TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Quỳnh Hương
Mã lớp học phần: 2109MLNP0221
Đề tài: Phân biệt giữa ý thức và trí tuệ nhân tạo và vai trị của trí tuệ
nhân tạo trong việc đẩy mạnh CNH-HĐH nước ta hiện nay
Khóa: k56
Nhóm: 4
HÀ NỘI, ngày 13 tháng 4 năm 2021.
1
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHĨM 4
MƠN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
STT
1
2
3
4
Tên thành viên
Tạ Thu Hương
Hoàng Thu Hường
Quách Thị Hường
Hồng Quốc Huy
Cơng việc
Word
Thuyết trình
Lý thuyết
Lý thuyết
Nguyễn Thanh Huyền
5
6
7
8
9
10
Word
Trần Thu Huyền
Nguyễn Mạnh Khang
Nguyễn Thanh Lam
Cát Thị Lan
Tạ Thị Ngọc Lan
Giải quyết vấn đề câu hỏi
Powerpoint
Giải quyết vấn đề câu hỏi
Lý thuyết
Giải quyết vấn đề câu hỏi
2
Điểm
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHĨM
Nhóm 4
Mơn: Triết học Mác-Lênin
Mã lớp học phần : 2109MLNP0221
Buổi làm việc lần thứ: 1
Địa điểm: Phòng tự học tầng 2 nhà V
Thời gian: 10h00’ đến 11h30’ ngày 5 tháng 4 năm 2021
Thành viên có mặt: gồm 10 thành viên của nhóm 4 có mặt đầy đủ
Mục tiêu: Tìm hiểu về bài tập tình huống đề tài 2, phân tích u cầu của bài tập,
đưa ra các công việc phải làm và thời gian thực hiện mỗi cơng việc.
Nội dung cơng việc:
1. Nhóm trưởng đọc lại nội dung, yêu cầu của bài tập tình huống cho cả nhóm và
đưa ra ý tưởng của mỗi người trong thời gian 10 phút suy nghĩ.
2. Sau một thời gian thảo luận, nhóm đã thống nhất ý kiến đưa ra nội dung cơ bản
cần có trong bài thảo luận và phân công nhiệm vụ như sau:
* Lý thuyết (hạn 9/4) : Quách Thị Hường, Hoàng Quốc Huy, Tạ Thị Lan)
- Ý thức: khái niệm, nguồn gốc, bản chất, kết cấu, ý nghĩa.
- Trí tuệ nhân tạo: khái niệm, nguồn gốc, bản chất, kết cấu, ý nghĩa.
- Vai trị của trí tuệ nhân tạo trong việc đẩy mạnh cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa
của nước ta hiện nay: (Thanh Lam, Ngọc Lan, Thu Huyền)
* Lập biên bản họp nhóm và hồn thành W: Thanh Huyền, Thu Hương
* Hoàn thành PP: Mạnh Khang
Biên bản thảo luận được gửi đến mọi người trong nhóm chat. Cả nhóm đều đồng
tình với những điều viết trên.
Người lập biên bản
Huyền
Nguyễn Thanh Huyền
3
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHĨM
Nhóm 4
Mơn: Triết học Mác-Lênin
Mã lớp học phần : 2109MLNP0221
Buổi làm việc lần thứ: 2
Địa điểm: Phòng tự học tầng 2 nhà V
Thời gian: 10h00’đến 11h00’ ngày 12 tháng 4 năm 2021
Thành viên có mặt: gồm 10 thành viên của nhóm 4 có mặt đầy đủ
Mục tiêu: Hồn thành cơng việc được giao từ buổi 1 và phân công công việc
mới cho các thành viên.
Nội dung công việc:
1. Nộp lại kết quả công việc đã được phân cơng vào ngày 5/4 cho nhóm trưởng
2. Mọi người cùng xem kết quả và đưa ra ý kiến của mình
3. Sau 1 giờ đồng hồ đã đi đến ý kiến chung nhất cần đưa vào đề tài thảo luận
4. Nhóm trưởng nhắc nhở mọi người hồn thành cơng việc đúng hạn trong đó:
+ Hồn thành PP( hạn 16/4): Mạnh Khang
+ Hoàn thành W (hạn 16/4): Thanh Huyền, Thu Hương
+ Thuyết trình; Thu Hường
+ Các thành viên cịn lại: giúp đỡ, đóng góp ý kiến vào bản W và PP
Biên bản thảo luận được gửi đến mọi người trong nhóm chat. Cả nhóm đều đồng
tình với những điều viết trên.
Người lập biên bản
Huyền
Nguyễn Thanh Huyền
4
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHĨM
Nhóm 4
Mơn: Triết học Mác-Lênin
Mã lớp học phần : 2109MLNP0221
Buổi làm việc lần thứ: 3
Địa điểm: Phòng tự học tầng 2 nhà V
Thời gian: 10h00’ đến 11h30’ ngày 19 tháng 4 năm 2021
Thành viên có mặt: gồm 10 thành viên của nhóm 4 có mặt đầy đủ
Nội dung cơng việc: hồn thành tất cả cơng việc được giao, đưa lên nhóm bản
word và pp để mọi người cùng đọc, tập thuyết trình.
1. Thành viên trong nhóm nộp lại kết quả cơng việc của mình đúng hạn.
2. Cả nhóm cùng đọc bản word và pp. Sau một thời gian đã đưa ra được sự thống
nhất tập thể.
3. Tập thuyết trình để mọi người đóng góp ý kiến về phong thái, cách dẫn vào
bài…
Biên bản thảo luận được gửi đến mọi người trong nhóm chat. Cả nhóm đều đồng
tình với những điều viết trên.
Người lập biên bản
Huyền
Nguyễn Thanh Huyền
5
I: Lời mở đầu
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình
thức cao của sự phản ánh và thực tại, khách quan hình thức mà riêng con người mới
có. Ý thức của con người là "cơ năng của cái của vật chất đặc biệt phức tạp mà người
ta gọi là bộ óc con người". Tác động của Ý thức xã hội đối với con người là vơ cùng to
lớn nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà cịn là động lực thực
tiễn. Sự thành cơng hay thất bại của thực tiễn tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức
đối với sự phát triển của tự nhiên xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý
thức mà biểu hiện ra vai trị của khoa học văn hóa và tư tưởng. Nền kinh tế nước ta từ
một điểm suất phát thấp tiềm lực kinh tế-kĩ thuật yếu trong điều kiện sự biến đổi khoa
học công nghệ trên thế giới lại diễn biến rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt đước những
thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học-công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc
tế trong thời gian ngắn hay khơng? Ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó
là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học công nghệ trong quan hệ
với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới. Như vậy có nghĩa là ta cần phải có trí
thức, trí thức là khoa học chúng ta không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mọi
người. Chúng ta hiện đang bước vào kỷ nguyên trong đó trí tuệ nhân tạo có những tác
động to lớn và sâu sắc đến đời sống hàng ngày. Thí dụ, thị giác máy tính và trí tuệ
nhân tạo lập kế hoạch tạo ra các trò chơi video giờ đây trở thành một ngành cơng
nghiệp giải trí lớn hơn Hollywood. Học sâu, một hình thức học máy dựa trên các lớp
đại diện của biến số được xem như các mạng như thần kinh, đã làm cho việc hiểu lời
nói trở thành thực tế trên điện thoại và trong nhà bếp của chúng ta. Xử lý ngôn ngữ tự
nhiên cùng với lý giải và thể hiện tri thức đã cho phép một máy tính đánh bại nhà vơ
địch Jeopardy và đang mang lại sức mạnh mới cho tìm web. Như vậy, ý thức hay vai
trị của trí tuệ nhân tạo trong thời đại hiện nay đều là vô cùng quan trọng.
6
II:Lýthuyết
1. Ý thức
a, khái niệm
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin là một phạm trù được quyết
định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan
vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan biện chứng với
vật chất.
b , nguồn gốc của ý thức
+quan điểm của chủ nghĩa duy tâm:
Các nhà triết học duy tâm cho rằng, ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh
viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật
chất. ý thức của con người là do cảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quan điểm của
họ không phải là sự phản ánh của thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn có của cá nhân
tồn tại tách rời, biêt lập với thế giới bên ngồi. Đó là những quan điểm hết sức phiến
diện, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, cơ sở lý luận của tôn giáo.
+Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
Đối lập với quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêu hình phủ
nhận tính chất siêu tự nhiêm của ý thức, tinh thần. họ xuất phát từ thế giới hiện thực để
lý giải nguồn gốc của ý thức. tuy nhiên do trình độ phát triển khoa học của thời đại, mà
họ đang sống còn hạn chế và bị phương pháp siêu hình chi phối nên những quan điểm
của ý thức cịn nhiều sai lầm.Những sai lầm hạn chế của chủ nghĩa duy tâm, duy vật
siêu hình trong quan niệm về ý thức đã được các giai cấp bóc lột, thống trị triệt để lợi
dụng, lấy đó làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần quần chúng lao động.
+Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Theo quan niệm chủ nghĩa Lênin thì trong lịch sử triết học vấn đề về nguồn gốc
bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm triết học duy vật biện chứng. Khẳng định ý thức
của con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
- Mặt tự nhiên:
Theo quan điểm của triết học Mác Lênin ý thức là một thuộc tính của dạng vật
chất có tổ chức cao là bộ óc con người là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não
người. Nếu khơng có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người và không
7
có một não người với tính cách là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ khơng có ý thức.
Bộ não người và sự tác động của thế giới khách quan vào là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức. Các nhân tố bao gồm:
* Bộ óc:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: ý thức là thuộc tính của một
dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người hiện đại là sản phẩm
của quá trình tiến hành lâu dài về mặt sinh vật- xã hội và có cấu trúc phức tạp, gồm
khoảng 14 đến 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm
thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ
với thế giới bên ngồi thơng qua phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện.
Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng hiện thực bắt chúng phải
bộc lộ thành những hiện tượng, những thuộc tính, kết cấu,… nhất định và thông qua
giác quan, hệ thần kinh tác động vào bộ óc để con người phân loại, đưới dạng thơng
tin, qua đó nhận biết ngày càng sâu sắc.
*Sự phản ánh:
Cũng theo chủ nghĩa mác-lênin, hoạt động của con người diễn ra trên hoạt động
sinh lý thần kinh của bộ óc con người. Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ
óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên,
nếu chỉ có bộ óc người mà khơng có sự tác động của thế giới bên ngồi để bộ óc phản
ánh lại tác động đó thì cũng khơng thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung, phổ
biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống
vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của
vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
1- Phản ánh Vật lý: là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện
qua các hình thức biến đổi cơ,lý, hóa.
2- Phản ánh Sinh học: là những phản ánh trong sinh giới trong giờ hữu sinh cũng
có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật.
3- Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý
thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện
của con người.
-Mặt xã hội:
Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyết định
8
cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ
và các quan hệ xã hội.
Lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc
của lồi vượn thành bộ óc của loài người và tâm lý động vật thành ý thức con người.
1- Lao động:
Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất người. Đó là hoạt
động chủ động, sáng tạo, có mục đích. Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng
đứng, giải phóng hai tay. Điều này cùng với chế độ ăn thịt đã thực sự đối với q trình
chuyển hóa từ vượn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức.
Việc chế tạo ra cơng cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về
mục đích của hoạt động biến đổi thế giới. Thực chất của hoạt động lao động là tác
động vào thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của con
người. Nhờ có lao động, bộ não con người được phát triển và ngày càng hoàn thiện,
làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngày càng cao. Cũng là lao động
ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan.
Mối liên hệ đó khơng ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ
một nhu cầu “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó” và ngơn ngữ xuất hiện.
Vd1: thời xưa loài người ăn sống, hái quả bằng cách lượm, đập thì khi biết chế
tạo cơng cụ lao động đã nhận thức được việc ăn chín uống sơi, hái quả bằng các công
cụ như:liềm, dao,…
Vd2: từ lao động, con người đã chế tạo ra nhiều thứ: thay vì dệt vải bằng tay,
cơgn cụ thơ sơ thì giờ đã có các xí nghiệp vải lớn sử dụng máy móc hiện đại
Vd3: nhận thấy khi bơi bằng sức người rất mất sức đã chế tạo ra cano, thuyền,..
Vd4: khi nóng thay vì sử dụng quạt bằng lá cau, giấy,.. sử dụng sức người thì đã
chế tạo ra quạt điện, quạt hơi nước, điều hịa,…..
Vd5: thay vì cày bừa bằng trâu bị( sử dụng sức kéo của con vật và sức người) thì
bây giờ đã chế tạo ra máy móc như máy bừa, máy cày, cơng lơng,….
Vd6: khi trồng lúa nước thì mất rất nhiều cơng sức: cấy, gặt, chăm bón, máy
nước, … thì giờ đã có nhiều máy móc giúp đỡ như: máy cấy, máy gặt, máy phun thuốc
sâu, máy bơm nước,….
2- Ngơn ngữ:
Theo quan điểm của triết học Mác Lênin thì ngơn ngữ là hệ thống tín hiệu vật
9
chất mang nội dung ý thức, phương tiện để con người giao tiếp xã hội, là hệ thống tín
hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng. Ngơn
ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội lồi
người.cũng nhờ có ngon ngữ mà con người có thể giao tiếp trao đổi tư tưởng, lưu giữ,
kế thừa những tri thức, kinh nghiệm phong phú của xã hội đã tích lũy được qua các thế
hệ, thời kỳ lịch sử. ý thức là một hiện tượng có tính chất xã hội, do đó khơng có
phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngơn ngữ thì y thức khơng thể hình thành và phát
triển được.
Vd1: thay ví sử dụng ngơn ngữ nói để truyền đạt các kinh nghiệm q báu của
ơng cha ta, thì đã biết sử dụng ngôn ngữ viết để ghi chép trong sách vở, tài liệu trên
máy tính,…
Vd2: ngơn ngữ giao tiếp hằng ngày của giới trẻ có ảnh hưởng khơng nhỏ đến
tính cách, nhận thức của con người: những lời nói thơ tục,…
Vd3: nhờ có ngơn ngữ máy tính: chat trên wed giúp cho các bạn ngại ngùng khi
tỏ tình bằng lời cungc dễ dàng hơn
c , Bản chất:
-Khái niệm: bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là q
trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất ý thức là sự phản ánh khách
quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo:
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thể hiện rằng nội dung
của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan vì nó nằm trong bộ não của con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới
khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức
khơng có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát
hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ
não con người.
-Ý thức là sự phản ánh tạo thế giới. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên,
không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người là tự nhiên trở thành
ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu
của việc con người cải biến thế giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua
10
hoạt động lao động.
- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di truyền
vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần. Sáng
tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh, trong khn khổ
và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
-Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái khơng có
trong thực tế. Ý thức có thể tiên đốn, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những những
ảo tưởng, huyền thoại,những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có
tính khái qt cao.
-Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, song
đây là sự phản ánh đặc biệt- phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt: trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối
tượng phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh
tinh thần và cuối cùng là chuyển đến mơ hình tư duy ra hiện thực khách quan.
-Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó đủ trực tiếp hay gián tiếp, dù
dưới dạng ý tưởng thì bao giờ cũng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa trên hoạt
động thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại trừ, cách rời sự
phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức- trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự
phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
-Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã
hội. Ý thức khơng phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã
hội ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử- xã hội và phản ánh những quan hệ xã hội
khách quan.
Từ kết quả nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ý thức cho thấy: ý thức là hình
thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực
tiễn xã hội-lịch sử.
-Ý thức không phải không phải là cái không thể nhận thức được như chủ nghĩa
duy tâm quan niệm, nhưng nó cũng không phải cái tầm thường như người duy vật tầm
thường gán cho nó. Thực chất, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của dạng vật chất đặc
11
biệt là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức. lồi người xuất
hiện là kết quả lịch sử của vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật chất. cấu trúc
hoàn thiện của bộ óc con người là nền tnagr vật chất để ý thức hoạt động, cùng với
hoạt động thực tiễn và đời sống xã hội phong phú tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ý
thức hình thành và khơng ngừng phát triển. khơng có bộ óc của con người, khơng có
hoạt động thực tiễn xã hội thì khơng thể có ý thức. Sức sáng tạo của ý thức trong tinh
thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiênc khác nhau về bản chất nhưng chỉ
là biểu hiện khác nhau của năng lực sáng tạo, khẳng định sức mạnh của con người
trong nhận thức và cải tạo thế giới.
d,Kết cấu ý thức :
Để nhận thức sâu sắc về ý thức , cần xem xét nắm vững tổ chức kết cấu của nó ,
tếp cận từ các góc độ khác nhau , sẽ đem lại những tri thức nhiều mặt về cấu trúc ,
hoặc cấp độ của ý thức .
Các lớp cấu trúc của ý thức
Khi xem xét ý thức với các yếu tố hợp thành các q trình tâm lí tích cực đem lại
sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, ta có: tri thức ,tình cảm , nềm
tin ,ý chí ... trong đó tri thúc là nhân tố cơ bản cốt lõi nhất. Muốn cải tạo ffuocwj sự
vật , trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về sự vât đó . do đó nội dung và
phương thúc tồn tại cơ bản của ý thức phải là ttri thức.Ý thức mà không bao hàm tri
thức, khơng dựa và tri thức thì ý thức đó là sự trừu tượng chống rỗng khơng giúp gì
cho con người hoạt động thực tiễn.
Theo C.Mac, ‘phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó 1 cái gì tồn tai
với ý thức là tri thức ..... cho nên 1 cái gì đó nảy sinh ra với ý thức , chừng nào ý thức
biết cái đó’ . tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như : tri thức tự nhiên ,xã hội ,con
người và có nhiều cấp độ khác nhau như :tri thức cảm tính và tri thức lí tính : tri thức
kinh nghiệm và tri thức lí luận : tri thức tiền khoa học và tri thức khoa hoc .v.v.... tích
cực tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh là yêu cầu thường xuyên của con
người nên bước đường cải tạo thế giới . tuy nhiên , k thể đồng nhất ý thức với sự hiểu
biết , tri thức về sự vật.
Cùng với quá trình nhận thức sự vật , trong ý thức còn nảy sinh thái độ của con
người đối với dối tượng phản ánh ,tình cảm là 1 hình thái đặc biệt của sự phản ánh
tồn tại , nó phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới
12
khách quan . tình cảm tham quan và trở thanh 1 trong những động lực quan trong của
hoạt động con người . sự hịa quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thức tiễn
đã tạo nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong
mọi hồn cảnh .
Nhận thức khơng phải là quá trình dễ dàng , phẳng lặng mà là 1 q trình phản
ánh với những khó khăn , gian khổ thường gặp phải trên mỗi bước đường đi tới chân
lí. Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục đích chủ thể nhạn thức phải có ý chí ,
quyết tâm cao. Ý chí chính là những cố gắng nỗ lực khả năng huy động mọi tiềm
năng trong mỗi con người vào hoạt động đẻ có thể vượt qua mọi trời ngại đạt mục đích
đề ra . nhận rõ vi trí vai trò của các nhân tố cấu thành ý thức và mối quan hệ giữa các
yếu tố đó địi hỏi mỗi chủ thể phải ln tích cưc rèn luyện bồi dưỡng nâng cao tri thức
tình cảm niềm tin ý chí trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Các cấp độ của ý thức
Khi xem xét ý thức theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người , cần nhận
thức về cac yếu tố : tự ý thức , tiềm thức và vô thức .... tất cả những yếu ttoos cùng
với những yếu tố khác hợp thành ý thức , quy định tính phong phú , nhiều về đời
sống tinh thần của con người .
Tự ý thức : là ý thưc hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với
ý thức thế giói bên ngồi . đây là 1 thành tố rất quan trọng của ý thức , đánh dấu trình
độ phát triển của ý thức .. trong quá trình phản ánh thế giới khách quan , con người
cũng tự phân biệt , tách mình , đối lập mình với thế giới đó để đánh giá mình thông
qua các mối quan hệ . nhờ vậy con người tự ý thức về bản thân mình như một thực
thể hoạt động có cảm giác , đang tư duy ; tự đánh giá năng lực và trình độ hiểu biết
của mình về thế giói , cũng như các quan điểm , tư tưởng , tình cảm , nguyện vọng ,
hành vi đạo đức và lợi ích của mình . qua đó , ácđịnh đúng vị trí , điểm mạnh yếu , ý
thức của mình như 1 cá nhân – chủ thể có ý thức đầy đủ về hành động của mình , ln
là chủ bản than , chủ động điều chỉnh hành vi của mình trong tác động qua lại với thế
giới khách quan
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức cá nhân , mà còn là tự ý thức của các nhóm xã
hội khác nhau ( ví dụ: một tập thể , một giai cấp , một dân tộc , thậm chí là cả xã hội )
về địa vị của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất về lợi ích và lí tưởng của mình . chủ
nghĩa duy tâm , phản động coi tự ý thức là một thực thể tự lập , tự nó , sẵn có trong cá
13
nhân , là sự tự hướng về bản thân mình , khẳng định cái tôi tách rời ra những quy định
của xã , trở thành cái tôi thuần túy , trừu tượng trống rỗng . thực chất của những quan
điểm đó là nhằm phủ định bản chất xã hội của ý thức , biện hộ cho những chủ nghĩa
cá nhân vị kỷ , cực đoan của các thế lực phản động hiện nay
Tiềm thức là những hoạt động tâm lí diễn ra bên ngồi
sự kiểm sốt của ý
thức . về chất tiềm thức là những chi thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã
gần như thành bản năng , thành kỹ năng nằm trong sâu thăm ý thức của chủ thể , là
ý thức dưới dạng tiềm tàng . do đó tiềm tthucws có thể tự động gây ra cac hoạt động
tâm lí và nhận thức mà chủ thể khơng cần kiểm sốt chúng một cách trực tiếp . tiềm
thức có vai trị quan trong trong đời sống và tư duy khoa học . tiềm thức gắn bó rất
chặt chẽ với lọi hình tư dy chính xác được lặp lại nhiều , mà vẫn đảm bảo độ chính
xác cao và chặt chẽ cần thiết của tự duy khoa học.
Vơ thức là những hiện tượng tâm lí khơng phải do lí trí điều khiển nằm ngồi
phạm vi của lí trí mà ý thức khơng kiểm sốt được trong 1 lúc n đó . chúng điều
khiển những hành vi thuộc về bản năng ,thói quen trong con người thơng qua phản xạ
không điều kiện . con người là 1 thực thể xã hội có ý thức nhưng khhoong phải mọi
hành vi của con người đều do lí trí chỉ đạo, trong đời sống của con người , có những
hàng vi do bản năng chi phối hoặc do những động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần
trở thành thói quen đến lúc chung tự động xảy ra ngay cả khi khơng có sự điều khiển
của lí trí . vơ thức là những trạng thái tâm lí ở tầng sau điều chỉnh sự suy nghĩ c, hành
vi , thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự can thiệp của lí trí
Vơ thức biểu hiện ra nhiều hiện mj khác nhau như bản năng ham muốn, giấc
mơ , bị thơi miên , lỡ lời , nói nhiều..... mỗi hiện tượng vơ thức có vùng hoạt động
riêng , có vai trò , chức năng riêng. Song tất cả đều có 1 chức năng chung đó là giải
tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng nhất là những ham muốn
bản năng không được phép bộc lộ ra ngoài và thực hiện trong nguyên tắc đời sống
cộng đồng, nó góp phần quan trọng trong việc lặp lại thế cân bằng trong hoạt động
tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức như ấm ức, giày
vò, mặc cảm .... nghiên cứu những hoạt động vô thức giúp con người luôn làm chủ
đời sống nội tâm , có phương pháp kiềm chế đúng quy luật những trạng thái ức chế
tinh thần .
e,Ý nghĩa của ý thức :
14
Để phát huy được tính năng động chủ quan của con người thì trong hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải tơn trọng tính khách quan, do đó trong hoạt
động nhận thức, hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải lấy
thực tế khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình chứ khơng được lấy tình cảm
làm điểm xuất phát cho chương trình hành động, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy
ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh duy ý chí. Trên cơ sở đó Đảng ta đã
rút ra bài học “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, phải tôn
trọng quy luật khách quan”. Để phát huy được nhân tố chủ quan, vai trị tích cực sáng
tạo của ý thức nhằm đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng sản xuất trong suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà nhiệm vụ trung tâm là phải cơng nghiệp hóa và
hiện đại hố, phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững”, muốn vậy “phải khơi dậy trong nhân dân lịng u
nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà
ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu”.
+Ngày nay , khoa học và cơng nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh
mẽ , sản xuất ra nhiều loại máy móc khơng những có khả năng thay thế lao cơ bắp
mà cịn có thể thay thế cho 1 phần lao động Trí tuệ trí óc của con người . chẳng hạn
máy tính điện tử ‘ người máy thong minh’ ‘ trí tuệ nhân tạo ‘ . song điều đó khơng có
nghĩa máy móc cũng có ý thức như con người. Ý thức và máy tính điện tử là 2 q
trình khác nhau về bản chất người máy thơng minh thực ra chỉ là một q trình vật lí.
Hệ thống thao tác của nó đã được con người lập trình phỏng theo 1 ố thao tác của tư
duy con người. Máy móc chỉ là những kết cấu kỹ thuật do con người sáng tạo ra còn
con người là 1 thực tế xã hội năng động được hình thành trong tiến trình lịch sử tiến
hóa lâu đời của giới tự nhiên và thực tiễn xã hội. Máy không thể sáng tạo lại hiện thực
dưới dạng tinh thần trong bản thân nó . Năng lực đó chỉ có con người có ý thức mới
thực hiện được và qua đó lập trình cho máy móc thực hiện. Sự phản ánh sáng tạo, tái
tạo lại hiện thực chỉ có ở ý thức của con người với tính cách là một thực thể xã hội
hoạt động cải tạo thế giới khách quan . Ý thức mang bản chất xã hội. Do vậy , dù máy
móc có hiện đại đến đâu đi nữa cúng khơng thể hồn thiện được như bộ óc con người .
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở óc người về thực hiện khách quan
trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử . Sự hoàn thiện trong cấu trúc vật chất của bộ óc
người và hoạt động thực tiễn xã hội phong phú đã tạo ra những tiền đề vật chất đầy
15
đủ cho đăc tính phản ánh ý thức người phát tiển ngày càng xâm nhập vào tầng sâu của
thế giới hiện thực , gắn nhận thức với cải tạo thế giới. Thực tiễn xã hội là động lực trực
tiếp to lớn thúc đẩy ý thức hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày
càng phong phú , đa dạng . Ý thức nhân đôi thế giới trong tinh thần , nhờ đó con
người sáng tạo ra ‘ thế giới thứ hai ‘ in đậm dấu ấn của con người . một ttrong những
sáng tạo đó là con người ngày càng sáng tạo ra các trí thế hệ “ người máy thông minh
“ cao hơn giúp con người khắc phục được nhiều mặt hạn chế của mình.
Con người là một thực thể tự nhiên – xã hội có ý thức , chủ thể sáng tạo ra mọi
giá vật chất và tinh thần quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hơi . Khẳng định
vai trị to lớn của ý thức tròng đời sống hiện thực của con người về thực chất là khẳng
định vai trò của con người – chủ thể mang ý thức đó. Cần có thái độ đúng với con
người , quan tâm , chăm lo phát triển con người toàn diện về cả thể chất và tinh thần .
Đặc biệt qan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ có kiến thức, nắm vững khoa học – cơng nghệ
hiện đại, có tình cảm trong sáng, ý chí vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh .
Cần nắm vững nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa mác Lê-nin “ ý thức khơng bao
giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức và tồn tài của con người là quá
trình đời sống hiện thực của con người để xây dựng tạo môi trường thuận lợi cho xây
dựng con người , phát huy cao nhất tính tích cực xã hội , rèn luyện bản lĩnh , nâng cao
trình độ khoa học , trình độ chun mơn cho mỗi con người vào thực tiễn cách mạng
việt nam hiện nay. Muốn nhận thức xã hội chủ nghĩa thực sự có vai trị chủ đạo trong
đời sống tinh thần nhân dân , phát huy được tính tích cực xã hội của mỗi người trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Hiện nay, cần quán triệt tốt
đường lối đổi mới của đảng , lấy đổi mói kinh tế làm trung tâm. Xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vật chất vững chắc để xây dựng
đời sống văn hóa tinh thần phong phú cho nhân dan , có giác ngộ xã hội chủ nghĩa có
văn hóa, khoa học kĩ thuât , tri thức phát triển . xây dựng nhân tố con người thực sự là
nguồn lực phát triển đất nước bền vững mà vẫn chăm lo bồi dưỡng phát triển nhân lực
có chất lượng cao, phẩm chất nhan cách phát triển toàn diện . Xây dựng đội ngũ cán
bộ có đủ đức đủ tài , để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ . để làm được điều đó cần gắn
với q trình trình xây dựng moi mặt
16
1. Trí tuệ nhân tạo
a, Khái niệm của trí tuệ nhân tạo :
Trên thế giới hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ nhân tạo hay cịn gọi
là AI (Artificial Intelligence), cụ thể: trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – viết tắt
là AI) là trí tuệ được biểu diễn bởi bất cứ một hệ thống nhân tạo nào. Thuật ngữ này
thường dùng để nói đến các máy tính có mục đích khơng nhất định và ngành khoa học
nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo.
Bellman (1978) định nghĩa: trí tuệ nhân tạo là tự động hoá các hoạt động phù hợp
với suy nghĩ con người, chẳng hạn các hoạt động ra quyết định, giải bài tốn, …
Rich anh Knight (1991) thì cho rằng: Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu
xem làm thế nào để máy tính có thể thực hiện những cơng việc mà hiện con người cịn
làm tốt hơn máy tính.
Mỗi khái niệm, định nghĩa đều có điểm đúng riêng, nhưng để đơn giản chúng ta
có thể hiểu trí tuệ nhân tạo là một ngành khoa học máy tính. Nó xây dựng trên một
nền tảng lý thuyết vững chắc và có thể ứng dụng trong việc tự động hóa các hành vi
thơng minh của máy tính. Giúp máy tính có được những trí tuệ của con người như:
biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngơn ngữ, tiếng
nói, biết học và tự thích nghi.
Ví dụ :
-Xe tự lái: Những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo đã đưa chúng ta đến rất gần giấc
mơ kéo dài hàng thập kỷ của việc tự lái thành hiện thực. Thuật toán AI là một trong
những thành phần chính cho phép xe tự lái có ý nghĩa với môi trường xung quanh, lấy
nguồn cấp dữ liệu từ các camera được lắp đặt xung quanh xe và phát hiện các vật thể
như đường, biển báo giao thông, xe khác và người.
-Trợ lý kỹ thuật số và loa thông minh: Siri, Alexa, Cortana và Google Assistant
sử dụng trí thơng minh nhân tạo để chuyển đổi các từ được nói thành văn bản và ánh
xạ văn bản thành các lệnh cụ thể. AI giúp các trợ lý kỹ thuật số hiểu được các sắc thái
khác nhau trong ngôn ngữ nói và tổng hợp giọng nói giống con người.
-Dịch thuật: Trong nhiều thập kỷ, dịch văn bản giữa các ngơn ngữ khác nhau là
một điểm khó khăn đối với máy tính. Nhưng học sâu đã giúp tạo ra một cuộc cách
mạng trong các dịch vụ như Google Dịch. Rõ ràng, AI vẫn cịn một chặng đường dài
trước khi nó làm chủ ngôn ngữ của con người, nhưng cho đến nay, những tiến bộ thật
17
ngoạn mục.
- Video 360 độ là gì? 10 video 360 độ về chuyến tham quan khách sạn
Nhận dạng khuôn mặt: Nhận dạng khuôn mặt là một trong những ứng dụng phổ
biến nhất của trí tuệ nhân tạo. Nó có nhiều cơng dụng, bao gồm mở khóa điện thoại,
trả tiền bằng khuôn mặt và phát hiện những kẻ xâm nhập trong nhà bạn. Nhưng sự sẵn
có ngày càng cao của cơng nghệ nhận dạng khuôn mặt cũng đã làm nảy sinh những lo
ngại về quyền riêng tư, an ninh và quyền tự do dân sự.
-Y học: Từ việc phát hiện ung thư da và phân tích tia X và MRI để cung cấp các
mẹo sức khỏe cá nhân và quản lý tồn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe, trí tuệ nhân tạo
đang trở thành một yếu tố chính trong chăm sóc sức khỏe và y học. AI sẽ khơng thay
thế bác sĩ của bạn, nhưng nó có thể giúp mang lại các dịch vụ y tế tốt hơn, đặc biệt là ở
các khu vực thiếu thốn, nơi các trợ lý y tế được hỗ trợ bởi AI có thể gánh vác một số ít
bác sĩ đa khoa phải phục vụ dân số lớn.
b,Nguồn gốc của trí tuệ nhân tạo
Khi máy móc ngày càng tăng khả năng, các nhiệm vụ được coi là cần "trí thơng
minh" thường bị loại bỏ khỏi định nghĩa về AI, một hiện tượng được gọi là hiệu ứng
AI.[2] Một câu châm ngôn trong Định lý của Tesler nói rằng "AI là bất cứ điều gì chưa
được thực hiện."[3] Ví dụ, nhận dạng ký tự quang học thường bị loại trừ khỏi những thứ
được coi là AI, đã trở thành một công nghệ thông thường. [4] khả năng máy hiện đại
thường được phân loại như AI bao gồm thành cơng hiểu lời nói của con người, [1] cạnh
tranh ở mức cao nhất trong trò chơi chiến lược (chẳng hạn như cờ vua và Go),[5] xe
hoạt động độc lập, định tuyến thông minh trong mạng phân phối nội dung, và mơ
phỏng qn sự.
Trí tuệ nhân tạo có thể được phân thành ba loại hệ thống khác nhau: trí tuệ nhân
tạo phân tích, lấy cảm hứng từ con người và nhân tạo. [6] AI phân tích chỉ có các đặc
điểm phù hợp với trí tuệ nhận thức; tạo ra một đại diện nhận thức về thế giới và sử
dụng học tập dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ để thông báo các quyết định trong
tương lai. AI lấy cảm hứng từ con người có các yếu tố từ trí tuệ nhận thức và cảm xúc;
hiểu cảm xúc của con người, ngoài các yếu tố nhận thức và xem xét chúng trong
việc ra quyết định. AI nhân cách hóa cho thấy các đặc điểm của tất cả các loại năng lực
(nghĩa là trí tuệ nhận thức, cảm xúc và xã hội), có khả năng tự ý thức và tự nhận thức
được trong các tương tác.
18
Trí tuệ nhân tạo được thành lập như một mơn học thuật vào năm 1956, và trong
những năm sau đó đã trải qua nhiều làn sóng lạc quan, sau đó là sự thất vọng và mất
kinh phí (được gọi là " mùa đông AI "), tiếp theo là cách tiếp cận mới, thành công và
tài trợ mới. Trong phần lớn lịch sử của mình, nghiên cứu AI đã được chia thành các
trường con thường không liên lạc được với nhau. Các trường con này dựa trên các cân
nhắc kỹ thuật, chẳng hạn như các mục tiêu cụ thể (ví dụ: " robot học " hoặc "học
máy"), việc sử dụng các công cụ cụ thể ("logic" hoặc mạng lưới thần kinh nhân tạo)
hoặc sự khác biệt triết học sâu sắc.Các ngành con cũng được dựa trên các yếu tố xã hội
(các tổ chức cụ thể hoặc công việc của các nhà nghiên cứu cụ thể).
Lĩnh vực này được thành lập dựa trên tun bố rằng trí thơng minh của con
người "có thể được mơ tả chính xác đến mức một cỗ máy có thể được chế tạo để mơ
phỏng nó". Điều này làm dấy lên những tranh luận triết học về bản chất của tâm trí và
đạo đức khi tạo ra những sinh vật nhân tạo có trí thơng minh giống con người, đó là
những vấn đề đã được thần thoại, viễn tưởng và triết học từ thời cổ đại đề cập tới.
[18]
Một số người cũng coi AI là mối nguy hiểm cho nhân loại nếu tiến triển của nó
khơng suy giảm. Những người khác tin rằng AI, không giống như các cuộc cách mạng
công nghệ trước đây, sẽ tạo ra nguy cơ thất nghiệp hàng loạt.
Trong thế kỷ 21, các kỹ thuật AI đã trải qua sự hồi sinh sau những tiến bộ đồng
thời về sức mạnh máy tính, dữ liệu lớn và hiểu biết lý thuyết; và kỹ thuật AI đã trở
thành một phần thiết yếu của ngành công nghệ, giúp giải quyết nhiều vấn đề thách
thức trong học máy, công nghệ phần mềm và nghiên cứu vận hành.
c,Bản chất của trí tuệ nhân tạo
Ngày nay, khoa học và cơng nghệ hiện đại có những bước phát triển mạnh mẽ,
sản xuất ra nhiều loại máy móc khơng những có khả năng thay thế lao động cơ bắp,
mà cịn có thể thay thế cho một phần lao động trí óc của con người. Chẳng hạn máy
tính điện tử, “ người máy thơng minh”, “trí tuệ nhân tạo”. Song, điều đó khơng có
nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người. Ý thức và máy tính điện tử là hai q
trình khác nhau về bản chất. “Người máy thơng minh” thực ra chỉ là một quá trình vật
lý. Hệ thống thao tác cả nó đã được con người lập trình phỏng theo một số thao tác của
tư duy con người. Máy móc chỉ là một thực thể xã hội năng động được hình thành
trong tiến trình lịch sử tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và thực tiễn xã hội. Máy
không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó. Năng lực đó
19
chỉ có con người có ý thức mới thực hiện được và qua đó lập trình cho máy móc thực
hiện. Sự phản ánh sáng tạo, tái tạo lại hiện thực chỉ có ở ý thức của con người với tính
cách là một thực thể xã hội, hoạt động cải tạo thế giới khách quan. Ý thức mang bản
chất xã hộ. Do vậy, dù máy móc có hiện đại đến đâu chăng nữa cũng khơng thể hồn
thiện được như bộ óc con người.
d,Ý nghĩa, kết cấu của trí tuệ nhân tạo
*Ý nghĩa:
Tại Việt Nam, AI đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực như y
tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông, thương mại điện tử... Công nghệ AI cũng đã
mang lại cho Việt Nam sự phát triển vượt bậc thời gian qua. Đặc biệt, vấn đề dữ liệu
lớn, Việt Nam cần chia sẻ nhiều hơn cho cộng đồng, thậm chí là các quốc gia khác, bởi
dữ liệu khơng nên chỉ nói trong phịng kín mà cần ở một mặt phẳng chung để lan tỏa
và các quốc gia cùng chia sẻ.
Nói về thực tế phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam, ông Lê Hồng Việt, Giám
đốc Cơng nghệ Tập đồn FPT cho rằng: Q trình nghiên cứu và ứng dụng nền tảng
AI đã được thực hiện và tại FPT, AI đã ứng dụng cho các doanh nghiệp, tích hợp sản
phẩm và xây dựng nguồn nhân lực… Các ứng dụng AI tại FPT đang triển khai gồm:
Hệ thống giao thơng thơng minh tại Thành phố Hồ Chí Minh, xe tự hành cấp độ 3 tự di
chuyển tránh vật cản và tháng 10/2019, mọi người có thể trải nghiệm một phần của
chiếc xe tự hành của FPT. FPT cung cấp nền tảng trí tuệ nhân tạo tồn diện FPT.AI
xây sẵn các "giác quan" để máy hiểu và tương tác với con người thông qua 4 modules:
Thị giác máy tính, tổng hợp và nhận diện giọng nói, xử lý ngơn ngữ tự nhiên và hệ tri
thức số hóa. Hiện nền tảng FPT.AI đã được hơn 27.000 lập trình viên sử dụng, nhận
được hơn 5 triệu yêu cầu, 500.000 người dùng cuối hàng tháng.
Ơng Nguyễn Quang Vinh, Tổng Cơng ty giải pháp doanh nghiệp Viettel cho
biết: AI đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như trong lĩnh vực y tế. Viettel là đơn
vị đầu tiên triển khai ứng dụng AI trong chẩn đốn nội soi qua hình ảnh, giúp tự động
xác định, khoanh vùng và đánh giá mức độ tổn thương của hệ tiêu hóa vốn có nhiều
căn bệnh phổ biến tại Việt Nam. Sử dụng AI giúp thời gian chẩn đoán nhanh gấp 5 lần
so với phương pháp truyền thống, độ chính xác lên đến 90%. Trong quản lý rừng, nông
nghiệp, Viettel tiên phong ứng dụng giải pháp thống kê diện tích rừng, tình trạng rừng
hồn tồn tự động với độ chính xác 80%, phản ứng kịp thời gấp 5 lần. Giải pháp giúp
20
giải bài toán xây dựng cơ sở dữ liệu về rừng, bản đồ quản lý rừng đang được triển
khai.
Tại Việt Nam, dự kiến đến năm 2020 sẽ có khoảng 50 tỉ thiết bị IoT (Mạng lưới
vạn vật kết nối internet hay còn gọi là mạng lưới thiết bị kết nối internet) và thực trạng
hệ thống này phần lớn bảo mật kém, 80% là lỗ hổng bảo mật, dễ lây lan và các doanh
nghiệp thường khơng có khả năng tự vệ trước tấn công mạng, nên Viettel đã xây dựng
giải pháp chống tấn công từ chối dịch vụ. Giải pháp chống tấn cơng từ chối dịch vụ
của Viettel có thể giám sát 24/7, phát hiện 100% cuộc tấn công, với chi phí tiết kiệm
khoảng 90%, thấp hơn 0,1% so với chi phí trả chuyên gia.
Trên thế giới và tại Việt Nam, trí tuệ nhân tạo được xem là một trong những
cơng nghệ cốt lõi của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, AI được kỳ vọng sẽ
thúc đẩy và lan tỏa sự phát triển của công nghệ, đồng thời thông qua kết nối các viện
nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, tập đồn cơng nghệ, Start-up…Việt Nam sẽ
xây dựng được cộng đồng Al mạnh.
*Kết cấu
Công nghệ AI giúp ngành dịch vụ hoạt động tối ưu hơn và góp phần mang đến
những trải nghiệm mới mẻ hơn và tốt hơn cho khách hàng. Thơng qua việc thu thập và
phân tích dữ liệu, cơng nghệ AI có thể nắm bắt thơng tin về hành vi sử dụng dịch vụ
của khách hàng, từ đó mang lại những giải pháp phù hợp với nhu cầu của từng khách
hàng.
AI có thể thực hiện các nhiệm vụ của mình và tiếp nhận các kỹ năng mới nhờ học
máy sâu (deep machine learning). Có thể định nghĩa học máy sâu bằng giải thích sau
đây: Khác với các phương pháp truyền thống, thì khi tất cả các thơng tin cần thiết đã
được tải vào hệ thống, hệ thống sẽ phát triển độc lập bằng việc học các thông tin có
sẵn nhờ các thuật tốn học máy. Trong một số trờng hợp, hệ thống cũng có thể tìm
kiếm thơng tin một cách độc lập.
Ví dụ, để tạo một chương trình phát hiện gian lận, thuật tốn học máy hoạt động
phân loại danh sách các giao dịch ngân hàng và kết quả cuối cùng sẽ chỉ ra các giao
dịch đó là hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Mơ hình học máy nghiên cứu các ví dụ và phát
triển mối quan hệ thống kê giữa các giao dịch hợp pháp và gian lận. Sau đó, khi thuật
tốn học máy được cung cấp dữ liệu mới về giao dịch ngân hàng, nó sẽ phân loại giao
dịch dựa trên tiêu chí mà nó đã suy ra nhờ các ví dụ trước.
21
Về nguyên tắc, càng được cung cấp nhiều dữ liệu thì thuật tốn học máy càng
thực hiện được chính xác cơng việc của nó. Học máy đặc biệt hữu ích trong việc giải
quyết các bài tốn mà trong đó các quy tắc không được xác định trước và không thể
được biểu diễn trong hệ thống nhị phân. Đối với các hoạt động ngân hàng, có thể có
một hệ thống tính toán nhị phân với đầu ra là: 0 - hoạt động hợp pháp và 1 - bất hợp
pháp. Nhưng để đi đến kết luận này, hệ thống cần phân tích rất nhiều thơng số mà nếu
chỉ nhập bằng tay thì sẽ mất không dưới một năm. Dù sao, việc dự đốn tất cả các
trường hợp cũng khơng thể thực hiện được. Và một hệ thống hoạt động trên cơ sở học
máy sâu sẽ có thể tìm ra được một quy luật nào đó, ngay cả khi chưa gặp trường hợp
như vậy trước đây.
Ví dụ, Jeremy Howard – nhà nghiên cứu AI người Australia cho biết, việc tạo ra
một mơ hình dự đoán ung thư vú bằng phương pháp học máy cổ điển đòi hỏi nỗ lực
của nhiều chuyên gia y tế, lập trình viên và các nhà tốn học. Các nhà khoa học sẽ phải
tạo ra nhiều thuật toán nhỏ hơn để học máy có thể xử lý các luồng thông tin: một hệ
thống con riêng nghiên cứu về X-quang, một hệ thống riêng cho MRI, một hệ thống
khác để giải thích các xét nghiệm máu,… Đối với mỗi loại phân tích sẽ cần một hệ
thống riêng. Sau đó, tất cả sẽ được kết hợp thành một hệ thống lớn. Đây là một tiến
trình xử lý khơng đơn giản và tiêu tốn tài nguyên. Các thuật toán học máy sâu giải
quyết cùng một bài toán bằng cách sử dụng các mạng nơ-ron sâu, một kiểu kiến trúc
phần mềm có ảnh hưởng từ bộ não con người (mặc dù mạng nơ-ron máy tính khác với
nơ-ron sinh học, nhưng nguyên tắc hoạt động gần như giống nhau). Mạng nơ-ron máy
tính là các liên kết của các “nơ-ron điện tử” có khả năng xử lý và phân loại thơng tin.
Chúng có thể được coi là các lớp và mỗi lớp chịu trách nhiệm về nhiệm vụ của mình,
kết quả sẽ tạo thành một bức tranh tổng thể. Ví dụ, khi huấn luyện một mạng nơ-ron để
xử lý hình ảnh của các đối tượng khác nhau, nó sẽ tìm cách trích xuất các đối tượng từ
những hình ảnh này. Mỗi lớp của mạng nơ-ron sẽ phát hiện ra các đặc tính nhất định:
hình dạng, màu sắc, sự xuất hiện của các đối tượng,…
Mạng nơ-ron là một bộ não nhân tạo?
Mặc dù có cấu trúc tương tự với mạng nơ-ron thần kinh của con người, nhưng
mạng nơ-ron máy tính khơng có các dấu hiệu của hệ thống nơ-ron thần kinh trung
ương như con người. Mạng nơ-ron máy tính về cơ bản là các chương trình phụ trợ.
Trong khi đó, bộ não con người là hệ thống tổ chức cao nhất để tiến hành tính tốn. Bộ
22
não có thể được coi là một hệ thống máy tính độc lập. Các nhà khoa học đã đưa vào AI
một số khía cạnh trong cấu trúc của não người dưới dạng số. Nhưng điều này cũng chỉ
cho phép tăng tốc độ tính tốn mà khơng mang lại cho máy móc khả năng nhận thức.
Mạng nơ-ron đã xuất hiện từ những năm 1950, ít nhất ở dưới dạng khái niệm.
Tuy nhiên, chúng không được phát triển cho đến gần đây, bởi việc xây dựng những
mạng này đòi hỏi khối lượng dữ liệu và sức mạnh tính tốn khổng lồ. Trong những
năm gần đây, các yếu tố này đã trở nên có sẵn, vì vậy mạng nơ-ron đã được chú ý hơn
và ngày càng phát triển. Tuy nhiên hiện tại chưa có đủ cơng nghệ để cho ra đời các
mạng nơ-ron nhân tạo đầy đủ thực sự.
Học sâu và mạng lưới nơ-ron được sử dụng để làm gì?
Hai cơng nghệ này đã giúp cho nhiều lĩnh vực đạt được những phát triển đáng kể,
con người sử dụng chúng hàng ngày phục vụ cuộc sống mà đa phần không hiểu về
cách thức hoạt động của chúng. Một số lĩnh vực sử dụng hai cơng nghệ này có thể kể
đến như:
-Thị giác máy tính, khả năng phần mềm hiểu nội dung của hình ảnh và video:
Đây là lĩnh vực mà học sâu đã đạt được nhiều tiến bộ lớn. Ví dụ, các thuật tốn xử lý
hình ảnh học sâu có thể phát hiện các loại ung thư, bệnh phổi, bệnh tim,… Chúng thực
hiện điều này nhanh và hiệu quả hơn bác sĩ. Học sâu trong lĩnh vực này cũng được áp
dụng trong nhiều ứng dụng được sử dụng hàng ngày. Apple Face ID và Google Photos
sử dụng học sâu để nhận diện khuôn mặt và cải thiện chất lượng hình ảnh. Facebook
sử dụng học sâu để tự động gắn thẻ ảnh tải lên,… Thị giác máy tính cũng giúp các
doanh nghiệp tự động nhận diện và chặn các nội dung không phù hợp như hình ảnh
bạo lực, nhạy cảm. Và học sâu cũng đóng vai trị rất quan trọng trong việc cho phép xe
tự lái có thể hiểu những gì xung quanh chúng.
- Nhận dạng tiếng và giọng nói: Khi người dùng nói một lệnh cho ứng dụng trợ
lý ảo Google Assistant, các thuật tốn học sâu sẽ biến giọng nói thành các lệnh văn
bản. Một số ứng dụng trực tuyến sử dụng học sâu để ghi lại nội dung trong các tệp âm
thanh và video thành văn bản. Ngay cả khi sử dụng ứng dụng để nhận diện một bài
hát, các thuật tốn của mạng nơ-ron và học sâu cũng đóng vai trị trong đó.
- Cơng cụ tìm kiếm trên web: Khi người dùng muốn tìm kiếm thứ gì đó trong
cơng cụ tìm kiếm, để yêu cầu của người dùng được xử lý rõ ràng và kết quả tìm kiếm
chính xác hơn, các hãng cung cấp cơng cụ tìm kiếm đã kết nối các thuật toán mạng nơ23
ron với công cụ của họ. Nhờ vậy mà sau khi hệ thống chuyển sang học máy và mạng
nơ-ron, hiệu suất của cơng cụ tìm kiếm Google đã tăng lên nhiều lần.
Hạn chế của học sâu và mạng nơ-ron
Mặc dù mang lại lợi ích rất lớn, nhưng học sâu và mạng nơ-ron cũng tồn tại một
số nhược điểm như sau:
- Phụ thuộc vào dữ liệu: Nhìn chung, các thuật tốn học sâu đòi hỏi một số lượng
rất lớn dữ liệu huấn luyện để hồn thành chính xác các nhiệm vụ của chúng. Tuy nhiên
hiện nay, đối với nhiều bài toán, lượng dữ liệu chất lượng là chưa đủ để tạo ra các mơ
hình xử lý.
- Khơng thể đốn trước: Mạng nơ-ron đang phát triển theo một cách khá lạ
thường. Thông thường, các thuật toán diễn ra theo như đã quy định. Tuy nhiên đôi khi
(ngay cả khi mạng nơ-ron thực hiện tốt nhiệm vụ của nó) nhưng người tạo ra chúng
cũng khó có thể hiểu được các thuật tốn hoạt động như thế nào. Việc thiếu khả năng
dự đoán khiến việc loại bỏ và sửa lỗi trong các thuật toán của mạng nơ-ron trở nên vơ
cùng khó khăn.
- Sai lệch thuật tốn: Dữ liệu huấn luyện càng tốt thì thuật tốn học sâu thực hiện
được càng chính xác. Vấn đề là dữ liệu huấn luyện thường tồn tại các lỗi, thiếu sót bị
ẩn hoặc cơng khai, từ đó các thuật tốn sẽ kế thừa những điều này. Ví dụ, thuật tốn
nhận dạng khn mặt được huấn luyện chủ yếu với ảnh của người da trắng sẽ hoạt
động kém chính xác hơn đối với ảnh của những người có màu da khác.
- Thiếu tính khái qt hóa: Sử dụng các thuật tốn học sâu để thực hiện các
nhiệm vụ có mục tiêu xác định là rất tốt, tuy nhiên việc khái qt hóa kiến thức của
chúng là khó khăn. Khơng giống như con người, mơ hình học sâu được huấn luyện để
chơi trị StarCraft sẽ khơng thể chơi một trị chơi tương tự khác như WarCraft. Học sâu
thực hiện không tốt việc xử lý dữ liệu khác với các ví dụ nó được huấn luyện.
Tương lai của học sâu, mạng nơ-ron và AI
Rõ ràng, quá trình xử lý nhiệm vụ của học sâu và mạng nơ-ron vẫn chưa được
hoàn thiện, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để cải thiện các thuật toán học sâu. Học sâu
là một phương pháp tiên tiến trong việc tạo ra AI. Nó đã trở nên ngày càng phổ biến
trong những năm gần đây do sự phong phú của dữ liệu và sự tăng lên của sức mạnh
tính tốn. Đây là cơng nghệ cốt lõi cho nhiều ứng dụng mà con người sử dụng hàng
ngày.
24
Tuy nhiên, liệu có thể đến một lúc nào đấy ý thức được sinh ra trên cơ sở của
công nghệ này? Sẽ có hay khơng sự sống nhân tạo thực sự? Một số nhà khoa học nhận
định rằng, tại thời điểm khi số lượng kết nối giữa các thành phần của mạng nơ-ron
nhân tạo tiến tới tương đương với tỉ lệ giữa các tế bào thần kinh trong não người, thì
điều tương tự có thể xảy ra. Tuy nhiên, nhận định này vẫn chỉ là một dự đoán. Để một
AI thực sự có thể xuất hiện thì cần suy nghĩ lại về cách tiếp cận trong việc tạo ra các
hệ thống dựa trên AI. Tất cả các ứng dụng AI hiện nay chỉ là chương trình phần mềm
cho các nhiệm vụ trong một phạm vi hạn chế.
3.Vai trị của trí tuệ nhân tạo trong việc đẩy mạnh CNH-HĐH nước ta hiện
nay
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ,
sản xuất ra nhiều loại máy móc khơng những có khả năng thay thế lao động cơ bắp,
mà cịn có thể thay thế cho một phần lao động trí óc của con người. Trí tuệ nhân tạo
(AI) là một vấn đề được quan tâm nhất hiện nay khi đất nước ta đang bước vào thời kì
cơng nghiệp hố hiện đại hố cịn gặp rất nhiều khó khăn. Đi nghiên cứu vấn đề này
giúp chúng ta hiểu sâu sắc vai trò quan trọng và ảnh hưởng của trí tuệ nhân tạo đối với
sự nghiệp đất nước .
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước phát triển, trở thành nền
kinh tế hội nhập, năng động, hấp dẫn đầu tư trong khu vực. Trong bối cảnh phát triển
và hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp
4.0, Việt Nam xác định tập trung phát triển cơng nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) - một mũi
nhọn, được dự báo trở thành ngành công nghệ đột phá nhất trong 10 năm tới.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang đi vào cuộc sống một cách mạnh mẽ, thay thế nhiều
công việc thủ công, tốn sức lao động. Trên thế giới, các cường quốc đều xây dựng
chiến lược phát triển riêng cho AI, lấy công nghệ AI làm cốt lõi cho sự tăng tốc của
nền kinh tế. Tại Việt Nam, Chính phủ xác định cơng nghệ AI là sự đột phá, mũi nhọn
cần được triển khai nghiên cứu. Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung tham mưu, định
hướng để thúc đẩy phát triển cơng nghệ, trong đó tập trung nguồn lực cho phát triển trí
tuệ nhân tạo (AI); đồng thời tiếp tục phê duyệt chương trình khoa học trọng điểm, hỗ
trợ nghiên cứu phát triển cơng nghệ trí tuệ nhân tạo, liên kết các nhà nghiên cứu, đầu
tư, doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Tại Việt Nam, AI đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực như y
25