Nghị luận về ý kiến bàn về văn học
I. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
NGHỊ LUẬN MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
1. Tìm hiểu đề
- Đọc kĩ đề bài
- Gạch chân từ quan trọng
2. Phân tích đề
- Xác định các yếu tố sau:
+ Tác phẩm, nhóm tác phẩm hoặc giai đoạn văn học cần nghị luận
+ Vấn đề cần nghị luận
+ Phạm vi kiến thức cần huy động
+ Yêu cầu cụ thể về mặt hình thức
3. Lập dàn ý
- Mở bài:
+ Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu tác giả tác phẩm
+ Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến.
- Thân bài
+ Giải thích, làm rõ vấn đề:
Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến.
Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến.
Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì, có ý nghĩa như thế nào?
+ Bàn bạc, khẳng định vấn đề:
Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai?
Lí giải tải sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy?
Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc
sống? Phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học.
- Mở rộng, nâng cao: Đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học
4. Viết bài
5. Đọc sửa
II. BÀI TẬP CỦNG CỐ
Trang 1
Bài 1: Có ý kiến cho rằng: Sơng Hương là bản tình ca ca ngợi về thiên nhiên và văn
hóa xứ Huế. Qua phân tích tùy bút Ai đã đặt tên cho dịng sơng? (Hồng Phủ Ngọc
Tường), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Gợi ý làm bài:
a. Khái quát về tác giả, tác phẩm
b. Phân tích tác phẩm
- Vẻ đẹp của sơng Hương trong dịng chảy tự nhiên:
+ Sơng Hương ở thượng nguồn Trường Sơn hùng vĩ.
+ Sông Hương về đến ngoại vi thành phố.
- Sông Hương với vẻ đẹp văn hóa Huế.
+ Là bà mẹ phù sa ơm ấp, che chở cho một vùng văn hóa, xứ sở.
+ Vẫn trong chi lưu của nó, sơng Hương làm nên một nét văn hóa rất riêng cho Huế. Đó
là những đêm hội hoa đảng, là những tiếng đàn thả theo dư âm của sóng nước,...
+ Từ lâu nay, tà áo dài tím và chiếc nón bài thơ là những hình ảnh quen thuộc gắn bó
với xứ Huế mơ màng.
+ Hơn cả một dịng sơng, Hương giang cịn là một dịng thi ca đem lại nguồn cảm hứng
bất tận cho các thi nhân.
- Những nét đặc sắc về nghệ thuật kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Bài 2: Về nhân vật thị trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là
người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh. Nhưng cũng có ý kiến khác lại
nhấn mạnh: Thị là người giàu nữ tính và khát vọng. Từ cảm nhận của mình về nhân vật,
anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Gợi ý làm bài:
a. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và ý kiến được đưa ra
b. Bình luận hai ý kiến:
- Cả hai ý kiến này đều sâu sắc mang đến cho người đọc cái nhìn đúng đắn về người vợ
nhặt - nạn nhân của nạn đói năm 1945.
- Ý kiến thứ nhất:
+ Đi suốt chiều dài của tác phẩm đúng là người vợ nhặt là “người phụ nữ nghèo, cùng
đường và liều lĩnh". Thị là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, bấp bênh. Dưới
Trang 2
ngòi bút của Kim Lân, người vợ nhặt là người phụ nữ không tên không tuổi, không quê
hương, không quá khứ.
+ Thị bị cơn bão nạn đói thổi cho phiêu dạt đến miền đất này, cuộc sống lê la tháng
ngày khơng biết đến ngày mai nếu như khơng có cái lần anh Tràng hò một câu chơi cho đỡ
nhọc ấy.
+ Phía sau tình cảnh trơi dạt, vất vưởng, người “vợ nhặt” lại có một lịng ham sống
mãnh liệt. Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ
lòng khao khát được sống. Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự
sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình.
-
Ý kiến thứ hai:
+ Phía sau hình ảnh một kẻ “cùng đường và liều lĩnh” là một người phụ nữ giàu nữ tính,
giàu lịng tự trọng và có khát vọng sống mãnh liệt.
+ Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách cùa thị. Ấy là lúc thị về đến nhà
Tràng, nhìn thấy ngơi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi
cỏ dại, thị nén một tiếng thở dài. Chính hạnh phúc, lòng nhân ái đã làm cho người ta đổi
thay, vui vẻ, tự tin vượt lên cái tăm tối của thực tại, vươn tới những ngày tươi sáng, tốt
đẹp.
+ Đến lúc này người đọc chợt nhận ra, bên trong vẻ chao chát, chòng lỏn, thị lại là một
người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan và cũng giàu lịng tự trọng.
+ Trong bữa cơm đầu đón nàng dâu: Dù bữa ăn chỉ có niêu cháo lõng bõng, mỗi người
được lưng hai bát đã hết nhẵn, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.
-Đánh giá:
+ Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau để hoàn thiện vẻ đẹp của
nhân vật.
+ Viết về sự đổi thay trong tâm tính của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca
những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo.
Bài 3: về đoạn thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Trang 3
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gằm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xơi.
(Tây Tiến, Quang Dũng)
Có ý kiến cho rằng: Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng song
cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt. Ý kiến khác lại khẳng định: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài
về người chiến sĩ Tây Tiến kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa.
Từ cảm nhận của mình về đoạn thơ, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về hai ý kiến trên?
Gợi ý làm bài:
a. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và ý kiến
b. Phân tích nhận định
- Nhận định thứ nhất: Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng
song cũng đầy dữ dội khắc nghiệt:
+ Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng
+ Thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt
Khẳng định với con mắt thi, nhạc, họa kết hợp với cảm hứng bi tráng, lãng mạn, Quang
Dũng đã tái hiện sinh động một bức tranh nghệ thuật ngôn từ về thiên nhiên Tây Bắc với
sự kết hợp của nhiều nét vẽ: vừa thơ mộng, trữ tình; vừa hùng vĩ, dữ dội.
- Nhận định thứ hai: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài về người chiến sĩ Tây Tiến kiêu
hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, tài hoa
+ Họ phải đối mặt với bao khó khăn, thử thách, mất mát, hi sinh:
Trang 4
+ Tâm hồn lãng mạn, hào hoa:
Như vậy, người chiến binh hiện lên vừa kiêu hùng, bi tráng vừa lãng mạn, hào hoa (lí
giải từ xuất thân của họ)
c. Đánh giá chung
- Hai nhận định đều khái quát được nội dung cơ bản của đoạn thơ.
- Cả hai nhận định đều cho thấy cái nhìn đầy đủ, rõ nét về thiên nhiên Tây Bắc và người
lính Tây Tiến dội về trong nỗi “nhớ chơi vơi” của nhà thơ khi ông đã rời xa Tây Tiến, rời
xa sông Mã.
- Đoạn thơ là sự phối hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và bút pháp lãng mạn.
Bài 4: Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho
rằng: "Người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước”. Ý kiến khác thì nhấn
mạnh “Hình tượng người lính mang vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống
Pháp”.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/ chị hãy bình luận các ý kiến trên.
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện.
Bài 5: Có ý kiến cho rằng: ở Tnú khơng có vấn đề nhận đường, tìm đường như nhân vật
A Phủ. Câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại.
Anh/ chị hãy so sánh hai nhân vật A Phủ (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài) và nhân vật Tnú
(Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành) để thấy được những phẩm chất mới mẻ ở Tnú.
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện.
Bài 5: Nhà văn Kim Lân tâm sự:
Rất lạ những con người khốn cùng chẳng hề từ bỏ lòng ham sống, ham hạnh phúc.
Trong cái đói người ta vẫn chỉ nghĩ tới sung sướng. Vì vậy họ lấy nhau. Những người đói
họ khơng hề nghĩ tới cái chết mà nghĩ tới sự sống.
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ điều đó qua truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn.
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện.
II. HỆ THỐNG BÀI TẬP TỰ LUYỆN
Trang 5
Bài 1: Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được
trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn... để tìm kiếm chất vàng
của thiên nhiên cùng thứ vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn của những con người lao
động và chiến đấu trên miền núi sơng hùng vĩ và thơ mộng đó.
(Ngữ văn 12, tập 2)
Phân tích đoạn trích “người lái đị sơng Đà” để thấy được vẻ đẹp của “chất vàng của
thiên nhiên” và “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của miền Tây Bắc mà nhà văn nói đến.
Bài 2: Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ơm lấy đảo Cồn Hến
quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa
màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực
nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dịng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để
gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vịnh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là
chỗ chia tay dõi xa ngồi mười dặm trường đình. Riêng với sơng Hương, vốn đang xuôi
chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một
cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người nơi đây; và để nhân cách hoá nó lên,
tơi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình u. Và giống như nàng
Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sơng Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của
nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn
nhớ...”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là
tấm lòng người dân nơi Châu Hố xưa mãi mãi chung tình với q hương xứ sở.
1. Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng nhiều lần trong đoạn trích. Chỉ ra tác dụng của biện
pháp tu từ đó.
3. Cảm nhận về vẻ đẹp sơng Hương qua đoạn trích trên.
Bài 3:
Hai người lặng lẽ rẽ xuống một con đường nhỏ. Con đường sâu thăm thẳm, luồn giữa
hai bờ tre cao vút. ở đây vắng vẻ, thoải mái. Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ
mà chẳng biết nói thế nào. Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia đi bên
người đàn bà. Thị cũng khơng nói gì, hai con mắt tư lự nhìn ra phía trước. Tiếng gió trên
bờ tre rì rào và tiếng lá khơ kêu sào sạc dưới bàn chân.
Trang 6
Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chè, tăm tối hằng ngày, quên
cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lịng
hắn bây giờ chỉ cịn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ
lắm, chưa từng thấy ở người đàn ơng nghèo khổ ấy, nó ơm ấp, mơn man khắp da thịt
Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.
(Vợ nhặt, Kim Lân)
1. Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào.
2. “hắn” và “thị” ở đây là ai? Trong tác phẩm nào? Hắn và thị đã được tác giả đặt vào
tình huống nào?
3. Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật “hắn” qua đoạn trích này.
Bài 4:
Bấy giờ Mỵ ngồi xuống giường, trơng ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nay
Mỵ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mỵ trẻ,
Mỵ vẫn cịn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi
A Sử với Mỵ khơng có lịng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong
tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chì thấy nước
mặt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.
Anh ném pao Em không bắt Em không yêu
Quả pao rơi rồi...
(Vợ chồng A Phủ, Tơ Hồi)
- Từ đoạn trích trên, lí giải tại sao nhân vật Mỵ lại “muốn đi chơi”?
- Khi ở một khơng gian tù túng, trói buộc, thứ giúp cho Mỵ giao tiếp với thế giới bên
ngoài là những âm thanh của tiếng khèn, câu hát gọi bạn. Viết bài văn ngắn phân tích vai
trị của âm thanh hội hè với việc đánh thức khát vọng tuổi trẻ trong con người Mỵ.
Bài 5:
Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó
rồi lại bng ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc này
vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên
qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt...
(Người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu)
Trang 7
1. Nhân vật “người đàn bà”, “người đàn ông”, “thằng nhỏ” là là những ai? Có mặt
trong tác phẩm nào?
2. Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh trong đoạn văn trên.
3. Viết bài văn cảm nhận về người đàn bà trong tác phẩm.
Bài 6:
- “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không
phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ
mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó được
tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!”;
- “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác khơng phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi
cách để lấn át ta... Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất
mình? “Chẳng cịn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là khơng cịn
cách nào khác? Khơng cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”
1. Đây là những lời của ai nói với ai, trong tác phẩm nào? Các lời này đã được viết nên
bởi thủ pháp nghệ thuật nào?
2. Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm, tư tưởng nhà văn gửi gắm qua nhan đề là gì?
3. Phân tích ý nghĩa các lời trên.
Bài 7: Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình, một nhân vật đã nói: “Chuyện
gia đình ta nó cũng dài như sơng, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc để ghi vào
đó. Trăm sơng đổ về một biển, con sơng của gia đình ta cũng chảy vè biển mà biển thì
rộng lắm”.
- Đó là lời nhân vật nào? Nói với ai?
- Hàm ý của lời nói đó là gì? Chứng minh rằng “chuyện gia đình đó cũng dài như sơng”.
Bài 8: Trong Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi), sau khi cắt dây trói cho A Phủ, “Mị cũng chạy
vụt ra. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy chạy xuống lưng dốc, Mị
nói thở trong hơi gió thốc lạnh buốt - A Phủ cho tôi đi”. Phần cuối truyện Vợ nhặt (Kim
Lân), khi nghe người vợ nhặt nói về những người dân đi cướp kho thóc Nhật, trong đầu
Tràng “vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng
trước có lá cờ đỏ to lắm".
Trang 8
Từ hai cảnh kết thúc truyện đó, chứng minh rằng: giá trị nhân đạo của tác phẩm biểu
hiện ở chỗ nhà văn đã tìm được những lối thốt, giải phóng thân phận khốn khổ của con
người trong xã hội cũ.
Đáp án
NGHỊ LUẬN Ý KIẾN VĂN HỌC
Bài 1:
Gợi ý làm bài:
1. Mở bài:
- Giới thiệu về Nguyễn Tuân và kí của Nguyễn Tuân: Dường như có mối liên hệ mật
thiết giữa Nguyễn Tuân - một nhà văn tài hoa uyên bác, ngông với đời - với thể loại tùy
bút, một thể loại cũng đòi hỏi ở nhà văn những phẩm chất như vậy. Nguyễn Tuân tìm đến
thể tài này cũng để thỏa chí sáng tạo, chất chơi ngơng của mình.
- Tùy bút Sông Đà là những trang viết đặc biệt thành cơng, có sự hịa quyện ở tâm hồn
tài năng của người nghệ sĩ và ở vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của chính dịng sơng Đà. Trong
bài tùy bút, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất vàng thiên nhiên Tây Bắc và chất vàng mười ở
con người Tây Bắc
2. Thân bài
a. Giải thích nhận định:
- Nhà văn dùng các thức so sánh, dùng chữ “vàng” với vẻ đẹp và sự quý giá của nó để
nói đến vẻ đẹp và quý giá của sơng núi và tài trí của con người lao động. Nếu vẻ đẹp của
thiên nhiên là chất vàng thì vẻ đẹp con người là “vàng mười”, tức là vẻ đẹp hoàn thiện,
hoàn mĩ.
- Nhưng vẻ đẹp và sự quý giá ấy khơng dễ tìm thấy, mà nó cịn đang náu mình trong
những vùng đất xa xơi, ở những thứ xù xì thơ ráp, ở trong đời sống hàng ngày. Điều đó địi
hỏi nhà văn phải là người biết tìm kiếm, sàng lọc và phát hiện ra vẻ đẹp ấy, và thể hiện nó
bằng tài năng của mình. Qua đó, tác phẩm là món quà dâng cho đời, góp nhặt những thứ
“vàng mười” đẹp đẽ của thiên nhiên đất nước và con người.
b. Phân tích:
- Trong tuỳ bút “Người lái đị sơng Đà” , Nguyễn Tn đã phát hiện ra “chất vàng” q
báu của một dịng sơng: “Đà giang độc bắc lưu” là một dịng sơng vừa hung bạo vừa trữ
Trang 9
tình, hai mặt tính cách vừa bổ sung, vừa hịa hợp làm nên vẻ đẹp riêng và sức sống mãnh
liệt của dịng sơng:
+ Tính cách hung bạo: những đoạn sơng đầy đá chìm và thác dữ. Nhưng bên cạnh sự
hung bạo ấy ta vẫn thấy ở sông Đà một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ
của thiên nhiên đất nước. Sự dữ dội của sông Đà: “đá bờ sông dựng thành”, “nước xô đá,
đá xô sóng, sóng xơ gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt năm”, “những hút nước xốy tít”... vẻ
đẹp dữ dội có phần man dại của sông Đà cho ta thấy cái quý giá của sức nước, những
“tuốc bin thuỷ điện”. Đến đây, chất vàng khơng chỉ cịn là hình tượng mà cịn có ý nghĩa
thực tế, đó là sức mạnh kinh tế, kĩ thuật của con người, biến sông Đà thành tài sản quý giá
đối với cuộc sống con người.
+ Tính cách trữ tình: Sơng Đà là dịng sơng thơ mộng, trữ tình: hình dáng mềm mại
“tn dải như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”. Đó
là hình ảnh so sánh đẹp, gợi cảm, con sơng như người con gái đẹp “áng tóc mun dài ngàn
ngàn vạn vạn sải...”; cảnh sắc hai bên bờ sông cũng rất đỗi thơ mộng “như bờ tiền sử”,
“hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”... Khơng gian mơ màng, thời gian huyền thoại
đem đến cho sông Đà diện mạo khác thường, đầy sức huyền ảo, hấp dẫn.
- Chất vàng mười - hình tượng người lái đị sông Đà. Nguyễn Tuân dùng Chữ “vàng
mười” để chỉ vẻ đẹp và giá trị của người lao động. Đồng thời, nhà văn cũng nhắn nhủ ý
tưởng rằng: phẩm chất, tài năng của con người cũng như thứ vàng mười phải được tôi
luyện, thử thách trong cuộc sống, giống như vàng được tôi luyện trong lửa vậy. vẻ đẹp con
người Tây Bắc càng q giá, đáng trân trọng vì đó là những con người lao động, đang hịa
mình vào với thiên nhiên, chinh phục và cải tạo thiên nhiên.
+ Người lái đị là người lao động vơ danh, như bao quần chúng khác. Nhưng con người
vô danh ấy nhờ lao động, nhờ chinh phục, chế ngự thiên nhiên hung bạo. Nguyễn Tuân
không tiếc lời miêu tả và ca ngợi người lái đị sơng Đà vừa hấp dẫn vừa hùng tráng cuộc
thuỷ chiến sông Đà. Trong những cuộc thuỷ chiến ấy, ông đị đã bằng sự dũng cảm, phi
thường, mưu trí đề vượt qua hết vòng vi này đến vòng vi khác, ông giành thế chủ động bởi
ông ông lái đã “nắm chắc binh pháp của thần sơng thần đá”. Ơng lái đò hiện lên với tư thế
một người chiến thắng, làm chủ thiên nhiên: cưỡi lên thác ghềnh của sông Đà như một lão
tướng dày dạn kinh nghiệm. Hình ảnh ơng đò như mang dáng dấp của những anh hùng
trong các thiên anh hùng ca thời cổ đại.
Trang 10
+ Chất “vàng mười” cịn thể hiện ở tài trí của con người: sự dũng cảm, gan dạ, tài ba,
dám đương đầu với thử thách. Tài nghệ của người cầm lái đạt đến độ điêu luyện, siêu
phàm: ơng “ghì cương lái miết phong nhanh vút vút cửa ngoài, cửa trong”, “thuyền như
một mũi tên tre”... ơng lái đị cũng giống như hệ thống nhân vật tài hoa của Nguyễn Tuân,
luôn xuất hiện với tư cách một nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình, ơng luồn tránh lái
lượn trên dịng nước hung bạo của Đà giang. Tài nghệ siêu phàm ấy chính là thứ “vàng
mười” ngời ngời toả sáng giữa thiên nhiên hùng vĩ của Tổ quốc.
3. Kết luận:
Khẳng định vẻ đẹp của hai hình tượng: thiên nhiên và con người Tây Bắc trong tùy bút
“người lái đị sơng Đà” thể hiện cái quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Cái đẹp hiển
hiện xung quanh thiên nhiên cuộc sống của chúng ta, nhà văn là người khám phá, phát
hiện và ngợi ca những vẻ đẹp đó.
Bài 2:
Gợi ý làm bài:
1. Biểu cảm
2. Nhân hóa. Biện pháp nhân hóa khiến sơng Hương trở nên một người bạn tâm tình,
mang đầy đủ cảm xúc, tính cách như con người. Vì thế sơng Hương như một sinh thể,
sống động, giầu tình cảm và gắn bó với con người
3. Học sinh tự viết đoạn.
Bài 3:
Gợi ý làm bài:
1. Phương thức biểu đạt tự sự
2. “hắn” là anh Tràng, “thị” là người phụ nữ theo Tràng về làm vợ, hai nhân vật trong
truyện Vợ nhặt (Kim Lân). “Hắn” gặp “thị” trong một tình huống khá trớ trêu: Tràng làm
phu kéo xe thóc cho liên đồn, một lần leo dốc mệt trót hị lên một câu ghẹo người bên
đường, có người phụ nữ chạy ra đẩy xe bò với anh. Sau lần gặp lại, người phụ nữ đó theo
Tràng về làm vợ
3. Học sinh viết đoạn văn: làm rõ tâm trạng, sự lúng túng của nhân vật Tràng khi có
người đàn bà ở trong nhà. Có sự ngỡ ngàng, có sự e ngại, xấu hổ. Nhưng trên hết, Tràng
cảm nhận rõ ánh sáng cửa đời anh, khiến anh tạm quên đi những tháng ngày trước mặt, chỉ
con niềm vui, sự hồi hộp, niềm hạnh phúc của người đàn ơng khi có gia đình.
Trang 11
Bài 4:
Gợi ý làm bài:
- Mị muốn đi chơi vì Mị thấy mình cịn trẻ, cịn nhiều khát vọng về tình u, về hạnh
phúc. Mị vẫn ln cảm nhận được âm của tiếng hát, tiếng sao bay lơ lửng ngoài đường.
- Có thể nói, Mị khơng có bạn bè, chị em để giao tiếp. Tất cả những gì Mị thấy được là
một ô cửa nhỏ, những âm thanh Mị nghe được là tiếng nói, tiếng chửi của A Sử. Vì thế, thế
giới bên ngồi tác động mà Mị có thể cảm nhận được là những âm thanh của lễ hội, tiếng
sao tiếng khèn của nam thanh nữ tú. Những âm thanh gợi nhắc kí ức của tuổi trẻ đầy sức
sống và đam mê của Mị, cho cô trờ lại những ngày tháng tươi đẹp. Mị muốn đi chơi để
thoát khỏi cảnh nô lệ tù túng ở nhà A Sử.
Bài 5:
Gợi ý làm bài:
1. “Người đàn bà” là người vợ , người đàn bà hàng chài; “hắn” là người chồng; “thằng
nhỏ” là Phác, con của họ. Ba nhân vật trên trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn
Minh Châu
2. Biện pháp so sánh “Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên
đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà”. Việc so
sánh thằng Phác như một viên đạn, thể hiện lịng căm thù, sự phẫn nộ của nó với người
cha vũ phu, đang đánh mẹ nó. Nó như muốn trút tất cả nỗi tực giận, căm thù với hành vi
của cha nó. Thằng nhỏ “như viên đạn xuyên qua tâm hồn người đàn bà” cho thấy sự đồng
cảm với nỗi đau cùa người mẹ, thấu hiểu và muốn chia sẻ.
3. Học sinh viết đoạn văn, chú ý: Cảm nhận về người đàn bà hàng chài: Một người phụ
nữa xấu, số phận bất hạnh được cưu mang nên mang ơn người đàn ông. Chị bị đánh đập
hàng ngày nhưng nhất định chịu đựng vì thương con, vì thói quen sinh hoạt của người dân
chài, thân phận nhỏ bé của những người phụ nữ làng chài...
Bài 6:
Gợi ý làm bài:
- Độc thoại nội tâm thứ nhất:
+ Hoàn cảnh xuất hiện: sau khi Hồn Trương Ba nhập vào xác hàng thịt, cuộc sống của
Trương Ba có nhiều xáo trộn. Trưởng Hoạt sang nhà, phê phán Trương Ba dạo này đổi tính
Trang 12
đổi nết; lí trưởng đến sách nhiễu vịi vĩnh; con trai Trương Ba càng ngày càng tỏ ra thực
dụng, hư hỏng...
+ Nội dung: Hồn Trương Ba “không muốn sống như thế này mãi”: khơng muốn sống
trong tình trạng vênh lệch, “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, hồn của mình mà
thân xác của người khác. Hồn Trương Ba chán và sợ “cái thân thể kềnh càng thô lỗ”, chỉ
muốn tách khỏi, rời xa thể xác: muốn có một đời sống độc lập để giữ sự thanh cao trong
sạch, không bị thể xác phàm tục chi phối, lấn át.
+ Nghệ thuật: những câu cảm thán ngắn dồn dập liên tiếp, những câu phủ định...
+ Khắc họa sự bức bối, đau khổ, ước nguyện khắc khoải của Hồn Trương Ba muốn
thoát ra khỏi thân xác mà hồn ghê tởm.
- Độc thoại nội tâm thứ hai:
+ Hoàn cảnh xuất hiện: sau cuộc đối thoại với những người thân như vợ, cháu gái, con
dâu. Mỗi người có cách nói, giọng nói riêng nhưng đều khiến Hồn Trương Ba nhận rõ
nghịch cảnh trớ trêu, càng làm cho ơng đau khổ hơn. Ơng hiểu những gì mình đã, đang và
sẽ có thể gây ra cho gia đình, những người thân là rất tệ hại mặc dù ông không hề muốn.
Sau cuộc đối thoại với người thân, kịch tính càng được đẩy lên cao trào, buộc Hồn Trương
Ba phải đưa ra quyết định, sự lựa chọn cuối cùng của mình. Hồn Trương Ba chỉ cịn lại trơ
trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, với những lời độc thoại đầy
chua chát và quyết liệt...
+ Nội dung: Hồn Trương Ba thừa nhận sự thắng thế, chi phối, lấn át của xác hàng thịt;
nhưng Hồn Trương Ba không chịu thua, không khuất phục và tự đánh mất mình; hồn
Trương Ba thách thức xác hàng thịt và quyết liệt khước từ đời sống do thể xác phàm tục
thô lỗ đem lại.
Bài 7:
Gợi ý làm bài:
1. Đây là lời nhân vật chú Năm nói với Chiến và Việt
2. Câu nói của chú Năm giầu hình ảnh, mang tính chất triết lí nhưng rất thực tiễn. Đó là
sự tiếp nối truyền thống yêu nước, yêu cách mạng từ đời này qua đời khác. Mỗi thành viên
trong gia đình chú Năm là một khúc sơng, để tạo nên dịng sơng truyền thống ấy: “Trăm
sơng đổ về một biển” hay cũng chính là dịng sơng truyền thống của gia đình chú Năm sẽ
đổ về một xã hội lớn hơn, hòa trong biển lớn cách mạng của đất nước.
Trang 13
- Những khúc sơng của dịng sơng truyền thống gia đình:
+ Ơng nội của Chiến và Việt bị lính tổng Phịng bắn vào giữa bụng, bà nội bị lính quận
Sơn hành hạ, đánh đập.
+ Gia đình chú Năm là một gia đình cách mạng, mang nặng thù nhà, nợ nước.
+ Ba của Chiến và Việt thì bị chặt đầu, má thì bị trái ca-nơng của Mỹ giết chết khi đi
đấu tranh ở Mỏ Cày, thím Năm thì bị giặc bắn bể xuồng chết khi đi rọc lá chuối...
+ Việt và Chiến
Bài 8:
Gợi ý làm bài:
Đề bài đưa ra hai chi tiết nằm ở cuối hai tác phẩm Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ. Mỗi tác
phẩm đều có cách thể hiện qua cái nhìn riêng tư và bối cảnh câu chuyện khác nhau, tuy
nhiên cả hai tác phẩm đều đề cập đến vấn đề chung là đổi đời của nhân dân nhờ cách
mạng. Để dẫn đến kết thúc đó, người viết cần kể lại tóm tắt cốt truyện (cuộc đời, số phận
của hai cặp vợ chồng), diễn biến logic của sự kiện để dẫn đến cái kết: Trong Vợ chồng A
Phủ, khi lên đến Phiềng Sa thì đã đứng lên cùng với người dân quê hương giải phóng cuộc
đời, xây dựng quê hương ấm no; còn vợ chồng Tràng trong Vợ nhặt, trong bữa ăn ngày đói
đã hình dung về đồn người đi phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo, đó cũng chính là tư
tưởng giải phóng nhen nhóm trong đầu những người dân có số phận nghèo khổ. Người
viết cũng cần lí giải cách viết, cách kết thúc tác phẩm phụ thuộc vào bối cảnh sáng tác tác
phẩm, tinh thần nhân đạo của nhà văn.
Đề bài hỏi về kết thúc của hai tác phẩm hs nên phân tích từng tác phẩm cụ thể, sau đó
có phần tổng hợp, so sánh.
1. Mở bài
Học sinh có thể mở bài bằng cách giới thiệu hai tác phẩm sau đó nêu giá trị chung (tính
nhân đạo) cần chứng minh. Học sinh cũng có thể mở đầu bằng cách:
- Nêu cách kết thúc của hai tác phẩm: người dân nghèo đã tìm thấy tia sáng cho cuộc
đời mình, thể hiện cách nhìn đầy nhân hậu của nhà văn. Nêu nhận định về giá trị nhân đạo
của tác phẩm và vấn đề cần chứng minh
2. Thân bài:
- Giải thích nhận định về giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học, trong đó nhấn mạnh
việc “tìm được những lối thốt, giải phóng thân phận khốn khổ của con người trong xã hội
Trang 14
cũ” là một biểu hiện rõ nét, tiêu biểu (cùng với nội dung ca ngợi phẩm chất đạo đức con
người; phê phán tố cáo xã hội bất công vô nhân đạo).
- Giới thiệu về hai tác phẩm: Kim Lân viết không nhiều nhưng đã đạt được những thành
công đáng kể, đặc biệt là về đề tài nông thôn “nhà văn một lòng đi về với đất”. Vợ nhặt
của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí - 1962 là tác phẩm đặc sắc viết về nạn đói khủng
khiếp năm Ất Dậu. Trên cái nền tăm tối ấy, nhà văn đã miêu tả cảnh ngộ của những con
người nghèo khổ ở xóm ngụ cư với cái nhìn nhân hậu, phát hiện ở họ vẻ đẹp của tình
người và niềm hi vọng vào cuộc sống tương lai.
a. Vợ nhặt tái hiệu một bức tranh cuộc sống bi thảm. Nạn đói hồnh hành dữ dội. Người
chết như ngả rạ. Người sống thì lay lắt bên bờ vực thẳm. Thế nhưng, qua các nhân vật
chính trong tác phẩm, tác giả lại cho ta thấy rằng: ngay trong hoàn cảnh khốn cùng, những
con người này vẫn khơng mất đi những nét đẹp vốn có của họ.
- Tình huống Tràng nhặt được vợ thể hiện tình người đẹp đẽ trong một hồn cảnh đói
nghèo, cùng quẫn: cưu mang người cùng cảnh ngộ (chi tiết Tràng mời người đàn bà một
bữa bánh đúc rồi chấp nhận việc chị ta theo mình về nhà dù cảm thấy hơi “chợn”); nảy
sinh những tình cảm mới mẻ, những cảm giác lạ lùng.
- Sau tình huống nhặt vợ, niềm hi vọng vào cuộc sống đã thể hiện rõ rệt ở Tràng: vui
sướng trước hạnh phúc bất ngờ (phân tích ý nghĩa chi tiết mua dầu về thắp, ý nghĩa những
cái cười của Tràng: bật cười, cười tươi...); gắn bó hơn với gia đình, nghĩ về trách nhiệm
của bản thân (thấm thìa cảm động, vui sướng phấn chấn, thấy mình nên người và nhận ra
bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này...); nghĩ tới sự đổi thay của cuộc sống dù chưa ý
thức đầy đủ (tháng trong đầu óc Tràng hình ảnh đồn người đói kéo nhau đi trên đê với lá
cờ đỏ phấp phới...).
- Bà cụ Tứ vừa xót xa vừa thương cảm cho cảnh ngộ các con. Nhưng chính người mẹ
gần đất xa trời lại là người bộc lộ niềm hi vọng mãnh liệt vào cuộc sống. Bà động viên các
con bằng kinh nghiệm sống, bằng triết lí dân gian (Ai giầu ba họ ai khó ba đời...) hướng
tới ánh sáng (vui khi thấy Tràng thắp lên ngọn đèn trong căn nhà...); thu xếp lại nhà cửa
cho quang quẻ, nề nếp với ý nghĩ đời sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá lên; bàn định về
tương lai, khơi đậy trong con cái một niềm tin (nghĩ tới việc kiếm tiền mua đơi gà cho nó
sinh sơi nảy nở, hi vọng về đời con cháu mình rồi sẽ sáng sủa hơn...).
Trang 15
- Người vợ nhặt cũng thể hiện sự trỗi dậy của niềm hi vọng: nhen nhóm, vun đắp tổ ấm
hạnh phúc (cùng mẹ chồng sắp xếp, dọn dẹp nhà cửa...); thoáng nghĩ tới một sự thay đổi
(chuyện ở mạn Thái Ngun, Bắc Giang, người ta khơng chịu đóng thuế, cịn phá kho thóc
của Nhật chia cho người đói...).
- Thơng qua tình huống Tràng nhặt vợ, Kim Lân khơng chỉ tái hiện bức tranh thê lương
của cuộc sống, mà còn phát hiện được những phẩm chất cao quý của con người trong cảnh
ngộ bi thảm. Qua đó, nhà văn bộc lộ cái nhìn hiện thực sắc sảo và tình cảm nhân đạo sâu
sắc.
b. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ in trong tập Truyện Tây Bắc (1953) là kết quả một
chuyến đi thực tế Tây Bắc của Tơ Hồi. Truyện kể về cuộc đời Mị và A Phủ ở Hồng Ngài
từ những ngày đen tối cho đến những ngày tươi sáng, đầy hy vọng.
- Nhân vật Mị được tác giả tập trung khắc họa với sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ, vượt
lên kiếp sống đầy đau khổ, tủi nhục, hướng tới cuộc sống mới tốt lành. Các ý chính trong
nhận xét của Tơ Hồi: nêu rõ cuộc sống cực nhục của người dân nghèo miền núi; đề cao
bản chất tốt đẹp và khẳng định sức sống bất diệt của con người.
- Bên trong hình ảnh “con rùa ni trong xó cửa” vẫn đang còn một con người khát
khao tự do, khát khao hạnh phúc. Gió rét dữ dội cũng khơng ngăn được sức xuân tươi trẻ
trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâm hồn Mị. Mị uống rượu để quên hiện
tại đau khổ. Mị nhớ về thời con gái, Mị sống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ.
Trong khi đó tiếng sáo (biểu tượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng
ngoại cảnh đã đi sâu vào tâm tư Mị.
- Mị thắp đèn như thắp lên ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối. Mị chuẩn bị đi chơi
nhưng bị A Sử trói lại; tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng và hành động như một người
tự do, Mị vùng bước đi.
- Từ vô cảm đến đồng cảm: những đêm trước nhìn thấy cảnh A Phủ bị trói đứng Mị
hồn tồn dửng dưng, vơ cảm. Đêm ấy, dịng nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi
sinh lòng thương người trong Mị (gợi cho Mị nhớ về q khứ đau đớn của mình, Mị thấy
thương xót cho người cùng cảnh ngộ).
- Nhận ra sự độc ác và bất cơng: từ cảnh ngộ của mình và những người đàn bà bị hành
hạ ngày trước, đến cảnh đau đớn và bất lực của A Phủ trước mắt, Mị nhận thấy chúng nó
thật độc ác, thấy người kia gì mà phải chết.
Trang 16
- Hành động cứu người: Mị nhớ lại đời mình, lại tưởng tượng cảnh A Phủ tự trốn thoát.
Nghĩ thế cũng khơng thấy sợ. Tình thương và lịng căm thù đã giúp Mị có sức mạnh để
quyết định cứu người và liều mình cắt dây trói cứu A Phủ.
- Tự giải thốt cuộc đời mình: đối mặt với hiểm nguy Mị cũng hốt hoảng...; lòng ham
sống mãnh liệt đã thúc giục Mị chạy theo A Phủ.
- Ngay sau đó, Mị đứng lặng trong bóng tối với bao giằng xé trong lòng. Nhưng rồi khát
vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, đến với tự do.
� Nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức vươn lên mạnh
mẽ của con người từ trong hoàn cảnh tăm tối hướng tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do.
Thể hiện giá trị nhân đạo: phát hiện và miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do của
người lao động bị áp bức trong xã hội cũ.
c. Lí giải sự giống nhau và chỉ ra những điểm khác nhau trong cách kết thúc đó: Với Vợ
nhặt, việc Tràng nhớ lại hình ảnh những người cướp kho thóc Nhật là sự giải phóng trong
tâm tường, trong ước mơ của họ. Đó là sự dồn nén nghèo khổ đằng đẵng trong một thời
gian dài, mà tia sáng về sự giải phóng mới len lỏi trong suy nghĩ của họ. Nhưng rõ ràng,
điều đó đã đem lại cho họ những hi vọng trong tương lai. Còn trong Vợ chồng A Phủ, việc
Mị cứu A Phủ cho thấy sức sống tiềm tàng của nhân vật. Hành động đó khơng phải bộc
phát mà là hệ quả của một q trình, chứng minh rằng có áp bức thì có đấu tranh và họ đã
chủ động tìm đến Phiềng Sa đi theo ánh sáng của cách mạng. Đó là cách kết thúc thể hiện
phản ứng tự giác của con người, muốn thoát khỏi chế độ phong kiến miền núi đầy đọa con
người.
3. Kết luận:
Khẳng định giá trị nhân đạo cao cả của hai tác phẩm trong việc thể hiện số phận con
người trong xã hội cũ.
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Rèn luyện kỹ năng mở bài, kết bài trong văn nghị luận
I. LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỞ BÀI, KẾT BÀI TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Mở bài
Trang 17
- Cách viết
♦ Mở bài trực tiếp
♦ Mở bài gián tiếp
- u cầu
♦ Thơng báo chính xác, ngắn gọn về đề tài.
♦ Hướng người đọc (người nghe) vào đề tài một cách tự nhiên, gợi sự hứng thú với vấn
đề được trình bày trong văn bản.
2. Kết bài
- Cách viết
♦ Kết bài bằng cách tóm lược
♦ Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao.
- u cầu
♦ Thơng báo về sự kết thúc của việc trình bày đề tài, nêu đánh giá khái quát của người
viết về những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề.
♦ Gợi liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn.
II. BÀI TẬP CỦNG CỐ
Bài 1: Cho đề bài sau:
Lịng trắc ẩn chính là sự thúc giục của hành động.
(Hãy để mọi chuyện đơn giản, Tolly Burkan)
Từ đoạn trích trên, anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của lòng trắc ẩn trong cuộc sống
hiện đại?
Anh/chị hãy viết 3 mở bài cho đề bài trên.
Gợi ý trả lời:
Học sinh có thể tham khảo một số cách viết mở bài sau:
1. Lòng trắc ẩn là một phẩm chất quan trọng đối với mỗi con người, nó giúp con người trở
nên người hơn, vượt qua những ích kỉ, hẹp hòi của bản thân. Nhận định về lòng trắc ẩn,
Tolly Burkan từng cho rằng: “Lịng trắc ẩn, chính là sự thúc giục của hành động”. Nhận
định ngắn gọn nhưng ẩn chứa những triết lí sâu xa về lẽ sống.
2. Tố Hữu từng viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”, sự cho đi dường như là một
nét đẹp đáng trân trọng nhất mà con người có thể hướng tới nhau. Sự cho đi đôi khi không
phải là những hành động quá to tát, phải hi sinh hay đánh mất đi điều gì của bản thân, mà
Trang 18
đơn giản là biết mở rộng lịng mình để thương người, hay tha thứ cho người khác. Điều
này được gọi là lịng trắc ẩn, như Tolly Burkan đã từng nói: “Lịng trắc ẩn, chính là sự thúc
giục của hành động”.
3. Cuộc sống tươi đẹp hay không là ở những sự san sẻ của những người giàu lòng nhân ái,
giàu sự trắc ẩn. Lịng trắc ẩn khơng chỉ là hạt mầm của niềm tin, niềm hi vọng đối với mỗi
cá nhân gặp khó khăn, mà nó cịn là nguồn nước tưới mát tâm hồn cho những người biết
cho đi. Lòng trắc ẩn khiến con người biết hành động sao cho phải, sao cho người hơn.
Tolly Burkan đã từng nói: “Lịng trắc ẩn, chính là sự thúc giục của hành động”.
Bài 2: Cho đề bài sau:
Nhà giáo Trần Đồng Minh nhận xét về tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân:
“Nhà văn dùng Vợ nhặt làm đòn bẫy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu
chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”.
(Nhà văn trong nhà trường: Kim Lân, NXB Giáo dục)
Trình này cảm nhận của anh/chị về “bóng tối” và “những tia sáng ấm lòng” trong truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Viết mở bài cho đề bài trên.
Gợi ý trả lời:
Học sinh có thể mở bải trực tiếp hoặc gián tiếp. Dưới đây là một mở bài trực tiếp:
Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước
Cách mạng và sau Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim
Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn Vợ nhặt.
Nhận xét về truyện ngắn Vợ nhặt, có ý kiến cho rằng: “Nhà văn dùng Vợ nhặt làm đòn bẩy
để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ đó
đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”. Ý kiến đã khẳng định giá trị của tác phẩm đối với
người đọc nhiều thế hệ.
Bài 3: Bạo lực học đường đang trở thành một trong những vấn đề được gây nhiều nhức
nhối trong xã hội ngày nay. Là một học sinh, anh/chị có suy nghĩ gì về hiện tượng này?
Trình bày bằng đoạn văn khoảng 200 từ. Anh/chị hãy xây dựng kết bài cho đề bài trên.
Gợi ý trả lời:
Học sinh có thể tham khảo kết bài sau:
Trang 19
Tuổi học trò là khoảng thời gian đẹp nhất đối với mỗi con người, đó khơng chỉ là
khoảng thời gian tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà cịn cả trau dồi về phẩm chất đạo
đức, xây đắp những kỉ niệm đẹp. Nó sẽ đẹp hơn nếu mỗi cá nhân luôn ý thức xây dựng
một môi trường lành mạnh, khơng có bạo lực học đường, khơng có tiếng khóc hay sự đánh
đập. Tương lai của đất nước không chỉ nằm ở các em học sinh chăm ngoan, thân thiện,
tình cảm, nó cịn nằm ở những người thầy, người cơ tận tâm với học trò, trách nhiệm với
từng nét phấn, đường kẻ trong đời đứa trẻ.
Bài 4: “Tôi khao khát làm được những điều vĩ đại và cao cả, nhưng trách nhiệm chính
của tơi là làm được những điều nhỏ nhặt như thể chúng vĩ đại và cao cả” (Helen Keller).
Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu nói trên.
Viết mở bài cho đề bài trên.
Gợi ý trả lời:
Con người ln có khát khao làm những điều lớn lao, kì vĩ mà lại quên rằng phải bắt
đầu từ những điều rất nhỏ bé, bình thường và quan trọng hơn cả, ngay cả với những điều
nhỏ bé, bình thường, con người cũng cần làm việc với một thái độ tận tình, trân trọng. Mơ
ước làm điều lớn lao là nguyện vọng chính đáng, cần thiết của mỗi người, cần được hoan
nghênh, khuyến khích. Nói về điều này, Helen Keller khẳng định: “Tôi khao khát làm
được những điều vĩ đại và cao cả, nhưng trách nhiệm chính của tơi là làm được những điều
nhỏ nhặt như thể chúng vĩ đại và cao cả”.
Bài 5: Phân tích nhân vật Mai (Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành) và chị Chiến (Những
đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi) để thấy vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần cách mạng của
người con gái Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
Viết mở bài cho đề bài trên.
Gợi ý trả lời:
Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi là hai nhà văn của người nông dân miền Nam
trong kháng chiến chống Mĩ. Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình là những
truyện ngắn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, mang đậm chất sử thi
và cảm hứng lãng mạn. Qua hai thiên truyện, tác giả đã giúp người đọc khám phá, khâm
phục, tự hào trước vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của những cơ gái bình thường, giản dị mà anh
dũng, kiên cường và rất mực trung thành thuỷ chung với cách mạng, vẻ đẹp anh hùng ấy
được thể hiện độc đáo qua hai hình tượng nhân vật là Mai và Chiến.
Trang 20