Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.88 KB, 17 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>THĂNG LONG THỜI TRẦN </b>
Nhà Lý chính thức chấm dứt sự thống trị của mình vào ngày mồng 1 tháng Chạp năm
ất Dậu (1226), khi Lý Chiêu Hoàng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ đã xuống chiếu
nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Nhà Trần thay nhà Lý trên chính trường chính trị,
đồng thời cũng thay nhà Lý mở ra một thời kỳ mới phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt:
vững vàng, năng động, thống nhất và ổn định cho đến giữa thế kỷ XV.
Thăng Long thời Trần vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá lớn nhất của Đại
Việt bấy giờ. Cuộc chuyển giao triều chính diễn ra một cách hồ bình đã khơng làm cho
Thăng Long thay đổi nhiều. Về kiến trúc vẫn như thời Lý, nhiều cung điện trong Hoàng
thành và Cấm thành vẫn giữ nguyên. Nhà Trần ngồi việc trùng tu các cơng trình cũ cịn
xây dựng một số cơng trình kiến trúc mới ở Thăng Long: lập Viện quốc học, Giảng võ
đường... Kinh thành chia làm 61 phường, bao gồm cả phường buôn, phường thợ và
phường làm nông nghiệp. Một số tên phường trong thời kỳ này còn thấy lác đác ghi trong
sử sách cũ như: Thái Hoà, Báo Thiên, Phủng Nhật, Cơ Xá, Bố Cái, Hạc Kiều, Thịnh
Quang, Toán Viên...
Việc buôn bán giữa Thăng Long và các địa phương đã bắt đầu phát triển. Sông
Tô Lịch thành nơi buôn bán sầm uất trên bến dưới thuyền. Khách buôn từ khắp nơi
đều theo sông Hồng, qua cửa Hà Khẩu vào sông Tô để đưa hàng vào kinh thành.
Sự kiện năm 1400 khi Hồ Quý Ly đánh thuế thuyền bn đã chứng tỏ hình thức
buôn bán bằng đường thuỷ ở Thăng Long thời gian này khá hưng thịnh.
Sự kiện năm 1282 vua Trần Thánh Tơn đi xe từ kinh thành đến Bình Than (Chí
Linh-Hải Hưng) để hội chư quân cho phép chúng ta khẳng định tuyến đường bộ
thời ấy đã tương đối rộng rãi và thơng thương thuận tiện. Đây chính là những tiền
đề cần thiết cho các hoạt động kinh tế và thương mại của Thăng Long thời Trần
được đẩy lên một diện mạo mới.
Cuối thời Trần, Thăng Long đã được sử sách chép với cái tên “Kẻ chợ”. Điều đó
cho thấy diện mạo của Thăng Long đương thời đã phần nào mang dáng dấp của
một thành phố quốc tế: một thành phố nhân ái, là nơi giao lưu và hội tụ của nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá và con
người; một thành phố thủ công và buôn bán nhỏ của người Việt nhưng cũng có các cửa hàng bn bán lớn của
người Hoa, Hồi Hột, Chà Và...; một thành phố đón tiếp các sứ giả Tống, Nguyên, Lào, Chiêm Thành, Gia va, các
tăng ni bậc thầy cả ở Trung Á, Ấn độ và có cả những quần tụ người Chiêm Thành ở miền ven nội; một Thăng Long
vừa diễn chèo Việt, tuồng Tầu, và múa điệu người Hồ...
Kinh tế công thương nghiệp thành thị sinh ra tầng lớp thị dân và lối sống thị
dân. Sử chép: vua Trần Anh Tông (1293 - 1314) thường “lén đi chơi, cứ đến đêm đi
kiệu cùng hơn mười người thị vệ, đi khắp kinh thành, đến gà sáng mới về” chứng tỏ
Thăng Long ngày ấy đã tương đối sầm uất và ắt hẳn có nhiều hình thức bn bán
cũng như vui chơi về ban đêm.
Thăng Long đời Trần không chỉ xây dựng và sáng tạo nghệ thuật mà còn đánh giặc
và đánh giỏi. Trong vòng 30 năm, ba lần Thăng Long trở thành tồ thành vườn
khơng nhà trống, để rồi là mồ chôn quân xâm lược mà dấu vết oai hùng vẫn in dấu
vàng son mỗi tên người tên đất: Đông Bộ Đầu dốc Hàng Than; Giang Khẩu
-Hàng Buồm... và cuối cùng, “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” lại nối tiếp chiến
công xưa nhấn chìm quân xâm lược cùng tham vọng bành trướng của chúng.
Thăng Long qua ba lần thử lửa vẫn vững vàng xứng đáng là một đô thành anh
hùng.
Nhà Trần tồn tại trên mảnh đất kinh kỳ như vậy 175 năm với 12 đời vua nối nhau trị vì trên
đất Thăng Long Kẻ chợ.
<i>Trần Hưng Đạo</i>
<i>Trần Hưng Đạo</i>
<i>Bạch Đằng</i>
<b>Thăng Long thời Trần (1226 - 1400)</b>
Nhà Lý sau 2 thế kỷ cầm quyền đã đến lúc suy thoái. Nhà Trần thay thế, chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết
lập lại trật tự chính trị - xã hội. Nền văn minh Đại Việt tiếp tục phồn thịnh. Nhà Trần củng cố lại hoàng thành,
xây thêm cung điện. Kinh thành vẫn giữ ranh giới cũ nhưng đông đúc hơn. Năm 1230, hoạch định các đơn vị hành
chính, Kinh đơ chia làm 61 phường. Khu vực này còn tiếp nhận nhiều khách bn và cư dân nước ngồi đến sinh
sống làm ăn. Năm 1274 có 30 thuyền Trung Quốc xin cư trú, được cho ở tại phường Nhai Tuân (khu vực Hòe Nhai,
Hàng Than ngày nay) lập phố, mở chợ. Ngồi thương nhân người Hoa có cả người Hồi hột (Ouigur), Chà và
(Java), sư người Hồ (Ấn Độ)...
Kinh tế công thương nghiệp thành thị sinh ra tầng lớp thị dân và lối sống thị dân, như đã có sinh hoạt giải
trí ban đêm. Vua Trần Anh Tông (1293-1314) thường "lén đi chơi cứ đến đêm đi kiệu cùng hơn mười người thị
vệ, đi khắp kinh kỳ, đến gần sáng mới về", như vậy đêm Thăng Long ngày ấy hẳn có nhiều cuộc vui.
Cũng từ đây, ta biết công việc quản lý kinh thành thuộc Ty Bình Bạc. Năm 1265 đổi thành Kinh sư An phủ
sứ, năm 1341 đổi làm Trung độ doãn.
Thăng Long cịn tụ hội nhiều nhà văn hóa lớn. Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) đặt cơ sở cho sự ra đời của
nền văn học tiếng Việt. Lê Văn Hưu, nhà sử học uyên bác. Các vị vua anh hùng kiêm thi sĩ tài hoa Trần Thánh
Tông, Trần Nhân Tông. Các vị tướng kiêm nhà văn, nhà thơ, nhà ngôn ngữ Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải,
Trần Nhật Duật. Và cũng sáng ngồi thay tấm gương một nhà trí thức mô phạm cương trực, tiết tháo, Chu Văn
An...
Thăng Long đời Trần khơng chỉ có xây dựng và sáng tạo nghệ thuật mà còn phải đánh giặc và đánh giỏi:
trong vòng 30 năm (1258-1288) ba lần quân Nguyên - Mông sang xâm lược, ba lần chúng vào được Thăng Long
nhưng đều chuốc lấy thất bại. Lần đầu (1258) chỉ là tòa thành rỗng (dân đã tản cư, để lại vườn không nhà trống ).
Mười một ngày sau, quân Trần phản công dữ dội và với trận Đông Bộ Đầu (dốc Hàng Than) ngày 29-1-1258
Qua ba lần thử lửa, Thăng Long vẫn đứng vững, xứng đáng là một thủ đô thành anh hùng .
<i>Xem thêm bài </i><b>Trần Thủ Độ</b>.
Khi nhà Lý bắt đầu suy yếu, người đứng đầu dòng họ Trần ở đây là Trần Cảnh (Trần Thái Tơng) nhưng người
đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần là Trần Thủ Độ. Nhà Lý suy vi, quyền lực rơi hết vào tay
Trần Thủ Độ. Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng (8 tuổi) nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (7 tuổi; 1218 - 1277)
thì thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225. Trong khoảng 175 năm trị vì, nhà Trần đã lãnh đạo nhân
dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên thành công vào các năm 1258, 1285 và 1288, nhưng trong
những năm sau này, kể từ đời vua Dụ Tơng thì triều đại nhà Trần đã suy yếu đi vì nhiều lý do, chủ yếu là do sự
mục nát và yếu kém của hệ thống quan lại. Cuối cùng vào năm 1400, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần, chấm
dứt 175 năm trị vì của dịng họ này.
Tổ tiên của dịng dõi nhà Trần có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Ông
Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc
đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông
nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường, nay là xã Lộc Vượng thuộc
ngoại thành Nam Định. Trần Quốc Kinh lấy vợ ở Tức Mạc, sinh ra Trần Hấp. Trần Hấp sinh ra Trần Lý và Trần
Hoằng Nghi. Trần Lý sinh ra Trần Tự Khánh và Trần Thừa - sau được tôn là Trần Thái Tổ. Trần Hoằng Nghi
sinh được ba người con trai: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ[1].
Các nhà lãnh đạo thuộc những thế hệ đầu tiên thường mang tên các loài cá, do nguồn gốc xuất thân chài lưới
của họ Trần. Tổ họ Trần vốn tên là Chép, được dịch sang tiếng Hán là 鯉, phiên âm là "Lý", nghĩa là cá chép.
Con ông là Trần Thừa vốn có tên là Dưa (cá dưa). Hai con trai Trần Thừa vốn có tên là Leo (cá leo), được phiên
theo chữ Hán là Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn), người con thứ hai có tên là Lành Canh (cá lành canh), phiên
sang chữ Cảnh (vua Thái Tơng). Trần Thị Dung cũng vốn có tên là Ngừ (cá ngừ), khi làm hồng hậu của Lý
Huệ Tơng mới đổi gọi là Dung. Về sau dân địa phương lập đền thờ bà vẫn gọi là "Bà chúa Ngừ".
Từ thế hệ thứ hai, nhà Trần nắm quyền cai trị nên mới đặt theo các tên đời sau thường biết tới.
Một cơng trình trong quần thể Đền Trần, Nam Định, Việt Nam
<i>Xem chi tiết: </i><b>Lý Huệ Tông</b>
Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần
Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp (nay là xã Lưu Xá, huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hồng tử Sảm lên ngơi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tơng. Ơng
cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái phụ
chính.
Huệ Tơng là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mơng,
người chức cao, quyền lớn nhưng "khơng có học thức, khơng có mưu thuật, lại nhu nhược khơng quyết đốn,
chính sự ngày một đổ nát". Lợi dụng tình hình đó, Đồn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức
cướp bóc, khiến triều đình khơng chế ngự nổi. Năm 1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ
Tơng đã bí mật rời bỏ hồng cung, cùng với Trần thị Dung trốn đến nơi đóng qn của Trần Tự Khánh. Từ đó,
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi
ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân.
Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu
Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo. Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi
lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi. Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ
Độ ép Chiêu Hồng nhường ngơi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị.
Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tơng) cịn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và
cha là Nhiếp chính Trần Thừa.
<i>Xem chi tiết: </i>Trần Tự Khánh, Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng
Từ năm 1211 trong nước Đại Việt đã hình thành ba thế lực phân cát lớn là:
Họ Đoàn (Hải Dương và Hải Phịng).
Họ Trần (Thái Bình, Nam Định và nam Hưng Yên).
Họ Nguyễn (Quốc Oai, Hà Tây)
Triều đình nhà Lý chỉ kiểm soát vùng xung quanh Thăng Long. Trong quá trình nắm quyền bính trong triều cho
tới khi thay ngơi nhà Lý, nhà Trần tiếp tục phải đối phó với các lực lượng cát cứ từ thời Lý.
Do thế lực chưa đủ mạnh để trấn áp tất cả các lực lượng nổi dậy, họ Trần phải dùng chiến thuật khi đánh khi
hồ, thậm chí cả biện pháp hơn nhân; và tận dụng sự xung đột của chính các thế lực này tự làm yếu nhau.
Sau khi nhà Trần thành lập, Nguyễn Nộn đánh bại giết chết Đoàn Thượng năm 1228. Nhưng không lâu sau,
<i>Bài chi tiết: Kháng chiến chống Nguyên Mông</i>
Cuối năm 1257 âm lịch, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (<i>Uriyangqadai</i> hay 兀良合台) mang 3 vạn
quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam. Vua Trần Thái Tơng đích thân ra chiến trận. Quân Trần cố
gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào được Thăng Long. Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình
đã thực hiện "vườn khơng nhà trống", rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào Thăng
Long chưa đầy 1 tháng thì bị thiếu lương thực. Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản công ở Đông Bộ Đầu (Từ
Liêm-Hà Nội). Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long, đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân của tộc
trưởng Hà Bổng đánh tan tác, quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam.
Năm 1279, quân Mông diệt được Nam Tống. Từ năm 1260, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên.
Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đô mượn đường đánh Chiêm Thành (Champa). Sau nhiều hoạt
động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối cùng chiến tranh bùng phát. Cuối năm 1284, nhà Ngun liền phái
hồng tử Thốt Hoan và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt. Thoát
Hoan đi từ Quảng Tây cịn Toa Đơ đi đường biển từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh vào Chiêm Thành rồi
đánh "gọng kìm" thốc lên từ phía nam Đại Việt.
Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn quân) và cũng là cuộc
kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó.
Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, dùng chiến thuật vườn khơng nhà trống để
qn địch khơng có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào
cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân Trần đại thắng,
bắt giết được Toa Đơ. Thốt Hoan thu tàn qn chạy về bắc.
Thắng lợi năm 1285 cơ bản xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương
đầu được với đạo qn hùng mạnh của Mơng Ngun liền kề phía bắc. Bởi vậy trong lần kháng chiến thứ 3
chống Mông Nguyên năm 1287, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần: "...Quân ta đã quen việc
chiến trận, mà qn nó thì sợ phải đi xa... Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn". Nhà Trần
tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo. Cuối cùng quân Trần đại phá quân
Nguyên ở sông Bạch Đằng tháng 4 năm 1288, bắt sống Ngun sối Ơ Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc.
Thốt Hoan một lần nữa chạy trốn về bắc. Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vẫn
chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ
thuận tiện. Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà. Cháu nội là Nguyên Thành
Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa. Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.
Trong triều đại nhà Trần, ngoài những cuộc chiến tranh với quân Ngun Mơng ở phía Bắc thì Đại Việt cũng có
những sự liên hệ với các nước láng giềng. Đó là Ai Lao và Chiêm Thành.
<b>[sửa] Với Chiêm Thành</b>
Chế Mân chết thì Chế Chỉ lên thay và địi lại hai châu mà Chế Mân đã dâng cho Đại Việt. Vua Trần Anh Tông
sai quân sang bắt Chế Chỉ đem về trị tội và phong cho em của Chế Chỉ là Chế Đà A Bà lên thay làm vua nước
Chiêm Thành. Đến đời vua Trần Dụ Tông, con và rể của vua Chiêm Thành tranh giành nhau ngôi vua, quân nhà
Trần sang can thiệp nhưng bị quân Chiêm Thành đánh bại cả hai lần.
Năm 1370, các hoàng tử con vua Minh Tông lật đổ Dương Nhật Lễ (xem phần "Thời kỳ suy tàn" bên dưới) lập
Trần Nghệ Tông. Mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành xui vua Chiêm đánh Đại Việt. Lúc đó thế lực nhà Trần
suy yếu, Chiêm Thành có ý khởi binh đánh đòi lại hai châu đã mất. Đến đời vua Trần Duệ Tông, vua Chiêm
Thành là Chế Bồng Nga quấy rối biên giới, vua Duệ Tơng sai Đỗ Tử Bình đem quân trấn giữ Hóa Châu. Bồng
Nga đem 10 mâm vàng dâng lên. Tử Bình ỉm đi, cướp làm của mình, nối dối là Bồng Nga ngạo mạn vơ lễ, nên
đem quân đánh. Duệ Tông giận lắm, quyết ý thân chinh. Cuối năm 1376, quân Trần xuất phát. Năm 1377, quân
Trần chiếm cửa Thị Nại (Quy Nhơn ngày nay) rồi tiến đánh kinh thành là Đồ Bàn. Lúc đó Chế Bồng Nga, một
Năm 1390, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh. Tướng trẻ Trần Khát Chân được lệnh đem binh dàn trận ở
sông Hải Triều (sông Luộc ở vùng Hưng Yên ngày nay). Nhờ có hàng tướng bên Chiêm sang chỉ chỗ, Khát
Chân sai chĩa hỏa pháo nhằm cả vào thuyền Chế Bồng Nga mà bắn. Vua Chiêm trúng đạn tử trận, quân Chiêm
bỏ chạy và sau đó con của Chế Bồng Nga hàng phục Đại Việt. Kể từ đó trong thời gian dài Chiêm Thành không
dám đánh Đại Việt nữa.
<b>[sửa] Với Ai Lao</b>
Vào đời nhà Trần, quân của Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc ở vùng Nghệ An và Thanh Hóa. Vì thế
triều đình đã phải sai qn lính đi đánh dẹp mãi và chính các vị vua phải thân chinh đi dẹp giặc, trong đó nhiều
nhất phải kể đến vua Trần Nhân Tơng. Mỗi lần bị thua thì qn Ai Lao rút về, nhưng sau đó thì lại sang quấy
phá. Trong đời vua Trần Anh Tông, ông cũng nhiều lần thân chinh đi dẹp giặc nhưng ông cũng đã ra lệnh cho
Phạm Ngũ Lão hơn ba, bốn phen đi dẹp giặc. Vua Trần Minh Tông cũng nhiều phen thân chinh đi dẹp giặc.
Trong triều đại nhà Trần, mục đích của Đại Việt là dẹp các cuộc đánh phá và quấy nhiễu của quân Ai Lao chứ
khơng có mục đích đánh chiếm lấy đất nước này.
<i>Bài chi tiết: Hành chính Đại Việt thời Trần</i>
Đền nhà Trần (Nam Định)
<i>Nhâm Dần, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 11 1242: Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12 lộ. Đặt chức an phủ, </i>
<i>trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt chức đại tư xã, tiểu tư xã. Từ ngũ phẩm trở lên là </i>
<i>đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là tiểu tư xã. Có người làm kiêm cả 2-4 xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là </i>
<i>xã quan.</i>
Mỗi lộ đều có quyền dân tịch để kiểm soát dân số trong lộ. Dân chúng trong nước được chia ra làm 3 hạng:
hạng tiểu hoàng nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ 20 tuổi đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60
tuổi). Lúc đầu chỉ có những người trong hồng tộc mới được giữ các chức quan nhưng từ đời vua Anh Tông,
những người tài đức cũng được tuyển dụng vào giữ các chức vụ quan trọng này. Sách Khâm định Việt sử
Thơng giám Cương mục, phần chính biên, có ghi lại 12 lộ như sau: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc
Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng Khối, Thanh Hố, Hồng Giang, Diễn Châu.
Vua Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. ĐVSKTT có chép lại như sau:
<i>Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230: Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành </i>
<i>Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển.</i>
<i>Định bị đồ có mức độ khác nhau: </i>
<i>Loại bị đồ làm Cảo điền hồnh thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã Nhật Cảo), cày ruộng </i>
<i>côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc.</i>
<i>Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở Phượng Thành, thành Thăng Long, lệ </i>
<i>vào quân Tứ sương.</i>
Đặt ty bình bạc là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đơ Thăng Long lúc đó với chức quan kinh dỗn,
chun xét đốn việc kiện tụng ở kinh thành. Năm 1265 đổi thành Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại
dỗn.
Về mặt nơng nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách
trông coi việc đê gọi là hà đê sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình cịn ra lệnh cho qn sĩ đắp đê hay đào lạch,
hào, giúp đỡ dân chúng. <i>Đại Việt sử ký tồn thư</i> có chép:
<i>Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7, 1231: Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) </i>
<i>chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào (là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là </i>
<i>Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu.</i>
Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất
hoang để mở mang thêm ruộng nương.
Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền. Thuế thân được đóng bằng tiền và ít nhiều tuỳ theo số
ruộng có. Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế. Thuế điền thì đóng bằng thóc. Ngồi ra cịn có thuế
trầu cau, rau quả, tơm cá v.v. Về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng - vàng, bạc được đúc thành phân, lượng và
có hiệu của nhà vua.
<b>[sửa] Việc thi cử</b>
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở
ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa có mở định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái Tông
cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi. Năm 1247, nhà vua lại cho
đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng
nhãn.
<b>[sửa] Mở trường học</b>
Ngồi Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và
Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng.
<b>[sửa] Những học giả nổi tiếng</b>
Đời nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ <i>Đại Việt Sử Ký</i> và đây là bộ
sử đầu tiên của Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng
đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết,
cương trực. Các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn
chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị như <i>Hịch tướng sĩ</i>.
<b>[sửa] Văn Nôm</b>
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thun có cơng làm thơ bằng chữ Nơm và đặt ra luật thơ Nơm. Vì thế đã có nhiều học
giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những bài thơ Nôm rất giá trị. ĐVSKTT chép:
<i>Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sơng Lơ. Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống </i>
<i>sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm</i>
<i>thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.</i>
Về Phật giáo, vào đầu đời nhà Trần thì Phật giáo cịn thịnh. Các nhà vua đều sùng đạo cho xây chùa, đúc
chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. ĐVSKTT chép lại <i>Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ </i>
<i>chổ nào có đình trạm đều phải đắp tượng phật để thờ</i>.
Vua Nhân Tơng cịn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và ơng chính là ơng tổ đầu tiên
của thiền phái Trúc Lâm. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên
ngày càng suy vi. Về Lão giáo thì cũng được nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo
Nhà Trần đã có một thời đại rất hưng thịnh, đã từng đại phá quân Nguyên cũng như bình phục được Chiêm
Thành, nhưng kể từ khi thái thượng hồng Trần Minh Tơng qua đời (1357), vua Trần Dụ Tông ham mê tửu sắc,
phó mặc mọi việc triều chính để cho nhà Trần bước vào giai đoạn suy vi và sau cùng bị mất ngôi.
Chu Văn An, một vị quan thanh liêm, trung thần tại triều đình, đã dâng thất trảm sớ đề nghị trị tội những tên
tham quan ô lại. Vua Trần Dụ Tông đã không nghe theo nên Chu Văn An đã từ quan về nhà dạy học.
Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, một người con là Nhật Lễ lên thay. Theo sử sách, Nhật Lễ không phải là con Dụ
Tông mà mẹ Lễ vốn là cô đào, vợ của kép hát Dương Khương, đã mang thai Lễ trước khi làm vợ Dụ Tơng. Vì
vậy sử vẫn gọi tên người con là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ ở ngơi bỏ bễ chính sự, ham tửu sắc, hằng ngày chỉ
rong chơi, thích các trị hát xướng, muốn đổi lại họ là Dương. Sau Lễ lại giết Hiến Từ Tun Thánh Thái hồng
thái hậu vì bà đã hối hận việc lập Nhật Lễ. Người tôn thất và các quan đều thất vọng. Tháng 10 năm 1370, các
tôn thất nhà Trần hợp mưu lật đổ và bắt giết Nhật Lễ, đưa con thứ 3 của vua Minh Tông là Phủ lên ngôi, tức là
Trần Nghệ Tông.
Nghệ Tông làm vua được 2 năm, lên làm thái thượng hồng và nhường ngơi cho em là Kính lên thay, tức là Duệ
Tông. Năm 1377, Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, thượng hồng Nghệ Tơng lập con Duệ Tơng là Phế Đế lên
thay. Thượng hồng Nghệ Tơng nắm quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại quá tin dùng một
mình Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly). Do đó, Quý Ly xúi giục Nghệ Tơng giết hại các trung thần, các hồng tử,
các thân vương và ngay cả vua Phế Đế cũng bị sự gièm pha của Quý Ly mà bị Nghệ Tông phế bỏ[2]. Con Nghệ
Tông là Thuận Tông (đồng thời là con rể Quý Ly) được lập lên ngôi nhưng cũng khơng có thực quyền.
Vì có mưu đồ sốn đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly đã tạo được khá
nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ đó Quý Ly càng ngày càng lộng quyền khơng
coi ai ra gì. Năm 1394, Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá
xây thành Tây Đô. Sau khi công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập
Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát Chân lập hội với mưu đồ tiễu trừ
Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế
truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ.
Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với 13 đời vua.
Nhà Trần lấy ngơi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân. Nhà Trần từ vai trị là ngoại thích của nhà Lý đã giành
ngơi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết hôn với người trong họ.
Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh[3] đã dẫn ra hơn 30 trường hợp hôn nhân nội tộc của nhà Trần:
1. Trần Liễu, anh Thái Tơng, con Thượng hồng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua Lý Huệ Tông và
Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.
2. Năm 1225, Trần Cảnh, tức Trần Thái Tơng, lấy Lý Chiêu Hồng, em Thuận Thiên; trường hợp này cũng là con cô
lấy con cậu.
3. Sau khi Lý Huệ Tông chết, giáng Huệ hậu (Trần Thị Dung) làm Thiên Cực công chúa, gả cho Trần Thủ Độ tức là
chị em họ lấy nhau. Hai người vốn đã có tư tình với nhau từ trước.
4. Năm 1237, vì Chiêu Hồng khơng có con, Thủ Độ ép Thái Tông lấy Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với
Trần Liễu. Trường hợp này vừa là con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu.
vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp. Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương cịn
trong phòng Thiên Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười mâm vàng sống
6. Năm 1258, Trần Thánh Tông lấy Thiên Cảm công chúa là con Trần Liễu, tức là con chú con bác lấy nhau.
7. Thụy Bảo công chúa, con vua Thái Tông, lấy Uy Văn vương Toại.
8. Gả công chúa tên Thúy, con Thái Tông cho Thượng vị Văn Hưng hầu.
9. Thiên Thụy công chúa, con vua Thánh Tông và Thiên Cảm, tức cháu nội Thái Tông và cháu ngoại Trần Liễu, lấy
Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn (con Trần Hưng Đạo), cháu nội Trần Liễu; trường hợp này vừa là con cô con cậu
(Trần Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác lấy nhau.
10. Thiên Thụy công chúa lại tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là tơng thất nhà Trần. Khánh Dư nhờ có
cơng đánh qn Ngun được Thượng hồng Thánh Tơng nhận làm con nuôi.
11. Năm 1274, Nhân Tông, con Thánh Tông, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là con Hưng Đạo vương. Trường hợp
này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.
12. Anh Tông, con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, chắt Thái Tông, lấy Văn Đức phu nhân năm 1292, là con Hưng
Nhượng vương Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo vương, chắt Trần Liễu. Trường hợp này là cháu cô cháu cậu
(Hưng Đạo vương và Thiên Cảm là con Trần Liễu) hay chắt chú chắt bác lấy nhau.
13. Sau Anh Tông lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh Tư.
14. Anh Tông lấy Huy Tư là con Thụy Bảo cơng chúa và Trần Bình Trọng. Thụy Bảo là em Thánh Tông, Anh Tông
là cháu nội Thánh Tông, tức cháu lấy cô.
15. Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tông, Anh Tông là con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, lấy Uy Túc
công Văn Bích, cháu nội Trần Quang Khải. Quang Khải và Thánh Tông là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy
16. Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.
17. Thượng Trân công chúa, em Anh Tông, chắt Thái Tông lấy Văn Huệ công Quang Triều, con Quốc Tảng, cháu
Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú chắt bác lấy nhau.
18. Trần Minh Tông, con Anh Tông, cháu Nhân Tông, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh, con gái lớn Huệ Vũ vương
Quốc Chẩn. Chẩn là em Anh Tông: con chú con bác lấy nhau.
19. Minh Tông gả Huy Chân, con Nhân Tông, cho Uy Giản hầu năm 1317. Mẹ Huy Chân là Trần Thị Thái Bình,
cung tần của Thượng hồng Anh Tơng.
20. Năm 1318 Minh Tơng gả Thiên Chân Trưởng cơng chúa cho Huệ Chính vương.
21. Năm 1337 Hiến Tông, con Minh Tông, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc vương Đại Niên.
22. Năm 1342, Thiên Ninh cơng chúa, con Minh Tơng, lấy Hưng/Chính Túc vương Kham.
23. Năm 1349, Dụ Tông, con Minh Tông, lấy con gái thứ tư Huệ Túc vương là YÙ Từ Nghi Thánh.
25. Huy Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy tông thất Nhân Vinh. Sau Nhân Vinh bị Dương Nhật Lễ giết, Nghệ
Tông là anh, lại gả Huy Ninh cho Quý Ly.
26. Duệ Tông, con Minh Tông và Lê Đôn Từ, cô Quý Ly, lấy Hiền Trinh là em họ Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
27. Duệ Tông lấy con gái Thái bảo Trần Liêu làm phi.
28. Năm 1375 Duệ Tông gả con là Trang Huy công chúa cho Nguyên Dẫn, con Cung Chính vương. Cung Chính
vương và Duệ Tơng đều là con Minh Tông, tức con chú con bác lấy nhau.
29. Thiên Huy hay Thái Dương công chúa, con Nghệ Tông, lấy Phế Đế là con Duệ Tông. Nghệ Tông và Duệ Tông
30. Sau khi Phế Đế chết, vợ là Thái Dương tư thơng với Ngun Un, con Cung Tín vương Thiên Trạch, em Nghệ
Tông: con chú con bác tư thơng với nhau.
31. Năm 1393, thượng hồng Trần Nghệ Tơng giận Thái Dương, đem gả Thái Dương cho Nguyên Hãng là em
Nguyên Uyên để làm nhục.
32. Tuyên Huy công chúa, con Duệ Tông, lấy Quan Phục Đại vương Húc, con Nghệ Tông, giống trường hợp Thái
Dương lấy Trần Phế Đế.
33. Quý Ly gả Trang Huy công chúa, con Tông thất Nhân Vinh (bị Nhật Lễ giết) cho Mộng Dữ, con Trần Nguyên
Đán, cháu bốn đời của Quang Khải.
34. Thuận Tông, con út Nghệ Tông, lấy Thánh Ngẫu công chúa là con gái lớn của Hồ Quý Ly và Huy Ninh công
chúa. Huy Ninh là em Nghệ Tông, tức là con cô con cậu lấy nhau. Thuận Tông lại là cháu nội của Đôn Từ, cô của
Quý Ly, lấy con gái Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng gặp "họa ngoại thích"
và mất về tay ngoại thích.
Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý vào đầu thế kỷ 13 là cần thiết và kịp thời cho sự
phục hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà Lý. Nếu khơng có sự xuất hiện của nhà Trần,
nước Đại Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng) bên trong và họa Mơng - Ngun
bên ngồi như các nước Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của
Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nịng cốt lại
chính là các tướng trong hồng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần,
ngồi lịng u nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm
dịng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần
Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt
Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản...[5]
cả đại lục Á-Âu mà khơng lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch
và vị trí địa lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh
đuổi Mông-Nguyên của nhà Trần.
Nhìn chung, triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và
chống Mông-Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đến Hiến Tơng (có thượng hồng Minh Tơng) là thời kế tục,
thời thứ ba từ Dụ Tơng (sau khi thượng hồng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là thời suy tàn.
Để tránh "họa ngoại thích", nhà Trần chủ trương chính sách "hơn nhân nội tộc". Chính sự nhà Trần bắt đầu suy
từ đời vua Dụ Tông xa hoa hưởng lạc, xa lánh lương thần, tin dùng gian thần. Nhưng đó đơn giản chỉ là sự
hưởng thụ như Lý Cao Tông trước đây mà thôi. Tới các đời sau, đặc biệt là Trần Nghệ Tông và Trần Phế Đế
(Đế Hiện), có hàng loạt biểu hiện của sự mê muội, u tối của người cầm quyền. Trần Nghệ Tông tin dùng một
mình Lê Quý Ly, nghe lời Quý Ly sát hại hàng loạt con cháu, người thân tộc họ Trần. Nhiều hành động của
Nghệ Tông như thể để "dọn đường" cho Quý Ly cướp ngôi nhà Trần sau này. Thời kỳ Nghệ Tông trở về sau,
vấn đề chống Chiêm Thành là lớn nhất, vậy mà một Quý Ly luôn chạy dài trước những đợt tấn công của địch,
không hề lập được công bao giờ, lại vẫn được tin dùng đến như vậy. Còn Đế Hiện đối với Đỗ Tử Bình, gian
thần xảo trá gây ra cái chết của cha mình (Duệ Tơng), khơng những khơng trừng trị đích đáng mà cịn nhiều lần
thăng lên làm đại thần cấp cao hơn trước, khi chết (1382) còn được truy tặng gia phong! Những hành động tối
Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài
Nếu thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn
một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Mông-Nguyên xưa kia, một cách thảm
hại bấy nhiêu. Tới lúc bị Chiêm Thành xâm lấn, khơng hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra
chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ Lê). Nếu trong
tơng thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù Q Ly có manh tâm cũng khơng thể
tính chuyện cướp ngơi. Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ
Tông đã khơng gượng dậy được nữa. Đó chính là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy
ngôi nhà Trần[7].
Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Trang sử về nhà Trần
trong sử sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều bài học cho đời sau.
Thái Tơng
Kiến Trung
(1226-1232)
Thiên Ứng Chính
Bình
(1232-1251)
Ngun Phong
(1251-1258)
Trần Cảnh 1218-1277 1226-1258Ngun Hiếu Hồng đế Chiêu Lăng
Thánh Tơng
Thiệu Long
(1258-1272)
Bảo Phù
(1273-1278)
Trần Hoảng 1240-1291 1258-1278Tun Hiếu Hồng Đế Dụ Lăng
Nhân Tơng
Thiệu Bảo
(1278-1285)
Trùng Hưng
(1285-1293)
Trần Khâm 1258-1308 1278-1293Duệ Hiếu Hồng Đế Đức Lăng
Anh Tông Hưng Long Trần Thuyên 1276-1320 1293-1314Nhân Hiếu Hồng Đế Thái Lăng
Minh Tơng
Đại Khánh
Trần Mạnh 1300-1357 1314-1329Văn Triết Hồng Đế Mục Lăng
Hiến Tơng Khai Hựu Trần Vượng 1319-1341 1329-1341 ? Xương An Lăng
Dụ Tông
Thiệu Phong
(1341-1357)
Đại Trị
(1358-1369)
Trần Hạo 1336-1369 1341-1369 ? Phụ Lăng
Hôn Đức
Công Đại Định Dương Nhật Lễ ?-1370 1369-1370 tiếm ngôi bị giết
Nghệ Tông Thiệu Khánh Trần Phủ 1321-1394 1370-1372 Anh Triết Hoàng Đế Nguyên Lăng
Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1361-1388 1377-1388 phế làm Linh Đức Vương An Bài Sơn
Thuận Tông Quang Thái Trần Ngung 1378-1399 1388-1398 ép nhường ngôi và ép chết Yên Sinh Lăng
Thiếu Đế Kiến Tân Trần An 1396-? 1398-1400
bị Hồ Quý Ly cướp ngôi
?
Bản đồ mô tả các thế hệ vua và quý tộc nhà Trần
1
<b>Trần Thái Tông</b>
1226 - 1258
2
1258 - 1278
3
<b>Trần Nhân Tông</b>
1278 - 1293
4
<b>Trần Anh Tông</b>
1293 - 1314
5
<b>Trần Minh Tông</b>
1314 - 1329
8
<b>Trần Nghệ Tông</b>
1370 - 1372
6
<b>Trần Hiến Tông</b>
1329 - 1341
7
<b>Trần Dụ Tông</b>
1341 - 1369
9
<b>Trần Duệ Tông</b>
1373 - 1377
11
<b>Trần Thuận Tông</b>
1388 - 1398
10
<b>Trần Phế Đế</b>
1377 - 1388
12
<b>Trần Thiếu Đế</b>