Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (53.41 KB, 4 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Bài :TRÀNG GIANG
Huy Cận
I / MỤC TIÊU BÀI HỌC :
- Giúp hs cảm nhận được nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn , nỗi sầu nhân thế ,
niềm khao khát được hịa nhập với cuộc đời và tình cảm đối với quê hương đất nước
của tác giả .
- Thấy được màu sắc cổ điển trong một bài thơ mới .
II / PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC :
Phân tiùch , gợi mở , bình giảng ,…
III/ TIẾN TRÌNH LÊN LỚP :
<b>1/ Oån định lớp :</b>
<b>2/ Kiểm tra bài cũ :</b>
<b>3/ Bài mới :</b>
<i><b>Trong phong trào thơ mới 1932-1945 , nếu như XD được coi là nhà thơ có cái </b></i>
<i><b>nhìn độc đáo và tinh tế về thời gian , thì một người bạn thơ của ông , lại được coi là </b></i>
<i><b>có cái nhận sâu lắng về khơng gian . Đó chính là Huy Cận , với một giọng thơ ảo </b></i>
<i><b>nảo buồn , nỗi buồn như thấm sâu , lan xa vào cảnh vật , thể hiện sự cảm nhận </b></i>
<i><b>không gian tinh tế của nhà thơ qua bài Tràng Giang .</b></i>
Hoạt động của gv và hs Nội dung
Gọi hs đọc tiểu dẫn ,
Yêu cầu trình bày những nét
chính về cuộc đời , sự nghiệp
thơ văn của Huy Cận .
Thơ Huy Cận trước và sau
Cách Mạng Tháng Tám 1945
có đặ điểm gì nổi bật?
<b>I / Tìm hiểu chung về tiểu dẫn :</b>
<b>1/ Cuộc đời :</b>
Huy Caän (1919-2005) , tên khai sinh: Cù Huy Cận , quê : Hương
Sơn-Hà Tónh .
- Sau khi học hết trung học ở Huế , ông ra Hà Nội học trường
cao đẳng canh nông (1939).
- Trong kháng chiến Huy Cận tham gia hoạt động cách mạng từ
1942 , và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong làng văn VN ,
cũng như bộ máy nhà nước : thứ trưởng bộ văn hố , bộ trưởng
đặc cách cơng tác văn hố- nghệ thuật tại văn phòng hội đồng
bộ trưởng kiêm uỷ ban trung ương liên hiệp vhnt VN .
- Oâng được bầu làm viện sĩ viện hàn lâm thơ thế giới .
<b>2/ Sự nghiệp thơ văn :</b>
<b>a/ Trước cách mạng tháng tám :</b>
HC có các tập thơ :<i>Lửu Thiêng , Kinh Cầu Tự , Vũ Trụ Ca</i> : thể hiện
nỗi buồn ảo nảo , sự bơ vơ .
<b>b / Sau cách mạng tháng tám :</b>
<i>Trời mỗi ngày lại sáng , Đất nở hoa , Bài thơ cuộc đời …</i>thời kì hồn
Tập thơ đã khảng định tài
năng và tên tuổi của Huy Cận
là tập Lửu Thiêng , chúng tìm
hiểu vài nét về tập thơ này .
Một trong những bài thơ
tiêu biểu cho hồn thơ Huy
Cận trước Cách Mạng Tháng
Tám là bài Tràng Giang ,sơ
lược vài nét bài thơ này.
Em hiểu ntn về câu đề từ
của bài , từ đó có mối liên hệ
ntn với bức tranh thiên nhiên
và tâm trạng tác giả ?
Sau khi đọc xong bài thơ
em có nhận xét gì về âm
hưỡng chung của bài thơ ?
Vui hay buồn ?
Bài thơ mở đầu bằng hình
ảnh nào ?
Nếu như câu 1 tả sóng , thì
3/ Vài nét về tập Lửu Thiêng :
Đây là tập thơ đầu tay của HC xuất bản năm 1940 , bao trùm lên tất
Bài thơ được HC viết vào tháng 9 năm 1939 ,sau đó được in trong tập
<i>Lửu Thiêng</i> xuất bản 1940 , đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của hồn
thơ HC trước C/ Mg Tháng Tám năm 1945.
II / Đọc hiểu văn bản :
<b>1/ Nhan đề :</b>
Tràng Giang là một từ Hán Việt mang âm hưởng cổ kính . Tràng
Giang đồng nghĩa vơí trường giang ( con sơng dài ) nếu dùng trường
giang thì cái hay của tiêu đề sẽ giảm đi rất nhiều , cách hiệp vần
“ang “tạo nên một dư âm vang xa trầm lắng mênh mang . Như vậy
Tràng giang không chỉ là con sơng dài mà cịn là con sơng rộng lớn .
2/ Lời đề từ :
<i>“ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài “</i>
+ “ <i>trời rộng “, “sông dài</i> “ chỉ không gian bao la mênh mông rộng
lớn .
+ “ <i>bâng khuâng “, “nhớ</i>” tâm trạng buồn cô đơn giữa trời rộng sơng
dài .
Đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian , cái vô biên của
thời gian , con người càng thấm thía nỗi cơ đơn , sự lẻ loi , bơ vơ , lạc
lõng của chính mình . Đó cũng chính là nỗi niềm cái tôi của nhà thơ .
Âm hưởng chung của toàn bài là buồn , nỗi buồn thấm sâu vào
cảnh vật , dường như mỗi khổ thơ là một cách miêu tả khác nhau về
nỗi buồn . Một nỗi buồn đìu hiu xa vắng trải dài vơ tận theo khơng
gian và thời gian .
<b>3/ Phân tích :</b>
a/ Khổ một : Bài thơ mở đầu bằng cảnh sông nước mênh mông , bát
ngát , và nỗi buồn cũng trải ra bất tận , khôn cùng .hai từ “sóng gợn”
gợi tả vịng xốy đang lan ra , loang ra , gối lên nhau , xua đuổi nhau
đến vô tận , như nỗi buồn âm thầm mà da diết khơn ngi .
Hai từ “ sóng gợn “ lại được tác giả sắp xếp liền kề trước hai từ
“tràng giang” , khiến người ta có cảm giác con sóng cứ nối nhau đến
tận cuối trời sơng nước , cùng với nó là những nỗi buồn chồng chất
tầng tầng , lớp lớp “ buồn điệp điệp “
câu 32 tả hình aûnh gì ?
Sang câu 3 mạch cảm xúc
có gì thay đổi khơng ?
Ơû câu 4 tác giả đã sử dụng
biện pháp nt gì là tiêu biểu ?
Tác giả có dụng ý gì khi sử
dụng biện pháp nt đó ?
Gv yêu cầu học sinh phân
tích hai câu đầu , và nhận xét
các từ ngữ : xuống , lên , sâu
chót vót , dài rộng , cơ liêu
trong hai câu sau.
Các sự vật trong khổ thơ
thừ ba được sắp đặt ntn ?
Gv yêu cầu hs phát hiện ,
phân tích màu sắc cổ điển và
cái tơi hiện đại trong khổ thơ
cuối .
thuyền bất lực ngay cả với mái chèo của mình , đênh lênh cho dịng
nước cuốn đi .
Hai câu thơ mang một nỗi sầu lớn vì nó cịn gợi cảm giác chia lìa ,
khơng gắn bó . Con thuyền cơ đơn vơ định , xi dịng nước mà như
khơng có mỗi liên hệ với nước , đi với dịng mà như chia li với dòng .
Câu 3 :
Cũng gợi một cảm giác chia lìa , thuyền về một ngả , nước lại
một đường , khối sầu toả đi khắp trăm ngả buồn thương . Nỗi sầu ở
đây đã được tác giả tăng cấp từ “buồn điệp điệp “sang sầu .
<b> Caâu 4 :</b>
Với biện pháp nt đảo ngữ “củi một cành khô “ , đã cho thấy rõ hơn
cái khô của củi , cái bé nhỏ gầy guộc của cành . Câu thơ gợi lên trong
b/ Khổ 2 :
Nếu như khổ một ta thấy bức tranh tràng giang hiện lên thật cơ
liêu vắng lặng , thì khổ hai bức tranh ấy như có thêm sức sống của
“làng xa” , “chợ chiều “ , bên sông …nhưng tất cả chỉ làm cho cảnh
thêm mênh mang hiu quạnh . Cồn thì nhỏ , cây cỏ thì đìu hiu hoang
vắng , làng thì xa , chợ thì vãn khiến bên sông trở nên cô liêu giữa
sông dài , trời rộng .
Nắng càng xuyên xuống , trời càng được nâng lên , sự chuyển
động được hồn tất bởi cụm từ “sâu chót vót “ . Chót vót là từ láy
dùng để chỉ chiều cao , nhưng ở đây HC đã dùng để chỉ chiều sâu .
Đó là sự lạ hố của cái nhìn do cảm giác đưa lại . Khơng phải nhà thơ
đứng dưới mặt đất nhìn lên trời ,cũng khơng phải nhà thơ đứng trên
đỉnh trời nhìn xuống đất , mà thi nhân như đang đứng bơ vơ giữa vũ
trụ thăm thẳm để nhìn xun vào lịng đất ruột đất .
Khổ thứ ba :
Các sự vật được đặt cạnh nhau :bèo thì hàng nối hàng , bờ xanh
thì tiếp bãi vàng , khơng cầu , khơng đị …các sự vật đặt cạnh nhau ,
nhưng tất cả đều không có mỗi liên hệ , khơng cần nhau tất cả chỉ gợi
cảm giác hiu quạnh trống vắng .
Khổ thứ tư :
Màu sắc cổ kính thể hiện qua việc sử dụng các hình ảnh : mây núi
, cánh chim, bóng chiều .
Hình ảnh cánh chim lẻ loi cơ độc bay nghiêng trong ánh hồng
hơn đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong thơ cổ điển :
Tổng kết nd tư tưởng và
đặc sằc nt của bài .
Huyện Thanh Quan
<i><b>Lạc hà giữ cô lộ tề phi</b></i>
( Ráng chiều và cánh cò cùng bay )
Vương Bột
Tuy nhiên cánh chim nhỏ trong thơ mới nói chung , và trong khổ
thơ này của HC nói riêng ,khơng chỉ có ý nghĩa báo hiệu hồng hơn
mà cịn là biểu tượng cho cái tơi nhỏ nhoi cơ độc trước cuộc đơì ảm
đạm khơng có nổi một giờ vui .
Tổng kết :
Tràng Giang là một bài thơ hay của HC bao trùm bài thơ là một
nỗi buồn thương đau đớn mênh mang . Xét đến cùng đó là cái buồn
thế hệ , nỗi sầu vũ trụ , nỗi buồn thương về cuộc đời , kiếp