quân: Chính tên là Triệu Thắng, một trong
thần nhà Triệu, đời Chiến quốc được phong đất ở Bình Nguyên
nên gọi là Bình nguyên quân, nổi tiếng là người hiếu khách. Cao
Thích đời Đường có câu: Vị trí can đảm hướng thuỳ thị, linh nhân
khước ức Bình Nguyên quân, nghĩa là chẳng biết gan mật hướng
vào ai, khiến người ta lại nhớ Bình Nguyên quân.
nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Câu này ý nói: Thuý Kiều tin
tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương.
2200. Tri kỷ: Người hiểu biết mình.
2202. Trần ai: Bụi bậm, chỉ lúc người anh hùng cịn ẩn náu, chưa
có danh vụ gì để phân biệt với người thường.
2204. Nghìn tứ do chữ thiên tứ, nghìn cỗ xe chỉ cảnh giàu sang.
2205. ý hợp tâm đầu: Tâm tình và ý nghĩa đều tương đắc với
nhau.
2208. Nguyên ngân: Số tiền bỏ ra khi trước.
Phát hoàn: Đưa trả lại.
2210. Bát tiên: Tám vị tiên là Chung Ly Quyền, Lã Động Tần,
Trương Quả Lão, Lý Thiết Quái, Lam Thái Hồ, Tào Quốc
Cữu, Hà Tiên Cơ, Hàn Tương Tử. Người ta hay vẽ hình tám vị
tiên này trên màn trướng.
danh vọng, cùng lấy con gái Hoàn Yến, người đời khen hai con
gái Hoàn Yến đều cưỡi rồng. Câu này dùng ý hai điển ấy để nói
Từ Hải, Thuý Kiều đẹp duyên với nhau.
2214.Trượng phu: ở đây có nghĩa là đàn ơng tài giỏi, có chí lớn.
2219. Tâm phúc tương tri: Biết nhau từ trong thâm tâm, hiểu rõ
bụng dạ của nhau.
2220. Nữ nhi thường tình: cái tính thơng thường của đàn bà, con
gái.
2222. Chiêng: Tức chính cổ, chỉ chung chiêng trống. Tinh: Tức
tinh kỳ, chỉ chung cờ quạt, tượng trưng cho nghi vệ và đội ngũ
2224. Nghi gia: Do chữ nghi kỳ thất gia ở Kinh Thi, ý nói vợ
chồng hoà hợp. ở đây, hai chữ nghi gia có nghĩa là gái về nhà
chồng.
2230. Bằng : Một loại chim rất lớn. Sách Trang Tử có câu Bằng
chi tỉ ư Nam minh đã, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lý
(Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay
lên chín vạn dặm tầng khơng). Người ta thường dùng hình ảnh ấy
để chỉ người anh hùng có địa bàn hoạt động rộng rãi, có mưu đồ
sự nghiệp lớn lao.
2235. Hán Cao tổ quê ở Phần Du, sau khi làm vua có về làng ấy
chơi. Người sau bèn dùng hai chữ phần du để chỉ quê nhà, ở đây
hợp với chũ tang tử thành tử phần để chỉ quê nhà.
2236. Thơ Hàn Dũ đời Đường: Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại?
Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? ý nói Kiều
nhớ nhà.
2242. ý nói : Kiều tuy dứt tình với Kim Trọng, nhưng lịng vẫn
khơng qn chàng, cũng vì như ngó sen bị bẻ gãy, mà sợi tơ vẫn
liền với nhau.
2245. Cố quốc tha hương: Có nghĩa là quê nhà đất khách.
2250. Lửa binh: Do chữ binh hoả nghĩa là giặc giã.
2251. Sát khí : Cái khí dữ dội của cảnh chém giết, thường được
dùng để chỉ cảnh binh đao sát phạt.
2252. Kình ngạc : Hai giống cá to, dữ, thường được dùng để chỉ
những tay kiệt hiệt trong đám giặc giã. Giáp binh : áo giáp và
binh khí, đây dùng để chỉ quân lính.
2260. Phu nhân: Tiếng xưng hô đối với vợ các người tơn q.
Đây chỉ Th Kiều.
hầu kém cung nữ một bậc, ở đây tác giả dùng những danh từ ấy
là có ý xem Từ Hải như một vị đế vương.
2265. Phượng liễn loan nghi: Xe, kiệu và đồ nghi trượng có
chạm khắc thêu vẽ hình loan, chim phượng.
2266. Hoa quan: Mũ hoa.
Hà y: áo mầu hồng như ràng mặt trời..
2269. Hoả bài: Cái thẻ bài hoả tốc, cầm đi trước để báo tin.
2270. Nam đình: Triều đình phương Nam do Từ Hải lập ra.
Đại doanh: Doanh trại lớn, nơi đóng đại quân của Từ Hải.
2272. Thân nghênh: Tự mình đích thân ra đón.
2273: Cân: Khăn (mũ); đai: Cái đai vòng quanh áo lễ. Câu này ý
nói Từ Hải lúc này ăn mặc khơng phải như lần gặp Kiều khi còn
hàn vi, mà đã ăn mặc theo cung cách đế vương.
2275. Cá nước duyên ưa: Do câu ngư thuỷ duyên hài, ý nói vợ
chồng đẹp duyên với nhau.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Trong quân có lúc vui vầy,
2290. Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
Khi Vơ Tích, khi Lâm Tri,
Nơi thì lừa đảo, nời thì xót thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút cịn ân ốn đơi đàng chưa xong.
2295. Từ Cơng nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
2300. Đạo ra Vơ Tích, đạo vào Lâm Tri,
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra.
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
2305. Mụ quản gia, vãi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
Thệ sư kể hết mọi lời,
Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy !
Đạo trời báo phục chỉn ghê,
2310. Khéo thay ! Một mẻ tóm về đầy nơi,
Quân trung gươm lớn áo dài,
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.
2315. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
Từ rằng: ân, oán hai bên,
2320. Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh
Nàng rằng: Nhờ cậy uy linh,
Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.
Báo ân rồi sẽ trả thù.
Lịng riêng mừng sợ khơn cầm,
2340. Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.
Mụ già, sư trưởng thứ hai,
Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên:
Dắt tay mở mặt cho nhìn:
Hoa Nơ kia với Trạc Tuyền cũng tôi.
2345. Nhớ khi lỡ bước xẩy vời,
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
2350. Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui.
Nàng rằng: Xin hãy dốn ngôi,
Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù !
Kíp truyền chư tướng hiến phù,
Lại đem các tích phạm tù hậu tra.
2355. Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoạt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây ?
Đàn bà dễ có mấy tay,
2360. Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều !
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Ghen tng thì cũng người ta thường tình,
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lịng riêng riêng những kính yêu;
2370. Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót lịng gây việc chơng gai,
Cịn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?
Khen cho: Thật đã nên rằng,
Khơn ngoan đến mực nói năng phải lời,
2375. Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lịng tri q thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay.
Tạ lòng lạy trước sân may,
2380. Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào,
Nàng rằng: Lồng lộng trời cao,
Hại nhân, nhân hại sự nào tại ta ?
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
2385. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình cịn sao ?
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình,
Máu rơi thịt nát tan tành,
2390. Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời.
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người, chẳng bõ khi người phụ ta !
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
2395. Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi.
Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội vã gởi lời từ qui.
Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
2400. Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.
Rồi đây bèo hợp mây tan,
Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu !
Sư rằng: Cũng chẳng bao lâu,
Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
2405. Nhớ ngày hành cước phương xa,
Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri.
Bảo cho hội ngộ chi kỳ,
Năm nay là một nữa thì năm năm.
Mới hay tiền định chẳng lầm,
2410. Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau.
Còn nhiều ân ái với nhau,
---
2297. Nghiêm quân: Chỉnh đốn hàng ngũ quân lính.
Tuyển tướng: Lựa chọn tướng tá.
2298. Ruổi sao: Do chữ tinh trì, ý nói đi nhanh như sao đổi ngơi.
2303. Lệnh tiễn: Cờ lệnh có cắm mũi tên sắt của các tướng soái
dùng để làm hiệu lệnh hoặc để làm tin.
2307. Thệ sư: Lời tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc xuất
quân.
2308. Chấp uy: Chấp hành uy lệnh.
2309. Báo phục: Bảo trả lại, ý nói làm ân thì sẽ được trả ân, làm
ốn thì sẽ có lúc bị người ta trả ốn.
Thị lập: Đứng chầu.
Song phi: Dàn làm hai hàng.
2314. Bác đồng: Súng bằng đồng.
2315. Trường hùm: Dịch chữ hổ trướng. Xưa thường dùng da
hùm làm thành cái màn lớn để chủ soái họp bàn với các tướng,
nên người sau quen dùng chữ "hổ trướng" để chỉ chỗ làm việc
của các tướng soái.
Trung qn: Đội qn đóng ở giữa, do chính chủ tướng chỉ huy.
2318. Cửa viên: Viên là cái càng xe. Đời xưa lúc quân đội cắm
trại thường dùng xe làm cửa, nên cửa doanh trại của quân đội
gọi là "viên môn".
2326. Chàm đổ: Mặt xanh như màu chàm đổ vào.
Giẽ run: Mình run như chim giẻ.
2334. Tục ngữ: Kẻ cắp gặp bà già, ý nói hai kẻ ranh ma quỷ
quái lại gặp phải nhau.
2341. Mụ già: Chỉ bà quản gia nhà họ Hoạn.
Sư trưởng: Chỉ Giác Duyên.
2348. Phiếu mẫu: Bà làm nghề giặt sợi ở bến nước. Hàn Tín đời
Hán lúc hàn vi được bà Phiếu mẫu đãi một bữa cơm, sau làm
đến tước vương, tạ ơn nghìn vàng.
2353. Hiến phù: Dâng nộp những người bắt được.
2354. Hậu tra: Chờ để tra xét.
2377. Tri quá: Biết lỗi, từ mình biết nhận rằng mình có lỗi.
2382. Hại nhân, nhân hại: Làm người thì sẽ bị người làm hại.
2387. Nội đao: Quân đao phủ, chuyên việc chém người.
2395. Pháp trường: Chỗ để hành hình người có tội.
2396. Thanh thiên bạch nhật: Trời xanh ngày trắng, ý nói giữa
ban ngày ban mặt, ai cũng được chứng kiến.
2398. Từ qui: Từ giã ra về.
2399. Thiên tải nhất thì: Ngàn năm mới có một dịp. Câu này
thường dùng để chỉ dịp may hiếm có.
Bàn hồn: Đây có nghĩa là gặp gỡ trị chuyện.
2404. Hạc nội: Chim hạc ở ngoài đồng nội. Mây ngàn: Đám mây
bay trên rừng núi. ý nói nay đây mai đó, nơi ở khơng nhất định.
2405. Hành cước: Đi bộ, tiếng nhà Phật, chỉ việc các nhà sư đi
vân du.
2406. Tiên tri: Biết trước mọi việc chưa xảy ra.
2407. Hội ngộ chi kỳ: Cái kỳ hẹn gặp gỡ nhau.
2409. Tiền định: Đã định sẵn từ trước.
2416. Chung thân: Trọn đời, ý nói Kiều muốn hỏi số phận của
mình suốt đời ra sao.
<b>Truyện Kiều</b>
<b>.::Tác giả: Nguyễn Du::.</b>
Nàng từ ân ốn rạch rịi,
2420. Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
Tạ ân lạy trước Từ công:
Chút thân bồ liễu nào mong có rày !
Trộm nhờ sấm sét ra tay,
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi !
2425. Chạm xương chép dạ xiết chi,
Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !
Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
2430. Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha !
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ mới là tri ân.
Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa.
2435. Sao cho muôn dặm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng.
Vội truyền sửa tiệc qn trung,
Mn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan.
Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,
2440. Binh uy từ ấy sấm ran trong ngồi.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đơi sơn hà.
Địi phen gió qt mưa sa,