BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỖ VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LỒI
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SƠNG TRANH,
HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng, năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỖ VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LỒI
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SƠNG TRANH,
HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Sinh thái học
Mã số
: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ PHƢƠNG ANH
Đà Nẵng, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu và kết quả tính tốn đưa ra trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Thành
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................... 2
3. Nội dung nghiên cứu ......................................................................... 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................... 4
5. Cấu trúc của luận văn ........................................................................ 4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................... 5
1.1. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN ....................... 5
1.1.1. Tác động tích cực ........................................................................ 5
1.1.2. Tác động tiêu cực ........................................................................ 5
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG NAM . 7
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam .......................................... 7
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam............................. 13
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU . 14
1.3.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................... 14
1.3.2. Tình hình kinh tế - xã hội .......................................................... 21
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................... 24
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ............................................................. 24
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ............................................................... 24
2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ................................................................. 24
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................ 26
2.4.1. Phƣơng pháp kế thừa ................................................................ 26
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài thực địa .................................. 26
2.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu trong phịng thí nghiệm.................... 27
2.4.4. Sử dụng cơng thức trong tính toán ............................................ 29
2.4.5. Xử lí số liệu ............................................................................... 29
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN .............................................. 30
3.1. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2
..................................................................................................................... 30
3.1.1. Hiện trạng hoạt động thủy điện Sông Tranh 2 .......................... 30
3.1.2. Những sự cố của thủy điện Sơng Tranh 2................................. 31
3.2. THÀNH PHẦN LỒI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH . 32
3.2.1. Đa dạng thành phần loài ........................................................... 32
3.2.2. Các loài cá quý hiếm ................................................................. 40
3.2.3. Các loài cá kinh tế trên sông Tranh .......................................... 41
3.2.4. Mối quan hệ giữa thành phần lồi cá ở khu hệ sơng Tranh với
khu hệ khác.................................................................................................. 42
3.2.5. Đặc điểm phân bố của các loài cá khu vực sông Tranh ............ 45
3.3. TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LỒI VÀ
PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SƠNG TRANH ..................................................... 46
3.3.1. Những tác động liên quan ......................................................... 46
3.3.2. Đánh giá mức độ ảnh hƣởng ..................................................... 66
3.3.3. So sánh biến động thành phần lồi khu hệ cá sơng Tranh và
sơng Đà ở địa phận Hịa Bình ..................................................................... 77
3.4. NHỮNG GIẢI PHÁP KHẢ THI PHỤC HỒI LẠI HỆ SINH THÁI VÀ
BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ ........................................................................ 80
3.4.1. Xây đập phụ .............................................................................. 80
3.4.2. Giữ dịng sơng ngun vẹn ....................................................... 80
3.4.3. Trồng phủ cây xanh ở hai khu vực trên và dƣới đập ................ 81
3.4.4. Tạo sinh kế cho ngƣời dân ........................................................ 81
3.4.5. Quản lý tổng hợp ....................................................................... 82
3.4.6. Nâng cao nhận thức cộng đồng ................................................. 82
3.4.7. Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản ........................................... 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 86
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT
: Bộ Tài nguyên và Mơi trƣờng
CO
: Lƣợng ơxy hịa tan
EC
: Độ dẫn điện
FAO
: Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
Nxb
: Nhà xuất bản
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
TDS
: Tổng chất rắn hòa tan
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1.1.
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
16
1.2.
Lƣợng mƣa trung bình các tháng trong năm
18
1.3.
Độ ẩm trung bình các tháng trong năm
19
1.4.
Diện tích và mật độ dân số huyện Bắc Trà My, tỉnh
22
Quảng Nam
2.1.
Địa điểm và vị trí thu mẫu
25
3.1.
Danh mục thành phần lồi cá ở sơng Tranh
32
3.2.
Cấu trúc thành phần lồi khu hệ cá sơng Tranh
38
3.3.
Các lồi cá q hiếm ở sơng Tranh
40
3.4.
Các lồi cá kinh tế ở sông Tranh
42
3.5.
Quan hệ giữa thành phần lồi cá sơng Tranh với khu
43
hệ khác
3.6.
Tần số bắt gặp cá Chình hoa điều tra qua ngƣời dân
48
3.7.
Đặc trƣng dịng chảy năm 2005 tuyến đập sơng Tranh
49
3.8.
Phần trăm dịng chảy cần thiết để duy trì một điều kiện
53
sơng theo phƣơng pháp Tennant
3.9.
Chất lƣợng nƣớc sông
57
3.10.
Số hộ khai thác tài nguyên theo xã
60
3.11.
Năng suất khai thác theo ngƣ cụ kg/tháng/hộ
62
3.12.
Các loài cá nhập nội ở sơng Tranh
63
3.13.
Diện tích và sản lƣợng nuôi cá ở sông Tranh
64
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số
Tên hình
Trang
hiệu
1.1. Bản đồ vị trí huyện Bắc Trà My
15
1.2. Đồ thị biểu diễn nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
17
1.3. Biểu đồ mơ tả lƣợng mƣa trung bình các tháng trong năm
18
1.4. Biểu đồ mơ tả độ ẩm trung bình các tháng trong năm
20
2.1. Vị trí thu mẫu ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
25
2.2. Các chỉ số đo trong phân loại trên mẫu cá
28
3.1. Đa dạng về cấu trúc bậc họ theo bộ
38
3.2. Đa dạng về cấu trúc bậc giống theo bộ
39
3.3. Đa dạng về cấu trúc loài theo bộ
39
3.4. Biểu đồ hệ số gần gũi giữa thành phần lồi cá sơng Tranh
43
với một số khu hệ khác
3.5. Phân bố cá theo thủy vực
46
3.6. Tần số bắt gặp cá Chình hoa điều tra qua ngƣời dân
48
3.7. Biến động sản lƣợng của một số lồi khảo sát
50
3.8. Thành phần nhóm lồi cá ở các lƣu vực theo hàm lƣợng DO
58
3.9. Số hộ khai thác các tài nguyên theo xã
60
3.10. Năng suất khai thác theo ngƣ cụ kg/tháng/hộ
62
3.11. Sản lƣợng cá phổ biến trong 1 ngày khai thác
65
3.12. Tỷ lệ % loài cá mới xuất hiện và mất đi trong toàn khu hệ
66
3.13. Sản lƣợng cá giảm so với trƣớc xây đập
69
3.14. Thành phần cấu trúc bậc bộ, họ, loài cá trên và dƣới đập
71
3.15. Biến động thành phần loài giữa hai khu hệ dƣới tác động
78
thủy điện
3.16. Biểu đồ so sánh thành phần loài trên đập - dƣới đập của
hai khu hệ
79
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có diện tích nƣớc ngọt bề mặt lớn với 653 nghìn
hecta sơng ngịi, 394 nghìn hecta hồ chứa, 85 nghìn hecta đầm phá ven
biển, 580 nghìn hecta ruộng lúa nƣớc. Vì vậy, nguồn lợi cá nƣớc ngọt ở
Việt Nam rất phong phú. Theo kết quả điều tra khoa học, đã xác định đƣợc
1027 loài cá nƣớc ngọt thuộc 22 bộ, 97 họ và 427 giống phân bố ở Việt
Nam [6]. Tuy nhiên, việc đánh bắt, khai thác cá quá mức, sự ô nhiễm môi
trƣờng do các hoạt động công nghiệp đã làm cho trữ lƣợng cá ngày một
giảm mạnh, nhiều loài cá bị tuyệt chủng, nguy cơ tuyệt chủng đƣợc liệt kê
vào sách đỏ Việt Nam.
Huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên 823,05
km2, là một trong những huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam,
Bắc Trà My là đầu nguồn quan trọng cung cấp nƣớc cho hệ thống sông Vu
Gia - Thu Bồn và một số sông suối ở cánh Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Đoạn
chảy qua huyện Tiên Phƣớc và Hiệp Đức gọi là sông Tranh và xã Trà Dơn
là địa phận thƣợng nguồn của sông Tranh ở Bắc Trà My. Sông Tranh là
đoạn thƣợng lƣu và trung lƣu của sông Thu Bồn, nhánh phải của hệ thống
sông Vu Gia - Thu Bồn bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh ở độ cao 2.598m.
Sông Tranh chảy qua các xã Trà Đốc, Trà Bui, Trà Tân, Trà Sơn, Trà Giác.
Ở các sông suối đa dạng nhiều loài thủy sinh vật đặc biệt là cá.
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc đánh bắt ngày càng gia tăng,
khơng có quy hoạch, cộng với những tác động của tự nhiên và hình thức
đánh bắt mang tính chất hủy diệt của con ngƣời. Đặc biệt, các hình thức sử
dụng thuốc nổ và hóa chất độc đã làm suy giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản
trên sông, mất cân bằng sinh thái, suy thối đa dạng sinh học và ơ nhiễm
môi trƣờng.
2
Nếu nguồn lợi bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học sẽ bị suy kiệt,
dẫn đến có ít cơ hội hơn cho hoạt động nghề cá, mất đi nguồn sinh kế và
nhìn chung ảnh hƣởng xấu đến lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, để phát triển kinh
tế thủy sản thì khơng thể khơng quan tâm đến việc sử dụng và phát triển
bền vững nguồn lợi thủy sản.
Hơn nữa, với các nhà máy thủy điện đã đi vào vận hành chƣa có một
nghiên cứu đánh giá tác động nào đƣợc thực hiện để đánh giá hiệu quả và
những vấn đề môi trƣờng phát sinh bởi các nhà máy thủy điện. Ngoài ra việc
phát triển thủy điện và động đất xuất hiện ở khu vực cũng làm ảnh hƣởng đến
dòng chảy và suy giảm chất lƣợng nƣớc sẽ làm hạn chế khả năng kiếm mồi
của cá, mất chỗ sinh sản hoặc làm chết cá con và trứng của một số loài cá. Từ
đó ảnh hƣởng đến sự đa dạng và phân bố của các loài cá nơi đây.
Trong thời gian qua cũng chƣa có nghiên cứu khoa học nào về nguồn
lợi cá ở sơng Tranh. Vì vậy, muốn khai thác hợp lý và sử dụng lâu dài
nguồn lợi, nhất thiết phải có những nghiên cứu cơ bản và những hiểu biết
nhất định về nguồn lợi thủy sản này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
một số tác động của thủy điện đến thành phần lồi và phân bố của cá ở
sơng Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” nhằm góp phần giúp
cho lãnh đạo địa phƣơng và các nhà quản lí cộng đồng các xã ven sông
Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây dựng phƣơng án khai thác hợp lý,
bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đƣợc sự biến động thành phần loài và
sự phân bố của cá do tác động của thủy điện ở sông Tranh, huyện Bắc Trà
My, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng, quy hoạch,
phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học nguồn cá.
3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định đƣợc thành phần lồi cá ở sơng Tranh, qua đó xác định lồi
q hiếm hiện có ở sơng này.
- Xác định đƣợc khu vực phân bố của các loài cá, đặc điểm phân bố,
các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phân bố cá ở sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.
- Xác định, đánh giá đƣợc các tác động của thủy điện trong đó có
ảnh hƣởng đến nguồn lợi cá trên sông Tranh.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi phục hồi hệ sinh thái do tác động
của nhà máy thủy điện trên sông Tranh.
3. Nội dung nghiên cứu
* Hiện trạng hoạt động nhà máy thủy điện Sông Tranh 2
- Khái quát hiện trạng hoạt động của nhà máy thủy điện Sông Tranh 2
và các sự cố xảy ra trong thời gian nhà máy đi vào hoạt động.
* Nghiên cứu về thành phần loài
- Thu mẫu cá tại 11 khu vực nghiên cứu, tiến hành định loại để xác định
cấu trúc thành phần loài cá, lập danh mục thành phần lồi cá ở sơng Tranh.
- Đặc điểm cấu trúc, tính đặc trƣng về đa dạng sinh học của thành
phần lồi cá ở sơng Tranh.
* Nghiên cứu về đặc điểm phân bố
- Phân tích đặc điểm phân bố theo lƣu vực, theo sinh cảnh của các loài
cá thuộc khu vực nghiên cứu.
- So sánh thành phần lồi cá sơng Tranh với một số sơng khác trong
nƣớc và lân cận làm cơ sở cho công tác bảo vệ và quản lý cá ở sông Tranh.
* Tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá
- Một số tác động của thủy điện lên môi trƣờng và kinh tế - xã hội ảnh
hƣởng đến nguồn lợi cá trên sông Tranh.
4
- Đánh giá biến động thành phần loài và sản lƣợng cá so với thời gian
trƣớc xây dựng nhà máy thủy điện.
- Đánh giá về phân bố của cá trên đập và dƣới đập nhà máy thủy điện.
- So sánh sự biến động thành phần loài với khu hệ cá sơng có tác động
của nhà máy thủy điện.
* Một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và nguồn lợi cá
- Đề xuất một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và nguồn
lợi cá do tác động của thủy điện.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở sông Tranh là
những dẫn liệu khoa học về đa dạng sinh học, về thành phần lồi góp
phần làm cơ sở đánh giá tác động, ảnh hƣởng của việc xây dựng thủy
điện đến nguồn lợi cá, quy hoạch phát triển bền vững và góp phần cung
cấp tài liệu về động vật chí Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn là những dẫn liệu quan
trọng giúp chính quyền địa phƣơng, các nhà quản lý cộng đồng các xã
ven sông Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây dựng phƣơng án khai
thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá trong phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn có 3 chƣơng
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU.
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN
1.1.1. Tác động tích cực
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là giá thành nhiên liệu, đây là một
nguồn năng lƣợng tái tạo đƣợc tính bền vững. Do khơng sử dụng nhiên
liệu hóa thạch, các nhà máy thủy điện khơng phát thải ra các chất khí, chất
rắn gây ô nhiễm môi trƣờng, không tiêu thụ ôxygen, không phát sinh
nhiệt, khơng thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó, có thể coi đây
là dạng năng lƣợng sạch. Những hồ chứa dung tích lớn đƣợc xây dựng
cùng với các nhà máy thuỷ điện sẽ tích nƣớc vào các tháng mùa mƣa để có
thể dùng để phát điện trong mùa khô. Nhƣ vậy, thủy điện giúp đồng bằng
hạ du chống lũ về mùa mƣa và hạn hán vào mùa khơ; cải thiện dịng chảy
kiệt và xâm nhập mặn [52].
1.1.2. Tác động tiêu cực
Việc xây dựng các hồ chứa làm mất đi một diện tích lớn đất đai và
thơng thƣờng có cả đất rừng. Theo tính tốn, để có 1 MW điện phải mất ít
nhất 7,5 - 10 ha rừng. Những nhà môi trƣờng đã bày tỏ lo ngại rằng các
dự án nhà máy thuỷ điện lớn có thể làm thay đổi dòng chảy về cả số lƣợng
và chất lƣợng, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh. Thứ nhất,
các nghiên cứu đã cho thấy rằng đập sẽ ngăn cản những con đƣờng di cƣ
của loài cá, biến những đoạn sông nƣớc chảy xiết thành những cái ao tù
đọng và gây nguy hiểm cho các khu vực cá đẻ và ấp trứng. Điển hình các
đập nƣớc dọc theo bờ biển Đại Tây Dƣơng và Thái Bình Dƣơng của Bắc
Mỹ đã làm giảm lƣợng cá hồi vì chúng ngăn cản đƣờng bơi ngƣợc dòng
của cá hồi để đẻ trứng, thậm chí ngay khi đa số các đập đó đã lắp đặt
thang lên cho cá. Cá hồi non cũng bị ngăn cản khi chúng bơi ra biển bởi vì
6
chúng phải chui qua các tuốc-bin . Điều này dẫn tới việc một số vùng phải
chuyển cá hồi con xuôi dòng ở một số khoảng thời gian trong năm. Các
thiết kế tuốc-bin và các nhà máy thuỷ điện có lợi cho sự cân bằng sinh thái
vẫn còn đang đƣợc nghiên cứu [52].
Thứ hai, các tua-bin thƣờng mở không liên tục, có thể quan sát thấy
sự thay đổi nhanh chóng và bất thƣờng của dịng chảy làm mực nƣớc sơng
dâng lên hoặc hạ xuống rất nhanh, đặc biệt là vùng hạ lƣu ngay sát nhà
máy. Điều này có thể gây thiệt hại về ngƣời và của cho khu vực dƣới chân
đập. Cuối cùng, nƣớc chảy ra từ tuốc-bin lạnh hơn nƣớc trƣớc khi chảy
vào đập, điều này có thể làm thay đổi số lƣợng cân bằng của hệ động vật,
gồm cả việc gây hại tới một số loài [52].
Do lƣợng phù sa bị giữ lại trong lòng hồ, nƣớc sau khi ra khỏi
tuốc-bin thƣờng chứa rất ít phù sa làm giảm độ phì nhiêu đối với vùng
đồng bằng. Phù sa cho phép sự hình thành bờ sơng, châu thổ, phù sa, hồ,
đê tự nhiên, đƣờng bờ biển. Ngoài ra, điều này cùng việc thay đổi lƣu
lƣợng có thể gây ra tình trạng sạt lở bờ sơng và thay đổi hình thái lịng
sơng, nhất là vùng cửa sơng. Đáy sơng bị tụt xuống kéo theo mực nƣớc
ngầm dọc sông xuống thấp. Trên thực tế, việc sử dụng nƣớc tích trữ thỉnh
thoảng khá phức tạp bởi vì u cầu tƣới tiêu có thể xảy ra không trùng với
thời điểm yêu cầu điện lên mức cao nhất [52].
Trong mùa cạn, nhiều hồ chứa thuỷ điện tăng cƣờng việc tích nƣớc
để dự trữ phát điện, nên giảm lƣợng nƣớc xả xuống hạ lƣu, gây xâm nhập
mặn sâu và thiếu nƣớc tƣới. Ngoài ra, các nhà máy thuỷ điện hiện nay đều
vận hành phát điện hàng ngày theo chế độ phù đỉnh. Trong đó, để tạo ra
hiệu quả sản xuất điện năng cao nhất nên vào ban đêm, lƣợng nƣớc qua
tuốc bin xả xuống hạ lƣu giảm đến mức tối thiểu, hoặc có khi ngừng hẳn.
Một số dự án thuỷ điện cũng sử dụng các kênh, thƣờng để đổi hƣớng dịng
sơng tới độ dốc nhỏ hơn nhằm tăng áp suất có đƣợc, trong một số trƣờng
7
hợp, tồn bộ dịng sơng có thể bị đổi hƣớng để trơ lại lịng sơng cạn. Bên
cạnh đó, nhiều cơng trình thuỷ điện dùng đƣờng ống áp lực để dẫn nƣớc từ
hồ chứa đến nhà máy thuỷ điện bố trí ở cao trình thấp để tạo đầu nƣớc lớn,
nâng cao hiệu quả phát điện, nên đoạn sông từ đập đến nhà máy khơng có
nƣớc trở thành một đoạn sơng chết có chiều dài từ vài km đến hàng chục
km ngay sau tuyến đập chính.
Theo bản báo cáo của Uỷ ban Đập nƣớc Thế giới (WCD), ở nơi nào
đập nƣớc lớn so với cơng suất phát điện (ít hơn 100 watt trên mỗi km diện
tích bề mặt) và khơng có việc phá rừng trong vùng đƣợc tiến hành trƣớc
khi thi công đập nƣớc, khí gas gây hiệu ứng nhà kính phát ra từ đập có thể
cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thƣờng. Ở các hồ chứa phƣơng
bắc Canada và Bắc Âu, sự phát sinh khí nhà kính tiêu biểu chỉ là 2 đến 8%
so với bất kỳ một nhà máy nhiệt điện nào. Với các cơng trình thủy điện, do
mất rất nhiều đất ở và đất canh tác để làm hồ chứa nên sản xuất nông
nghiệp và đời sống của ngƣời dân có thể gặp khó khăn. Vấn đề di dân -tái
định cƣ cho dân cƣ nông nghiệp sống trong vùng hồ chứa không đơn giản,
tác động về mặt xã hội sẽ rất lớn và lâu dài. Vấn đề là phải dành một diện
tích canh tác rất lớn để phân chia và xây chỗ ở cho các ngƣời tái định cƣ.
Trong nhiều trƣờng hợp không một khoản bồi thƣờng nào có thể bù đắp
đƣợc sự gắn bó của họ về tổ tiên và văn hoá gắn liền với địa điểm đó vì
chúng có giá trị tinh thần đối với họ [52].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG
NAM
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
Các cơng trình nghiên cứu cá nội địa ở nƣớc ta đƣợc đề cập từ rất
sớm. Tuy nhiên những cơng trình nghiên cứu thực sự có hệ thống về cá
nƣớc ngọt mới đƣợc bắt đầu từ nửa thế kỷ XIX.
8
Trong thời gian trƣớc năm 1945, những cơng trình nghiên cứu về cá
nƣớc ngọt ở Việt Nam đã đƣợc công bố chủ yếu là của các tác giả ngƣời
nƣớc ngoài. Cơng trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nƣớc ngọt ở
Việt Nam là của H.E. Sauvage đƣợc công bố năm 1881. Đó là cơng trình
“Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu”. Qua cơng trình này, H.E. Sauvage đã
thống kê đƣợc 139 lồi cá chung cho tồn Đơng Dƣơng và mơ tả 2 lồi mới
ở miền Bắc Việt Nam. Đến năm 1884, ông thu thập và công bố thêm 10
lồi cá nƣớc ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 lồi mới [17].
Năm 1907, kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Hà Nội của đoàn
Thƣờng trực khoa học Đơng Dƣơng đã cơng bố 29 lồi và mơ tả 2 lồi mới
và đến năm 1934 cơng bố thêm 33 loài mới. Từ năm 1930 đến năm 1937, P.
Chevey đã có nhiều cơng trình nghiên cứu ở các sông suối miền Bắc Việt
Nam và phát hiện ra sự có mặt của cá Chình Nhật (Anguilla japonica) ở
sơng Hồng. Đặc biệt là vào năm 1937, P. Chevey và J. Lemasson đã cơng bố
cơng trình nghiên cứu tổng hợp cá nƣớc ngọt miền Bắc Việt Nam: “Góp
phần nghiên cứu về các loài cá nƣớc ngọt ở miền Bắc Việt Nam” với 17 họ
và 98 lồi. Đây đƣợc xem là cơng trình tổng hợp đầy đủ nhất về cá lúc bấy
giờ, và nhiều tác giả ngƣời nƣớc ngoài khác nhƣ J. Henry (1865), Pellagin
(1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P. Worman (1925), Gruvel (1925),
Chabanaud (1926), R. Bourret (1927),…cũng đã có nhiều cơng trình nghiên
cứu về cá ở các sơng suối và đầm phá ven biển nƣớc ta [18].
Nhìn chung, phần lớn các cơng trình nghiên cứu về cá trong giai đoạn
trƣớc năm 1945 mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần
lồi, cịn về nguồn lợi cá chƣa đƣợc thực hiện.
Trong thời gian miền Nam còn đang chiến tranh chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ nên cơng tác nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và
nghiên cứu cá nói riêng vẫn chƣa đƣợc chú trọng. Tuy nhiên, cũng có một
số cơng trình nghiên cứu cá do các cán bộ khoa học ngƣời Việt và ngƣời
9
nƣớc ngồi cơng bố nhƣ Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964),
Fourmanvir (1965), M. Yamarmura (1966), Kawamoto...trong đó K.
Kuronnuma (1961) đã tổng hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài;
Nguyễn Viết Trƣơng và Trần Thị Túy Hoa (1972) đã đƣa ra một danh sách
các loài cá nƣớc ngọt đồng bằng sơng Cửu Long gồm 93 lồi [48]...
Sau khi miền Nam đƣợc hồn tồn giải phóng, cơng tác nghiên cứu cá
đƣợc đẩy mạnh về phía Nam. Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nƣớc ta coi
trọng việc nghiên cứu và phát triển tiềm năng của các thủy vực nội địa. Các
nghiên cứu không chỉ tập trung vào thành phần lồi mà cịn đánh giá sự đa
dạng, thích nghi của các môi trƣờng thủy vực khác nhau.
Năm 1978, Mai Đình n đã cơng bố “Định loại cá nƣớc ngọt ở các
tỉnh miền Bắc Việt Nam”, thống kê danh mục, mơ tả chi tiết, lập khóa định
loại đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá ở miền Bắc nƣớc
ta [41]. Đến năm 1992, Mai Đình Yên cùng với các cộng sự công bố “Định
loại các lồi cá nƣớc ngọt Nam bộ”, mơ tả, định loại 255 loài cá ở Nam bộ
Việt Nam [43]. Năm 1993, Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng đã
công bố “Định lồi cá nƣớc ngọt vùng đồng bằng sơng Cửu Long” với 173
lồi [18]. Đây là các cơng trình tổng hợp đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền
Bắc và miền Nam nƣớc ta trong thời kỳ này.
Từ năm 1981 đến năm 1994, một số kết quả nghiên cứu về khu hệ cá
đã đƣợc công bố, tiêu biểu là Nguyễn Hữu Dực (1982): “Thành phần lồi
cá sơng Hƣơng”, đã thống kê đƣợc 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu
hệ cá sơng Lam, đã thống kê đƣợc 157 lồi; Mai Đình n, Nguyễn Hữu
Dực (1991): Thành phần các lồi cá sơng Thu Bồn gồm 58 lồi, sơng Trà
Khúc 47 lồi, sơng Vệ 34 lồi, sơng Cơn 43 lồi, sơng Ba 48 lồi, sơng Cái
25 lồi [42].
10
Năm 1994, Vũ Trung Tạng đã tiến hành đánh giá thành phần lồi cá
các cửa sơng Việt Nam “Các hệ sinh thái cửa sơng Việt Nam” với 580 lồi
thuộc 110 họ và 26 bộ. Đồng thời, ông chia làm 4 nhóm sinh thái có nguồn
gốc khác nhau: cá biển, cá cửa sông, cá nƣớc ngọt và cá di cƣ [37].
Về đặc trƣng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nƣớc ngọt Việt
Nam có các tác giả Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983), Mai
Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993, 1998) và
Nguyễn Hữu Dực (1995). Các tác giả cho rằng khu hệ cá nƣớc ngọt Việt
Nam có thể xếp vào vùng Đơng Dƣơng với 2 vùng phụ cận và 11 khu địa
lý nhƣ sau [18]:
- Vùng phụ Nam Trung Hoa có 5 khu thuộc Việt Nam là Cao Lạng,
Việt Bắc, Tây Bắc, miền núi Bắc Trung bộ, đồng bằng Bắc bộ và Bắc
Trung bộ.
- Vùng phụ Đơng Dƣơng có 4 khu thuộc Việt Nam là Tây Nguyên, hạ
lƣu sông Mêkông, đồng bằng Nam bộ và đảo Phú Quốc.
- Ngồi ra, cịn hai khu mang tính chất chuyển tiếp giữa hai vùng phụ
cận trên là khu thứ 10: Trung và Nam Trung bộ mang tính chất chuyển tiếp
theo hƣớng Bắc Nam và khu thứ 11: Điện Biên Phủ mang tính chất chuyển
tiếp theo hƣớng Tây Bắc.
Nhìn chung, những nghiên cứu tồn diện về cá trong giai đoạn này
đƣợc đẩy mạnh và có những bƣớc tiến vững chắc. Tuy nhiên, phần lớn các
cơng trình nghiên cứu về cá chỉ tập trung ở hệ sinh thái của các thủy vực
nội địa phía Bắc và phía Nam, nơi gần những trung tâm nghiên cứu Quốc
gia về thủy sản. Các vùng biển và các thủy vực nội địa ở miền Trung vẫn
chƣa đƣợc chú trọng nghiên cứu.
Từ 1995 đến 2000, nghiên cứu cá đƣợc quan tâm và chú trọng. Bên
cạnh các thủy vực miền Bắc và miền Nam, các thủy vực miền Trung và
11
Tây Nguyên cũng đƣợc tập trung nghiên cứu, tiêu biểu trong giai đoạn
này là: Võ Văn Phú (1995) “Thành phần loài của khu hệ cá đầm phá
Thừa Thiên Huế” với 163 loài cá thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong
đó có 23 lồi cá kinh tế [25]; Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thị Thu Hè
(1997) “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắk
Lắk) [38]; Nguyễn Trƣờng Khoa, Võ Văn Phú (2002) “Dẫn liệu bƣớc
đầu về thành phần lồi cá ở sơng Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” với 83 loài
thuộc 56 giống, 36 họ và 12 bộ [22]...
Ở miền Trung công tác nghiên cứu phát triển mạnh mẽ từ năm 2001
đến nay, công tác nghiên cứu đƣợc tập trung chú trọng. Các cơng trình
nghiên cứu tiêu biểu: “Thành phần loài cá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa
Thiên Huế sau trận lũ lịch sử 1999” của Võ Văn Phú (2001) với 171 loài
[26]; “Đa dạng về thành phần lồi cá Đầm Ơ Loan, tỉnh Phú Yên” của Võ
Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) [27]; “Dẫn liệu
bƣớc đầu về cá sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Hữu
Dực, Dƣơng Quang Ngọc (2004) với 94 loài, 68 giống, 24 họ và 9 bộ
[14]…
Từ năm 2001 - 2005, Nguyễn Văn Hảo đã xuất bản cuốn sách “Cá
nƣớc ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mơ tả các lồi nƣớc ngọt điển hình và
một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nƣớc lợ
của vùng cửa sơng, đầm phá ven biển. Theo công bố này, tác giả đã
thống kê đƣợc 1.027 loài và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22
bộ. Đây đƣợc xem là bộ sách phân loại cá nƣớc ngọt đầy đủ và chi tiết
nhất Việt Nam hiện nay [18].
Năm 2005, Võ Văn Phú và cộng sự đã công bố danh lục thành phần
lồi cá Khu bảo tồn thiên nhiên Đăkrơng (Quảng Trị) với 100 loài thuộc 65
12
giống, 19 họ và 8 bộ. Trong đó, bộ cá Chép chiếm ƣu thế với 62 loài
(chiếm 62,00%), tiếp đến là bộ cá Vƣợc với 26 loài (chiếm 26,00%) [29].
Các cơng trình nghiên cứu khu hệ cá ở các hồ chứa và biến động
thành phần loài do xây dựng các đập, hồ thủy điện còn hạn chế, chỉ mới bắt
đầu chú trọng từ những năm 1997 trở lại đây. Nguyễn Thành Nam, Nguyễn
Quỳnh Anh và Nguyễn Xuân Huân (2012), đã nghiên cứu thấy khu hệ cá
sơng Đà địa phận Hịa Bình từ 72 lồi chỉ cịn 68 lồi sau 20 năm nhà máy
đi vào hoạt động và mức độ gần gũi giữa hai khu hệ trên và dƣới đập hiện
tại chỉ ở mức “Gần ít” [24]. Một nghiên cứu khác của Lâm Ngọc Châu và
cs (2011), về hệ cá ở các hồ chứa ở hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phƣớc cho
thấy một số lồi có nguồn gốc sơng, suối đang bị suy giảm và biến mất nhƣ
cá Chình, cá Đỏ mắt... thay vào đó các lồi cá ni du nhập vào hồ gia tăng
[12].
Gần đây có Vũ Thị Phƣơng Anh, Dƣơng Thị Mỹ Diệp (2014),
“Nghiên cứu về thành phần lồi cá ở sơng Bàn Thạch, tỉnh Phú n” đã
cơng bố đƣợc 115 loài với 85 giống nằm trong 47 họ thuộc 14 bộ [5].
Năm 2015, Nguyễn Xuân Đồng nghiên cứu khu hệ cá hạ lƣu sơng Sài
Gịn trƣớc và sau khi xây dựng hồ Dầu Tiếng cho thấy về thành phần lồi thì
đa dạng hơn tăng lên, hiện có 133 loài so với năm 1979 chỉ 80 loài, những
loài cá mới xuất hiện do xâm nhập mặn khi ngăn hồ. Ngồi ra có 13 lồi
thƣờng gặp và chiếm số lƣợng nhiều trƣớc đây nay khơng cịn thấy [16].
Nhìn chung, công tác nghiên cứu cá ở nƣớc ta thời gian đầu tuy chỉ
mới dừng lại ở thống kê và mô tả thành phần lồi nhƣng sau năm 1975 đến
nay cơng tác nghiên cứu cá đang đƣợc đẩy mạnh, có những bƣớc tiến vững
chắc về đa dạng và sinh thái. Công tác nghiên cứu khơng chỉ hạn hẹp ở các
tỉnh phía Bắc và phía Nam mà cịn đƣợc lan rộng ra khắp cả nƣớc. Việc
nghiên cứu không chỉ dừng lại ở mức độ mơ tả, thống kê thành phần lồi
13
mà cịn nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, sinh lý khác nhau. Ngoài
ra, việc nghiên cứu đánh giá tác động của môi trƣờng đến đa dạng và phân
bố của cá cũng đƣợc đẩy mạnh trƣớc thực trạng mơi trƣờng ngày càng ơ
nhiễm nhƣ hiện nay.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam
Nhìn chung, những nghiên cứu cá ở Việt Nam đang đƣợc đẩy mạnh
trong những năm qua. Tuy nhiên, ở Quảng Nam những nghiên cứu về cá
chỉ mới tập trung chủ yếu ở các sông suối lớn của một số nhà khoa học tiêu
biểu nhƣ Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực đã tiến hành nghiên cứu các
loài cá nƣớc ngọt ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ vào năm 1991 [42].
Trong đó sơng Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam là một trong số 7 vực nƣớc
đƣợc điều tra nghiên cứu về thành phần loài, sinh thái học, các loài cá kinh
tế và nghề cá. Đến năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực tiếp tục
cơng bố thành phần lồi cá sơng Thu Bồn có tổng số 58 lồi và họ cho rằng
thành phần lồi cá có sự giao lƣu của hai phức hệ cá phía Bắc và phía Nam.
Năm 2004, Vũ Thị Phƣơng Anh, Võ Văn Phú cơng bố thành phần lồi
cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam gồm 71 loài nằm trong 49 giống, thuộc
19 họ của 9 bộ khác nhau [1].
Năm 2005, Võ Văn Phú, Vũ Thị Phƣơng Anh, Nguyễn Ngọc Hồng
Tân đã cơng bố thành phần lồi cá ở sơng Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 83
lồi nằm trong 59 giống, 34 họ, thuộc 10 bộ khác nhau, trong đó bộ cá
Vƣợc (Percifomes) chiếm ƣu thế về mặt họ, giống và loài [28].
Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải (Viện Sinh thái và
Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) công bố
thành phần lồi cá trong hệ thống sơng Vu Gia - Thu Bồn gồm 107 loài
cá, thuộc 31 họ, 9 giống. Trong đó có 8 lồi nằm trong sách Đỏ Việt
Nam. Ngồi ra hai tác giả cịn tiến hành điều tra tình trạng nguồn lợi cá
14
của hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi cá đã giảm 50 %
so với 10 - 15 năm về trƣớc [35].
Gần đây nhất có cơng trình nghiên cứu của Vũ Thị Phƣơng Anh,
Trần Thị Thanh Thu (2014), đã cơng bố thành phần lồi cá ở sơng Đầm,
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 91 loài, thuộc 66 giống nằm
trong 32 họ của 13 bộ [4].
Đây là các cơng trình nghiên cứu về cá ở Quảng Nam mà chúng tơi
biết đƣợc từ trƣớc đến nay. Có thể nói, nghiên cứu về đa dạng sinh học
nói chung, về cá nói riêng ở các hệ thống sơng tỉnh Quảng Nam cịn ít
và chƣa có hệ thống. Đặc biệt các nghiên cứu về biến động thành phần
loài cá do xây dựng hồ chứa hay do tác động môi trƣờng, hoạt động
đánh bắt chƣa đƣợc chú trọng.
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Huyện Bắc Trà My có diện tích tự nhiên là: 823,05km2, là một
trong những huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, nằm ở
15017'13'' đến 18018'00'' vĩ độ Bắc, 1080 09'16'' đến 108017'58'' kinh độ
Đông. Cách thành phố Tam Kỳ 50km về hƣớng Tây Nam; phía Bắc giáp
huyện Tiên Phƣớc và Hiệp Đức, phía Nam giáp huyện Nam Trà My,
phía Đơng giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Phƣớc Sơn.
Huyện Bắc Trà My có ba dạng địa hình cơ bản, gồm địa hình núi cao,
địa hình đồi thấp, địa hình thung lũng và suối. Núi cao nhất của huyện là
Hòn Bà (1.347m) thuộc xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My [11].
15
Hình 1.1. Bản đồ vị trí huyện Bắc Trà My
b. Địa chất thổ nhưỡng
Theo tài liệu Niên giám thống kê huyện Bắc Trà My (2014) [11], đất
của Bắc Trà My gồm nhiều nhóm bao gồm: nhóm đất mùn, đất vàng đỏ và
đất phù sa.
- Nhóm đất mùn phân bố chủ yếu trên vùng núi cao thuộc xã Trà
Giang, Trà Giáp, Trà Ka, Trà Giác, đƣợc hình thành trên nhiều loại đá mẹ
khác nhau, với diện tích khơng lớn có vị trí gần các nguồn nƣớc khe suối,
nhân dân đã san phẳng làm ruộng bậc thang lúa nƣớc.
- Nhóm đất vàng đỏ đƣợc phát sinh từ các loại đá phiến sa thạch,
phiến thạch sét, phiến mica, gơnai...; tầng đất dày trên 1,5m lớp đất mặt
khá tơi xốp, hàm lƣợng mùn khá, phân bố hầu hết các xã huyện Bắc Trà
My.
- Nhóm đất phù sa hình thành do lắng đọng phù sa sơng, nhƣng do các
sơng ở Bắc Trà My đều có vận tốc dòng chảy lớn, nên lắng đọng đƣợc các
sản phẩm thơ, vì vậy đất có thành phần cơ giới nhẹ, hình thái phẫu diện
16
tƣơng đối đồng nhất về thành phần cơ giới và màu sắc. Nhóm đất phù sa
phân bố tập trung ở các xã Trà Núi, Trà Kót, Trà Giác và Trà Đốc...
c. Nhiệt độ và lượng mưa
Khí hậu huyện Bắc Trà My nói riêng và khí hậu tỉnh Quảng Nam nói
chung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chế độ gió mùa cùng với
đặc điểm địa lý, địa hình, đặc biệt sự tồn tại của dãy Trƣờng Sơn đã quyết
định đến loại hình và bản chất khí hậu tồn năm và cho mỗi mùa riêng biệt.
Có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, mùa mƣa kéo dài từ
tháng 9 đến tháng 1 năm sau.
- Nhiệt độ là một trong những điều kiện sinh thái cần thiết cho đời
sống sinh vật. Sự phân bố của nhiệt độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là
yếu tố khơng gian (địa hình, vị trí địa lý) và thời gian (mùa, tháng).
Nhiệt độ khơng khí trung bình năm trên khu vực nghiên cứu thay đổi
trong khoảng (19 - 28)oC và phụ thuộc vào độ cao địa hình. Tại Trà My
nhiệt độ khơng khí trung bình là 24,5 oC. Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2
năm sau chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đơng Bắc, nhiệt độ trung bình xuống
dƣới 210C; nhiệt độ thấp nhất đo vào tháng 1 năm 2014 là 19,40C. Mùa hè
từ tháng 4 đến tháng 8 có gió mùa Tây Nam khơ nóng kéo dài, nhiệt độ
trung bình trên 260C.
Bảng 1.1. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (Đơn vị: 0C)
Tháng
1
Năm
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
TB/
Năm
2012 21,0 23,4 23,8 25,0 26,4 27,3 27,5 28,0 26,2 24,6 25,0 23,3 25,1
2013 24,8 23,3 24,9 26,4 27,0 27,4 26,6 27,1 26,7 24,1 23,6 19,9 24,8
2014 19,4 21,8 25,0 26,9 28,0 28,8 27,8 27,2 28,9 24,8 24,3 20,2 25,1
(Nguồn:Niên giám thống kê huyện Bắc Trà My năm 2014)