Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Khảo sát địa danh quảng ngãi trong đại nam nhất thống chí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 92 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
------

PHẠM THỊ HOÀI TRINH

KHẢO SÁT ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI
TRONG ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 5/2015


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
------

KHẢO SÁT ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI
TRONG ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn:
TS. NGUYỄN HỒNG THÂN
Người thực hiện:
PHẠM THỊ HỒI TRINH


(Khóa 2011 – 2015)

Đà Nẵng, tháng 5/20


LỜI CAM ĐOAN
-----------------

Tơi xin cam đoan:
1. Đây là cơng trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của giảng viên - TS Nguyễn Hoàng Thân.
2. Mọi tài liệu tham khảo đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả,
tên cơng trình, thời gian, địa điểm cơng bố.
3. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế chúng tơi xin chịu
hồn tồn trách nhiệm.
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Phạm Thị Hoài Trinh


TRANG GHI ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - Tiến sĩ
Nguyễn Hoàng Thân, người đã tận tâm hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi
cho em thực hiện và hồn thành khóa luận.
Em xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong suốt thời gian làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cơ giáo đã nhiệt tình giảng dạy và
gợi mở cho em nhiều vấn đề có ý nghĩa trong suốt q trình học tập và thực
hiện khóa luận.

Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã giúp đỡ,
động viên em trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong phạm vi và khả năng cho phép
nhưng chắc chắn khóa luận khơng tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự góp ý và tận tình chỉ bảo của q thầy cơ để khóa luận được
hồn thiện hơn.
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Phạm Thị Hoài Trinh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...................................................................................... 2
2.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới ...................................................... 2
2.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam ....................................................... 4
2.3. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Quảng Ngãi................................................... 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 7
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 7
3.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 7
5. Bố cục của đề tài ...................................................................................................... 7
NỘI DUNG .................................................................................................................. 9
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH Ở QUẢNG NGÃI ...9
1.1. Khái quát về địa danh và cách phân loại địa danh........................................... 9
1.1.1. Khái quát về địa danh và địa danh học ............................................................ 9
1.1.2. Phân loại địa danh ........................................................................................... 12
1.2. Quảng Ngãi và địa danh ở Quảng Ngãi ........................................................... 14

1.2.1. Quảng Ngãi - Vùng đất và con người ............................................................. 14
1.2.1.1. Lịch sử hình thành ......................................................................................... 14
1.2.1.2. Vị trí, giới hạn, diện tích ................................................................................. 20
1.2.1.3. Vài nét về con người Quảng Ngãi .................................................................. 20
1.2.2. Kết quả thu thập và phân loại địa danh ở Quảng Ngãi ................................. 23
1.2.2.1. Kết quả thu thập............................................................................................. 23
1.2.2.2. Phân loại địa danh ......................................................................................... 23
1.3. Khái lược địa chí và Đại Nam nhất thống chí.................................................. 26
1.3.1. Địa chí và địa chí học ...................................................................................... 26
1.3.2. Sơ lược thư tịch địa chí Việt Nam thời phong kiến ....................................... 27
1.3.3. Đại Nam nhất thống chí .................................................................................. 30


1.4. Những địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam nhất thống chí khơng cịn sử
dụng hiện nay ...........................................................................................................32
1.4.1. Tên các thơn, xã khơng tương thích với quy mơ thơn, xã mới ..................... 32
1.4.2. Tên các đơn vị hành chính lâm thời trong kháng chiến ............................... 33
1.4.3. Tên các đơn vị hành chính thay đổi vì một số lý do khác.............................. 33
Tiểu kết....................................................................................................................... 34
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ BIẾN ĐỔI ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI
TRONG ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ ............................................................... 36
2.1. Phương thức định danh ..................................................................................... 36
2.1.1. Phương thức tự tạo .......................................................................................... 37
2.1.1.1. Loại địa danh dựa vào các đặc điểm của chính bản thân đối tượng để đặt tên .38
2.1.1.2. Loại địa danh dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với các đối tượng
để gọi 39
2.1.2. Phương thức chuyển hóa ................................................................................ 40
2.1.2.1. Chuyển hóa trong nội bộ một loại địa danh .................................................. 40
2.1.2.2. Nhân danh chuyển thành vật danh ................................................................ 40
2.1.3. Phương thức ghép............................................................................................ 41

2.1.3.1. Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên các đơn vị hành chính ........................ 41
2.1.3.2. Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên các địa danh chỉ địa hình thiên nhiên ........ 41
2.1.3.3. Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên các địa danh chỉ công trình xây dựng ........ 41
2.1.4. Phương thức vay mượn ................................................................................... 41
2.2. Đặc điểm cấu tạo địa danh Quảng Ngãi .......................................................... 42
2.2.1. Cấu tạo địa danh Quảng Ngãi......................................................................... 42
2.2.1.1. Địa danh có cấu tạo đơn ................................................................................ 42
2.2.1.2. Địa danh có cấu tạo phức .............................................................................. 43
2.2.2. Vấn đề danh từ riêng và thành tố chung trong địa danh Quảng Ngãi ......... 45
2.2.2.1. Thành tố chung trong địa danh Quảng Ngãi ................................................. 45
2.2.2.2. Tên riêng ........................................................................................................ 47
2.3. Nguyên nhân tồn tại hay mất đi của địa danh ................................................ 50
2.3.1. Nhóm ngun nhân chính trị - xã hội ............................................................ 50


2.3.2. Nhóm ngun nhân ngơn ngữ ........................................................................ 51
2.3.3. Nhóm ngun nhân hiện thực ........................................................................ 51
2.4. Quá trình biến đổi địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam nhất thống chí so
với các bộ thư tịch khác .......................................................................................... 51
Tiểu kết....................................................................................................................... 53
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ PHẢN
ÁNH HIỆN THỰC CỦA ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI ....................................... 55
3.1. Nguồn gốc - ý nghĩa của một số địa danh Quảng Ngãi .................................. 55
3.1.1. Nguồn gốc địa danh ......................................................................................... 55
3.1.2. Ý nghĩa địa danh .............................................................................................. 57
3.2. Giá trị phản ánh hiện thực của địa danh Quảng Ngãi ................................... 58
3.2.1. Giá trị phản ánh lịch sử................................................................................... 58
3.2.2. Giá trị phản ánh văn hóa................................................................................. 61
Tiểu kết....................................................................................................................... 62
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 66
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng phân loại địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam nhất thống chí.. 23
Bảng 2.1. Bảng thống kê địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam nhất thống chí
theo đặc điểm cấu tạo ...................................................................... 42
Bảng 2.2. Bảng thống kê tổng hợp các đặc điểm cấu tạo của địa danh ...........44
Bảng 2.3. Kết quả thống kê cấu tạo của các thành tố chung ...........................46
Bảng 2.4. Kết quả thống kê sự phân bố của các thành tố chung khi chuyển hóa
thành các yếu tố trong địa danh .......................................................47
Bảng 2.5. Thống kê địa danh theo số lượng các yếu tố ...................................48
Bảng 2.6. Thống kê các yếu tố xuất hiện nhiều ...............................................49
Bảng 2.7. Thống kê các địa danh có tần số xuất hiện nhiều ............................50


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Địa danh là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, có nguồn gốc và ý
nghĩa riêng, nằm trong đối tượng của bộ môn từ vựng học. Bên cạnh việc
nhận biết, hiểu rõ những đặc điểm ngôn ngữ trong các phương thức cấu tạo
của hàng loạt tên gọi, địa danh còn cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho nhiều
ngành khoa học khác như địa lý học, văn hóa học, khảo cổ học, lịch sử học,…
Do đó, nghiên cứu địa danh là một việc có ý nghĩa và giá trị rất lớn.
Việc nghiên cứu, khảo sát địa danh có thể giúp phác thảo nên bức
tranh toàn cảnh về sự ra đời của một dân tộc, một tộc người, sự giao thoa, tiếp
xúc, bảo lưu những giá trị văn hóa, lịch sử của một địa phương trong những

giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Ngoài giá trị phản ánh đời sống ngôn ngữ, việc
nghiên cứu địa danh cịn góp phần phản ánh những biểu hiện của sự biến đổi
và phát triển ngôn ngữ dân tộc.
Cùng với sự hình thành và phát triển chung của đất nước, vùng đất
Quảng Ngãi được hình thành, gắn liền với những biến cố, thăng trầm của lịch
sử dân tộc. Qua từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử, nơi đây lại sản sinh ra
những tên đất, tên làng,… tạo thành một hệ thống địa danh phản ánh những
nét đặc trưng của vùng đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, đoàn kết,
lao động cần cù, sáng tạo.
Trải qua những thăng trầm, đổi thay của lịch sử, địa danh cũng có
nhiều biến đổi, nhiều tên gọi vẫn tồn tại bền vững theo thời gian nhưng cũng
khơng ít tên gọi chỉ cịn trong sách vở, ít được nhắc tới hoặc bị trơi vào qn
lãng. Địa danh ở Quảng Ngãi cũng khơng nằm ngồi quy luật tất yếu đó. Vì
vậy, việc tìm hiểu về địa danh Quảng Ngãi trong một giai đoạn, một thời kỳ
hay một chặng đường lịch sử là vô cùng quan trọng và ý nghĩa.
Sự đa dạng, phong phú, phức tạp của địa danh ở Quảng Ngãi đã thu


2

hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, sưu tầm. Hiện nay, việc nghiên cứu
một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về địa danh Quảng Ngãi trong suốt
chặng đường lịch sử từ lúc hình thành và phát triển đến nay vẫn đang là vấn
đề được quan tâm, tìm hiểu. Đề tài Khảo sát địa danh Quảng Ngãi trong Đại
Nam nhất thống chí nhằm truy nguyên phần trầm tích ẩn sâu dưới lớp vỏ lộ
thiên để thấy được giá trị đích thực của địa danh, để hiểu rõ hơn về lịch sử,
văn hóa, con người,… của vùng đất này trong một chặng đường dài của lịch
sử hình thành và phát triển, góp phần phác thảo nên bức tranh toàn cảnh về
vùng đất Quảng Ngãi giàu truyền thống yêu nước - Quê hương của nhà cách
mạng, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu địa danh đã được ngôn ngữ học thế giới quan
tâm nghiên cứu từ rất sớm. Từ đầu Công nguyên, ở phương Đông đã diễn
ra giai đoạn khởi nguồn. Các sách lịch sử, địa lý của Trung Quốc khơng
những ghi chép địa danh mà cịn chỉ ra cách đọc, ý nghĩa, vị trí, diễn biến và
quy luật của tên gọi. Chẳng hạn, “... đầu thời Đông Hán (32 - 92 SCN), Ban Cố
đã ghi chép hơn 4.000 địa danh (một số được giải thích rõ ý nghĩa và nguồn
gốc). Đến thời Bắc Ngụy (380 - 535) Lịch Đạo Nguyên viết Thuỷ kinh chú sớ,
trong đó ghi chép hơn ba vạn địa danh” [13; tr.5].
Ở phương Tây, bộ môn địa danh học bắt đầu được nghiên

cứu

nhiều từ cuối thế kỉ XIX. Tiêu biểu là các cơng trình Địa lí từ nguyên học
(1835) của T.A. Gibson hướng đến một danh sách phân loại về từ ngữ
thường gặp như tiền tố, hậu tố trong phức thể của tên địa lí, Từ và các địa
điểm hay sự minh hoạ có tính ngun lai về lịch sử, dân tộc học và địa lí
học (1864) của Issac Taylor,... [17; tr.10-11].
Sang thế kỉ XX, nhiều cơng trình nghiên cứu đi sâu về địa danh ra
đời. Cơng trình Địa danh học là gì của A.V. Superanskaja đã mang lại


3

những định hướng mới cho việc nghiên cứu địa danh, tạo ra những giá trị
nhất định trong quá trình phát triển của địa danh học. Trong quá trình
nghiên cứu các tác giả đã phân loại địa danh theo nhiều cách khác nhau.
Đáng chú ý là cách phân loại của các nhà địa danh học Nga dựa vào đối
tượng mà địa danh biểu thị. Chẳng hạn, tác giả A. V. Superanskaja chia

địa danh thành 8 loại: (1) Tên gọi của các điểm dân cư;(2) Tên gọi các
con sông; (3) Tên gọi núi non; (4) Tên gọi cơng trình trong thành phố; (5)
Tên gọi các đường phố; (6) Tên gọi quảng trường; (7) Tên gọi mạng lưới
giao thông; (8) Tên gọi địa điểm phi dân cư nhỏ [20; tr.3]. Năm 1926, tác
giả người Pháp A.Dauzat đã viết Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh, đề
xuất phương pháp địa lý học để nghiên cứu niên đại của địa danh,...
Năm 1960, hàng loạt những cơng trình về địa danh học đã ra đời như:
E.M.Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh

học,

I.U.A.Kapenko với Bàn về địa danh học đương đại, tác giả A.V.Nhikonov
với Dẫn luận địa danh học (1965), hai tác giả G.P.Xmolixkaja và M.V.
Gorbanhexki với Địa danh Matxcơva,… Hai cơng trình được cho là trình bày
một cách tổng hợp và tồn diện về địa danh là: Những nguyên lý của địa danh
học và Địa danh học là gì của tác giả A.V. Supenranxkaja. Trong đó, cơng
trình Địa danh học là gì có giá trị lớn trong việc phát triển của ngành địa danh
học [20; tr.5].
Ngày nay, địa danh học phổ thông nghiên cứu tổng hợp các nguyên lý
cơ bản về địa danh. Trong đó, các nhà nghiên cứu tập trung vào các vấn đề
như: Sự xuất hiện, quy luật phát triển, mối quan hệ với lịch sử, địa lý,... của
địa danh. Một hướng nghiên cứu địa danh khác là gắn địa danh học với địa
chí học. Ngồi ra, địa danh học cịn vận dụng phương pháp phân tích bản đồ
để nghiên cứu sự phân bố địa danh. Có thể thấy, trong ngôn ngữ học hiện đại,
địa danh được nghiên cứu với nhiều nội dung, nhiều phương pháp khác nhau.


4

Điều đó khẳng định rằng, nghiên cứu địa danh là một ngành quan trọng của

ngơn ngữ học.
2.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở nước ta, giai đoạn phơi thai, có một số bộ sách sử, địa chí ghi chép
và giải thích nhiều địa danh, nhưng chủ yếu giải thích địa danh ở góc độ địa
lý - lịch sử nhằm tìm hiểu về đất nước, con người. Những tác phẩm nổi bật
như: Dư địa chí do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, Đại Việt sử ký toàn thư của
tác giả Ngô Sỹ Liên (biên soạn dưới thời vua Lê Thánh Tông và khắc in vào
năm 1697 thời vua Lê Hy Tơng), Ơ châu cận lục (1553) của Dương Văn An,
Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Q Đơn, Hồng Việt nhất thống dư địa chí
(1806) của Lê Quang Định, Đại Nam nhất thống chí (1882) do Quốc sử quán
triều Nguyễn biên soạn,…
Có thể xem giai đoạn hình thành của địa danh học Việt Nam bắt đầu
từ năm 1960, khi mà các vấn đề liên quan đến địa danh và lý luận về địa danh
đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau
như lịch sử, ngơn ngữ, địa lý, văn hóa,… Tác giả Thái Văn Kiểm tiếp cận địa
danh ở góc độ lịch sử - văn hóa ở tác phẩm Đất Việt trời Nam (1960). Đào
Duy Anh sử dụng phương pháp nghiên cứu địa lý học lịch sử trong tác phẩm
Đất nước Việt Nam qua các đời (1964). Qua đó, tác giả đã xác lập, phân định
lãnh thổ và từng khu vực, bàn về quá trình diên cách, thay đổi địa danh trong
lịch sử,…
Địa danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa, giúp trả lời về
những nguồn gốc, lý do của những tên làng xóm, cầu cống, chợ búa, tỉnh
thành,... Cơng trình đã đặt ra những vấn đề nhập môn và các thao tác cơ bản
của địa danh học. Ông là một trong số những người đặt nền móng và theo
đuổi đến cùng mơn địa danh học với mục đích tìm ra câu trả lời.
Người đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngơn ngữ học là tác
giả Hồng Thị Châu với Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua


5


một vài tên sông (1964). Tác giả Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh
Việt Nam (1976) và Nguyễn Văn Âu trong Một số vấn đề về địa danh học ở
Việt Nam (2000) đã đưa ra một số vấn đề cơ bản về địa danh và địa danh học
Việt Nam. Xuất phát từ bình diện ngơn ngữ học, cơng trình Nguyên tắc và
phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí Minh) (1991)
của Lê Trung Hoa đã trình bày khá hệ thống những vấn đề về địa danh mang
tính thiết thực bao gồm định nghĩa địa danh, nguyên tắc, phân loại địa danh,
phương thức đặt địa danh, cấu tạo địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc địa danh,
giá trị phản ánh hiện thực.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam, cịn có sự ra
đời của nhiều từ điển địa danh như: Sổ tay địa danh Việt Nam (1995) của Đinh
Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của Nguyễn Dược - Trung Hải,…
Như vậy, các cơng trình về địa danh học ở Việt Nam hiện nay đã xác lập
được cơ sở lý luận cũng như đối tượng và phương pháp nghiên cứu địa danh.
2.3. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Quảng Ngãi
Từ trước đến nay, đã có một số cơng trình đề cập đến vấn đề địa danh
ở Quảng Ngãi dưới những góc độ khác nhau như: Đại Nam thực lục (tập thể
sử quan triều Nguyễn biên soạn), Phủ Man tạp lục của Nguyễn Tấn, Đại Nam
nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn),... Trong đó, Đại Nam
thực lục (38 tập), ghi chép biên niên từ thời chúa Nguyễn đến cuối đời nhà
Nguyễn, là bộ lịch sử hơn là địa lý, nên các địa danh chủ yếu được ghi theo
các sự kiện lịch sử, số lượng địa danh Quảng Ngãi khơng thật nhiều; tuy
nhiên qua đó ta cũng có thể xác nhận thêm sự biến đổi của một số địa danh
hành chính Quảng Ngãi, như biến đổi do kỵ húy năm Thiệu Trị thứ nhất
(1841). Phủ Man tạp lục của Nguyễn Tấn bên cạnh ghi chép tên các sơng
suối, núi đồi, tên làng ở Quảng Ngãi, ơng cịn chép về các phương diện khác
với sự sinh động hiếm thấy so với các sách khác đương thời và trước đó. Có



6

thể nói, Phủ Man tạp lục là một hiện tượng độc đáo không chỉ riêng đối với
tỉnh Quảng Ngãi mà cịn đối với cả nước.
Nhìn chung, các cơng trình trên ít nhiều đã đề cập đến địa danh ở
Quảng Ngãi, tuy nhiên, trong đó, thao tác ngơn ngữ học chưa được chú trọng,
mới chủ yếu miêu tả về các vấn đề chung như thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán,...
Khác với thư tịch Hán Nôm, sách báo quốc ngữ xuất hiện khá muộn,
như là sự kế tục thư tịch chữ Hán, chủ yếu nằm ở nửa đầu thế kỷ XX trở về
sau, tiêu biểu như các cơng trình:
Quảng Ngãi tỉnh chí do Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Đình Chi biên
soạn, đăng trên tạp chí Nam phong số 181 - 187 (1933), nhiều tiểu mục biên
soạn rất công phu với nhiều chi tiết cụ thể liên quan đến hình thế, chính trị,
kinh tế tỉnh Quảng Ngãi thời bấy giờ, trong đó, tác giả đề cập đến biến đổi
hành chính và một số tên làng xã, tổng, phủ huyện của tỉnh Quảng Ngãi.
Công trình Non nước xứ Quảng của Phạm Trung Việt (1973) có chú ý
chú giải địa danh nhưng chỉ cốt để giải thích ý nghĩa của 12 cảnh đẹp Quảng
Ngãi, gắn với các mỹ danh như: Thiên Ấn niêm hà, Thiên Bút phê vân, Long
Đầu hý thủy, La Hà thạch trận, Thạch Bích tà dương, Vân Phong túc vũ, Liên
Trì dục nguyệt, Vu Sơn lộc trường.
Tác giả Bùi Hồng Nhân với Quảng Ngãi - đất nước, con người, văn
hóa (1996) có ghi tên một số làng xã, một số biến đổi hành chính, nhưng chưa
đầy đủ và khơng thực hiện việc tường giải các địa danh được đề cập.
Địa chí Quảng Ngãi (Nxb Từ điển Bách khoa, 2008) liệt kê một số địa
danh hành chính đời vua Đồng Khánh (theo sách Đồng Khánh địa dư chí).
Vấn đề nghiên cứu địa danh trong Đại Nam nhất thống chí hiện nay
cịn tương đối mới mẻ, chưa được chú trọng nghiên cứu và khai thác. Do đó,
q trình nghiên cứu đề tài Khảo sát địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam
nhất thống chí (nhóm tác giả Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh dịch và hiệu
đính) là một sự thử nghiệm bước đầu nhằm phản ánh mối quan hệ của yếu tố



7

ngơn ngữ với địa danh ở Quảng Ngãi nói riêng và Việt Nam nói chung trong
cùng bối cảnh lịch sử, văn hóa của dân tộc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ địa danh ở Quảng Ngãi
được chép trong Đại Nam nhất thống chí theo hướng tiếp cận ngơn ngữ học
nói chung và địa danh học nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu địa danh ở Quảng Ngãi
trong Đại Nam nhất thống chí, cụ thể là địa danh chỉ địa hình (núi, sơng,…),
địa danh xây dựng (cầu, đường, phà, chợ,…), địa danh hành chính (phủ,
huyện, xã, ấp),… Đồng thời, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong phương
thức cấu tạo của từng tên gọi, sự biến âm, từ ngữ, ngữ nghĩa trong từng địa
danh, nhằm truy nguyên phần trầm tích ẩn sâu dưới lớp vỏ lộ thiên để thấy
được giá trị đích thực của địa danh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận đề tài: Khảo sát địa danh Quảng Ngãi trong Đại Nam
nhất thống chí, cơng trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
a. Phương pháp thống kê: Tìm hiểu mức độ phổ biến của từng loại địa
danh.
b. Phương pháp miêu tả: Dùng để nêu những đặc điểm về cấu tạo,
phương thức định danh ngôn ngữ.
c. Phương pháp phân tích: Phân tích ngơn ngữ để thấy được ý nghĩa
của những địa danh, những địa danh gắn với các yếu tố quan trọng.
d. Phương pháp hệ thống: Từ các phương pháp thống kê, miêu tả,
phân tích, hệ thống lại để có sự đánh giá, nhận xét khách quan về địa danh.

5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần


8

Nội dung của đề tài được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về địa danh và địa danh ở Quảng Ngãi
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và biến đổi địa danh ở Quảng Ngãi trong
Đại Nam nhất thống chí
Chương 3: Đặc điểm về nguồn gốc, ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện
thực của địa danh Quảng Ngãi


9

NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH Ở QUẢNG NGÃI
1.1. Khái quát về địa danh và cách phân loại địa danh
1.1.1. Khái quát về địa danh và địa danh học
Cuộc sống của con người gắn với những điểm địa lý khác nhau,
những điểm địa lý này được gọi bằng những từ ngữ riêng, đó là những tên gọi
địa lý (địa danh). Những tên gọi này tạo nên một hệ thống riêng và tồn tại
trong vốn từ của các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Những tên gọi địa lý,
địa danh ấy được thể hiện bằng thuật ngữ topinima hay toponoma (có nguồn
gốc từ tiếng Hy Lạp) với ý nghĩa “tên gọi đặc điểm địa lý”.
Thực tế, vấn đề định nghĩa địa danh cho đến nay vẫn cịn nhiều bàn
cãi, khơng thống nhất, mỗi nhà nghiên cứu đều tùy theo phương pháp tiếp cận
mà đưa ra những định nghĩa khác nhau.

Theo tác giả Superanskaja,“Địa danh là tên gọi các địa điểm được
biểu thị bằng những từ riêng. Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay
toponymia” [20; tr.1]. Bà cho rằng, “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là
những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất,
từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ
nhất (những ngơi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [20; tr.13].
Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra định nghĩa về địa
danh theo cách hiểu của mình. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Văn Âu tiếp cận
địa danh theo góc độ địa lý - văn hóa và quan niệm: “Địa danh là tên đất,
gồm tên sông, núi, làng mạc,… hay là tên các địa phương, các dân tộc” [4;
tr.5], “Địa danh học (toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về
tên địa lý các địa phương” [16; tr.5]. Tác giả Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo
nguồn gốc địa danh Nam Bộ cho rằng: “Địa danh là một danh từ có nghĩa


10

tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương
diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vị được
xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự” [22; tr.10].Tác giả Lê Trung
Hoa sau khi phân loại địa danh theo các đối tượng địa lý (theo tiêu chí tự
nhiên và khơng tự nhiên) và theo nguồn gốc ngữ nguyên của địa danh, đã đưa
ra định nghĩa như sau: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên
riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ
và các cơng trình xây dựng thiên về khơng gian hai chiều. Trước địa danh ta
có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó…” [16; tr.18].
Trong một số từ điển của nước ta, các tác giả thường giải thích địa
danh theo lối chiết tự có nghĩa là tên đất. Tác giả Đào Duy Anh cho rằng địa
danh là “tên các miền đất (nom de terre)” [1; tr.268]. Hoàng Phê trong Từ
điển tiếng Việt cũng định nghĩa: “Địa danh là tên đất, tên địa phương” [20;

tr.314]. Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Địa danh là tên gọi các lãnh
thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế
(vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo,
cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo
biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ. Địa danh có
thể phản ánh q trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và
lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [24; tr.780].
Rõ ràng, mỗi tác giả đều có cách hiểu, cách lý giải khác nhau về khái
niệm địa danh. Tuy nhiên, cần phải hiểu đúng khái niệm địa danh theo phạm
vi xuất hiện của nó. Nếu hiểu theo lối chiết tự thì “địa danh” là tên đất. Thế
nhưng, khái niệm này cần phải hiểu rộng hơn vì đây chính là đối tượng
nghiên cứu của một ngành khoa học. Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của
các đối tượng địa lý tồn tại trên trái đất. Nó có thể là tên gọi của các đối tượng
địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lý cư trú hay là cơng trình do con người
xây dựng, tạo lập nên.


11

Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ,
được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lý. Vì thế nó hoạt động và
chịu sự tác động, chi phối của các quy luật ngơn ngữ nói chung về mặt ngữ
âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp.
Theo chúng tôi, “Địa danh là tên riêng để chỉ những đối tượng địa lý
tự nhiên (sông, hồ, núi, đồi...), hay do con người tạo lập (làng, xã, đình,
chùa...)”. Địa danh là tên gọi, nên ngồi chức năng định danh và cá thể hóa
đối tượng địa lý, cịn có chức năng phản ánh hiện thực. Mỗi địa danh ra đời
đều gắn với một ý nghĩa nhất định nên qua đó thường phản ánh các mặt: địa
lý, lịch sử, văn hóa,... các địa phương.
Địa danh đã được quan tâm từ rất sớm nhưng mãi đến thế kỷ XIX địa

danh học mới ra đời. Địa danh học là một chuyên ngành của danh xưng học
(onomasiologie), có nhiệm vụ nghiên cứu: cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự
biến đổi của địa danh. Người chuyên nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà
địa danh học.
Như vậy một nhà địa danh học thường phải làm, nghiên cứu giải quyết
những cơng việc chính sau đây:
- Tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh.
- Tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh.
- Tìm hiểu các mơ hình địa danh, các phương thức quá trình tạo địa
danh.
- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa danh qua các
khơng gian, các khoảng thời gian khác nhau.
- Chuẩn hóa các địa danh.
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề
khác nhau để nghiên cứu.
Về quan điểm tín hiệu học, địa danh có tính lý do. Vậy, vấn đề quan
trọng là cội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh. Điều này, ta thường thấy trong


12

định nghĩa địa danh học: Là bộ môn nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa của
địa danh.
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như:
Ngôn ngữ địa danh học, địa lý địa danh học, lịch sử địa danh học, đối chiếu
địa danh học... Ngôn ngữ địa danh học chú ý nhiều đến diễn tiến về mặt ngơn
ngữ của địa danh, các mơ hình cấu tạo của địa danh...; địa lý địa danh học chú
ý nhiều đến sự phân bố về địa danh, sự liên quan giữa sự phân bố địa danh đối
với các vùng, các đối tượng không gian địa lý...; lịch sử địa danh học chú ý
nhiều đến các quá trình hình thành địa danh, sự phát triển của địa danh,...

Ngoài ra, người ta có thể chia địa danh thành địa danh học lý thuyết,
địa danh học mô tả.
1.1.2. Phân loại địa danh
Phân loại địa danh là sự phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác
nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lý cũng như về ngôn ngữ và lịch
sử. Phân loại địa danh có thể giúp cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao, đồng
thời giúp cho việc sử dụng được thuận tiện hơn. Tuy nhiên, đây cũng là vấn
đề phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có được một cách phân loại thống nhất
giữa các nhà nghiên cứu địa danh.
Các nhà nghiên cứu địa danh học phương Tây và Xô Viết thường
phân loại địa danh dựa trên hai tiêu chí ngữ nguyên và đối tượng. Theo tài
liệu của tác giả Lê Trung Hoa [16; tr.9 - 11], hai nhà địa danh học người Pháp
là A. Dauzat và Charles Rostaing không phân loại địa danh một cách cụ thể
nhưng các tác giả đều chia địa danh thành nhiều loại dựa vào tiêu chí ngữ
nguyên. Tác giả A. Dauzat trong La toponymie francaise đã chia địa danh làm
bốn phần gồm vấn đề những cơ sở tiền Ấn - Âu, các danh từ tiền La tinh về
nước trong thủy danh học, các từ nguyên Gô-loa-La Mã của vùng Auvergne
và Velay. Hai tác giả G. P. Smolicnaja và M. V. Gorbanevskij trong
Toponimija Moskvy chia địa danh làm bốn loại gồm phương danh (tên các địa


13

phương), sơn danh (tên núi, đồi, gò…), thủy danh (tên các dòng chảy, ao,
vũng…) và phố danh (tên các đối tượng trong thành phố). Trong khi đó, A. V.
Superanskaja lại chia địa danh thành bảy loại với phương danh, thủy danh,
sơn danh, phố danh, viên danh (tên các quảng trường), lộ danh (tên các đường
phố) và đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên
không). Như vậy, nhóm các tác giả Xơ - Viết này đã chia địa danh dựa vào
tiêu chí đối tượng mà địa danh biểu thị.

Ở Việt Nam, các tác giả cũng có những cách phân loại địa danh khác nhau.
Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Phân loại địa danh là sự phân chia địa
danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa
lý cũng như về ngôn ngữ và lịch sử” [4; tr.37] và chia địa danh Việt Nam
thành 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội với 7 kiểu: Thủy
danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh thành phố, quốc gia và 12
dạng: Sơng ngịi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng - xã,
huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia. Mỗi dạng lại có thể phân
chia thành các dạng sơng, ngịi, suối... Cách phân loại này của tác giả nghiêng
về tính dân gian, dễ tiếp thu song hơi sa vào chi tiết, thiếu tính khái quát, đối
tượng nghiên cứu và tên gọi đối tượng nghiên cứu chưa được làm rõ.
Hồng Thị Châu trong bài viết Về việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân
tộc [8; tr.44 - 47] phân loại địa danh thành hai hệ thống là tiểu địa danh (gồm:
tên thơn xóm, gị đồi, khe suối, đầm hồ,…) và đại địa danh (gồm: tên lục địa,
đại dương, nước, vùng, thủ đô, thành phố, sông, biển…).
Năm 1976, Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam
[21; tr.60 - 73] đã chia địa danh Việt Nam thành sáu loại (loại đặt theo địa
hình và đặc điểm; loại đặt theo vị trí khơng gian và thời gian; loại đặt theo tín
ngưỡng, tơn giáo, lịch sử; loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; loại đặt
theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; loại đặt theo sinh hoạt xã hội).
Tác giả Lê Trung Hoa trong Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu


14

địa danh [15; tr.24 - 27] và Địa danh học Việt Nam [16; tr.15 - 16] dựa vào
hai tiêu chí tính tự nhiên và khơng tự nhiên. Đây là cách phân loại thường gặp
và tương đối hợp lý, có tính bao quát. Ông phân loại địa danh: Địa danh chỉ loại
hình, địa danh chỉ cơng trình xây dựng, địa danh hành chính, địa danh chỉ vùng.
Nguyễn Kiên Trường phân loại dựa trên tiêu chí mà Lê Trung Hoa

đưa ra nhưng tiếp tục chia nhỏ thành một bước nữa. Ông chia đối tượng tự
nhiên thành 2 loại nhỏ: Các đối tượng sơn hệ và các đối tượng thủy hệ, đối
tượng nhân văn thành địa danh cư trú và địa danh chỉ cơng trình xây dựng.
Địa danh cư trú bao gồm: Đơn vị cư trú tự nhiên, đơn vị hành chính, đường
phố. Địa danh chỉ cơng trình xây dựng bao gồm: Đơn vị hành chính, đường
phố và các đối tượng khác. Bên cạnh đó, Nguyễn Kiên Trường cịn tiến hành
phân loại theo nguyên ngữ địa danh, theo chức năng giá trị của địa danh [23;
tr.41- 50].
1.2. Quảng Ngãi và địa danh ở Quảng Ngãi
1.2.1. Quảng Ngãi - Vùng đất và con người
1.2.1.1. Lịch sử hình thành
a. Từ xa xưa đến trước Cách mạng tháng 8-1945
Quảng Ngãi là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân ven biển miền Trung
còn lưu lại nhiều dấu tích của nền văn hóa cổ xưa: Di chỉ Gò Trá (Tịnh Thọ Sơn Tịnh) và di chỉ Gò Vàng (Sơn Kỳ - Sơn Hà) thuộc thời đại đồ đá cũ; di
chỉ Long Thạnh (Phổ Thạnh - Đức Phổ) thuộc sơ kỳ đồng thau; di chỉ Bình
Châu (Bình Sơn) thuộc trung kỳ đồng thau; văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời kỳ
đồ sắt sớm.
Năm Nguyên Bình thứ 6 (111 TCN), nhà Hán xâm lược và thống trị
nước Âu Lạc. Ngoài hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận
Nhật Nam. Quận Nhật Nam là miền đất từ Hoành Sơn (đèo Ngang) đến đèo
Đại Lãnh chia làm 5 huyện: Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lư Dung và
Tượng Lâm. Vùng đất Quảng Ngãi ngày nay thuộc huyện Lư Dung.


15

Vào cuối thế kỷ II, năm Sơ Bình thứ 3 (192) đời vua Hiến Đế nhà
Hán, nhân khi Trung Quốc lâm vào cảnh loạn lạc, nhân dân Tượng Lâm do
Khu Liên lãnh đạo đã nổi dậy giết huyện lệnh, giành lấy quyền tự chủ, thành
lập nước Lâm Ấp. Đến năm Vĩnh Hòa thứ 3 (347) thời vua Tần Mục Ðế, vua

Lâm Ấp là Phạm Văn tiến quân ra phía Bắc đánh chiếm cả quận Nhật Nam,
lấy Hoành Sơn (đèo Ngang, nằm giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay) làm
ranh giới phía Bắc.
Sang thế kỷ VI, nhà Lương thống trị nước ta và tiến vào phía Nam
đánh chiếm cả Lâm Ấp. Năm Đại Đồng thứ 7 (541), nhà Lương đổi quận
Nhật Nam thành Đức Châu. Bấy giờ, vùng đất Quảng Ngãi thuộc quận Đức
Châu. Từ năm 602 (nhà Tùy xâm lược nước ta) đến cuối thế kỷ XIV, vùng đất
Quảng Ngãi do nhà nước Chămpa cai quản. Phần đất Quảng Ngãi là Cổ Lũy
động thuộc tiểu quốc Amaravati.
Năm 1400, nhà Hồ thay triều Trần, tháng 7 năm 1402 đánh lấy đất
Chiêm động và Cổ Lũy động. Họ Hồ chia vùng đất Cổ Lũy động thành Châu
Tư và Châu Nghĩa gồm năm huyện: Trì Bình, Bạch Ơ (thuộc Châu Tư),
Nghĩa Thuần, Nga Bôi và Khê Cẩm (thuộc Châu Nghĩa) trực thuộc lộ Thăng
Hoa của nước Đại Ngu.
Để mở mang vùng đất mới, nhà Hồ lưu giữ lại một bộ phận quân lính
và đưa dân ở Nghệ An và Thuận Hóa vào khai khẩn. Từ đầu thế kỷ XV,
người Việt cùng với các dân tộc vùng bản địa chung sức khai phá, xây dựng
vùng đất Quảng Ngãi ngày nay.
Năm 1407, nhà Minh (Trung Quốc) đem quân xâm lược và thống trị
nước ta. Nhân cơ hội này, Chiêm Thành đem quân chiếm đất Chiêm động và
Cổ Lũy động.
Để củng cố vùng đất phía Nam, xây dựng đất nước thống nhất, năm
Hồng Đức thứ 2 (1471) vua Lê Thánh Tôn cùng các tướng Lê Hy Cát, Hoàng
Nhân Thiêm, Lê Thế, Nguyễn Đức Trung đem quân thu phục các đất Thăng,


16

Hoa, Tư, Nghĩa và thành Đồ Bàn (Bình Định ngày nay). Sau đó, nhà Lê thiết
lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam là đơn vị hành chính (như cấp tỉnh ngày nay)

là đạo thứ 13 của cả nước. Thừa tuyên Quảng Nam thống lĩnh 3 phủ: Thăng
Hoa (thuộc tỉnh Quảng Nam), Tư Nghĩa (tỉnh Quảng Ngãi), Hồi Nhơn (tỉnh
Bình Định) gồm 9 huyện. Phủ Tư Nghĩa gồm ba huyện: Bình Dương, Nghĩa
Giang và Mộ Hoa.
Huyện Bình Dương có 70 xã, huyện Nghĩa Giang có 93 xã, huyện Mộ
Hoa có 53 xã. Từ đó, vùng đất này vĩnh viễn trở thành một bộ phận không thể
chia cắt của Tổ quốc Việt Nam.
Đồng thời với việc xác lập bộ máy cai trị, việc khai khẩn cũng được
xúc tiến, triều đình cử Đỗ Tử Qúy (Tri châu Chiêm động) và Lê Ỷ Đà (Tri
châu Cổ Lũy động) mộ dân Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay vào sinh cơ
lập nghiệp. Triều đình cũng để số quân lính đã tham gia chiến đấu ở lại khai
khẩn và thành lập các đồn điền; các tội nhân bị bắt án “lưu” (đày đi xa) được
đưa vào vùng đất này để khẩn hoang.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lập ra nhà Mạc. Năm
1529 dưới cờ “Phù Lê diệt Mạc”, Nguyễn Kim tập hợp lực lượng đánh Mạc,
lập triều Lê Trung Hưng (1533 - 1788). Năm 1545, Nguyễn Kim cử Bắc quân
Đô đốc Bùi Tá Hán đem quân lấy được Quảng Nam từ tay nhà Mạc và cử ông
ở lại trấn thủ để giữ yên lãnh thổ, tiếp tục tổ chức khai khẩn vùng đất này trở
thành “phên dậu” vững chắc ở phía Nam Tổ quốc.
Năm 1568, Bùi Tá Hán mất, Nguyên Quận công Nguyễn Bá Qnh
thay thế. Năm 1570, Đoan Quận cơng Nguyễn Hồng (con Nguyễn Kim) trấn
thủ Thuận Hóa được cử giữ chức nguyên trấn thủ Quảng Nam.
Với chủ định xây dựng vùng Thuận - Quảng thành “Hoành Sơn nhất
đái, vạn đại dung thân” (dải đất từ Hoành Sơn đèo Ngang trở vào liền một dải,
là vùng đất sống cho cả muôn đời con cháu), Nguyễn Hoàng ra sức xây dựng
“căn cứ địa” của mình. Trước hết, Nguyễn Hồng củng cố về chính trị, dần


17


dần thoát li sự ràng buộc của Lê - Trịnh. Năm 1602, đời Lê Hoằng Định thứ
3, Nguyễn Hoàng cải đổi tên các đơn vị lãnh thổ, hành chính đã được đặt từ
trước ở hai trấn Thuận - Quảng. Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam,
phủ Tư Nghĩa thuộc dinh Quảng Nam đổi thành phủ Quảng Nghĩa (tên Quảng
Nghĩa ra đời từ đó), đặt các chức Tuần phủ, Khám lý. Đồng thời, Nguyễn
Hoàng ra sức khai hoang, lập ấp, đẩy mạnh sản xuất ở Quảng Nam nói chung,
ở Quảng Nghĩa nói riêng. Nơng dân di cư và tù binh bị bắt được trong cuộc
chiến tranh Trịnh - Nghĩa là lực lượng lao động chủ yếu để thực hiện chính
sách này. Từ một vùng đất hoang vắng, lạc hậu, Quảng Nam nói chung và
Quảng Nghĩa nói riêng đã nhanh chóng trở thành một vùng kinh tế phát triển.
Khi khai phá xây dựng vùng đất Quảng Nghĩa, các chúa Nguyễn cũng
quan tâm đến các đảo ven biển Đông. Từ thế kỷ XVII, quần đảo Hoàng Sa
thuộc lãnh thổ của phủ Quảng Nghĩa.
Năm 1771, phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ. Năm 1776, nhà
Tây Sơn đổi phủ Quảng Nghĩa thành phủ Hòa Nghĩa.
Năm 1805, Gia Long đổi phủ Hòa Nghĩa thành phủ Tư Nghĩa, đồng
thời đặt ra dinh Quảng Nghĩa, đặt các chức Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục. Năm
1808, Gia Long lại đổi dinh Quảng Nghĩa thành trấn Quảng Nghĩa và đến
năm 1810 đổi chức Lưu thủ thành chức Trấn thủ.
Năm 1832 Minh Mạng bãi bỏ các trấn, dinh, chia cả nước thành 31
tỉnh. Trấn Quảng Nghĩa đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa và đặt hai ty Bố chánh và
Án sát trực thuộc Tuần phủ Nam - Nghĩa để cai trị. Quảng Nghĩa trở thành
đơn vị hành chính cấp tỉnh từ đó. Nhưng đến năm 1934 Minh Mạng lại đổi
tên tỉnh Quảng Nghĩa thành tỉnh Nam Trực. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847),
Thiệu Trị đặt chức Tuần phủ Quảng Nghĩa và đổi đặt Tổng đốc Nam - Nghĩa.
Tỉnh Quảng Nghĩa dưới thời nhà Nguyễn gồm một phủ Tư Nghĩa với ba
huyện là Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Đức và bốn nguồn.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta rồi với các điều



×